Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Tại sao Tưởng Giới Thạch chọn Đài Loan?


Tại sao Tưởng Giới Thạch chọn Đài Loan?
Posted on 20/03/2016 by The Observer
Print Friendly
publishable
Tác giả: Cù Thăng


Trước khi cuộc nội chiến kéo dài gần bốn năm kết thúc với thất bại thuộc về phía Quốc dân Đảng, Tưởng Giới Thạch và thuộc hạ đã rút chạy ra đảo Đài Loan, coi đây như một căn cứ địa mới để “phản công đại lục, phục hưng quốc đảng”. Tuy nhiên, để lựa chọn Đài Loan trở thành nơi sinh tồn cuối cùng của mình, Tưởng Giới Thạch đã có một quá trình chuẩn bị rất dài cùng với rất nhiều những tính toán…
Lần đầu tiên Tưởng Giới Thạch đặt chân tới Đài Loan chính là lúc Trung Quốc giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh với Nhật, thu về đất Đài Loan. Đó là vào ngày 25/10/1946, một năm sau ngày Đài Loan được trả về cho Trung Quốc, Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng đang trong gian đoạn đàm phán cực kỳ căng thẳng sau chiến tranh. Buổi trưa ngày 21, Tưởng Giới Thạch vội vàng tiếp Chu Ân Lai, Trương Quân Mại, Hồ Chính… rồi ngay buổi chiều hôm đó đã cùng với Tống Mỹ Linh bay sang Đài Bắc.
Cho tới ngày 25/10, kỷ niệm đúng một năm ngày Đài Loan được trả về Trung Quốc, nhân sĩ Đài Loan đã tổ chức lễ kỷ niệm cùng một buổi tiệc chào đón vợ chồng Tưởng Giới Thạch vô cùng linh đình, trọng hậu. Người dân Đài Loan đổ ra đứng chật cả một đoạn đường dài hơn 10km với những tiếng hoan hô rầm trời. Sau lễ kỷ niệm, ngày 27/10, Tưởng Giới Thạch và Tống Mỹ Linh bay trở về Thượng Hải.
Sau chuyến đi Đài Loan lần ấy, ngoài ấn tượng với sự chào đón nhiệt liệt của người dân nơi đây với mình, Tưởng Giới Thạch đột nhiên cảm thấy hai điều: một là phong tục Nhật Bản ở Đài Loan rất đậm, tuy nhiên, điều đó giờ đây không đáng ngại. Hai là, và điều này mới là quan trọng, rằng Đài Loan không hề có bất cứ “tế bào” nào của Trung Cộng, có thể nói là một “mảnh đất sạch sẽ” hoàn toàn, có thể đầu tư để xây dựng nơi đây thành một “tỉnh kiểu mẫu trong cả nước”.
Cuối tháng 2 năm 1947, Đài Loan xảy ra vụ bạo loạn ngày 28/2, sau khi cảnh sát của chính quyền Quốc dân Đảng trấn áp rồi đánh chết một người dân biểu tình đòi giảm thuế. Để cứu vãn tình hình, ngày 5/3, Tưởng Giới Thạch cử sư đoàn lục quân số 21 của mình đến Đài Loan với chỉ thị: “Phải lấy việc khoan dung, thu phục nhân tâm làm trọng”.
Đến ngày 6, Tưởng lại chỉ thị cho Trần Nghĩa: “Có thể nhượng bộ về mặt chính trị, tiếp nhận ý kiến của nhân dân”. Ngày 7, quyết định dùng đường lối “mềm mỏng” để giải quyết bạo loạn. Ngày 17/3, Tưởng Giới Thạch đã phái Bộ trưởng Quốc phòng là Bạch Tông Hy tới Đài Loan với tuyên bố tổ chức lại bộ máy chính quyền tại Đài Loan, cho phép những nhân sỹ địa phương có thể tham gia vào bộ máy này.
Đồng thời, Tưởng Giới Thạch cũng tuyên bố, những người tham gia bạo loạn ngày 28/2, ngoại trừ những người “Cộng sản xúi bẩy bạo động” thì đều được miễn truy cứu tội trạng. Tới tháng 5 năm đó, Tưởng Giới Thạch điều Ngụy Đạo Minh, một “quan văn”, một nhà ngoại giao tới Đài Loan làm chủ tịch, tiếp tục quán triệt chính sách “mềm mỏng” tại đây.
2.
Bước sang năm 1948, khi phần thắng lợi của cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng bắt đầu nghiêng về phía Đảng Cộng sản, Tưởng Giới Thạch bắt đầu chú ý nhiều hơn tới Đài Loan. Ngày 3/1, nhân ngày đầu năm mới, Tưởng Giới Thạch cho mời chủ tịch tỉnh Đài Loan Ngụy Đạo Minh đến để bàn về vấn đề tài chính và kinh tế của tỉnh này.
Tới ngày 14/6 tính toán tới thế cục của cuộc nội chiến, Tưởng Giới Thạch cho rằng, trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, thì khu vực Tây Bắc và Tây Nam Trung Quốc trở thành căn cứ địa. Tuy nhiên, giờ đây là thời đại của “thổ phỉ” và “chiến tranh quốc tế”, do vậy thành lũy trung tâm phải là Giang Tây, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan.
Trong nhật ký của mình, Tưởng Giới Thạch cho rằng, nên chuẩn bị một kế hoạch chu toàn tại những vùng trọng địa này để “đề phòng trường hợp khẩn cấp”. Những gì ghi chép trong nhật ký của Tưởng Giới Thạch ngày hôm đó cho thấy, sau những thất bại quân sự trên chiến trường Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Trung, đã buộc Tưởng Giới Thạch phải lên kế hoạch xây dựng những căn cứ chống lại quân đội Cộng sản tại khu vực ven biển Đông Nam.
Ngày 24/11, khi ngồi bàn chuyện với con trai của mình là Tưởng Kinh Quốc, Tưởng Giới Thạch từng nói rằng, ông ta thực sự cảm thấy những thuộc hạ của mình trong cả ba giới, đảng, chính phủ và quân đội đều là những kẻ tự mãn, vô năng, hủ bại, không có thuốc chữa. Vì vậy, muốn “phục hưng dân tộc, xây dựng lại lực lượng” thì buộc phải bỏ những cơ sở hiện tại, thu hẹp phạm vi và chọn một nơi hoàn toàn “trong sạch” để cải tạo lại toàn bộ.
Cuộc trò chuyện giữa hai cha con họ Tưởng lần đó chứng tỏ Tưởng Giới Thạch đã hoàn toàn cảm thấy thất vọng về tổ chức đảng, chính quyền lẫn quân đội của mình. Còn cái gọi là “thu nhỏ phạm vi” hay một nơi trong sạch mà Tưởng nhắc tới chính là mảnh đất Đài Loan.
Từ thời điểm này, Tưởng Giới Thạch bắt đầu ngấm ngầm chuyển thực lực của mình tới Đài Loan. Ngày 24/11/1948, Tưởng Giới Thạch đã chuyển bộ tài chính vốn đóng tại Hàm Dương, Hồ Nam về Đài Loan. Tiếp đó, từ ngày 9/12, Tưởng ra lệnh cho xây dựng các cứ điểm quan trọng như Kim Môn, Mã Tổ. Tất cả đều nhằm tăng cường sức mạnh quân sự cho Đài Loan. Đồng thời với việc tăng cường sức mạnh quân sự, Tưởng Giới Thạch cũng có những thay đổi lớn trong đội ngũ đảng và chính quyền tại đây.
Ngày 25/12/1948, Tưởng Giới Thạch dự định điều một thuộc hạ tin cẩn là Ông Văn Hạo làm chủ tịch tỉnh Đài Loan còn con trai của Tưởng là Tưởng Kinh Quốc được ông ta cử làm bí thư đảng bộ tỉnh Đài Loan. Tuy nhiên, cả Kinh Quốc lẫn Văn Hạo đều là “quan văn” dường như không được lý tưởng lắm, vì vậy, sau vài ngày suy nghĩ, cuối cùng Tưởng Giới Thạch quyết định cử Trần Thành khi đó đang dưỡng bệnh tại Đài Loan làm chủ tịch tỉnh này. Tới ngày 29/12, Tưởng quyết định gửi thông báo này cho Ngụy Đạo Minh và Trần Thành, nói Thành phải nhanh chóng chuẩn bị việc nhậm chức.
Một việc quan trọng khác Tưởng phải làm khi biến Đài Loan thành căn cứ địa chống lại Đảng Cộng sản là chuẩn bị về mặt kinh tế. Vì vậy ngay từ tháng 11/1948, Tưởng đã ra một chỉ thị có tên là “Đại sự dự định biểu” (Những việc cần chuẩn bị cho nghiệp lớn), trong đó, điều 15 chính là xử lý vấn đề cất trữ tài vật cho “trung ương”.
Thực hiện chỉ thị này, các loại tài vật được phân chia bí mật chuyển tới Đài Loan. Có người tính toán rằng, số lượng vàng bạc và ngoại tệ mà Quốc dân đảng vận chuyển sang Đài Loan có giá trị tương đương với 8 triệu lượng vàng. Ngoài ra, Trưởng Giới Thạch cũng tìm cách đưa những người ủng hộ mình chuyển tới Đài Loan để “tính kế lâu dài”.
Ngày 10/12, Tưởng Giới Thạch viết một bức thư gửi cho Ngô Trĩ Huy, người trước nay vẫn ủng hộ nhiệt tình cho Tưởng, đề nghị ông ta tới Đài Loan nghỉ ngơi. Năm sau đó, vào 5/7/1949, trước khi cuộc nội chiến kết thúc chỉ vài tháng, Tưởng cử con trai là Tưởng Kinh Quốc tới Thượng Hải gặp Nhan Huệ Khánh, động viên ông ta di cư tới Đài Loan, nói chính phủ sẽ chuẩn bị vé máy bay và nhà ở cho ông ta. Không ngờ, vị “nguyên lão” này không những không đi, còn quay lại khuyên Tưởng Kinh Quốc rằng không nên chống lại Đảng Cộng sản, cũng không nên căm thù đảng Cộng sản. Biết chuyện, Tưởng Giới Thạch chỉ còn biết ngậm ngùi nghĩ rằng mình không còn cơ hội nào để lưu lại lục địa được nữa.
Từ ngày 12/9/1948, quân đội dã chiến Đông Bắc do Lâm Bưu chỉ huy liên tục tấn công quân của Quốc dân Đảng ở Liêu Ninh, Thẩm Dương và Trường Xuân, trong vòng 52 ngày, đã tiêu diệt 470 nghìn quân Quốc dân Đảng. Chiến dịch Liêu Ninh kết thúc vào ngày 11/2 thì ngay lập tức quân dã chiến Đông Bắc đưa quân nhập quan, bao vây quân của Phó Tác Nghi đang trấn giữ Hoa Bắc tại Trương Gia Khẩu, Tân Bảo An, Bắc Bình, Thiên Tân, Đường Cô. Tất cả đều cho thấy, cuộc chiến đã đến hồi tàn.
Ngày 24/12, tướng Bạch Tông Hy đánh điện từ Hán Khẩu cho Trương Quần và Trương Trị ở Nam Kinh, nhờ họ chuyển lời với Tưởng Giới Thạch rằng, sỹ khí, lòng người cho tới khí tài, vật lực đều không đủ để chiến đấu nữa, đề nghị Tưởng ra lệnh đình chiến giảng hòa với quân Đảng Cộng sản. Đến ngày 30, Bạch Tông Hy gửi một bức điện nữa, nói, “thời gian đã đến lúc cấp bách, nếu chậm trễ sẽ bỏ lỡ cơ hội”, yêu cầu Tưởng phải “nhanh chóng đưa ra quyết định”. Thậm chí, chủ tịch tỉnh Hà Nam khi đó là Trương Chẩn đã gọi điện cho Tưởng, khẩn cầu ông ta “về hưu”.
Do sự bức ép cả bên trong lẫn bên ngoài, ngày 21/1/1949, Tưởng Giới Thạch ra tuyên bố từ chức, nhường “quyền tổng thống” lại cho Lý Tông Nhân. Vào thời điểm này, Tưởng Giới Thạch càng không thể không nghĩ tới việc xây dựng và di chuyển tới Đài Loan. Đầu năm 1949, trong kế hoạch “đại sự” của mình, Tưởng đã dự định đến tháng 7 sẽ hoàn tất hệ thống phòng thủ cũng như công việc chuẩn bị cho Đài Loan trở thành căn cứ địa mới cho Quốc dân Đảng. Kế hoạch này cho thấy, từ đầu năm 1949, “trọng tâm” công việc của Tưởng Giới Thạch đã là Đài Loan chứ không còn là chiến trường đại lục nữa.
Trong kế hoạch của Tưởng Giới Thạch thì không chỉ có đảng bộ trung ương của Quốc dân Đảng sẽ chạy ra Đài Loan mà toàn bộ cơ cấu chính phủ cũng sẽ di cư đến hòn đảo này. Ngày 18/3, Tưởng bắt đầu nghiên cứu cách để chuyển toàn bộ cơ cấu chính phủ Quốc dân Đảng tới Đài Loan.
Ngày 8/4, trong các đầu mục công việc chuẩn bị cho tuần đó của mình, việc số 9 là chuẩn bị cho sự thay đổi tiền ở Quảng Đông và Đài Loan. Việc số 10 là phương thức thiết lập chính phủ Đài Loan.
Ngày 5/7, những điều ghi trong nhật ký của Tưởng Giới Thạch chứng tỏ, Tưởng muốn xây dựng một tỉnh “kiểu mẫu về thực hành chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn” ở Đài Loan. Tuy nhiên nhiên, chỉ 6 ngày sau đó, Tưởng bắt đầu mở rộng phạm vi, quyết định lấy Đài Loan và khu vực Định Hải của Chiết Giang (đảo Châu Sơn) làm điểm bắt đầu. Tới ngày 18/4/1949, Tưởng Giới Thạch bắt đầu tính toán chi phí quân đội và chính phủ tương lai ở Đài Loan với hy vọng soạn thảo một phương án 3 năm đầu thật cụ thể cho cuộc rút chạy của mình.
Vào ngày 25/5, Tưởng Giới Thạch từ Mã Công bay tới Cao Hùng, Đài Loan. Lúc bấy giờ, Lý Tông Nhân đang giữ chức tổng thống, về mặt hành chính, Tưởng Giới Thạch không có chức vụ gì. Tuy nhiên, Tưởng vẫn lấy danh nghĩa là tổng tài Quốc dân đảng để khống chế và chỉ huy tất cả. Ngày 4/6 Tưởng ra lệnh thành lập Ủy ban chỉ huy quân chính Đông nam do mình làm chủ tịch, đồng thời gọi điện cho Hồ Thích, khuyên Hồ nhận chức Bộ trưởng Ngoại giao.
Tổng tư lệnh Không quân khi đó là Châu Chí Nhu đã gửi công hàm cho Tưởng Kinh Quốc, bày tỏ sự bất mãn đối với việc “tổng tài” vượt quyền của chỉ huy không quân. Tưởng Giới Thạch xem bức công hàm xong, nói rằng bản thân mình là “lãnh tụ cách mạng”, địa vị chẳng liên quan gì tới chức tổng thống, thậm chí không có danh nghĩa tổng thống thì có thể thoát khỏi những hạn chế về mặt pháp luật.
Đến ngày 12/6, Tưởng một lần nữa khẳng định rằng, mình sẽ không bao giờ rời bỏ quyền lực và trách nhiệm của một vị “lãnh tụ cách mạng”. Bất kể là với quân đội hay chính phủ tất cả do trách nhiệm của ông ta chỉ đạo và giám sát, bất cứ người nào cũng không được phép chống đối.
3.
Trong “Tuyên bố Cairo” mà Tưởng Giới Thạch ký với Mỹ và Anh, sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh với Nhật thì Đài Loan sẽ được trả về cho Trung Quốc. Tuy nhiên, do lực lượng Đảng Cộng sản liên tiếp giành được thắng lợi tại đại lục đã khiến cho một bộ phận chính khách Mỹ lo lắng rằng Đài Loan khó có thể được giữ vững. Và nếu như nó bị rơi vào tầm ảnh hưởng của người Nga thì phòng tuyến hải đảo ở Thái Bình Dương sẽ bị hổng một lỗ lớn. Vì vậy, Mỹ dự định sẽ trực tiếp lộ diện để tiếp quản Đài Loan.
Trong khi đó, người Anh cũng muốn chiếm lấy Đài Loan để tăng cường cho sự thống trị của mình ở Hồng Kông. Tới ngày 15/6, Tưởng Giới Thạch nhận được hai bức thư của Tống Mỹ Linh từ Mỹ gửi về. Trong thư, Tống Mỹ Linh lo lắng rằng, người Mỹ sẽ dùng vũ lực để chiếm Đài Loan và thừa nhận sự tồn tại của đảng Cộng sản.
Thông tin này khiến Tưởng Giới Thạch cảm thấy cực kỳ lo lắng. Ngày 18, Tưởng Giới Thạch tuyên bố sẽ tử thủ Đài Loan chứ nhất định không trả về cho Đồng minh. Đến ngày 20, nhận được điện của Châu Thế Minh trưởng đoàn Quốc dân Đảng đang tham gia đàm phán ở Nhật Bản nói rằng, quân Đồng minh hoặc Liên Hợp Quốc sẽ tạm thời tiếp quản Đài Loan. Ngay lập tức, Tưởng gọi điện lại cho Châu lệnh cho ông ta lập tức bàn với tướng Macarthur, khẳng định rằng, nó không phù hợp với những điều đã được ký trong “Tuyên bố Cairo” và rằng, Quốc dân Đảng không thể chấp nhận điều này.
Biết rằng những tuyên bố đó chắc chắn sẽ không đạt được bao nhiêu hiệu quả, Tưởng quyết định gấp rút hoàn thành việc biến Đài Loan thành căn cứ địa mới, trước khi tình hình có thể xấu hơn. Ngày 1/7, Tưởng lập văn phòng Tổng tài tại Đài Bắc, tiếp đó thành lập Ủy ban kế hoạch do Tưởng làm chu tịch, các ủy viên bao gồm Vương Thế Kiệt, Du Đại Duy, Trương Đạo Phan,…
Dưới ủy ban này, Tưởng cho thành lập 6 cơ quan gọi là các tổ, gồm: Đảng vụ, Chính trị, Kinh tế tài chính, Quân sự, Ngoại giao, Tuyên truyền văn hóa. Con trai của Tưởng là Tưởng Kinh Quốc làm phó tổ trưởng tổ Đảng vụ đồng thời tham gia công việc của hai tổ chính trị và quân sự. Tưởng Giới Thạch rất coi trọng việc thành lập văn phòng tổng tài này. Sau này, Tưởng đánh giá đây là một trong ba việc cực kỳ quan trọng giúp Quốc dân Đảng xây dựng lại lực lượng.
Mặc dù ra sức chuẩn bị cho Đài Loan, tuy nhiên, Tưởng Giới Thạch vẫn muốn dốc sức để bảo vệ khu vực Tây Nam trên đại lục. Và Tưởng chỉ rút chạy ra Đài Loan cho tới khi “Kế hoạch Tây Nam” của mình bị thất bại. Ngày 14/5, Tưởng xác định căn cứ của Quốc dân Đảng trên đại lục sẽ lấy Trùng Khánh làm trung tâm. Ngày 11/6, Ủy ban thường vụ trung ương Quốc dân đảng tiến cử 12 người thành lập ra cái gọi là “Ủy ban đặc biệt” do Tưởng Giới Thạch và Lý Tông Nhân làm chủ tịch và phó chủ tịch. Tưởng quyết định vào đầu tháng 7 sẽ đến Quảng Châu thành lập Ủy ban đặc biệt đồng thời thị sát Trùng Khánh.
Tới ngày 12/10, chính phủ của Lý Tông Nhân tuyên bố sẽ di chuyển tới Trùng Khánh. Ngày 26/10, Lý Tông Nhân nói với Bí thư của Ủy ban thường vụ đặc biệt trung ương là Hồng Lan Hữu rằng, những vấn đề phải giải quyết trước mắt rất nhiều, hy vọng Tưởng Giới Thạch có thể sớm đến Trùng Khánh để cùng bàn cách giải quyết. Tới ngày 27, Lý Tông Nhân khi nói chuyện với Hồng cũng nhắc lại rằng thế cục giờ đã vô cùng nguy hiểm, khó có thể phục hồi, chỉ mong Tưởng Giới Thạch có thể đến sớm.
Ngày 29/10, Bạch Tông Hy từ Trùng Khánh cũng gọi điện cho Tưởng, nói Tưởng nhanh chóng đến để “chủ trì đại sự”. Mãi tới ngày 2/11, Tưởng Giới Thạch mới gọi điện lại cho Bạch nói rằng hiện tại mình đang bận chuẩn bị cho việc bảo vệ Đài Loan, tuy nhiên, giữa tháng (tháng 11) sẽ tới Trùng Khánh. Tuy nhiên, các tướng tá của Tưởng ở Trùng Khánh thì như ngồi trên lửa đốt.
Vì vậy, tới ngày 4/11, Bạch Tông Hy hẹn một thân tín của Tưởng là Ngô Trung Tín, nói rằng tình hình đã bước vào giai đoạn nghiêm trọng, phải có sự có mặt của Tưởng để chỉ đạo mọi việc. Trước khi Ngô trở về, Bạch Tông Hy còn tự mình viết một bức thư nhờ Ngô chuyển tận tay cho Tưởng. Bạch Tông Hy thậm chí còn nói với Ngô rằng, với ông ta, Lý Tông Nhân chỉ là “quyền tổng thống” còn thì vẫn muốn mời Tưởng trở lại ghế Tổng thống.
Lý Tông Nhân cũng cảm thấy rõ cái không khí muốn Tưởng quay trở lại ghế Tổng thống. Không muốn ngồi yên chờ trói, Lý Tông Nhân lấy cớ thị sát, bay tới Côn Minh gặp Lư Hán, người cầm đầu lực lượng đang đóng tại Vân Nam. Lư Hán đề nghị, lấy danh nghĩa tất cả mọi người đánh điện cho Tưởng, đề nghị Tưởng chuyển chính phủ tới Côn Minh. Đợi sau khi Tưởng tới thì bắt ông ta lại rồi “xẻo từng miếng một cho bõ cơn tức”. Lý Tông Nhân phát hiện Lư Hán không ổn, sợ ông ta cũng bắt luôn cả mình làm “quà” cho quân Cộng sản nên vội vàng rời khỏi Côn Minh.
Tới ngày 11/11, Tưởng Giới Thạch gặp Ngô Trĩ Huy hỏi ý kiến về việc có nên đi Trùng Khánh hay không. Ngô nói rằng, nên đi, tuy nhiên đề nghị tuyệt đối không cho phép Lý Tông Nhân thoái thác trách nhiệm trong chính phủ. Tưởng cho rằng, ý kiến của Ngô Trĩ Huy rất hợp với ý mình. Ngày 14, Tưởng đáp máy bay tới Trùng Khánh. Ngày 18, Tưởng triệu tập thành viên cốt cán của đảng và chính phủ ở Trùng Khánh.
Thực tế, lúc này, trong lòng Tưởng đã biết chắc rằng không còn gì có thể cứu vãn được nữa, tuy nhiên, ông ta vẫn gọi điện cho Bạch Tông Hy nói Bạch đưa Lý Tông Nhân quay trở về Trùng Khánh.
Tuy nhiên, trước đó một ngày, Lý gọi điện cho Diêm Tích Sơn nói rằng bệnh dạ dày của mình lại tái phát, cần phải ở Nam Ninh tĩnh dưỡng vài ngày không thể trở về Trùng Khánh được. Tới ngày 20, Lý Tông Nhân ủy thác cho Bạch Tông Hy tới Trùng Khánh thay mình báo cáo với Tưởng rằng, trưa ngày hôm đó, Lý đã lên máy báy tới Hồng Kông, đồng thời, giao cho Lý Phẩm Tiên mang bức công hàm tới cho Tưởng, nói rằng, dạ dày mình có hiện tượng chảy máu, buộc phải sang Mỹ kiểm tra và làm phẫu thuật.
Nhận được công hàm, Tưởng cho rằng, Lý Tông Nhân thấy nguy nên từ chức, và việc bay sang Hồng Kông, một khu vực thuộc về Anh là sỉ nhục “quốc thể”. Tới ngày 21, Tưởng hẹn gặp Bạch Tông Hy nói rằng, giờ đây không thể “quay trở lại để trông coi mọi việc”. Vì vậy, Tưởng sai Cư Chính, Chu Gia Mã thay mặt trung ương Quốc dân Đảng mang công hàm do chính tay Tưởng viết tới Hồng Kông thăm Lý Tông Nhân đang “dưỡng bệnh” tại đây và khuyên Lý trở về Trùng Khánh.
Ban đầu, Tưởng Giới Thạch cho rằng, quân Cộng sản sẽ từ Thiểm Nam tấn công Xuyên Bắc, vì vậy dồn hết lực lượng về đây. Tuy nhiên, khi thấy quân Tưởng bố trí phòng thủ Xuyên Bắc, quân Cộng sản Trung Quốc đã thực hiện chiến lược đánh đường vòng. Đầu tiên tấn công Quý Châu và đông nam Tứ Xuyên. Ngày 11/5, quân Cộng sản chiếm Quý Dương. Ngày sau đó, chiếm luôn Bành Thủy, cửa ngõ phía đông của Tứ Xuyên. Quân Cộng sản từ các mặt phía nam và phía đông tấn công thẳng về phía Trùng Khánh.
Tưởng Giới Thạch vội vã điều binh đoàn số 15 của La Quảng Văn tới bờ phía nam của Trường Giang để phòng thủ ở Kỳ Giang, đồng thời lệnh cho quân của Hồ Nam Tông rút khỏi Xuyên Bắc chuyển đến tập kết ở khu vực Thành Đô, đồng thời lệnh cho sư đoàn 1 và 2 trong quân của Hồ nhanh chóng về Trùng Khánh. Dự định của Tưởng là sẽ tổ chức cuộc chiến chống lại quân Cộng sản ngay tại Trùng Khánh. Tuy nhiên, đến ngày 27, quân Cộng sản chiếm được Kỳ Giang, quân của La Quảng Văn bỏ chạy khiến Trùng Khánh ở vào thế nguy cấp.
Trong thời gian này, Tưởng đã rất nhiều lần có ý định tự sát. Tuy nhiên, Tưởng cho rằng, dù cho khu vực Tây Nam đại lục có bị phá thì vẫn còn Đài Loan. Chỉ cần duy trì được mạng sống thì Quốc dân đảng có thể xây dựng lại. Chính vì vẫn còn điểm níu giữ là Đài Loan nên Tưởng đã từ bỏ ý định tự sát. Ngày 29/11, Tưởng cùng thủ hạ rút chạy về Thành Đô, nơi quân của Hồ Tông Nam đang tập kết. Tại đây, Hồ Tông Nam đã tìm gặp Tưởng và nói rằng, việc di chuyển quân rất khó khăn. Tưởng Giới Thạch đã khích lệ Hồ, nói rằng Hồ nên cố gắng chuyển quân phòng thủ Nội Giang. Theo tính toán của Tưởng, quân của Hồ phải rút về tới Tây Xương.
Tuy nhiên, biết rằng Tây Xương khó có thể giữ được lâu, Tưởng ra lệnh cho Diêm Tích Sơn chuẩn bị việc rút chạy ra Đài Loan. Nhiều người lo sợ Đài Loan sẽ bị Anh và Mỹ dùng vũ lực chiếm. Tuy nhiên, Tưởng khẳng định Anh Mỹ không dám. Hai ngày sau, Tưởng và con trai lên máy bay trở về Đài Loan để lại bọn Hồ Tông Nam một mình đối mặt với quân Cộng sản Trung Quốc.
Ngày 22/12, do quá lo sợ, Hồ Tông Nam đã lên máy bay trốn ra đảo Hải Nam. Tới ngày 28, Hồ Tông Nam bị Tưởng bức ép đã phải quay trở lại Tây Xương tiếp tục điều hành công cuộc “chống Cộng”. Tuy nhiên, tới ngày 27/3, khi quân Cộng sản chiếm được Tây Xương, Hồ Tông Nam một lần nữa lại lên máy bay trốn ra Hải nam. Ngày 13/4, toàn bộ tàn quân Quốc dân Đảng ở khu vực Tây Nam bị tiêu diệt. Giấc mộng căn cứ địa khu vực Tây Nam của Tưởng Giới Thạch hoàn toàn tan vỡ. Tưởng chỉ còn một mảnh đất duy nhất có thể cố thủ, đó là Đài Loan.
Nguồn: Nghiên cứu lịch sử
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/03/20/tai-sao-tuong-gioi-thach-chon-dai-loan/
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/…/tai-sao-tuong-gioi-thach-cho…/…
Tác giả: Cù Thăng Trước khi cuộc nội chiến kéo dài gần bốn năm kết thúc với thất bại thuộc về phía Quốc dân Đảng, Tưởng Giới Thạch và thuộc hạ đã rút chạy ra đảo Đài Loan, coi đây như một căn cứ địa mới để “phản công đại lục, phục hưng quốc đảng”.…
nghiencuuquocte.org

08/12/1949: Quốc Dân Đảng chạy sang Đài Loan

08/12/1949: Quốc Dân Đảng chạy sang Đài Loan

08
Posted on 08/12/2016 by Kim Phụng
Print Friendly
08
Nguồn: Chinese Nationalists move capital to Taiwan; History.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1949, sau nhiều lần thất thế trước phe cộng sản của Mao Trạch Đông, một số lãnh đạo Quốc Dân Đảng đã chuyển ra đảo Đài Loan, nơi họ lập ra một thủ đô mới. Tưởng Giới Thạch cũng lên đường ra đảo vào ngày hôm sau. Hành động này đã đánh dấu bước khởi đầu của cái gọi là “hai Trung Quốc” – đặt đại lục dưới sự kiểm soát của phe cộng sản và gây khó khăn ngoại giao cho Mỹ trong 30 năm tiếp theo. Đó còn là dấu hiệu kết thúc cuộc chiến kéo dài giữa lực lượng Quốc Dân Đảng và phe cộng sản của Mao Trạch Đông, dù rằng các lực lượng Quốc Dân Đảng sót lại (ở Đại lục) vẫn tiếp tục chiến đấu rải rác với quân đội cộng sản.
Vào thời điểm đó, nhiều nhà quan sát hy vọng rằng sự kết thúc nội chiến và quyết định thành lập một chính phủ riêng ở Đài Loan của Quốc Dân Đảng sẽ giúp các nước khác dễ dàng công nhận nhà nước cộng sản mới – Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, đối với Mỹ, hành động này chỉ gây thêm khó khăn cho chính sách ngoại giao. Nhiều người ở Mỹ, bao gồm cả các thành viên của “Nhóm Vận động Hành lang Trung Quốc” (China Lobby – các cá nhân và nhóm ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc), đã kêu gọi chính quyền của Tổng thống Harry S. Truman tiếp tục hỗ trợ chính phủ của Tưởng Giới Thạch bằng cách không công nhận chính quyền cộng sản ở đại lục.
Thực ra, việc chính quyền Truman công nhận chính phủ Quốc Dân Đảng Đài Loan đã khiến Mao tức giận, và cũng chấm dứt mọi khả năng phát triển quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong những năm sau năm 1949, Mỹ tiếp tục hỗ trợ Đài Loan, trong khi chính phủ của Mao thì chống lại Quốc Dân Đảng.
Tuy nhiên, đến khoảng thập niên 1970, các nhà hoạch định chính sách Mỹ – với mong muốn thiết lập quan hệ kinh tế với Trung Quốc, và hy vọng sử dụng nước này để cân bằng chống lại sức mạnh của Liên Xô – đã chuyển sang quan hệ gần gũi hơn với chính quyền cộng sản. Năm 1979, Mỹ chính thức công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/12/08/quoc-dan-dang-chay-sang-dai-loan/

Xem thêm:
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/…/quoc-dan-dang-chay-sang-dai-…/…

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Đáp lễ Obama, Thủ tướng Nhật sắp thăm Trân Châu Cảng

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sẽ trở thành lãnh đạo đầu tiên nước này đến thăm Trân Châu Cảng, sau khi Tổng thống Mỹ Obama đến thăm Hiroshima hồi tháng 5.

dap-le-obama-thu-tuong-nhat-sap-tham-tran-chau-cang
Thủ tướng Nhật Shinzo Abe, phải, và Tổng thống Obama sắp thăm Trân Châu Cảng. Ảnh minh hoạ: AFP
"Tôi sẽ đến thăm Trân Châu Cảng cùng Tổng thống Obama. Đây sẽ là chuyến thăm để tưởng nhớ những người đã khuất trong trận chiến. Tôi muốn thế giới thấy quyết tâm của chúng tôi rằng sự khủng khiếp của chiến tranh không nên lặp lại", Reuters dẫn lời ông Abe nói hôm nay.
Với việc thực hiện kế hoạch này, ông Abe sẽ là thủ tướng Nhật đầu tiên thăm căn cứ hải quân Mỹ. Trân Châu Cảng là nơi Nhật đã bất ngờ tấn công Mỹ cách đây 75 năm với hy vọng huỷ diệt sức mạnh của Washington ở Thái Bình Dương. Việc này khiến Mỹ quyết định tham chiến và đánh bại Nhật vào năm 1945, sau khi Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki.
Về phía Mỹ, Nhà Trắng cho biết chuyến thăm của ông Abe và ông Obama sẽ cho thấy sức mạnh của hoà giải đã đưa hai cựu thù trở thành đồng minh thân thiết nhất, liên kết với nhau bởi lợi ích chung và cùng chia sẻ các giá trị chung.
Chuyến thăm của ông Abe diễn ra sau khi ông Obama hồi tháng 5 đến thăm Hiroshima, trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên thăm địa điểm này. Từ đây, Obama kêu gọi các nước không theo đuổi vũ khí hạt nhân.
Theo chương trình, ông Abe sẽ đến Hawaii vào ngày 26-27/12 và dự cuộc gặp thượng đỉnh cuối cùng với Tổng thống sắp mãn nhiệm Obama.

Khánh Lynh Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/dap-le-obama-thu-tuong-nhat-sap-tham-tran-chau-cang-3509059.html?utm_source=detail&utm_medium=box_recommend&utm_campaign=boxtracking

Trận đánh bất ngờ vào Trân Châu Cảng 75 năm trước
Ngày 7/12/1941, hải quân và không quân Đế quốc Nhật Bản bất ngờ tấn công căn cứ Mỹ tại Trân Châu Cảng, Hawaii khiến Mỹ thiệt hại nặng nề và quyết định tham gia Thế Chiến II.
 
7h55 sáng ngày 7/12/1941, hải quân và không quân Đế quốc Nhật Bản bất ngờ tấn công vào căn cứ hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng, Hawaii. Ảnh: Library of Congress.
 
 
Chỉ trong vòng hai giờ, đợt tấn công phá hủy 4 tàu chiến và gần 190 phi cơ, gây hư hại 4 tàu, làm hơn 2.000 lính Mỹ thiệt mạng, khoảng 1.200 người bị thương.

Đây là hình ảnh được cho là quả bom đầu tiên Nhật Bản thả xuống Trân Châu Cảng. Ảnh: AP.
 
 
Trong bài phát biểu trước quốc hội một ngày sau đó, tổng thống Mỹ khi đó là Franklin D. Roosevelt gọi ngày 7/12/1941 là "ngày sẽ sống mãi trong nỗi ô nhục".
Trong ảnh là căn cứ không quân Hickam Field. Các oanh tạc cơ Nhật Bản ngăn Mỹ phản công bằng cách vô hiệu hóa máy bay tại đây. Ảnh: Bettmann Archive.
 
 
Ngay sau đó, quốc hội Mỹ tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản. Ngày 11/12/1941, Đức và Italy cũng tuyên chiến với Mỹ. Mỹ chính thức tham gia Thế Chiến II.
Khói bao trùm tàu USS Arizona khi nó bị nghiêng và chuẩn bị chìm. Ảnh: AP.
 
 
Phi cơ B-17E hạ cánh ở Hickam Field. Căn cứ này chịu tổn thất nặng nề về cả quân nhân và máy bay. Ảnh: Universal History Archive.
 
 
Khu doanh trại tại Hickam Field bị cháy. Ảnh: AP.
 
 
Một phi cơ Nhật Bản bốc cháy sau khi bị hệ thống phòng không Mỹ tấn công đáp trả. Ảnh: AP.
 
 
Tàu USS California chuẩn bị chìm xuống đáy biển sau khi bị trúng bom. Ảnh: Library of Congress.
 
 
Các bà vợ của binh sĩ Mỹ quay vào trong nhà sau một tiếng nổ ở Trân Châu Cảng. Ảnh: AP.
 
 
Trận Trân Châu Cảng được coi là một trận thắng lớn đối với Đế quốc Nhật Bản. Sau đó, Đế quốc Nhật Bản tấn công chớp nhoáng Hong Kong, Singapore, Myanmar, Philippines, bán đảo Mã Lai và New Guinea.
Tàu cứu hộ tìm cách cứu một thủy thủ trên tàu USS West Virginia đang bốc cháy. Ảnh: Library of Congress.
 
 
Tháng 9/1945, Thế Chiến II kết thúc không lâu sau khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật Bản là Hiroshima, ngày 6/8/1945, và Nagasaki, ngày 9/8/1945. Nhật Bản chính thức đầu hàng ngày 15/8/1945.
Trong ảnh, người dân Mỹ tập trung tại Quảng trường Thời đại, New York, theo dõi thông tin thiệt hại trong trận Trân Châu Cảng. Ảnh: AP.
Như Tâm

Nuồn: http://vnexpress.net/photo/tu-lieu/tran-danh-bat-ngo-vao-tran-chau-cang-75-nam-truoc-3509720.html?utm_source=home&utm_medium=box_anh_home&utm_campaign=boxtracking



Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Việt Nam sắp có đổi tiền hay sắp có đảo chánh?



Việt Nam sắp có đổi tiền hay sắp có đảo chánh?

Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) - Cả xã hội Việt Nam đang dao động mạnh vì mọi người ồ ạt đổ xô đi mua vàng, ngoại tệ cũng như lương thực chính yếu để dự trữ, đề phòng CSVN loan báo đổi tiền đột ngột.
Giá vàng trên thị trường thế giới mấy ngày qua giảm mạnh do thị trường chứng khoán ở Mỹ tăng khiến các nhà đầu tư không còn muốn giữ vàng nữa. Thế nhưng ở Việt Nam thì lại khác, giá vàng tăng mạnh suốt mấy ngày qua, có khi lên đến 38 triệu đồng một lượng giá chợ đen dù đảng cố ghìm giá chính thức ở mức 36,3 triệu, tức là chấp nhận giá tăng ở mức 350 ngàn đồng một lượng so với tháng trước.
Từ lâu, người dân ở hầu hết các tỉnh phía Nam và nhất là ở Sài Gòn đều vẫn còn bị ám ảnh bởi những đợt đổi tiền bất ngờ như trời giáng và tráo trở ăn cướp đến trắng trợn của Việt Cộng sau ngày Tháng Tư Đen. Cho nên, hầu hết bà con cô bác ai ai cũng rất vô cùng "nhạy cảm" với tin đồn này. 
Người dân ùn ùn đi mua vàng khiến CSVN phát hoảng, lật đật ra thông cáo vào ngày 30 tháng 11 rằng thì mà là không có chuyện đổi tiền bất ngờ. Điều này lại khiến người dân lại nhớ đến vụ đổi tiền bất ngờ vào ngày 14 tháng Chín năm 1985 sau khi Phạm Văn Đồng cam kết láo là sẽ không có đổi tiền một ngày trước đó trên đài truyền hình, lẫn đài phát thanh. Thế là nay bà con lại càng ùn ùn đổ đi mua vàng dữ dội hơn nữa. "Thôi kệ, thà là cất vàng trong túi còn hơn là cất tiền của đảng, mai vầy mốt nọ," khắp nơi nơi ngoài phố ai ai cũng nói như vậy. Thời buổi này đâu còn ai tin bọn Việt Cộng nữa. 
Có ba nguyên nhân chính khiến tin đổi tiền được rộ lên mạnh mẽ ở lần này. 
Nguyên nhân thứ nhất là ngân hàng quốc doanh của đảng đã cạn kiệt hết tiền vì tràn ngập nợ xấu không thể cứu vãn, và đang đi đến buộc phải chấp nhận phá sản vỡ nợ như là lối thoát duy nhất. Điều này khiến người dân hầu hết đều có thể đoán trước là để giảm thiểu bớt con số nợ nần khổng lồ và để tránh khỏi bị tai tiếng phá sản cho các hệ thống ngân hàng quốc doanh, thì ngoài đổi tiền ra, CSVN không còn con đường lựa chọn nào khác. Chỉ cần đổi tiền với tỷ lệ như năm 1985, nghĩa là một đồng mới ăn mười đồng cũ thôi thì cả ngàn tỷ nợ nần của hệ thống ngân hàng do đảng kiểm soát đột nhiên được giảm xuống mười lần, chỉ còn vài tỷ hay thậm chí, chỉ còn vài trăm triệu nếu tỷ lệ tiền mới ăn tiền cũ cao hơn mười lần. 
Các vụ đổ bể nợ nần của các ngân hàng quốc doanh là một sự thật mà đảng không thể nào bưng bít được nữa. Năm 2012, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng quốc doanh được loan báo lên đến 17%, gây hoang man cho mọi tổ chức tài chánh thế giới đang muốn viện trợ hay cho Việt Nam vay nợ, dù rằng đảng đã cố hứa hẹn là sẽ phấn đấu giảm tỷ lệ nợ xấu xuống còn 3%. Tổng số nợ xấu hiện nay của các ngân hàng quốc doanh được đoán là ở mức rất cao, khoảng 11 tỷ Mỹ kim, gần bằng 10% GDP của cả nước (*^).
CSVN đang túng thiếu nghiêm trọng về tài chánh do nợ xấu và tham nhũng xảy ra ở mọi cơ quan, từ các tập đoàn kinh tế lẫn ngân hàng nên cần ngoại tệ của Việt Kiều gởi về từ Mỹ như cây cối cần nước. Trước bối cảnh IMF cắt giảm các khoản cho vay đối với Việt Nam kể từ năm 2017 trở đi như tổ chức này loan báo, thì viễn cảnh tài chánh của đảng lại càng thêm tăm tối. Không có Việt kiều “phản động” cờ Vàng ở Mỹ gởi tiền về cả chục tỷ đô la mổi năm để giúp đảng, chưa kể du lịch gởi quà thì chắc chắn, lượng ngoại tệ và nền tài chánh của đảng sẽ bị thiếu hụt nghiệm trọng không còn cách cứu vãn. Do đó, nguy cơ khủng hoảng tài chánh tại Việt Nam ngày một hiện rõ, khiến việc có tin đồn đổi tiền hoàn toàn cho thấy sự hoang man của cả xã hội trước nguy cơ này là một điều tất yếu phải có.
Nguyên nhân thứ hai của tin đồn đổi tiền lần này là việc CSVN đang có khuynh hướng chấp nhận đồng Nguyên hay còn gọi là Nhân Dân tệ của Trung Cộng như là đồng tiền chính thức trong mọi trao đổi mua bán trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này khiến người dân lo sợ tiền Việt Nam trong tương lai sẽ không còn vai trò giá trị gì nữa, nhất là nếu nước Mỹ không chìa tay cứu vớt CSVN thông qua TPP, vốn có khả năng bị bãi bỏ rất cao vào năm tới. Mất TPP, CSVN sẽ hết cách chọn lựa mà ngả vào lời ve vãn gia nhập thị trường kinh tế chung với Trung Cộng để rồi đồng Nguyên sẽ hoàn toàn thay thế tiền Việt Nam. Vào năm ngoái, tổng số trao đổi mua bán giữa hai nước thanh toán trực tiếp bằng đồng Nguyên đã lên đến 15 tỷ (***). Phía Trung Cộng vẫn đang gây áp lực để đảm bảo đồng Nguyên trở thành tiền tệ chính thức trong trao đổi tại Việt Nam.
Bất luận sử dụng đồng Nguyên là tiền tệ chính thức có phải là hệ quả của hiệp nghị Thành Đô do bè đảng của Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười cam kết hay không, thì do tình trạng nhập siêu quá nặng từ Trung Cộng, chính thức lên trên 30 tỷ Mỹ kim vào năm ngoái (*^^), Việt Nam đương nhiên sẽ lún sâu trong nợ nần với Trung Cộng và buộc phải chảy máu đô la Mỹ để quân bằng cán cân nợ nần thương mại, tức là phải lấy đô la Mỹ để mua đồng Nguyên dự trữ nhằm chi trả cho thâm hụt mậu dich đối với Trung Cộng. Cho nên, nếu đảng tiến hành đổi tiền, thì mức chảy máu đô la Mỹ do nhập siêu từ Trung Cộng sẽ giảm đi ít nhất là mười lần nếu đổi tiền theo tỷ lệ như năm 1985. Đảng nhìn thấy được thì người dân cũng nhìn thấy được. Cho nên, không có tin đồn đổi tiền thì người dân cũng cần phải thủ cho chắc, giữ ngoại tệ hay vàng để ứng phó trước khả năng đảng tuyên bố đổi tiền để quỵt nợ. Niềm tin vào ngoại tệ hay vàng của người dân đang tăng trong khi chẳng một ai còn tin tưởng vào tiền tệ của một nhà nước chỉ luôn dối trá như CSVN cả.
Nguyên nhân thứ ba của tin đồn đổi tiền, suy cho cùng, và cũng là quan trọng nhất, vẫn là những bất ổn về chính trị sẽ bùng phát từ tranh chấp nội bộ ĐCSVN. CSVN thật sự đang đứng trước nguy cơ bị đảo chánh bởi quân đội. 
Bằng chứng là vào ngày 23 tháng Mười năm nay, Nguyễn Xuân Phúc đã phải đến Học Viện Chính Trị yêu cầu gia tăng quyền lực của các chính ủy viên trong quân đội nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng đối với quân đội. Ông Phúc khẳng định rằng: "Nếu xa rời sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, quân đội sẽ mất phương hướng chính trị trong xây dựng và chiến đấu, sẽ phân rã về tư tưởng và tổ chức. Chúng ta kiên quyết không chấp nhận tư tưởng “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang” (^^^). Rõ ràng, lời khẳng định này thể hiện sự lo âu của đảng trước tình trạng quân đội đang ngày càng chống lại sự lãnh đạo của đảng. 
Từ thời Lê Duẩn, chưa bao giờ quân đội nón cối của đảng bị nêu đích danh là phải giữ vững lập trường và phục tùng sự lãnh đạo của đảng như lần này cả. Quyền lãnh đạo lên quân đội của đảng bao giờ cũng là tuyệt đối là một điều hiển nhiên. Thế những lần này, lời tuyên bố của ông Phúc làm mọi người sửng sốt. Quân đội phải đang có khuynh hướng đi trật khỏi đường rày của đảng, "trên bảo dưới không nghe" thì đảng mới phải cảnh báo thẳng thừng như vậy.
Một bằng chứng nguy hiểm khác cho việc quân đội nón cối đang đâm sau lưng đảng là chính tướng Nguyễn Chí Vịnh tuyên bố ủng hộ sự can dự quân sự của Hoa Kỳ tại biển Đông (**) vào 19 tháng Mười trong khi Đinh Thế Huynh sửa soạn khăn gói viếng thăm Trung Cộng cũng cùng vào thời điểm này (19-21/10).
Trong chuyến viếng thăm này, ông Huynh cố khẳng định tình đồng chí giữa hai đảng Cộng Sản là “lựa chọn chiến lược chính trị của Việt Nam" nhằm tìm đường dựa dẫm và làm đẹp lòng Bắc Kinh. Ông Huynh phải hiểu rõ Trung Cộng từ tám năm qua phản kháng rất mạnh mẽ sự can dự của Hoa Kỳ vào biển Đông. Cho nên muốn khẳng định gắn chặt keo sơn tình đồng chí giữa hai đảng Cộng Sản để dựa dẫm thì Cộng đảng của ông Huynh không thể nào lại hoan hô Hoa Kỳ kéo chiến hạm vào Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa nay đang bị Trung Cộng cưỡng chiếm để đe dọa Trung Cộng được. Tướng Vịnh lại tuyên bố ủng hộ Hoa Kỳ can dự quân sự vào biển Động như thế thì chẳng khác nào là thổi kèn ngược khiến ông Huynh bể mặt trước Tập Cận Bình?! 
Rất hiếm thấy khi đảng đánh trống xuôi, quân đội lại thổi kèn ngược như vậy. Rõ ràng, Vịnh muốn Huynh bị đổ vỡ ngoại giao ở Bắc kinh và lâm vào cảnh gạo đã thành cơm, hết cách lựa chọn nên phải bay qua Hoa Kỳ cấp tốc không loan báo chính thức trước để gặp Ngoại trưởng Kerry. Vịnh dù có gan trời cũng chẳng dám chống lại đảng, nhất là chống lại Đinh Thế Huynh; nhưng sức mạnh của Hoa Thịnh Đốn lớn quá, con gà rót Nguyễn Chí Vịnh cũng đành hết cách! 
Cùng lúc tin đồn đổi tiền đang lan khắp xã hội thì số phận của hai cha con cựu bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh càng lúc càng trở nên bi đát. Dường như TC II của Nguyễn Chí Vịnh đã nằm im, nhắm mắt làm ngơ không còn can thiệp nữa. Con ông Thanh là đại tá Phùng Quang Hải bị bay chức tổng giám đốc tập đoàn 319 vào tháng này (*) và bản thân ông Thanh cũng đang bị các sĩ quan viết đơn tố cáo trước đảng, yêu cầu kỹ luật. 
Điều này báo hiệu cho thấy đàn em của ông Thanh vốn trung thành với đảng trong bộ QP sắp sửa bị nguy khốn đến nơi, nhất là các tướng lãnh tư lệnh các quân khu ở các tỉnh phía Bắc, trong đó có QK II. Vụ rối loạn tại QK II và vụ bí thư Yên Bái liên quan đến QK II bị giết còn chưa kịp chìm xuồng thì việc quân đội tiếp tục có thanh trừng cho thấy sự rạn nứt bên trong quân đội, giữa những tướng lãnh trung thành với đảng và những tướng lãnh chống đảng đang bắt đầu lan rộng, đang ngày một gay gắt hơn. Sự gay gắt này khiển khả năng có động binh đảo chánh tưởng chừng như không thể trong một xã hội Cộng Sản chuyên chế thì nay lại đang ngày một hiện rõ. 
Dù sao, không phải là TBT Gorbachev cũng đã từng bị quân đội bất ngờ đảo chánh hay sao? Hơn nữa, nếu quân đội nón cối không có rối loạn và hiện không có xảy ra nổ lực thanh trừng những ai trong bộ QP trung thành với lãnh đạo đảng từ phe cánh tướng lãnh muốn chống lại lãnh đạo đảng thì ông Phúc kêu gào quân đội trung thành với lãnh đạo đảng mà làm gì?
Sự bất ổn tranh chấp gay gắt trong nội bộ CSVN còn thể hiện qua việc TBT Trọng tự mình chui vào bộ Công An (CA) để xét việc. Cũng giống như việc Vịnh thổi kèn ngược vào tháng Mười vừa qua, việc một TBT thư chui vào đảng ủy bộ CA cũng là một điều chưa từng có. Đều này chứng tỏ ngay cả lực lượng CA cũng đã không còn chịu nghe lời đảng nữa buộc ông TBT tìm cách để ra tay khống chế trở lại. 
Một mình TBT Trọng có đủ lấn áp nổi cả bộ CA đang muốn thoát đảng và cố trút hết tiếng oán của người dân lên đảng để chạy tội hay không, tuy vẫn còn là dấu hỏi; nhưng khả năng TBT Trọng làm chủ được tình hình là rất thấp. Đơn giản, nếu quân đội rục rịch thì ngu dại gì bộ CA lại đi hứng đạn giùm cho đảng?! Toàn bộ lực lượng CA, đi làm CA từ quan đến lính, chỉ vì chén cơm mà phải chịu tiếng oán thế cho đảng, lỡ mà sa cơ là bị thiệt mạng ngay! Cho nên việc bộ CA hùa theo quân đội để lật đảng bất ngờ vào giờ chót, nhằm lấy chút công lật đảng mà giữ mạng thì tại sao lại không thể? Dậu đổ thì bìm leo, thói đời vẫn thế!
Như vậy, tình hình cho thấy rõ cả CA và quân đội nón cối đang có xu hướng thoát khỏi đảng. Hiện vẫn còn chưa lộ rõ chắc chắn là Nguyễn Chí Vịnh có liên kết với Trần Đại Quang để hạ bệ Đinh Thế Huynh hay TBT Trọng hay không, nhưng chắc chắn, sự đòi hỏi của đảng về lòng trung thành tuyệt đối của quân đội nón cối đối với đảng sẽ một ngày một khó thực hiện hơn. 
Hơn nữa, áo cơm súng ống của quân đội hiện nay là do ai chu cấp, đảng hay là Hoa Kỳ? 
Nếu là đảng như trong thời gian chiến tranh Lạnh, thời mà Lê Duẩn tha hồ làm mưa gió do có Liên Xô hậu thuẫn tuyệt đối về mọi mặt thì quân đội nón cối nghe theo sự lãnh đạo đảng là điều đương nhiên; còn nếu nay là do Hoa Kỳ chu cấp thì nếu Hoa Kỳ không muốn đảng CSVN tồn tại nữa, quân đội nón cối sẽ buộc phải nghe lệnh của Hoa Kỳ mà phế đảng trong chớp nhoáng. 
Và kịch bản cho quân đội nón cối lẫn CA rắp tâm phế đảng, có lẽ đang thật sự bắt đầu từ tin đồn đổi tiền vào cuối năm 2016. Xã hội cần phải rối loạn thì quân đội mới có thể có cớ đảo chánh phế đảng được.

Ghi chú:
(*) Xin lưu ý thêm ngoài "chủ đề" bài viết là việc ông Hải con tướng Thanh mất chức cho thấy mọi dự án nâng cấp các sân bay quân sự quan trọng xung quanh cảng Cam Ranh như sân bay quân sự Phan Thiết chẳng hạn, sẽ lọt vào tay của kẻ khác. Các dự án quân sự tân trang nâng cấp các sân bay quân sự này chắc chắn có chi viện từ bộ QP Hoa Kỳ nhằm đảm bảo tiến trình quân sự hóa cảng Cam Ranh thêm thuận lợi cho mai này. Cảng Cam Ranh hiện đã và đang được tu sửa với kinh phí lên đến trên 78 triệu Mỹ kim trong bước đầu, với vốn hầu hết đến từ tổng công ty dầu khí PVN, vốn là bàn tay nối dài của Hoa Kỳ nhằm ảnh huởng lên chính trường Việt Nam. Như vậy, hành động ông Hải bị cách chức và việc tướng Vịnh ủng hộ Hoa Kỳ can dự quân sự tại biển Đông gắn liền nhau vì phù hợp với nguyện vọng của Hoa Kỳ trong tiến trình hợp tác quân sự giữa hai nước. Từ lâu, Hoa Kỳ đã muốn loại tướng Thanh vì ông tướng nón cối này có lập trường quy lụy Trung Cộng như TBT Trọng hay Đinh thế Huynh.
(*^^)
Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2016/12/viet-nam-sap-co-oi-tien-hay-sap-co-ao.html

Ngân Hàng NN công bố mẫu tiền mới in từ TQ đã chuyển hết về VN để phục vụ việc đổi tiền
phá sản, ngân hàng, kém hiệu quả, Kinh tế VN, sụp đổ toàn diện, ngân hàng sẽ phá sản dân ồ ạt rút tiền gửi, tránh rủi ro, Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng, tổ chức tín dụng, nợ công tăng, đổi tiền, phá sản kinh tế, sụp đổ chế độ, Sắp đổi tiền, sap doi tien, đổi tiền, doi tien, tien moi, mau tien moi, in từ Trung Quốc, Tin tức Hàng ngày, Tin tuc Hang ngay, tintuchangngay, tintuchangngayonline, giá vang do la tăng,
 https://youtu.be/MiBoJAsyqwY
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/viet-nam-nhap-sieu-hon-32-ty-usd-tu-trung-quoc-3333807.html

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa: Việt Nam Cộng hòa thực thi ra sao?

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa: Việt Nam Cộng hòa thực thi ra sao?

Posted By Chinh Luan on 10 tháng 7 2014 | 12:21


Trần Nguyễn Anh (TP) - Ngày 23/5/2014, tại cuộc họp báo quốc tế của Bộ Ngoại giao về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, trả lời báo chí về việc quản lý Hoàng Sa, Trường Sa những năm 1960-1970 của thế kỷ trước, Bộ Ngoại giao khẳng định “Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa”.

Kỳ I: Khẳng định chủ quyền

Lý giải vấn đề này, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói: “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa. Giá trị công thư phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công thư gửi Trung Quốc lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc quản lý của Việt Nam cộng hòa, Trung Quốc chỉ là một bên tham gia. Không thể cho người khác cái gì mà bạn chưa có được”.

 
Biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Ảnh: Tư liệu

Chính quyền Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa trước năm 1975 như thế nào? Phóng viên Tiền Phong có bài viết cung cấp thêm thông tin cho bạn đọc.

Kế thừa

Trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20 đầy biến động, Việt Nam cũng như nhiều nước khác bị thực dân đế quốc đô hộ, nhưng nhà nước phong kiến Việt Nam đã khéo léo trong việc thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là việc kế thừa văn hóa biển lâu đời của người Việt, mà bằng chứng thể hiện trên Trống Đồng Ngọc Lũ hay các di chỉ ven biển Đông cũng như các di tích khảo cổ ven bờ và các hòn đảo.

Triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận sự quản lý đối với Hoàng Sa từ triều Lê với nhiều văn bản cấp quốc gia quản lý Hoàng Sa. Năm 1802 dưới thời vua Gia Long đã thiết lập Đội Hoàng Sa đã kiểm soát và khai khẩn quần đảo.

Mặc dù đất nước chịu họa xâm lăng của người Pháp, nhưng triều đình nhà Nguyễn vẫn là nhà nước nắm giữ chính quyền, đặc biệt là sự kiểm soát chặt chẽ địa lý hành chính khu vực miền Trung nơi có kinh đô Huế. Nghị định ra ngày 15/6/1932 toàn quyền Đông Dương đã đặt Hoàng Sa thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, tức là dưới sự quản lý trực tiếp của Triều đình Huế. Binh lính được đưa ra đảo đồn trú. Năm 1938 có chỉ dụ của Đại Nam Hoàng Đế Bảo Đại số 10, ngày 30/3/1938 về Hoàng Sa.

Tàu Nhật Tảo tham gia bảo vệ Hoàng Sa và bị chìm

Việc quản lý vẫn tiếp tục ngay cả khi phát xít Nhật chiếm đóng trái phép (Năm 1939 chính phủ Pháp đã phản đối việc chiếm đóng của phát xít Nhật). Phát xít thua trận, Hội nghị San Francisco được tổ chức với 51 nước tham dự. Điều 2 của hòa ước San Francisco năm 1951 có hiệu lực tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia từng bị phát xít Nhật chiếm đóng. Đoàn đại biểu Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và nhận được sự đồng ý của 48/51 đại biểu của các nước tham dự và tiếp tục sự quản lý hoàn toàn hợp pháp của mình với Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau năm 1954, tăng cường luật pháp

Hiệp định Geneve lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời, ghi: “Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy”. Bản Tuyên bố chung, được phổ biến rộng rãi tại miền Nam khi đó cũng ghi rõ: “Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ”. Việc tổng tuyển cử thống nhất hai miền vì nhiều lý do bị trì hoãn, nhưng việc thực thi chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa luôn được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chú ý.

 
Khai hỏa trận Hoàng Sa. Ảnh: Tư liệu

Vấn đề hải phận đã được cụ thể hóa bằng Sắc lệnh số 81-NG của Thủ tướng chính phủ VNCH ngày 27/5/1965 ấn định hai khu vực: Một khu vực gọi là Khu vực phòng vệ trong giới hạn 03 Hải lý kể từ bờ. Một khu vực gọi là Khu vực kế cận kể từ ranh giới ngoài hải phận đến giới hạn 12 hải lý kể từ bờ. Trong khu vực kế cận, văn kiện ấn định cho quốc gia những thẩm quyền tương đương với quyền mà thỏa ước Geneve quy định cho một quốc gia ven biển, đối với vùng kế cận hải phận của mình.

Năm 1969, VNCH đã thành lập một Ủy ban Liên bộ soạn thảo dự luật quy định hải phận quốc gia.

Vấn đề thềm lục địa cũng nóng lên cùng với những hoạt động con thoi: Một bản tuyên cáo của Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia ngày 7/9/1967 xác định phần lòng đất và đáy biển thềm lục địa là một phần lãnh thổ quốc gia, và thuộc thẩm quyền của Chính phủ VNCH.

Năm 1968, VNCH thành lập một Ủy ban nghiên cứu thềm lục địa, sau đó giao công việc lại cho Ủy ban Quốc gia dầu hỏa 2/6/1971.

Ngày 13/7/1961 dưới thời Đệ nhất cộng hòa, Tổng thống VNCH đã ban hành sắc lệnh 174NV đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam thay vì tỉnh Thừa Thiên và thành lập lại quần đảo này thành xã Định Hải, quận Hòa Vang.

Dưới thời Đệ nhị cộng hòa, Nghị định số 709-BNV/HC ngày 21/10/1969 của Thủ tướng chính phủ VNCH đã sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam.

Tìm tiếng nói quốc tế

Hội nghị Liên Hợp Quốc (LHQ) lần 1 về Luật Biển được tổ chức vào năm 1958 tại Geneve với 86 quốc gia tham dự, trong đó có VNCH. Hội nghị này đã chấp thuận bốn công ước về luật biển.

-Công ước về lãnh hải và vùng tiếp cận

-Công ước về biển cả

-Công ước về đánh cá và bảo toàn tài nguyên sinh vật ở biển cả

-Công ước về thềm lục địa

Tất cả các công ước này có hiệu lực vào các năm khác nhau sau đó, với số quốc gia kết ước trung bình vào khoảng 40 mỗi công ước. Kỹ sư Trần Văn Khởi, Tổng cục trưởng Dầu hỏa và Khoáng sản của VNCH đánh giá rằng: “Hai khuyết điểm vô cùng quan trọng của các công ước này là không định được giới hạn của lãnh hải, và không định nghĩa rõ ràng về thềm lục địa”.

Cuối năm 1974, sau khi Trung Quốc đánh chiếm trái phép Hoàng Sa, Đoàn VNCH cũng tham dự Hội nghị Luật biển lần thứ 3 của LHQ tại Caracas ngày 2/7/1974. Hội nghị này có gần 150 quốc gia được mời tham dự.

Hội nghị Luật biển tại Caracas bàn nhiều về quyền khảo cứu và khai thác tài nguyên biển. Một số nước đưa quan điểm mọi quốc gia đều có quyền khảo cứu và khai thác trong khu vực biển quốc tế miễn là tuân hành theo những quy định và điều kiện do cơ quan quốc tế ấn định. Song, người ta tính rằng vào thời điểm đó “chỉ có chưa được 10 quốc gia trên thế giới có khả năng và phương tiện khai thác”.

Đoàn Việt Nam, trưởng phái đoàn VNCH là ngoại trưởng Vương Văn Bắc, ngày 30/7/1974 đã chính thức trình bày lập trường: “Chính phủ VNCH đặc biệt chú trọng đến vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên ở phần phía Nam của thềm lục địa liên hệ. Lập trường của VNCH về ranh giới thềm lục địa là phải áp dụng tiêu chuẩn khoảng cách 200 hải lý kể từ đường căn bản nhưng khi thềm lục địa rộng hơn khoảng cách trên bề rộng của thềm lục địa sẽ được ấn định ra đến cạnh ngoài cùng thấp nhất của bờ lục địa”.

Chính phủ VNCH cũng bày tỏ rằng hoàn toàn ủng hộ lập trường đã được đề nghị, theo đó việc phân tranh thềm lục địa phải được giải quyết bằng những cuộc thương thuyết trực tiếp và song phương theo nguyên tắc công bằng hay mọi tranh chấp nếu có, sẽ được giải quyết bằng mọi phương cách hòa bình bởi những cơ quan tài phán quốc tế.

Cũng trong hội nghị này, ngày 28/8/1974 tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc, Trưởng phái đoàn VNCH đã lên diễn đàn long trọng tuyên bố rằng: “Chính phủ VNCH không chấp nhận mọi xâm phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bất kể trên đất liền hay khoảng biển thuộc quyền tài phán quốc gia. Cũng như đã có thông báo với Tổng thư ký LHQ và Hội đồng An ninh, Phái đoàn VNCH xác nhận một lần nữa rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những thành phần bất khả phân của lãnh thổ VNCH”.
(Còn nữa) 

Nguồn: Tiền Phong
Nguồn:http://www.chinhluanvn.com/2014/07/chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-viet-nam.html

Cách Việt Nam Cộng hòa thực thi chủ quyền biển đảo

Cách Việt Nam Cộng hòa thực thi chủ quyền biển đảo

Trần Nguyễn Anh (TP) – Giáo sư Nguyễn Hữu Lành trong bài nghiên cứu mang tên “Luật quốc tế và vấn đề đánh cá trên biển” đã nhận định: “Ngày nay, thực tế người ta nhận thấy các tài nguyên sinh vật ngày càng giảm trước sự khai thác quá mức bằng kỹ thuật tân tiến. Vì vậy vấn đề bảo tồn các tài nguyên sinh vật đã được đặc biệt chú ý. Mặt khác, các quốc gia đều muốn dành cho dân chúng của mình độc quyền khai thác các tài nguyên trong vùng biển tiếp cận và đều có khuynh hướng nới rộng phạm vi thuộc chủ quyền quốc gia”.

>> Kỳ I: Khẳng định chủ quyền
1,1
Cảnh ngư dân đánh cá ảnh của nhiếp ảnh gia Cao Lĩnh trước năm 1975
Kỳ 2: Phát triển Kinh tế Biển
Bài nghiên cứu công bố năm 1974 này của giáo sư Lành cũng cho thấy quan điểm chung lúc bấy giờ đó là muốn bảo vệ được lãnh thổ, lãnh hải thì phải phát triển kinh tế, trước hết là kinh tế biển. Ông viết: “Trên thực tế, sức mạnh của quốc gia vẫn giữ vai trò quyết định cho đến khi nào trong xã hội quốc tế, quyền lợi riêng của quốc gia nhường bước cho quyền lợi chung”.
Khoan dầu mỏ
Theo nhà nghiên cứu về dầu mỏ, khí đốt Nguyễn Bá Liệu thì công cuộc tìm kiếm dầu hỏa ở Việt Nam có thể nói đã bắt đầu trong những năm đầu của thập niên 1940 ở Vịnh Quy Nhơn. Vào hồi đó, dầu hỏa đã xuất hiện và loang trên mặt nước trong vịnh. Sự kiện đó đã đưa đến việc đào một số giếng khảo sát, “tuy nhiên kết quả cho thấy lớp đá nền (basement) quá gần mặt đất và dầu hỏa được sinh ra trong một lớp bùn quá mỏng không đáng được khai thác”.
Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã cho khảo sát địa vật lý ngoài khơi từ năm 1967 với 140 km đường khảo sát không từ, và năm 1968 với 657 km đường khảo sát địa chấn. Những cuộc khảo sát này đều do cơ quan Liên hợp quốc CCOP thực hiện.
1,2
Ông Nguyễn Hồng Cẩn nhận xét rằng nghề cá ở miền Nam trước 1975 rất phát triển
Cuối năm 1969, 2 công ty dầu hỏa đã chung nhau thuê công ty vật lý Ray Geophysical và được chính phủ VNCH cho phép để thực hiện một cuộc khảo sát địa chấn trên vùng thềm lục địa phía Nam với đường khảo sát lên đến 8.406 km.
Để phục vụ việc khai thác biển, Luật dầu hỏa đã được ban hành ngày 1/12/1970, tiếp theo đó Ủy ban quốc gia dầu hỏa được thành lập với một văn phòng thường trực để xúc tiến công cuộc tìm kiếm dầu hỏa theo luật định. Quá trình hoàn thiện luật pháp và khai thác được xúc tiến nhanh.
Theo số liệu thì vào tháng 8/1973 chính phủ VNCH đã cấp quyền đặc nhượng tìm kiếm trên 8 lô với tổng số diện tích là 57.223km2 cho 4 nhóm công ty Pecten, Mobil, Esso và Sunningdale. “Trong đợt này các công ty đã trả cho chính phủ một số tiền hoa hồng chữ ký là 16.600.000 USD và cam kết một số tiền đầu tư trong 5 năm tổng cộng là 59.250.000 USD. Ngoài ra các công ty còn dành một số tiền tổng cộng 300.000 USD mỗi năm cho việc huấn luyện chuyên viên kỹ thuật ngành dầu hỏa”.
Tháng sáu, năm 1974, chính phủ VNCH lại cấp thêm 5 quyền đặc nhượng tìm kiếm dầu mỏ thêm 5 lô với tổng diện tích 24.380km2 cho 4 tổ hợp là Mobil, Pecten, Union và Marathon. Trong đợt này các công ty cũng trả cho chính phủ VNCH hoa hồng chữ ký là 29.100.000 USD và cam kết đầu tư trong 5 năm là 44.500.000 USD.
Các thông cáo cho thấy hoạt động đào giếng bắt đầu vào ngày 17/8/1974 với giếng thăm dò Hồng I-X, giếng dầu đầu tiên được đào trong thềm lục địa Việt Nam do công ty Pecten thực hiện. “Kết quả đã tìm thấy dầu ở độ sâu 5.320 feet. Tiếp theo đó là việc đào giếng dầu Dừa I-X với sự phát hiện ra dầu và khí thiên nhiên”.
Khảo sát các điều khoản trong hợp đồng đặc nhượng của VNCH, chúng ta thấy nó được dựa trên thông lệ quốc tế, tuy nhiên luôn nhấn mạnh đến lợi ích của Việt Nam cũng như quyền chủ động trong khai thác, vận hành. Các điều khoản đặc nhượng bao gồm:
– Giai đoạn tìm kiếm là 5 năm và được gia hạn thêm 5 năm nữa.
– Công ty thọ nhượng phải gánh chịu mọi phí tổn trong việc tìm kiếm dầu.
– Sau 3 năm công ty phải giao hoàn cho chính phủ 25% số diện tích được cấp phát và sau 5 năm số diện tích phải giao hoàn là 50%.
– Trong trường hợp tìm thấy dầu, chính phủ có quyền tham gia trong việc khai thác theo một tỷ lệ đã được áp dụng ở các quốc gia Trung Đông hay Đông Nam Á lúc đó.
– Khoáng nghiệp nhượng tô được ấn định là 12,5%.
– Thuế suất lợi tức là 55%.
– Sau 5 năm khai thác, công ty sử dụng 90% công nhân Việt Nam và cấp điều hành người Việt phải là 60%.
– Ngoài ra hợp đồng còn quy định các công ty thọ nhượng phải sử dụng các phương tiện và cơ sở Việt Nam trong mọi dịch vụ yểm trợ.
Hiện đại nghề cá
Theo nghiên cứu của các học giả thời VNCH thì chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa gắn với quyền lợi của ngư dân nhiều đời. Sử cận kim nói quần đảo có tấm bia ghi “Vạn lý Ba Bình” cả bốn năm trăm năm trước. Tờ Tia Sáng, tháng 1/1974 viết: “Theo sử thì quần đảo thuộc Việt Nam từ khoảng 1638, nếu lui về quá khứ xa xăm thì tập tục đi lấy Hải Vị ở Hoàng Sa đã có từ thời miền Nam Việt Nam là đất Chiêm. Tuy nhiên, nếu lui về thời Chiêm Thành thì chủ quyền ngư dân Lý Sơn thuộc về Việt Nam từ 1402, lúc Hồ Quý Ly thiết lập sự bảo hộ trên vùng lưỡng Quảng”.
Bia chủ quyền trên Trường Sa những năm 1960
Ngay từ những năm 1950 vấn đề phát triển nghề cá đã được chú trọng ở miền Nam. Trên tờ báo Dân Đen số ra tháng 4/1955 có đăng bài dài với tựa đề “Ngành đánh cá biển tại Việt Nam” khẳng định: “Số cá sản xuất tại Việt Nam mỗi năm là: cá biển 180-200.000 tấn, cá sông ngòi: 20.000 tấn” và kêu gọi thành lập các hợp tác xã, các hội ái hữu, phát triển kỹ nghệ mới. Tờ báo đánh giá: “Bờ biển Việt Nam kéo dài 2.000 cây số và có thể chia làm 5 vùng và tất cả đều là những chỗ có nhiều cá”.
Tài liệu của chính quyền VNCH cho biết: “Năm 1959, Hải quân Việt Nam đã bắt được 40 ghe đánh cá Trung Quốc đưa về Đà Nẵng lưu giữ 6 tháng”. Đồng thời cho biết “Hãng phân bón Việt Nam” được thành lập và chính thức hoạt động từ 4/1959, khai thác được 20.000 tấn phốt phát tại Hoàng Sa, rồi bỏ dở từ năm 1960 do thời tiết và vận chuyển khó khăn.
Trong lĩnh vực đánh cá, ngày 26/12/1972, Tổng thống VNCH ban hành sắc luật quy định lãnh hải Việt Nam về phương diện ngư nghiệp có một chiều rộng là 50 hải lý, tính từ hải phận quốc gia trở ra. Trong vùng này cấm các loại ghe tàu, thuyền bè ngoại quốc đến đánh cá, khai thác hoặc mua bán hải sản, trừ khi có giấy phép trước của chính phủ.
Năm 1970, miền Nam có 317.442 ngư dân và 85.000 tàu thuyền. Trong đó 42.603 tàu có động cơ và 42.612 thuyền không động cơ. 269 thôn và 700 ấp chuyên về ngư nghiệp. 75 Hợp tác xã ngư nghiệp. 200 tàu hộ tống ngư dân. Xây dựng hệ thống hải cảng: Cảng Sài Gòn được đầu tư 11 triệu USD, Đà Nẵng 1 triệu USD, Cần Thơ 10 triệu USD. Xuất khẩu ngư nghiệp 300 triệu USD, trong khi các sản phẩm còn lại như trà, lạc, cùi dừa… chỉ 158 triệu USD.
Không ai hiểu rõ ngành cá của VNCH hơn chính các đồng nghiệp ở miền Bắc. Nguyên thứ trưởng Bộ Thủy sản, ông Nguyễn Hồng Cẩn, người tiếp quản ngành thủy sản miền Nam sau khi đất nước thống nhất và là Thứ trưởng phụ trách phía Nam. Ông kể với tôi rằng khi vào Nam ông thực sự bất ngờ vì hệ thống cơ sở hạ tầng như tàu thuyền, nhà máy, thị trường tại đây. Ông nói: “Trong kháng chiến ở miền Bắc chỉ mong ước một năm xuất được 100.000 USD thủy, hải sản nhưng không bao giờ được. Trong khi đó ở miền Nam năm 1960 họ đã xuất khẩu được 21 triệu USD rồi”.
Tuy vậy, trước sự gây hấn của Trung Quốc, vấn đề chủ quyền gắn liền với an ninh cho kinh tế biển được đặt ra bức thiết. Ông Trần Văn Khởi, nguyên là Tổng Giám đốc Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản – Luật biển và thềm lục địa dưới thời VNCH đã từng đưa ra nhận định trong thời điểm đó rằng: “Các tranh chấp dù song phương, cấp vùng, hay toàn cầu trong lãnh vực biển đều ít nhiều ngăn chặn nỗ lực nhằm sử dụng tối đa, khai thác tối hảo và bảo toàn hữu hiệu biển để phục vụ con người – an ninh, đánh cá, hải hành, dầu hỏa, giải trí v.v…”.
(Còn nữa) 
Nguồn: Tiền Phong

Nguồn:https://haiz00.wordpress.com/2015/08/07/cach-viet-nam-cong-hoa-thuc-thi-chu-quyen-bien-dao/

PHỤ LỤC & SƯU TẦM- QUỐC HỒN VIỆTNAM- P. 11

 

PHỤ LỤC & SƯU TẦM- QUỐC HỒN VIỆTNAM- P. 11


 BIỂU TƯỢNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
PHỤ LỤC & SƯU TẦM- QUỐC HỒN VIỆTNAM- P. 11
{ Tài liệu nhiều tập- Không hồi kết thúc! }


Cuộc sống muôn màu !

Bên trong ngôi nhà 5,3 triệu USD, nơi gia đình ông Obama sẽ chuyển đến khi rời Nhà Trắng

Sau chiến thắng của Tổng thống Tân cử Donald Trump, ông Barack Obama sẽ kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống của mình và chuyển đến sống tại một ngôi nhà mặt tiền ở đại lộ Pennsylvania Avenue, Washington D.C. Thời kỳ sống tại Nhà Trắng của ông Obama sắp kết thúc.
Mặc dù nhỏ hơn nơi ở hiện tại của ông Obama, ngôi nhà này vẫn là một nơi ở cực kỳ xa hoa trong thủ đô Hoa Kỳ. Nó được xây dựng vào năm 1928 với tổng diện tích hơn 761 m2, có 9 phòng ngủ. Ngôi nhà đã được niêm yết giá 5,3 triệu USD trước khi được đưa ra thị trường vào tháng 5.
Gia đình ông Obama thuê ngôi nhà này từ Joe Lockhart, người từng là thư ký báo chí của Tổng thống Bill Clinton ở Nhà Trắng. Ông Obama sẽ thuê ngôi nhà cho đến khi cô con gái út Sasha kết thúc trung học.

Toàn cảnh ngôi nhà trị giá 5,3 triệu USD của gia đình ông Obama.

The Obama are trading white for brick at their newly leased mansion in the Kalorama section of DC.

Căn nhà này được ốp gạch trắng và rất yên tĩnh mặc dù nằm gần đường.

It

Đường lái xe vào nhà được lát gạch, có nhiều không gian cho xe mật vụ.

The gated driveway has plenty of space for Secret Service vehicles.

Đèn lồng được treo ở 2 bên lối vào.

Fake gas lanterns flank the entrance.

Bước vào bên trong ngôi nhà…

Going inside is a bit like stepping back in time.

Phòng khách rất trang nghiêm.

The living room is stately.

Lò sưởi và mặt lò sưởi tạo cho ngôi nhà một vẻ đẹp mộc mạc.

The fireplace and mantel lend the home a rustic charm.

Khu vực tiếp khách có không gian rộng rãi.

There are ample seating areas throughout the space.

Phòng họp mặt gia đình có rất nhiều cửa sổ được ánh nắng chiếu sáng, nhìn ra khu vườn sau nhà.

The family room has a wall of sunny windows overlooking the garden out back.

Tuy nhiên, phòng họp mặt gia đình thực sự nằm ở dưới tầng hầm.

The real family room is downstairs, though.

Nhà bếp rất tươi sáng và hiện đại, với bàn đá cẩm thạch và các thiết bị cao cấp.

The kitchen is bright and updated, with marble countertops and luxury appliances.

Phòng bếp cũng rất dài.

It

Bên cạnh nhà bếp là một phòng ăn lớn, hoàn hảo cho những bữa tiệc tối.

Next to that is a large dining room — perfect for dinner parties.

Tầng trên là phòng ngủ sang trọng có cả ghế ngồi…

Upstairs, the master suite has an attached sitting area ...

… cùng một phòng thay đồ …

... a dressing room ...

… một phòng học …

... a study ...

… và một phòng tắm rộng rãi, sáng bóng.

... and plenty of bathroom space.

Ngôi nhà có tất cả 9 phòng ngủ.

There are nine bedrooms in the home in total.

Còn một phòng làm việc khác trên lầu.

There

Phòng giặt ủi ở tầng hầm, như một căn nhà bếp thứ hai. 

The laundry room in the basement doubles as a second kitchen.

Bước ra ngoài là khu vườn xinh đẹp, thoáng mát với rất nhiều chiếc ghế để thư giãn và tắm nắng ngoài trời.

Out back, the neat garden has plenty of room for relaxing and sunning outdoors.
.
Theo Business Insider
(Ảnh: Redfin)
Hoàng Vũ
Nguồn : http://trithucvn.net/doi-song/ben-trong-ngoi-nha-53-trieu-usd-noi-gia-dinh-ong-obama-se-chuyen-den-khi-roi-nha-trang.html?utm_content=buffer68f03&utm_medium=social&utm_source=facebook.com&utm_campaign=buffer