Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016

Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến

Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến

VietTimes 2 liên quan
 
VietTimes -- Gần 6 tháng nay, các tàu ngầm hạt nhân của Mỹ liên tiếp xuất hiện ở chuỗi đảo thứ nhất, công tác bố trí binh lực tại Thái Bình Dương tăng lên rõ rệt. Hơn 50% tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ đang ráo riết hoạt động tại vùng biển gần Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến khi cần.
Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Ảnh minh họa
Một số chuyên gia quân sự của Trung Quốc cho biết, tần suất hoạt động của tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương rõ ràng là nhằm vào Trung Quốc, là sự đe dọa lớn đối với Trung Quốc. Do đó, lực lượng tàu ngầm thông thường của hải quân Trung Quốc cũng cần áp dụng các biện pháp theo dõi, giám sát và chống tiếp cận.
Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Tàu ngầm hạt nhân Charlotte của Mỹ xuất hiện tại thành phố Yokosuka của Nhật Bản ngày 23/12/2015
Theo nguồn tin, ngày 5/1/2016, tàu ngầm hạt nhân tấn công Texas thuộc lớp Virginia hiện đại nhất của Mỹ có mặt tại vịnh Subic của Philippines. 6 tháng trước đó, liên tiếp xuất hiện thông tin tàu ngầm hạt nhân của Mỹ ra vào ở chuỗi đảo thứ nhất, như ngày 23/6/2015, tàu ngầm hạt nhân SSGN-727 của Mỹ có mặt ở Busan (Hàn Quốc), ngày 15/7/2015, tàu ngầm hạt nhân lớp Los Angeles mang ký hiệuHouston của Mỹ có mặt tại Singapore; ngày 27/7/2015, tàu ngầm Jacksonville thuộc lớp Los Angeles cũng xuất hiện ở Singgapore; ngày 4/11/2015 tàu ngầm hạt nhân tấn công Key West SSN-722 có mặt tại vịnh Subic.
Ngày 5/11/2015, tàu ngầm hạt nhân tấn công North Carolina thuộc lớp Virginia của Mỹ có mặt tại thành phố Yokosuka của Nhật Bản; ngày 23/12/2015, tàu ngầm hạt nhân tấn công mang ký hiệu Charlotte của Mỹ xuất hiện tại thành phố Yokosuka. Hiện tại, số lượng tàu ngầm hạt nhân mà Mỹ bố trí tại Thái Bình Dương đã chiếm một nửa trong tổng số tàu ngầm của quân đội nước này.
Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Los Angeles của Mỹ
Theo nguồn tin, quân đội Mỹ đã bổ sung tên lửa hành trình tấn công mặt đất – hạt nhân Tomahawk. Tomahawk nổi tiếng với khả năng tiêu diệt quân địch ở cự ly hàng nghìn dặm. Đây là một loại vũ khí tấn công thọc sâu từ vòng ngoài hỏa lực phòng thủ của địch do Mỹ phát triển, với tầm bắn hiệu quả lên đến 2.500 km, có thể phóng đi từ các hệ thống phóng mặt đất, chiến hạm mặt nước hoặc tàu ngầm hạt nhân.
Ngoài khả năng tấn công các mục tiêu trên mặt đất ra, tên lửa hành trình Tomahawk có thể tấn công cả tàu chiến, là tên lửa “phóng ngoài vùng phòng không”có uy lực nhất của quân đội Mỹ. Trong các hoạt động quân sự của Mỹ, tấn công chính xác mục tiêu quan trọng ở cự ly hàng nghìn dặm chính là “vai diễn” sở trường của Tomahawk.
Tomahawk cũng nổi tiếng là một sát thủ vô hình. Toàn thân tên lửa được bao phủ bởi một lớp hấp thụ sóng radar, có tính năng như một chiếc áo tàng hình. Tiết diện phản xạ sóng radar của nó tương đối nhỏ, chỉ bằng 0,1% diện tích phản xạ hữu hiệu radar của máy bay ném bom B-52H, nên trở thành “vô hình” trước các radar tìm kiếm của đối phương.
Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Tên lửa hành trình tấn công mặt đất – hạt nhân Tomahawk nổi tiếng với khả năng tiêu diệt quân địch ở cự ly hàng nghìn dặm.
Hơn nữa, động cơ của Tomahawk cho phép tên lửa này có khả năng kiểm soát luồng khí phụt để có thể tự điều chỉnh độ cao và tốc độ khi bay, thậm chí nó có thể bay rất thấp và linh hoạt như một máy bay, cùng với kích thước nhỏ gọn nên nó rất khó bị phát hiện bởi các radar mặt đất.
Tomahawk vẫn còn giữ được “phong độ” vì liên tục được cải tiến về mọi mặt từ phương thức dẫn đường đến hệ thống đạn dược, hệ thống kiểm soát, hệ thống động cơ
Từ khi ra mắt đến nay, các thành viên của “gia đình Tomahawk” không ngừng lớn mạnh, và đã phát triển thành 7 loại biến thể như tên lửa tấn công mặt đất mang đầu đạn hạt nhân, tên lửa tấn công mặt đất đầu đạn thông thường, tên lửa chống hạm...
Ngoài ra, tàu ngầm hạt nhân lớp Los Angeles còn có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ tác chiến như chống ngầm như phong tỏa rải mìn.
Chuyên gia quân sự Doãn Trác của Trung Quốc cho biết, tần suất hoạt động của tàu ngầm tấn công hạt nhân Mỹ ở Thái Bình Dương – đặc biệt là những vùng biển gần Trung Quốc tăng lên rõ rệt. Hiện tại, tàu ngầm tên lửa hạt nhân tên lửa của Trung Quốc đã đưa vào hoạt động trong quân đội nước này để đối phó với năng lực đe dọa hạt nhân của nước Mỹ.
Mỹ rất quan tâm đến điều này, do đó bình thường đã nghiên cứu quy luật hoạt động của tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc. Nhờ có thế mạnh tĩnh tâm và hành trình dài, tàu ngầm hạt nhân tấn công của quân đội Mỹ có thể đảm nhận nhiều nhiệm vụ trinh sát khi hoạt động ở các vùng biển gần Trung Quốc, đồng thời cũng đang chuẩn bị cho chiến lược tác chiến chống ngầm có thể xảy ra trong tương lai.
Phó viện trưởng Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Trung Quốc Nguyễn Tông Trạch cho rằng, Mỹ nâng cao tần suất hoạt động của tàu ngầm hạt nhân tấn công tại khu vực Tây Thái Bình Dương là xu thế tất yếu. Hiện tại ba tàu ngầm hạt nhân loại lớn của Mỹ đều đang có mặt tại khu vực này.
Tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ xuất hiện tại vùng biển gần Trung Quốc là để “dằn mặt” tham vọng bành trướng của Bắc Kinh trong thời gian qua. Mỹ sẽ cải tiến tàu ngầm hạt nhân tên lửa chiến lược thành tàu ngầm hạt nhân tên lửa hành trình, mỗi tàu ngầm có thể mang theo hơn 150 tên lửa hành trình đối đất, khi xảy ra chiến tranh có thể phát động tấn công bất cứ lúc nào.
H.L
Nguồn: http://www.baomoi.com/My-bo-tri-tren-50-tau-ngam-hat-nhan-bao-vay-Trung-Quoc-san-sang-khai-chien/c/18616496.epi

6926. Đinh La Thăng có trụ được ở TP HCM không?

6926. Đinh La Thăng có trụ được ở TP HCM không?

Posted by adminbasam on 07/02/2016
“Và những lời đồn từ vỉa hè thì không thế lực nào ngăn cản được, rằng người nhà của toàn bộ thường vụ đảng thành phố, hàng tháng đều nhận một gói quà có giá 10.000 đô, từ suốt gần hai chục năm. Tất cả những thông tin kiểu này, đều không thể kiểm chứng. Nhưng cũng không ai bác bỏ. Kín tiếng và chi tiền không tiếc tay, cùng với gốc gác Hoa kiều của bà chủ họ Trương, làm người ta liên tưởng tới hai nguyên tắc vàng của Hội Tam Hoàng có tổ tiên từ Trung Quốc”.
___
Bùi Quang Vơm
7-2-2016
Đinh La Thăng, tân Bí thư Thành ủy TPHCM. Nguồn ảnh: internet
Đinh La Thăng, tân Bí thư Thành ủy TPHCM. Nguồn ảnh: internet
Đảng bộ thành phố HCM là một đảng bộ có nhiều tính đặc thù, không có ở bất kỳ một đảng bộ nào. Nó là một tổ chức vừa tận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ đã phát tác thành chuyên chế, độc đoán và tôn sùng cá nhân trong sinh hoạt nội bộ của mọi đảng bộ cộng sản, vừa mang theo đầy đủ những đặc điểm Nam bộ.
Đặc điểm Nam bộ ở đây là một sự tổng hợp rất khó cắt nghĩa được một cách rành rẽ. Nó vừa có một chút lãng tử, bất cần, nhìn đời với nửa con mắt, khinh rẻ mọi thứ, kiểu công tử Bạc liêu, vừa có chút cương cường kiểu giang hồ, lại có chút thượng tôn danh dự, anh hùng hảo hán kiểu Lục Vân Tiên. Một đặc điểm nữa đáng lưu ý là tính cách thực dụng. Người Sài gòn có năng khiếu nhạy bén bẩm sinh với những gì có thể đem lại lợi ích, và sẵn sàng bằng mọi cách, bằng mọi giá đạt bằng được.
Nhưng một điểm đặc biệt, nếu bỏ qua sẽ là một sai lầm không thể tha thứ. Đó là Sài gòn và Nam bộ từng có phong trào hội kín, từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày “giải phóng”. Các Hội kín này ban đầu học theo cách tổ chức của các thiên địa hội người Hoa, kết nạp hội viên, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, về sau có nhiều hội phát triển thành các đội yêu nước, tự trang bị vũ khí kêu gọi chống Pháp. Các Hội này có các nguyên tắc hoạt đông và tổ chức tương tự hội Tam Hoàng.
Nguồn gốc của hội Tam Hoàng là Thiên Địa Hội, tổ chức bí mật tập hợp lực lượng chống lại vương triều nhà Thanh ở Trung Quốc, nhằm khôi phục lại nhà Minh. Các hội kín này bị nhà Thanh đàn áp gay gắt nên chạy dạt sang Hồng Kông, Đài Loan, Nam Việt Nam và Singapore. Sau này, khi nhà Thanh sụp đổ, khẩu hiệu phản Thanh Phục Minh không còn ý nghĩa nữa, hoạt động của các hội kín này không còn mang tính yêu nước, nhưng tổ chức và quy chế hoạt động vẫn được duy trì, dần dần trở thành các tổ chức xã hội đen, chuyên sống bằng bảo kê các sòng bạc, các nhà hàng, các tửu điếm, ổ mãi dâm, không từ chối buôn bán nha phiến và các dịch vụ rửa tiền.
Hội Tam Hoàng nổi tiếng toàn cầu và tồn tại được là dựa trên hai nguyên tắc. Nguyên tắc quan trọng nhất là bí mật tuyệt đối tung tích, tránh xa dư luận, lẩn trốn báo chí, không để lại dấu vết trên truyền thông. Nguyên tắc thứ hai là “tiền đi trước giao dịch”. Có câu chuyện ở Hồng Kông năm 1939, chỉ vì hai dòng tin ngắn ngủi, mà toàn bộ 200.000 số báo được trả tiền mua và huỷ ngay trước khi phát hành vào 6 giờ sáng. Ở Sài gòn, câu châm ngôn “cái gì không mua được bằng tiền, có thể mua được bằng rất nhiều tiền” không phải là phát minh của Năm Cam. Giang hồ Sài gòn đã học lại và chỉ là những đàn em nhại lại đàn anh là “vua không ngai” người Tàu Lý Long Thân, người tổ chức “Nhất dạ đế vương”, chi một đêm hết bốn triệu đồng, tiền miền Nam thời đó, để mua tướng Bảy Viễn, bảo kê đường dây á phiến từ bắc Lào. Câu châm ngôn này phát ra một cách bất cẩn từ cửa miệng ông ta vào đêm hoàn thành đường dây, cuối năm 1954.
Một người nữa cùng với Lý Long Thân là hai người mà trước đây, thời còn ông Thiệu, dân sài gòn thường nói là hai người duy nhất muốn gặp tổng thống lúc nào cũng được. Đó là Bang trưởng Triều Châu Trần Thành. Trước sự tan hoang do chiến dịch Cải tạo Công thương nghiệp tư bản tư doanh mà Đỗ Mười chỉ đạo năm 1979, Trần Thành nhẹ nhàng trấn an bang hữu rằng “mưa rồi cũng tạnh, cộng sản cũng phải sống, cũng cần ăn”.
Không ai trong số chúng ta quên được rằng trong suốt những năm 90, giá vàng và giá đôla của Việt Nam đều do các Đại gia người Hoa tại quận 5 quyết định, nhà nước trung ương Hà Nội hoàn toàn bất lực. Nền công nghiệp sản xuất hàng hoá của Việt Nam sau thời kỳ bao cấp, từ năm 1986, bắt đầu từ các nhà sản xuất người Hoa ở quận 5, những người duy nhất có thể nhập chui công nghệ từ Trung Quốc.
Thời gian này là thời gian Lê Thanh Hải làm bí thư đảng uỷ quận 5 (từ 1990-2000). Chính sự nhộn nhịp, năng động này ở quận 5 khởi sắc cho một niềm tin, làm nền cho đổi mới tư duy của lãnh đạo Hà Nội, đồng thời cũng là bệ phóng cho những thành đạt chính trị của Lê Thanh Hải.
Lê Thanh Hải chiếm được uy tín trong đảng và cùng một lúc, trở thành tâm điểm cuốn hút sự tập trung của giới đại gia người gốc Hoa quận 5. Các hội đoàn người Hoa đang nằm im chờ thời từ sau năm 1979, bây giờ bừng tỉnh.
Và điều mà Trần Thành tiên tri “cộng sản cũng phải sống, cũng cần ăn” có vẻ bắt đầu ứng nghiệm. Thêm nữa, nguyên lý bất khả chiến bại “cái gì không mua được bằng tiền, có thể mua được bằng rất nhiều tiền” lại được giới giang hồ Sài gòn dùng làm chìa khóa mở mọi loại cánh cửa của quyền lực.
Lê Thanh Hải từ quận 5 lần lượt lên Chủ tịch uỷ ban nhân dân, phó bí thư, rồi bắt đầu từ năm 2006, trở thành Bí thư Thành uỷ, người cao nhất trong bộ máy quyền lực của Sài Gòn.
Từ Đội võ trang tuyên truyền thuộc Khu Đoàn Sài Gòn Gia Định với bí danh Hai Nhựt năm 1966, trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Thành Đoàn kiêm Trưởng Ban Công nghiệp Thành Đoàn; Phó Bí thư Đảng ủy Cấp trên cơ sở kiêm Chỉ huy trưởng Lực lượng Thanh niên Xung phong Thành phố Hồ Chí Minh năm 1975, 10 năm bí thư đảng uỷ quận 5, rồi trở thành Bí thư Thành phố, các căn cứ địa trụ cột có tính nguyên tắc của Lê Thanh Hải là Đoàn Thanh Niên, nơi ông là lãnh tụ thần tượng của giới trẻ, là quận 5, nơi cung cấp tài chính cho bộ máy và nguồn vốn hỗ trợ các dự án mà Thành uỷ chỉ đạo. Quận 1 và sau này, từ năm 2000, Quận 2, nơi mỗi m2 đất là mỗi tấc vàng,  trở thành trụ cột thứ 3.
Lãnh đạo chủ chốt của thành phố gần 100% có xuất phát từ đoàn thanh niên (Nguyễn Văn Đua, Võ Văn Thưởng, Lê Thành Phong, Tất Thành Cang, Nguyễn Văn Hiếu). Các phó chủ tịch thành phố hầu hết đều kinh qua bí thư quận 5 (Lê Thanh Hải 1990-2000, Nguyễn Hữu Tín 2006-2011, Sử Ngọc Anh, 2012-2015, Võ Tiến Sĩ từ 2015). Tất cả các hạt giống đỏ đều kinh qua quận 2 (Nguyễn Văn Đua, trưởng ban Quản lý Dự án Thủ Thiêm 2001-2006, Nguyễn Thành Phong bí thư quận 2 2007-2009, Tất Thành Cang, bí thư 2009-2012, Nguyễn Văn Hiếu bí thư từ 2010).
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng có nhận xét “Không thể phủ nhận là trong suốt một thời gian dài đến 15 năm, tính từ năm 2001 khi ‘Anh Hai’ chấp nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP.HCM cho tới khi trở thành bí thư thành ủy nơi đây, ông được dư luận đánh giá là một trong những thủ lĩnh địa phương tạo dựng được được độ tập quyền cá nhân cao nhất“.
Thực chất là dưới con mắt của ngay bộ chính trị, đảng bộ Sài gòn là một boong-ke cố thủ bất khả công phá từ nhiều năm.
Bà Huỳnh Thị Nhân, người sinh ra tại Hóc Môn, nguyên phó chủ tịch UBND, được điều ra Hà Nội lần lượt qua các chức vụ Thứ trưởng thường trực bộ Tài chính, rồi thứ trưởng thường trực bộ Lao động- Thương binh-xã hội, năm 2008 được Bộ Chính trị phân công trở lại làm phó bí thư Sài gòn, cùng lúc với dư luận Lê Thanh Hải ra Hà Nội. Nhưng cuối năm 2010, bà Nhân lại được rút ra làm phó chánh văn phòng trung ương đảng.
Vụ án nhận hội lộ 290.000 USD của Huỳnh Ngọc Sỹ, phó giám đốc Giao thông công chánh, thông gia với Lê Thanh Hải, hồi tháng 10/2010, khi điều tra vụ án, an ninh kinh tế đã phát hiện chi tiết liên quan tới chính Lê Thanh Hải, và hàng loạt những liên kết tham nhũng không thể bóc tách. Lại rộ lên tin đồn Lê Thanh Hải được điều ra làm trưởng ban kinh tế trung ương. Tuy nhiên, cuối cùng thì Huỳnh Ngọc Sỹ nhận án chung thân, nhưng Lê Thanh Hải vẫn tiếp tục trúng bí thư tại đại hội IX của đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2010-2015.
Sài Gòn là thành phố làm bằng vàng, không thể thoát khỏi con mắt của Nguyễn Tấn Dũng, nên từ rất sớm, năm 2001, Lê Mạnh Hà, con trai vị ân nhân Lê Đức Anh đã được ông Dũng đưa vào làm phó giám đốc sở Kế hoạch Đầu tư. Nhưng sở Kế hoạch Đầu tư những năm này bắt đầu là nơi quyết định việc cấp phép đầu tư và phê duyệt dự án. Trong khi dòng đô la ào ào chuyển vào thành phố, Lê Thanh Hải không thể để cái cửa quan trọng này lọt vào tay người ngoài. Lê Mạnh Hà được chuyển sang làm Giám đốc sở Bưu chính 2004-2008, rồi chuyển sang Giám đốc sở Thông tin, và cuối cùng ông Dũng phải rút về làm phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, ngày 15/05/2015.
Nguyễn Thanh Nghị cũng được ông Dũng đưa vào trường đại học kiến trúc năm 2006. Năm 2008, sau hai năm thì được bổ nhiệm chức vụ hiệu phó, được giới thiệu, nhưng không được bầu vào ban chấp hành đảng bộ Sài gòn, và không có tên trong danh sách đại biểu dự Đại hội XI. Ông Dũng đã dằn mặt ông Lê Thanh Hải bằng cách đưa được Nguyễn Thanh Nghị vào trung ương uỷ viên dự khuyết, thông qua đề cử trực tiếp. 
Trong chiến dịch luân chuyển cán bộ tháng 3 năm 2014, Nguyễn Khắc Định, phó chủ nhiệm Văn phòng chính phủ, trợ lý Thủ tướng, người trực tiếp chấp bút tất cả các diễn văn của thủ tướng từ năm 2008, được đưa vào làm phó bí thư thành uỷ Sài gòn, dự kiến tiếp quản vị trí thường trực thành uỷ khi Nguyễn Văn Đua về nghỉ hưu, như một cố gắng thử lần cuối. Nhưng một lần nữa lại phải rút về Văn phòng ngày 15/04/2015.
Hình như mọi ý định, mọi cố gắng của Trung ương hóa giải từ bên trong đều bị bật ra.
Song hành, song tiến với Lê Thanh Hải một cách âm thầm, kín tiếng, Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đã phát triển với tốc độ không thể tưởng tượng. Trương Thị Mỹ Lan từ một tiểu thương người Việt gốc Hoa bán vải chợ Bến Thành, không biết có duyên gì với bí thư quận 5 bấy giờ là Lê Thanh Hải, có vợ là người cùng họ là Trương Thị Hiền, em ruột bà Trương Thị Mỹ Hoa, phó Chủ tịch nước. Vỉa hè lúc bấy cứ giả đùa là Trương Mỹ Lan cũng là em bà Trương Mỹ Hoa, còn ông Hải thì “mía ngọt đánh cả cụm”. Sau một vài năm, bà Trương Mỹ Lan đổi sang kinh doanh khách sạn và nhà hàng tại Quận 5. Rồi như có phép mầu, trong vòng chưa đầy chục năm sau, bà trở thành chủ của Tập đoàn Bất động sản tư nhân lớn nhất Việt Nam, với số vốn điều lệ 12.800 tỷ đồng, vượt xa tỷ phú đô la Phạm Nhật Vượng (9.300 tỷ) và Hoàng Anh Gia Lai của Bầu Đức (7.200 tỷ).
Vạn Thịnh Phát là chủ sở hữu của Khách sạn Thương mại An Đông – Windsor Plaza Hotel và Cao ốc căn hộ cao cấp Sherwood Residence, Toà nhà Times Square nằm ngay sát tòa nhà Bitexco Finance, khách sạn 6 sao duy nhất tại Sài Gòn, có chiều cao lên tới gần 165m và là tòa nhà thứ 2 của TPHCM có sân đậu trực thăng trên sân thượng.
Ngoài ra, Công ty còn triển khai hàng trăm dự án đầu tư xây dựng khu dân cư, khu nghỉ dưỡng-du lịch… trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh. Mới đây UBND tỉnh Long An vừa cấp phép cho Tập đoàn đầu tư 16 dự án bất động sản trên địa bàn huyện Cần Giuộc, gồm có 3 dự án đầu tư cụm công nghiệp, 7 khu dân cư thương mại dịch vụ và nhiều dự án nhà ở tái định cư, với tổng diện tích trên 1.500ha, tổng giá trị đầu tư lên tới hàng tỷ đô. Tập đoàn này là người vừa thương lượng thành công mua lại Toà nhà Thuận Kiều Plaza, Toà nhà khổng lồ có vị trí đắc địa tại trung tâm Quận 5, có giá đầu tư 55 triệu đô la từ cách đây 20 năm, sẽ phá đi xây lại. Công ty đầu tư An Đông, một công ty con của Tập đoàn vừa ngã ngũ mua lại toà biệt thự Pháp lớn nhất Sài Gòn có tên là Biệt thự 100 cửa, với giá 39 triệu đô la .v.v…
Đi trên phố đi bộ lớn nhất Việt Nam hiện nay là đường Nguyễn Huệ, ai cũng dễ dàng nhìn thấy tập đoàn Vạn Thịnh Phát đang sở hữu gần hết các tòa nhà, các cao ốc, các khách sạn, các khu trung tâm thương mại bề thế và quan trọng nhất dọc hai bên đường. Các khu tứ giác còn sót lại của con đường đi bộ Nguyễn Huệ, Đồng Khởi hầu như đã được Vạn Thịnh Phát cắm cọc, âm mưu thôn tính và nuốt dần.
Vạn Thịnh Phát có phép mầu gì để thành công nhanh chóng như vậy? Lời khai của Dương Chí Dũng tại toà về việc nhận chuyển của Trương Mỹ Lan 1 triệu đôla (20 tỷ đồng) cho một cấp trên, để được nhận dự án, lập tức tắt ngấm cùng với cái chết rất đúng lúc của Phạm Quý Ngọ. Không một lời bàn tán. Không một báo chí nào đả động. Và những lời đồn từ vỉa hè thì không thế lực nào ngăn cản được, rằng người nhà của toàn bộ thường vụ đảng thành phố, hàng tháng đều nhận một gói quà có giá 10.000 đô, từ suốt gần hai chục năm. Tất cả những thông tin kiểu này, đều không thể kiểm chứng. Nhưng cũng không ai bác bỏ. Kín tiếng và chi tiền không tiếc tay, cùng với gốc gác Hoa kiều của bà chủ họ Trương, làm người ta liên tưởng tới hai nguyên tắc vàng của Hội Tam Hoàng có tổ tiên từ Trung Quốc.
Lê Thanh Hải đã rời sân khấu.
Chia tay Võ Văn Thưởng ra Hà Nội, Lê Thanh Hải đã sụt sùi khóc. Những giọt nước lăn trên má ông cũng cay đắng, nhưng không phải là những giọt nước mắt ông Trọng khóc trong Hội Nghị TW 6. Ông xót xa cho một quá khứ thật sự huy hoàng của đời ông. Thành phố thực sự thấm mồ hôi và không ít tâm huyết của ông. Nó lớn lên cùng với ông. Đáng lẽ ông phải được quyền tự hào về nó. Thế mà người ta đã cố gạt ông ra. Ông cũng ân hận vì nhẹ dạ. Ông thừa biết lá bài Võ Văn Thưởng và Nguyễn Thành Phong là những con ngựa Thành Trois. Nhưng một mặt sức từ bên trên đã vượt quá sức chịu đựng của ông, mặt khác, ông vẫn giữ một niềm tin vào sự trung thành tuyệt đối mà các đệ tử lớn lên từ Đoàn thanh niên. Ông đã tự mở cửa cho những con ngựa phản chủ.
Không phải ông không biết hoan lộ của ông đã hết từ Hội nghị TW4 cùng với sinh mệnh chính trị của Nguyễn Tấn Dũng. Trước khi khai mạc Đại hội đảng bộ thành phố lần thứ X dự kiến vào tháng 10/2015 khoảng hai tháng, có hai sự kiện đặc biệt.
Một là vào tháng 8/2015, Thanh tra chính phủ ‘bất ngờ’ công bố kết luận thanh tra đối với Ủy ban Nhân dân thành phố HCM, hàng loạt quy kết về trách nhiệm đối với Chủ tịch Lê Hoàng Quân. Thực chất việc này là cảnh cáo ông.
Hai là chiều ngày 28/9/2015, tại trụ sở CA thành phố HCM, Thượng tướng thứ trưởng BÙI QUANG BỀN trao quyết định nghỉ chờ hưu cho Trung tướng giám đốc công an thành phố Nguyễn Chí Thành, và trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc thay thế cho thiếu tướng Lê Đông Phong.
Ngoài Trung ương họ đã nắm được hết. Chấp nhận còn may được hạ cánh. Ông cũng đã đẩy Lê Hoàng Quân báo cáo xin chủ trương bộ chính trị dự án xây dựng khu Nam thành phố thành khu kinh tế đặc biệt. Đây là phương án rút lui của ông. Tại khu Nam, gia đình ông sở hữu hàng ngàn ha đất, cả triệu m2 đất mặt đường từ thành phố ra biển Cần Giờ. Dự án mà được duyệt, thì ông về cũng chẳng thiệt gì.
Không kể các chân rết nằm ở nhiều nơi vẫn trung thành với ông, trên sân khấu chỉ còn lại Tất Thành Cang, vừa trúng Trung ương uỷ viên, không biết có được thay Võ Văn Thưởng vào chân Thường trực Ban thường vụ, Võ Tiến Sĩ, Bí thư quận 5 uỷ viên thương vụ, Sử Ngọc Anh, Giám đốc Sở Kế hoạch đầu tư. Nhưng có thể ông sẽ gác kiếm hoàn toàn. Sẽ lẩn trốn, tránh xa mọi cuộc chiến.
Đinh La Thăng thuộc típ người hành động, xông xáo, sốc vác, mạnh bạo và cứng rắn. Và rất có thể ông là người trong sạch. Ít nhất đến giờ này, chưa có bằng chứng buộc tội ông. Đó có thể là điểm mạnh, rất mạnh. Vì trước hết ông sẽ có dân. Nhưng mạnh bạo và cứng rắn có thể không đủ. Trên một trận địa đầy rẫy những đe dọa tiềm ẩn như Sài Gòn, dũng cảm không sợ nguy hiểm chỉ có thể chết rất nhanh.
Trước đây, có lần tôi gợi ý nên đưa ông Trần Đại Quang vào làm bí thư Sài Gòn, vì ở Sài Gòn nhiều xã hội đen, nhiều quân ngầm, chỉ có nắm được một đội quân ngầm đủ mạnh mới may ra có cơ hội giành phần thắng. Cùng một lúc phải tổng hợp được sức mạnh của tình báo kinh tế, tình báo chính trị, cả đặc tình, mật vụ của trật tự an toàn xã hội, mới kiểm soát được. Bây giờ đẩy ông Đinh La Thăng vào, không biết là tốt hay xấu cho ông ta đây.
Nếu ông Đinh đến gặp tôi,  tôi sẽ bói cho ông một quẻ cực xấu. Tuy nhiên chẳng có gì không có lời giải. Chẳng có cái xấu nào mà không hóa được. Có điều, là thiên cơ thì bất khả lộ.

Nguồn:  https://anhbasam.wordpress.com/2016/02/07/6926-dinh-la-thang-co-tru-duoc-o-tphcm-khong/

Đảng cộng sản không thể thay đôi mà chỉ có thể sụp đổ?

Đảng cộng sản không thể thay đôi mà chỉ có thể sụp đổ?

 

Trần Quang Thành (Danlambao) - Tiến sĩ Lê Minh Nguyên trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành
Báo cáo chính trị và báo cáo tinh hình kinh tế - xã hội tại đại hội 12, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa Mác Lê-nin, phát triển kinh tế theo thị trường xã hội chủ nghĩa.
Từ năm 1986 bước vào thời kỳ đổi mới, qua 6 kỳ đại hội lập trường ấy vẫn nguyên như cũ, đẩy Việt Nam ngày càng lún sâu vào con đường tụt hậu, phân chia giàu nghèo ngày càng mở rộng, đạo đức xã hội ngày càng bang hoại.
Từ Hoa Kỳ, tiến sĩ Lê Minh Nguyên đã đưa ra một số nhận xét về hiện tình Việt Nam sau đại hội 12 là đảng cộng sản không thể tự háy đổi mà chỉ có thể tự sụp đổ.
Cuộc phỏng vấn do phóng viên Trần Quang Thành thực hiện
Nội dung như sau - Mời quí vị cùng nghe.
https://youtu.be/k9zRE2qJyFw
                               

TẾT, Nói Chuyện Có Tên Hoa MAI .

Chia sẻ bài viết có tên Hoa Mai,
Của Tri Nguyen với Trần KimAnh và 4 người khác.
5 giờ · -https://www.facebook.com/quang.tri.940/posts/1749459051956595

Cảm tạ!" Hoa Mai" có tên trong quân hàm, cấp bậc của QL.VNCH- Môt đạo quân chiến sĩ VNCH , hùng lực Và lớn mạnh nhất Đông Nam Á, và đứng thứ 2 quân đội thế giới sau Hoa Kỳ-Anh- Pháp . Với bộ quân hàm: Hoa Mai vàng,;hoa mai trắng đẹp nhất thế giới...!!!. Xin chia sẻ bài viết, và cảm ơn tác giả LÊ BẢO KỲ, cùng các bạn Tri Nguyen với Trần KimAnh và 4 người khác.



 Tiến Hùng Nguyễn Cung chúc tân xuân Các vi

( TẾT, Nói Chuyện Có Tên Hoa MAI .)

Chữ MAI, có nhiều nghĩa nhưng, nghĩa riêng của nó là buổi sáng sớm tinh sương, thường gọi là sớm mai, chỉ cho một ngày mới sau một đêm dài tăm tối. Từ cụm từ sớm mai, được chuyển sang để chỉ cho một loài hoa nở vào sáng sớm mùa xuân sau những ngày, tháng đứng im, rụng lá trong mùa đông giá buốc, tự nảy lộc, ra hoa nên gọi là hoa Mai.
Truyền thuyết có tên hoa Mai.
Truyền thuyết rằng: “Một ngày nọ trong tiết xuân, có ông nông dân thuộc dòng MA Tộc của Ma Xuân Trường, một tướng quân anh tài dưới đời Hùng Nghị Vương 17 ở Phú Thọ, vào triều Hùng Duệ Vương thứ 18 đương thời tại kinh đô Phú Thọ, xin dâng lên vua một cành cây xanh, ít lá trên đó có nhiều hoa vàng 5 cánh, thân nhỏ bằng đồng tiền. Sau những giây phút xem. Vua Hùng Duệ nói : “ đây là một loại cây nhưng, lại có hoa màu vàng, 5 cánh rất kỳ lạ chưa từng thấy, quý hóa lắm, có thể dâng lên bàn thờ tổ tiên, để cúng tế trong tiết xuân này”. Không quên, vua hỏi ông nông dân : “ Cây có hoa này, tên nó là gì ? Người nông dân vẫn cầm chặt cành hoa trong lòng tay, quỳ xuống thưa : “Kính thưa Hoàng Thượng, thứ dân hoàn toàn không biết “. Đức vua Hùng Duệ hỏi : “ Thứ dân tên họ gì ?” Dạ thưa Hoàng Thượng, thứ dân tên Ma Đình Mai”. Đức Hùng Duệ im lặng trong giây lát, liền nở nụ cười, nói : “Té ra, nhà ngươi cùng tộc họ MA với Tướng quân của ta hiện nay, là MA KHÊ, một thiên tài giỏi về chiến lược, chiến thuật, không thua gì Tướng Ma Xuân Trường dưới đời phụ vương Hùng Nghị của ta, đã nhiều lần cầm quân, đánh tan quân xâm lược phương bắc mới vừa tới biên giới, cả ngàn tên đã ngã gục ! Được rồi, ta lấy tên MAI của nhà ngươi, đặt tên cho cây có hoa vàng 5 cánh này, là cây “Hoa Mai”, vì nhà ngươi đã có công tìm thấy nó ”. Kể từ đó cho đến ngày nay, trên bốn ngàn năm văn hiến, mà tên hoa Mai, chẳng những không bị mất, mà vẫn còn tiếp tục tồn tại trên đất mẹ Việt cứ mỗi độ xuân về, Tết đến nở trong tâm hồn dân tộc Việt, nơi bàn thờ Tổ tiên, phố xá thị thành, đâu đâu cũng đều có hoa Mai hiện hữu.
Câu chuyện có tên hoa Mai, vừa được trình bày trên, do Giáo Sư Quách Tấn (Thi sĩ Quách Tấn) dạy Việt văn lớp Đệ Tam, kể cho học sinh chúng tôi nghe. Hôm ấy, Giáo sư Tấn dạy chúng tôi cách làm thơ thất ngôn tứ tuyệt. Nhân kể chuyện có tên Hoa Mai trong ngày Tết và dư âm của xuân đang còn, do vậy GS Quách Tấn ra đề tài Hoa Mai. Tôi liền hạ bút lên trang giấy. Năm phút sau, Tôi đem bài thơ nộp lên trước tiên. Giáo sư Qách Tấn cầm lên xem liền, gật đầu. Sau khi cả lớp nộp lên, GS Tấn đọc bài thơ tôi trước : “Muộn màng mai nở một cành hoa. Phòng vắng đêm xuân ta với ta. Chợt nhớ xuân xưa*1 dân chạy giặc. Xuân này*2 vui quá khắp nhà nhà”.
Môi trường sinh trưởng và tồn tại của hoa Mai.
Đúng theo chủ đề trên, không nói đến môi trường sinh tưởng và tồn tại của hoa Mai. Tuy nhiên nhân dịp xuân Bính Thân -2016 đang về trong tâm hồn người Việt chúng ta hải ngoại, nên chi cũng phải nói đến một chút về cách sinh tồn của loài hoa Mai, để giới trẻ người Việt ta được biết thêm về hoa Mai, một loài hoa mang sắc thái đặc trưng văn hóa Việt Nam.
Nhận thức tổng thể: Sau khi trái đất được hình thành qua cả triệu năm bởi vô số nhân duyên, thì muôn muôn, vạn vạn loài vật, cây có trái, không trái, hoa, cỏ đủ loại (kỳ hoa dị thảo), tuần tự xuất hiện trước, sau với loài người. Riêng môi trường sinh tồn của muôn loài thảo mộc (cỏ, cây ) không ngoài rừng rú, non cao, đồi thấp, thung lũng, đồng khô, đồng ướt… mà có bản thể sai biệt. Trong thời nguyên thỉ, tất cả các loài Thảo, Mộc chưa có tên, lần lượt được loài người đặt tên: cây ổi (trái ổi) cây táo (trái táo), cây mít (trái mít) v.v… Hoa Lan, hoa Cúc, hoa Mai, hoa Hồng, v.v Riêng loài hoa Mai (đang luận), môi trường sinh thái và tồn tại của chúng, là những nơi thung lũng cạn, sâu, đất cứng, đất có pha sỏi, đá lẫn lộn, và những vùng cát ven biển…đều có cây hoa mai, cho nên mai mang tên mai rừng. Đem hạt mai về nhà gieo, trồng tại nhà được gọi mai nhà, bởi vì bản thể cây mai không còn sắc thái hoang dã nữa.
Bản thể của loài Mai ở thuở ban đầu mới lên cây con, đều giống nhau là nhỏ bé, thân cứng như cây tăm tre dù cho mọc ở đâu. Sau đó thân cây mai sẽ thay đổi toàn bộ. Có nghĩa là môi trường như thế nào, thân, cành, lá, hoa như thế đó : cao, thấp, to, nhỏ, èo ọt, sần sùi, nhẵn nhụi, nâu, xám, cành giòn, cành dai, lá dài, lá bầu, răng cưa, hoa vàng 5 cánh, 6 cánh dày, mỏng, vàng sậm, vàng nhạt, v.v… Tất cả do môi trường của đất khi cây Mai hiện hữu, như đã nói trên mà có những sắc thái đó. Từ những hình thái đó mà hoa có tên: Mai Sẻ, là mai ở vùng cát, gọi là Mai động, thân thẳng, cành nhỏ, hoa chi chít. Có tên Mai Chủy, là mai mọc trong rừng, môi trường ẩm ướt thường xuyên trong 4 mùa, (mưa hè, thu, sương rơi đông xuân), nên chi hoa to, nở hoa thành chùm san sát nhau. Có tên Mai Vĩnh Hảo, là mai luôn được có dòng nước ngầm chảy qua gốc rễ thân mai. Dòng nước đó có tên suối Vĩnh Hảo, được phát xuất từ trong núi, Nhờ đó mà những cây ở vùng Vĩnh Hảo; thân cao, to, lá bầu, hoa lớn gần bằng đồng tiền Tự Đức 4 lỗ, 5 cánh, 6 cánh, lâu tàn. Có tên Mai Cà Ná, (Phan Rang), là xứ nắng đổ lửa, ít mưa. (Phan Rang lửa đốt trên trời, bao nhiêu than đỏ xuống đầu Phan Rang), làm cho thân mai nhỏ mà dai, dù èo ọt, hoa nhỏ, lá răng cưa, cành thì giòn…dai do đất trắng, cứng pha cát, và nắng nóng nhiều tháng trong năm, nhưng, sống được nhờ sương đêm. Có tên Mai Nam Bộ, là Mai có thân cao, cành to, lá lớn, hoa lớn nở vài lần trong năm, gọi là Mai tứ quý, do nước mát bốn mùa, v.v…
Qua những hình tướng, sắc thái khác nhau của loài hoa mai nói riêng, như vừa trình bầy trên, cho ta thấy rõ; loài hoa mai ưa vùng đất ẩm ướt nơi gốc rễ của mai. Đích thực, đi vào chùa Hương bằng đường thủy trên mặt con suối Yến, có dòng nước chảy lững lờ. Sau khi những con thuyền cặp bến, khách hành hương bắt đầu đi vào chùa trên con đường đá ở hướng tây để đi Cáp treo lên chùa cao nhất, vùng thấp ở hướng đông vào chùa dưới, Cả hai bến Đục đều gần bờ suối YẾN cỡ chừng vài chục mét, mới lên đường dốc. Khách hành hương, ai để ý sẽ thấy phía bên trong không xa, có một rừng Mai đang trổ hoa vàng rực, do nước mát từ suối Yến thấm vào, được thấy rõ thân mai cao hơn những cây khác, cho nên thi sĩ Chu Mạnh Trinh có lời thơ : "Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng trái… Lững lờ khe Yến cá nghe kinh"…
Một nơi khác nữa có Mai vàng rực rỡ, đó là một thung lũng cạn ẩm ướt, có tên “Sông lòng Sông” cách suối Vĩnh Hảo cỡ 2 cây số hướng Tây Nam. Đi xe lửa (tàu chợ) vào buổi sáng từ Nha Trang vào Bình Thuận, khi xe chạy chậm trên cầu sắt bắc qua con suối cạn, để chuẩn bị dừng lại Ga Sông lòng Sông. Khách sẽ thấy rừng Mai vàng ở hai bên mạn con suối, trong lòng thung lũng không sâu lắm ở hướng Tây Nam bên trái toa xe, cách đường rầy cỡ hai mươi mét. Sở dĩ tôi vẫn còn nhớ rừng Mai đó, là vì vào những những năm 1948, 49, khi tôi lên 11, 12, dù là thời điểm chiến tranh Việt Pháp đang bùng nổ dữ dội khắp nơi nhưng, các anh trong làng Liêm Bình tôi thuộc Quận Hòa Đa- Phan Rí Thành- Bình Thuận, vẫn rủ nhau đi ra cầu sắt Sông lòng Sông, để chặt Mai về đón Tết, trong đó có Tôi. Do vậy, sau này khi Tôi ở Nha Trang, cứ mỗi độ xuân về, Tôi đi xe lửa về quê Phan Rí ăn Tết, xe chạy chậm qua cầu sắt, Tôi nhớ rừng Mai, liền ghì tay lên bệ cửa sổ, chăm chú nhìn ra rừng Mai xưa đó, đang trổ hoa vàng rực dưới bầu trời xuân, nắng ấm.
Nơi khác nữa có hoa Mai vàng rực rỡ mùa xuân, đó là vùng Ba Hồ ở Nha Trang, ngày xưa là thắng cảnh có tiếng. Tại đây có một vài cây Mai vàng, mọc xen kẽ với những cây rừng, đá tảng ở những nơi trũng, không xa những hồ nước.
Mai vàng ở vùng chùa Bà Chúa Xứ, miền tây Nam bộ, được thấy một vài cây Mai vàng mọc lẫn lộn giữa những cây rừng, cao không quá đầu người ở đường dốc lên chùa. Những cây mai nơi dốc này, thân không to, cành nhỏ, lá thon răng cưa, hoa nhỏ lưa thưa. Bởi vì đường dốc không giữ được nước mưa. Trong khi bụi Mai trước sân chùa, được trồng trong cái chậu bằng xi măng, sơn trắng. Cây mai này; thân lớn, cao quá đầu người cỡ gần 4 mét, hằng trăm cành xòe tròn ra tứ phía, dưới to ra, to dần giữa thân cây, đường kính cỡ 2 mét, lá bầu dục, tất cả cành lớn, nhỏ đều có hoa, cánh hoa to, vàng rực từ gốc đến ngọn. Sở dĩ bản thể cây mai ở đây, được phát triển xanh lá, tươi cành, hoa to và vàng rực như vậy, là do nhân viên chùa chăm lo tưới tắm, bón phân thường xuyên. Thật đúng với ngạn ngữ Việt Nam : “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Qua đây cho ta thấy; muôn loài vật, con người, cỏ, cây, hoa lá trên cõi đời này; có loài nào mà không ăn, không uống đâu ? Con người và loài vật nhờ ăn và uống mới được sống. Cũng như vậy, các loài thảo mộc (cây cỏ) ở mọi nơi trên mặt đất, nhờ nước mà sống tươi, sống tốt, trổ cành, ra lá, đơm hoa, kết trái. Nhất là nước, không nước làm sao sống ! Cho nên bản thân cây hoa Mai trên đồi, đất khô khan, thung lũng thấp, vùng ẩm ướt, gò cát…đều khác nhau là như vậy. Chứ bản thể nguyên thỉ của hoa mai đều giống nhau, trong đó thân lớn, cành to, hoa lớn tỏa hương thơm, gọi là Mai thơm, Mai hương…nếu được sống trong môi trường đất tốt và ẩm ướt, nước mát thường xuyên. Còn những cây mai; thân èo ọt, cành giòn, lá nhỏ, hoa nhỏ không thơm, là do sống ở những vùng đất đồi, đất khô nắng hạn, đất cát không giữ nước…
Vấn đề môi trường nảy sinh cây hoa Mai vàng, có người cho rằng; do chim mang đến. Chim mang đến, là những cây có trái ngọt, chim hái, tha đến nơi gần đó, mổ ăn, làm rụng hột xuống đất, sau đó mọc lên cây. Đằng này hoa mai nở ra, qua một tuần, cánh hoa tàn, rụng xuống, chỉ còn cái đài màu đỏ chung quanh hạt mai. Sau đó hạt già, đen xì, rụng xuống đất một thời gian, hạt mộc lên cây Mai con. Chim Không ăn hạt Mai, làm sao hạt Mai có thể bay qua chỗ khác để mọc cây ? Không lẽ hạt mai từ vùng chùa Hương bay vào thung lũng cạn Sông Lòng Sông xứ Phan Rí, Vĩnh Hảo- Phan Rang ? Không lẽ hạt mai từ Sông lòng Sông bay ra Ba Hồ Nha Trang ? Không lẽ hạt Mai vùng Vĩnh Hảo bay vô núi Bà Chúa Xứ, v.v…? Tất cả giai do nơi nào có tế bào sống của giống mai, thì chỗ đó có cây Mai vàng mọc lên là đúng lý nhất.
Bản thể của loài Mai vàng.
Thân của cây Mai vàng rất cứng, dẻo và dai ngay khi vừa thành cây con, bẻ không đứt. Lá mai rất cứng, có răng cưa li ti hai bên, nắm vào nghe xót lòng tay. Lá mai bám sát thân cây, thường trảy (lảy) khoảng Rằm tháng 10 âm lịch để hoa nở đúng vào dịp Tết, rất là khó. Phải biết cách lảy lá, lá liền lìa cành dễ dàng, bằng không, da Mai bị xước đi theo luôn với lá, làm đau lòng mai. Nói chung thân, cành, lá mai đều cứng do bản chất muôn đời như vậy. Cho nên thân cây Mai vàng sống dưới bầu trời đầy nắng như lửa đốt suốt mùa hè, giá buốt lạnh lẻo suốt mùa đông, mưa dầm, gió bão mùa thu, hay đồi núi đầy sỏi, đá, đất cứng khô khang… Thân cây mai vẫn chịu đựng đứng yên, không rụng lá, đến mùa xuân, cây mai nảy lộc, nhưng, đơm hoa ít hơn, được lảy lá, hoa nhiều hơn, vàng rực trong ánh nắng ấm mùa xuân. Vì thế, cây hoa Mai, được biểu tượng cho VỆT NAM, một dân tộc luôn có truyền thống kham nhẫn chịu đựng mọi thứ khổ lụy : nóng bức mùa hè, mưa lụt, bão táp mùa thu, giá lạnh mùa đông, đói lòng, rách rưới, chiến tranh ngoại xâm…ập lên bản thân nhưng, tâm hồn vẫn kiên trì an định, giữ vững đôi chân mềm lên sỏi đá, bước tới về phía trước, lập lại cuộc đời mới, nở nụ cười Xuân trên đôi môi.
Cây Mai, nói về loại cây; nó là loại cây như cây dẻ, cây sồi khi chưa có hoa, Nói về hoa, cây Mai là loài hoa quý, được người dân Việt ta đem dâng cúng lên bàn thờ Tổ tiên, ông bà vào dịp Tết và tế lễ Thánh Thần tại các Đình, Miếu vào tiết xuân (Tế xuân).
Mai có hai loại : Mai vàng (huỳnh mai) và trắng (bạch mai). Riêng hoa Mai trắng được thấy tại tư gia của những người giàu có, quan quyền thường trồng nơi vách trước nhà. Bởi vì bạch Mai được xem là loài hoa quý. Quý ở chỗ; thân nó lớn, ít sần sùi như mai vàng, lá to, cành lớn, hoa trắng 5 cánh bầu tròn đều đặn, lớn hơn mai vàng cỡ chừng một ly. Do vì quý, cho nên không ai chặt một cành Mai trắng cắm vào bình để cúng tế, hay trưng bày nơi phòng khách. Chỉ để nguyên nơi vườn mà thưởng thức thôi. Mai trắng không thấy ở rừng núi, chỉ được thấy ở đồng bằng Cửu Long miền Nam.
Mai vàng (Hoàng Mai) thì đại trà trên đất Việt; ở những nơi rừng rú, núi non…từ Yên Tử, Quảng Ninh, cho đến Khánh Hòa, Cao nguyên Trung Việt, xuống tận miền Nam. Nếu không nói rằng; hoa mai vàng là hoa của dân tộc Việt Nam, được thấy rất phổ biến nơi đình, chùa, tư gia các giới, đều ưa thích mai vàng. Có một vài chùa ở Bắc, trong Nam, ngoài Trung, hoa Mai vàng được trồng nơi hàng rào, sân chùa và kể cả trong những cái vại nhỏ ba chân, hay ở nơi góc tường rất lâu năm. Riêng Mai vàng trong những cái vại này, thân của chúng như thế nào; thấp, bành ra, sần sùi phần gốc, tròn dần lên ở phần thân, to bằng cây chuối con, cành to bằng cánh tay người lực sĩ, cong queo vô trật tự, uốn mình như rồng bay, phượng múa,… do ý muốn của người chủ tạo ra các hình thể dị biệt đó.
Tết Nguyên Đán, thì những cây mai vàng kỳ cựu (cội mai già) này trong các Vại, nở đầy hoa, vàng rực chung quanh thân cây mai có những hình thù kỳ dị của chúng, trông rất đẹp mắt, được thấy tại các chùa và tư gia sành điệu chơi Mai. Họ trồng trước sân hay trong những cái vại to mầu gạch, chứ không có cội mai già trắng. Chính hai câu thơ sau cùng trong bốn câu của Thiền Sư Mãn Giác đời Trần sau đây : “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhứt chi mai”. (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một cành mai), là cây hoa Mai vàng trước sân chùa.
Hoa Mai Trên cầu vai áo các Sĩ quan QLVNCH, cấp Úy, Tá.
Trước khi nói đến hai thứ bông mai vàng, trắng trên cầu vai, cổ áo của các cấp Sĩ quan : Úy, Tá nói riêng hai binh chủng Lục và Không quân VNCH từ Đệ I và II VNCH. Tôi nói về ý nghĩa Quân hàm. Quân hàm, là cấp bậc từ Hạ sĩ quan và Sĩ quan trong quân đội nói chung tại các quốc gia trên thế giới, mỗi nước có hình ảnh quân hàm riêng. Ngoại trừ cấp Tướng, ở đâu quân hàm đều là Sao trắng. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có quân hàm riêng cho hai cấp Úy, Tá (Tiểu, Trung, Đại), đó là hoa Mai vàng và hoa Mai trắng cho Lục và Không quân. Quân hàm binh chủng Hải quân không có hoa Mai, dùng hình ảnh mỏ neo (Anchor) cho quân hàm. Lục quân (Bộ binh, BĐQ, Dù, TQLC, ĐPQ…) và Không quân. Cấp Úy : Một Mai vàng cho cấp Thiếu Úy, hai hoa Mai vàng cho cấp Trung Úy, ba hoa Mai vàng cho cấp Đại Úy. Cấp Tá : Thiếu Tá 1 hoa Mai Trắng, Trung Tá 2 hoa Mai Trắng, Đại Tá 3 hoa Mai Trắng. Cả 3 bông Mai trắng này được nằm trên gạch ngang bằng kim tuyến trên cổ áo trận hay là áo lễ. Phải nói rằng; quân hàm cho 2 binh chủng Lục, Không quân VNCH bằng hoa Mai vàng, trắng rất là trang nhã vàng rực, trắng xóa làm nổi bật hình tướng Sĩ quan ở góc độ đường đường một đấng anh tài, trí thức khoa bảng, văn hóa.
Lý do nào mà các cấp lãnh đạo chính phủ VNCH dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ai đó đã chọn 2 thứ bông Mai vàng, Trắng làm quân hàm cho Sĩ quan QLVNCH ở hai binh chủng Lục và Không quân ? Thật sự, tới giờ này 2015, không ai được biết người nào trong chính phủ Đệ I VNCH, đã chọn hình ảnh hai thứ hoa Mai vàng, trắng làm quân hàm cho các cấp Sĩ quan của hai binh chủng Lục và Không quân VNCH. Do vậy, riêng Tôi tự suy luận về bản thân của các cấp Sĩ quan 2 binh chủng Lục và Không quân giống như bản thể của hai loài hoa Mai vàng, trắng, không khác. Có nghĩa là, sau khi ra quân trường, Sĩ quan cấp Thiếu Úy phải dấn thân thật dai sức nơi trận mạc, chịu nhiều nắng lửa, mưa dầu, giá buốt lạnh lẽo như cắt vào mùa đông, bão tố phong ba vào mùa thu. Nếu bị địch bao vây nhiều ngày, Sĩ quan phải ngủ bờ đê, uống nước suối, ăn lương khô, có khi bị thiếu lương thực và nước uống…mà vẫn hiên ngang tiến quân mở đường máu thoát thân trong lửa đạn. Sĩ quan không quân, khi bị rơi vào giữa trận địa, cũng phải bị lâm vào môi trường và hoàn cảnh đầy gian khổ như các Sĩ quan Lục quân, là đói khát, ngủ bờ đê…Còn Sĩ quan Hải quân chỉ ở trong tàu, dù chiến đấu vẫn ở trong tàu hay vào bờ vẫn có nước và lương thực dự trữ…nếu tử trận được thủy táng mát mẻ tấm thân, không ngủ bờ đê, uống nước suối, nhịn đói như hai giới Sĩ quan Lục quân (Bộ binh, TQLC, Dù, BĐQ, ĐPQ) và không quân, cho nên không có hoa Mai nở trên cầu vai áo Sĩ quan Hải quân là như vậy.
Hoa Mai vàng trong văn hóa Việt Nam khi Xuân về.
Hoa Mai vàng được biểu thị cho mùa Xuân. Nói khác hơn; hoa Mai là Xuân, Xuân là hoa Mai. Chỉ có hoa Mai vàng trong nền văn hóa Việt Nam, không có hoa Mai trắng. Đích thực như vậy, hình ảnh hoa Mai vàng được hiện hữu ở những vật thể hiện thực và âm thanh mùa Xuân : Tấm thiệp chúc Tết đầu năm, bánh Chưng, bánh Tét, những hộp bánh, mứt Tết, trang bìa Đặc san báo Xuân, trước các cửa hiệu buôn ngày Tết, trên sân khấu văn nghệ mừng xuân, và trong hằng trăm bài hát. Phiên gác đêm xuân : Đón giao thừa một phiên gác đêm. Chào xuân đến súng xa vang rền…(NS N V Đông). Đồn Vắng Chiều Xuân : Đồn anh đóng ven rừng Mai, nếu Mai không nở, sao anh biết xuân về hay chưa !...(NS Trần T Thanh). Hạnh Phúc Đầu Xuân : Thắm thoát là đây, một mùa Xuân mới muôn ngàn cánh hoa vàng,…(NS Minh Kỳ, Lê Dinh). Xuân Đã Về : Xuân đã về, Xuân đã về. Kìa bao ánh Xuân về tràn lan mênh mông,…(NS Minh Kỳ) v.v… Cũng như trong các bài thơ nói về mùa xuân có hoa Mai những thi sĩ: Nguyễn Du nói tiết Xuân : “Mùa Xuân con én đưa thoi,…Cỏ non xanh rợn chân trời, cành lê trắng điểm một vài bông hoa,…Chị em sắm sửa bộ hành chơi Xuân,…”. “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Tiền đình tạc dạ nhứt chi mai". Thiền sư Mãn Giác đời Trần (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một cành mai ). Sột soạt gió trên tà áo biếc, trên giàn thiên lý bóng Xuân sang…(Hàn Mặc Tử). Đây cả mùa Xuân đã đến rồi. Từng nhà mở cửa đón vui tươi…
( Nguyễn Bính).
*1- Xuân Đinh Hợi-1947, Pháp trở lại Việt Nam, đổ quân vào miền duyên hải từ Thuận An đến Nha Trang, Bình Thuận…
*2- Xuân Đinh Dậu- 1957. Nha Trang- Việt Nam Cộng Hòa.
( LÊ BẢO KỲ )

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc

  Thêm ảnh: Hải chiến Hoàng Sa

Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc

Trần Trung Đạo (Danlambao) - Sau 40 năm nếu tính từ thời gian hải quân Trung Cộng tấn chiếm Hoàng Sa và 56 năm kể từ khi Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, lần đầu tiên lãnh đạo CSVN chính thức phủ nhận công hàm. Bao nhiêu lần lập đi lập lại câu thần chú “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc về chủ quyền đối với Hoàng Sa” nhưng giới lãnh đạo CSVN không hề nhắc đến công hàm, tưởng chừng như văn bản đó không phải là của họ. Thứ Sáu 23-5-2014, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Biên Giới Quốc Gia, trong cuộc họp báo với mục đích “làm rõ công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng” đã đưa ra các lý luận để phản bác các quan điểm của Trung Cộng.

Điều kiện quốc tế dẫn tới công hàm Phạm Văn Đồng

Trước 1958, Trung Cộng không có một quan điểm rõ ràng nào về lãnh hải. Nhà văn Trung Quốc Wei Wen-han nghiên cứu về lãnh hải nhắc lại cho đến tháng Sáu 1957 Trung Cộng vẫn chưa có một xác định nào về hải phận và thềm lục địa thuộc về Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Tháng 12 năm 1957, Nam Dương tuyên bố mở rộng lãnh hải từ 3 hải lý theo truyền thống mà hầu hết các quốc gia áp dụng sang 12 hải lý và được tính từ điểm ngoài cùng của các đảo thuộc lãnh thổ Nam Dương. Vì Nam Dương là quốc gia quần đảo, nếu tính như vậy, một vùng biển rộng lớn của vùng Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều thuộc quyền kiểm soát của Nam Dương. Anh, Hòa Lan và nhiều quốc gia khác cùng lên tiếng phản đối. Trung Cộng chụp lấy thời cơ binh vực Nam Dương và ngày 4 tháng 9 năm 1958 công bố riêng một Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc (Declaration on China's Territorial Sea) với các điểm chính như mọi người đều biết: “Bề rộng của lãnh hải Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ là 12 hải lý” và “áp dụng tương tự đối với Đài Loan và các đảo chung quanh, Quần đảo Bành Hồ (Penghu), Quần đảo Trung Sa (Tungsha), Quần đảo Tây Sa (Hsisha), Quần đảo Chungsha, Quần đảo Nansha (Nam Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc”.

Công tâm mà nói, bản tuyên bố của Trung Cộng trong thời điểm đó nhắm vào Mỹ đang bảo vệ các tàu hàng Đài Loan trong các vùng đảo Kim Môn, Mã Tổ, Bành Hồ hơn là các nước Đông Nam Á. Người soạn thảo bản tuyên bố của Trung Cộng áp dụng phương pháp tính lãnh hải của Nam Dương và có tầm nhìn Đại Hán nên đã đưa các đảo Tây Sa (Hsisha) tức Hoàng Sa và Nam Sa (Nansha) tức Trường Sa trong vùng biển Đông vào. Chính phủ Mỹ tức khắc bác bỏ bản tuyên bố của Trung Cộng và các chiến hạm Mỹ vẫn tiếp tục bảo vệ an ninh cho các tàu hàng Đài Loan trong vùng 3 hải lý của đảo Kim Môn, Bành Hồ chung quanh Đài Loan. Trung Cộng không dám bắn. Bộ quốc phòng Mỹ đã lên kế hoạch tấn công Trung Cộng bằng bom nguyên tử. Để giữ thể diện, Bành Đức Hoài tuyên bố ngưng bắn vào Kim Môn nếu tàu chiến Mỹ ngưng bảo vệ tàu hàng Đài Loan. Mỹ chẳng những không đáp lại đòi hỏi của Trung Cộng mà còn gởi Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles thăm Đài Loan để bàn kế hoạch phòng thủ Đài Loan lâu dài.

Hai lý do Trần Duy Hải dùng để bác bỏ công hàm Phạm Văn Đồng

Thứ nhất. Công hàm Phạm Văn Đồng “hoàn toàn không đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Lý luận này không thuyết phục được ai. Không cần phải đứng về phía Trung Cộng mà chỉ một người có chút hiểu biết và dù đứng về phía Việt Nam cũng phản bác lại dễ dàng. Đưa ra lý do không đề cập đến Hoàng Sa, Trường Sa là một cách tự kết án mình. Bản tuyên bố của phía Trung Cộng ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Cộng và Việt Nam đáp lại bằng cách “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố”. CSVN có nhiều cách để lấy lòng đàn anh Trung Cộng mà vẫn giữ được chủ quyền đất nước. Chẳng hạn, Phạm Văn Đồng chỉ nhấn mạnh đến sự ủng hộ của đảng và nhà nước CSVN đối với các chính sách của Trung Cộng trong xung đột Đài Loan mà không nhắc nhở gì đến Hoàng Sa, Trường Sa và coi như không biết đến “Bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc”. May ra còn có thể cãi cọ được. Tiếc thay, lãnh đạo đảng sợ viết như vậy chưa vừa lòng đàn anh và chưa tỏ bày hết lòng dạ trung kiên, cắt cỏ ngậm vành của mình.

Không giống thái độ của các nước Mỹ, Anh, Hòa Lan, CSVN tự nguyện đưa cổ vào tròng. Không có một văn bản nào cho thấy Trung Cộng áp lực Việt Nam phải đồng ý với bản tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng. Không có tài liệu nào cho thấy Trung Cộng đe dọa nếu CSVN không ủng hộ sẽ đưa quân sang “dạy cho một bài học” hay cắt đứt viện trợ. Thời điểm năm 1958 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của Trung Cộng, tuy nhiên những người soạn thảo bản công bố chủ quyền biển của Trung Cộng đã biết phòng xa. CSVN thì không. Nếu sự kiện được trình lên toàn án quốc tế, không một quan tòa nào sơ đẳng đến mức đánh giá hai văn bản một cách độc lập với nhau.

Phân tích để thấy, lãnh đạo CSVN trong lúc phủ nhận giá trị của công hàm Phạm Văn Đồng trước dư luận quốc tế, cũng đồng thời thừa nhận trước nhân dân Việt Nam công hàm Phạm Văn Đồng là công hàm bán nước.

Lý do thứ hai cũng do Trần Duy Hải đưa ra “Hoàng Sa và Trường Sa cũng phù hợp với thực tế lúc đó hai quần đảo này nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa”.

Trong hai lý do, chỉ có lý do Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là có sức thuyết phục về mặt pháp lý cũng như gây được cảm tình của thế giới tự do. Tuyên cáo của chính phủ VNCH công bố ngày 14 tháng Hai năm 1974 xác định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như Bạch thư của Bộ Ngoại Giao VNCH đầu năm 1975 đanh thép bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng không thể công nhận những gì không thuộc lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. VNCH là một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về VNCH đã được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, lý luận VNCH có gây được cảm tình nhân loại và có thể dùng để tranh luận trong bàn hội nghị cũng chưa thắng được bởi vì VNCH không còn là một thực thể chính trị.


Phản bác của nhà nghiên cứu Trung Quốc

Ngô Viễn Phú, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam và từng du học tại Việt Nam đã bác bỏ các luận điểm của CSVN. Ngô Viễn Phú cho rằng “Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh).”

Đàn anh Cộng Sản Trung Quốc công nhận đàn em CSVN là chuyện đương nhiên và thể theo lời yêu cầu của CSVN chứ không phải của VNCH. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước thay đổi theo từng thời kỳ. Singapore là một nước nhỏ nhưng mãi đến 1990 mới công nhận Trung Cộng. Liên Xô là một nước lớn nhưng Mỹ bắt chờ 16 năm sau cách mạng CS Nga mới công nhận Liên Xô. Thời điểm 1933 Nhật bắt đầu bành trướng ở phương Đông nên Mỹ cần làm dịu căng thẳng ở phương Tây, nếu không Tổng thống Franklin Roosevelt còn cô lập Liên Xô thêm nhiều năm nữa.

Việc “Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam” cũng chỉ giá trị giữa miền Bắc CS và Trung Cộng không ảnh hưởng gì với quốc tế và không liên hệ gì đến nước thứ ba, trong trường hợp này là VNCH. Trung Cộng có quyền công nhận miền Bắc Cộng Sản và không công nhận VNCH về mặt ngoại giao nhưng vẫn phải thừa nhận VNCH là một quốc gia độc lập được quốc tế và các quốc gia tham dự hội nghị Geneva, trong đó có Trung Cộng tham dự và ký kết.

Trong khi phản bác Ngô Viễn Phú lại cũng dựa trên lý luận CSVN đã xâm lược VNCH và không có quyền “thừa kế” lãnh thổ của nước bị chiếm: “Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay “chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.”

Về mặt công pháp quốc tế cũng như cả lãnh đạo CSVN lẫn phe phản bác lý luận của CSVN đều công nhận rằng chủ nhân thật sự của Hoàng Sa vẫn là VNCH. Do đó, điều kiện tiên quyết, chọn lựa duy nhất và con đường thích hợp nhất không chỉ để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Công mà mở đường cho tự do, dân chủ và thịnh vượng là tập trung vào công cuộc phục hưng VNCH.


Lối thoát VNCH

Đọc tới đây, một số độc giả có thể sẽ dừng lại vì cho người viết không tưởng, hư cấu hay chủ trương đi lại một vết xe đổ. Không. Phục hưng VNCH không phải là đi lùi vào quá khứ mà hướng tới tương lai, không phải lập lại mà thăng tiến cao hơn. VNCH không phải là vết nhăn trên trán của thế hệ cha chú đã qua mà là hành trang và ước vọng của tuổi trẻ ngày nay. Chủ nghĩa CS mới thật sự là lạc hậu và việc cáo chung của chủ nghĩa này chỉ là vấn đề thời gian. Thác nước Niagara không thể nào chảy ngược. Không phải người viết, phần đông độc giả mà ngay cả các lãnh đạo CSVN cũng không thể chối cãi sự thật đó. Chủ nghĩa CS còn kéo dài ở Á Châu cho đến hôm nay là nhờ họ biết núp bóng sau tấm bình phong chống thực dân đế quốc. Tấm bình phong do họ dựng lên đang rã mục. Năm 1954 tại miền Bắc, nhiều người thật sự tin rằng đảng CS và dân tộc Việt Nam là một, như nước với sữa, như máu với thịt, hay như Hồ Chí Minh nói “đảng là con nòi của dân tộc”. Năm 1975, khi đối diện với miền Nam từ lối sống đến phương tiện hoàn toàn khác với những gì bộ máy tuyên truyền CS đã thêu dệt nhiều người bắt đầu nhận ra đảng đã lợi dụng máu xương của những người ngã xuống vì khát vọng hòa bình, vì mơ ước đoàn viên, vì cơm no áo ấm chỉ để CS hóa toàn đất nước. Và hôm nay, 2014, đông đảo nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ cơ chế độc tài là trở lực duy nhất trên con đường dẫn đến một Việt Nam tự do, dân chủ, văn minh. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để tại Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.

Và khi đó, thể chế nào khác sẽ thay thế chế độ CS nếu không phải là thể chế cộng hòa? Thực tế chính trị rất hiển nhiên đó đang là một khải hoàn ca tại hầu hết các quốc gia cựu Cộng Sản như Cộng hòa Czech, Cộng hòa Hungary, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa Lithuania, Cộng hòa Estonia, Cộng hòa Mông Cổ v.v... Tiến trình dân chủ hóa diễn ra nhanh hay chậm tùy theo điều kiện của mỗi nước nhưng là hướng phát triển của văn minh nhân loại trong thời đại này.


Giá trị của VNCH

Trong suốt 60 năm từ 1954, bộ máy tuyên truyền của đảng đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. Suốt 60 năm qua, VNCH là hiện thân của thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ đều được dạy để biết VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.

Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas 8 năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.

Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng.

Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có, không chỉ đàn áp một lần mà nhiều lần, không chỉ một năm mà nhiều năm.

Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có, không chỉ 300 triệu dollars “viện trợ đặc biệt” như nhiều người hay nhắc mà nhiều tỉ đô la.

Vâng, tất cả điều đó đều có. Chế độ cộng hòa tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hòa hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Dân chủ không phải là lô độc đắc giúp một người trở nên giàu sang trong một sớm một chiều mà là quá trình tích lũy vốn liếng từ những chắt chiu của mẹ, tần tảo của cha, thăng trầm và thử thách của cả dân tộc.

Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nam Hàn cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.

Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.

Phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền. Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 39 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Công nhận các giá trị được đề ra trong hiến pháp VNCH không có nghĩa là đầu hàng, chiêu hồi. Không. Không ai có quyền chiêu hồi ai hay kêu gọi ai đầu hàng. Đây là cuộc chiến mới, cuộc chiến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa cộng hòa và cộng sản, giữa tự do và độc tài, giữa nhân bản và toàn trị. Mỗi người Việt sẽ chọn một chỗ đứng cho chính mình phù hợp với quyền lợi bản thân, gia đình, con cháu và sự sống còn của dân tộc.

Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi 1954 mà đã có từ hàng trăm năm trước.

Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hòa sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều người. Đó không phải là tài sản của riêng miền Nam mà của tất cả những người Việt cùng ôm ấp một ước mơ dân chủ. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, tháo gỡ lớp màn “căm thù Mỹ Ngụy” ra khỏi nhận thức, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Không cần phải tìm giải pháp từ Miến Điện, Nam Phi, Ai Cập, Libya hay tìm chân lý ở Anh, ở Mỹ mà ngay ở đây, giữa lòng đất nước Việt Nam.

Phục hưng VNCH không có nghĩa là phủ nhận công lao của những người đã hy sinh trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Như kẻ viết bài này đã nhấn mạnh nhiều lần, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Việc tham gia vào đảng phái, kể cả việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập nhưng đối với đảng CS chiếc phao lại chính là dân tộc.

Nhiều người yêu nước chọn tham gia vào đảng CS nhưng bản thân đảng CS như một tổ chức chính trị dựa trên ý thức hệ CS chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Dù sao, người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, tổ quốc sẽ ghi công họ một cách công bằng.

Phục hưng VNCH không có nghĩa là tái thực thi hiệp định Paris. Dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hòa ước Patenôtre, hiệp định Geneva hay hiệp định Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam yếu kém và phân hóa. Trước 1975, trong đáy lòng của bất cứ một người Việt yêu nước nào cũng mong một ngày dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ được đoàn viên trong tự do, dân chủ và thịnh vượng. Tuy nhiên, ngoài trừ lãnh đạo CSVN chủ trương CS hóa toàn cõi Việt Nam bằng súng đạn của Nga, Tàu, không ai muốn đoàn viên phải trả bằng giá của nhiều triệu sinh mạng người dân vô tội, đốt cháy một phần đất nước, để lại một gia tài nghèo nàn lạc hậu cho con cháu. Hôm nay, dù không tự mình chọn lựa, dân tộc Việt Nam cũng đã là một và không có một thế lực nào làm Việt Nam phân ly lần nữa.

Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên. Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới trong đó người dân gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thân thương và trìu mến. Đối mặt với một kẻ thù đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay. Đảng CS có 3 triệu đảng viên nhưng đa số trong số 3 triệu người này trong thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một tập đoàn lãnh đạo đảng tham quyền và bán nước. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.

Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 39 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên. Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người lãnh đạo được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước. Như người viết đã trình bày trong bài trước, rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.

Sau hải chiến Hoàng Sa đầy hy sinh xương máu, VNCH lần nữa lại được lịch sử giao trọng trách đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới sẽ khó khăn nhưng là con đường đúng nhất của dân tộc trong cùng hướng phát triển của nhân loại. Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS. Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.

Trần Trung Đạo
danlambaovn.blogspot.com
BT chuyển

 Nguồn: http://www.vnchhiepdinhparis1973.com/SUB_BinhLuan/BinhLuan1405310546.shtml

Mùa câu cá Bông lau ...

Mùa câu cá Bông lau ...

 Vào những ngày tháng 3, tháng 4 âl, có dịp đến cù lao Dung (Sóc Trăng), đứng từ khu rừng bần phóng tầm mắt ra sông Hậu mênh mang, chúng ta sẽ chứng kiến mấy chục ghe xuồng đang vật lộn với sóng gió để lôi lên từng con cá bông lau tươi rói, đặc sản của vùng sông nước Cửu Long.  


Bông lau, một loài cá quý hiếm
Bông lau là loài cá da trơn, tên khoa học là Pangasius Krempfy, chi cá tra (Pangasius), thuộc loài di trú và là đặc sản của dòng Mekong. Loại cá này có thể nặng trên 10kg, thân hình hao hao như cá ba sa, cá dứa nhưng dáng thon, dài, da trắng mịn, nổi bông phấn, khi gặp ánh nắng mặt trời màu sắc ánh lên như bông lau.
Tuy là loài di trú nhưng cá bông lau thích sống ở sông sâu, dòng chảy mạnh, đặc biệt là ở những nơi giáp nước, gần biển như cửa Định An và Trần Đề. Thường những con cá sống ở một chỗ lâu ngày bao giờ cũng mập, to hơn cá chuyển vùng (di trú) theo từng con nước. Nhiều ngư dân kể rằng tại cửa Định An có nhiều rạn đá ngầm, nhiều luồng nước chảy xiết nên cá thích quây quần về đó để cư trú và sinh sản.
Theo kinh nghiệm của nhiều lão ngư, loại cá bông lau sống ở những đoạn sông nước ngọt thì mập, da trắng, mình ngắn, thịt ngon và béo hơn cá ở vùng nước mặn. Dù cư trú ở đâu, chúng cũng thường kéo nhau thành bầy đi kiếm ăn vào thời điểm nước rong (14– 29 hoặc 30 âl) lúc nước đứng dòng, sóng gợn lăn tăn, nhất là ban đêm, trời êm, ít tàu bè qua lại.
Mùa cá bông lau trên sông Tiền và sông Hậu đến không cùng lúc. Có nơi đến sớm từ trước tết cho đến tháng 3 âl như ở An Giang; có nơi cá về khi ngọn gió chướng bắt đầu thổi như ở khúc sông gần cồn Mỹ Phước (Sóc Trăng); lại có nơi cá xuất hiện quanh năm như gần các cửa sông đổ ra biển. Vào những ngày này, bà con tập trung buông lưới và giăng bắt bằng câu phao, câu viền khiến cho mùa cá bông lau trở nên rộn ràng tất bật.



Sôi động mùa cá bông lau
Trên dòng sông Hậu, hàng năm, kể từ sau Tết Nguyên đán, hoạt động đánh bắt cá bông lau đã bắt đầu sôi động hẳn lên, nhất là tại Phú Tân, Tân Châu, Chợ Mới, nổi tiếng nhất là trên sông Vàm Nao- An Giang và các đoạn chảy qua Lai Vung- Đồng Tháp), cù lao Tân Lộc (Cần Thơ) cù lao Mây (Vĩnh Long) và đoạn sông từ cuối cồn Mỹ Phước đến đầu cù lao Dung.
Vào mùa bông lau về, trên nhiều đoạn sông có tới hàng trăm ghe xuồng đua nhau giăng câu và thả lưới. Đặc biệt tại con sông Vàm Nao- con sông nổi tiếng về cá bông lau- hàng đêm, cứ khoảng 7- 8 giờ tối là ghe xuồng đánh bắt lại tụ hội về đông đủ, đèn phao đỏ rực, chớp nháy trên nhiều đoạn sông giống như những vì sao lấp lánh thật thú vị.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hữu Hiệp cho biết, trước đây bà con ở Vàm Nao săn bắt cá bông lau bằng nhiều cách khác nhau: chài, lưới, câu cần, câu giăng, nhưng hiện nay đa số đều bắt bằng lưới vừa an toàn vừa có hiệu quả. Thông thường mỗi ghe lưới chỉ cần hai người, một người bơi và một người thả lưới. Mỗi tay lưới cá bông lau dài từ 300– 500m, dạo sâu khoảng 7m, tùy giăng sâu hay giăng cạn. Dân nhà nghề chia lưới ra làm 2 loại: Lưới đèn (có gắn đèn trên phao) dành bắt cá chạy luồng trên. Còn lưới ngầm thì cho lưới chìm sâu xuống nước, bắt được nhiều cá to. Thăm cá cũng là một điều thú vị, nếu lúc nào nước chảy mạnh thì thăm vài giờ một lần, còn nước chảy yếu thì giãn ra, Mỗi lần được cá to anh em phấn khởi thông báo cho nhau để cùng chia sẻ.


Khác hơn An Giang, đa số ngư dân ở cù lao Dung thích săn bông lau bằng câu cần, câu viền hoặc câu phao. Anh Trần Phước Thiện, một tay câu nổi tiếng cho biết mỗi giàn câu viền dài từ 500– 800m, thả chìm xuống sâu vì cá bông lau thường đi ăn sát đáy. Dọc theo viền, người ta buộc sợi câu cách nhau 3 sải một lưỡi (khoảng 5m), còn câu phao thì mỗi lưỡi gắn thêm một cái phao nhỏ, buộc cách nhau 10 sải. Theo anh, nghề câu cá bông lau quan trọng nhất là mồi. Tùy theo mùa và con nước mà người câu dùng những loại mồi khác nhau.
Có thể nói mồi nhạy nhất hiện nay là trùn biển. Loại mồi này thích hợp nhất trong những ngày nước đục, luồng chảy chậm hoặc đứng nước. Mồi gián cũng là loại khoái khẩu đối với cá bông lau, thích hợp nhất là vào thời điểm tháng 2, tháng 3, lúc nước trong và luồng chảy mạnh. Tại các cửa Định An, Mỹ Thanh, Trần Đề và một số nơi có người còn dùng mồi bần chín để câu vào các tháng 6, 7, 8 lúc trở nước. Rõ ràng, trong giới câu cá bông lau, mỗi người đều có một bí quyết riêng, có người dùng mồi cá lóc nói sống, có người lại dùng ruột vịt hôi thúi hoặc các loại cá ươn trộn với bông gòn và thuốc Bắc.


Anh Lưu Văn Đầy ở cù lao Dung không giấu giếm: Muốn bắt được cá bông lau thật không dễ chút nào, đòi hỏi người câu phải có tay nghề cao, từng trải, rành về dòng chảy, con nước, lạch nước và thời điểm trong tháng để móc mồi thả câu. Dân câu thường truyền nhau câu “Nhờ nước nhớ mùng”, có nghĩa là người câu cá bông lau phải chú ý đến con nước lớn, nước đứng hay ròng. Mùng là mùng mấy âm lịch. Anh Thiện cho biết cá bông lau sống tùy theo con nước, có khi mùa này ở vùng này nhưng mùa sau ở vùng khác. Song điểm tập trung nhiều nhất là trên các đoạn sông sâu, nước chảy mạnh. Chúng thích lội ngược chiều dòng chảy để tìm mồi nên người giăng câu phải nắm bắt quy luật đó để dụ cá vào ban đêm kể cả ban ngày. Khi dòng nước bắt đầu chảy nhẹ cũng là lúc ngư dân bắt đầu cuốn câu, tóm gọn từng con cho vào ghe, nhiều con nặng đến 6, 7 kg.
Ngồi trên chiếc ghe 2 tấn, nào sóng gió, nào sương mù, tàu lắc lư làm tôi muốn nôn ói, nhưng vì quá mê say nên tôi cố gắng chịu đựng lấy máy ra ghi lại vài hình ảnh tuyệt vời của những “sát thủ” cá bông lau ở cù lao Dung.


Từ bao đời nay bà con đánh bắt bông lau đã thu về một nguồn lợi to lớn, nhưng giờ đây, nhiều lão ngư đã tỏ ý than phiền: Trước đây, dòng sông yên tịnh, cá tôm đặc lềnh, mỗi ghe xuồng có thể kiếm vài ba chục ký mỗi đêm. Nay do hoạt động đánh bắt ráo riết và tàu bè qua lại thường xuyên nên cá dần dần giảm đi, mỗi ngày dân chuyên nghiệp cũng chỉ kiếm được vài ba con. Do đó, muốn khai thác có hiệu quả, các tay lưới phải kết hợp đánh bắt một lúc nhiều loại như cá bông lau, cá sửu, cá út,… để tăng thêm thu nhập.
Anh Mười Chí- một tay câu bông lau có tiếng ở Sóc Trăng phấn khởi cho biết: Mấy năm nay, tuy cá bông lau về ít nhưng bù lại giá rất hấp dẫn khiến cho đội quân săn cá bông lau không những không giảm mà còn tăng lên đáng kể. Vả lại, nghề câu là một nghề khai thác cổ truyền vừa bảo vệ được nguồn thủy sản, vừa bảo vệ môi trường sinh thái nên được nhiều người ủng hộ.


Điều đáng mừng đối với người nuôi trồng thủy sản là gần đây Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam bộ đã nghiên cứu thành công việc sinh sản nhân tạo cá bông lau, tạo ra nhiều triển vọng cho người nuôi, một loài cá chất lượng hơn hẳn các loài cá da trơn khác.

Nguồn:  https://www.facebook.com/notes/659947164047786/?pnref=story

TRẢNG BOM BÃO LỬA - P2


Trưa ngày 29/4/1975 tại bộ Tổng Tham Mưu Sau khi Tổng thống Trần Văn Hương trao quyền nguyên thủ quốc gia cho ông Dương Văn Minh vào chiều ngày 28/1975, ...
 

TRẢNG BOM BÃO LỬA - P2
( Vũ Đình Lưu )
*
*
*
Hỏa Long và Th/tá Đào tức tốc điều Chi Đoàn tôi đối đầu với địch ở phía Nam (có đường ray xe lửa Biên Hòa-Long khánh), để trám vào vị trí các Chi Đội Chỉ Huy đang chao đảo. CĐ1/5CX đánh trả ở hướng Bắc và hướng Đông thay đơn vị tôi. Ba hướng: Nam, Đông, Bắc đều bị sức tấn công dồn dập của CSBV. Chúng biết lực lượng đối đầu chúng là Thiết Giáp Binh nên chúng xử dụng toàn các loại súng chống Chiến xa. Những quả đạn hực lửa của B 40, B 41, Đại bác 57 ly, 75 ly không giật, tới tấp bay vào đội hình Thiết Đoàn. Các Chi Đội Chỉ Huy chuyển sang thủ hướng Tây (hướng về Hố Nai). Sau hơn một giờ giằng co bất phân thắng bại. Hỏa Long ra lệnh lui binh.

Lại lệnh lui binh! Lệnh từ trên ban xuống, chúng tôi là những cấp Chỉ huy nhỏ, chỉ biết thi hành.Tấn công thì dễ, nhưng lui quân khó biết dường nào. Trong Binh pháp lui binh trong lúc giao tranh ác liệt là chiến thuật khó khăn nhất. Hai tuần lễ đầu tháng 4-75, CĐ 2/5 TK này đã lui binh nhiều lần với tổn thất không nhỏ. Đến nổi phải mở đường máu để bảo toàn lực lượng, giờ phút này lại nhận lệnh… lui binh khi trận chiến đang ác liệt chưa phân thắng bại. Tôi nghĩ quá nguy hiểm khi địch biết chúng tôi quay đầu xe rút lui dù xử dụng thế “Chân vẹt” đi chăng nữa.

*
*
Tất cả các đơn vị đều dùng hỏa lực cơ hữu áp dụng thế “Chân vẹt” tối đa để yểm trợ lẫn nhau và tuần tự lui quân. Phi tuần oanh tạc không thấy, Pháo binh im hơi lặng tiếng. Thật sự chiến đấu trong cô đơn và bị động hoàn toàn, buồn thay! Trước đây không lâu tất cả mọi cuộc hành quân chúng tôi chủ động với Phi Pháo yểm trợ đầy đủ. Các đơn vị Trừ bị sẳn sàng nhảy vào vòng chiến nếu cần, còn bây giờ… “mạnh ai nấy lo”, uất nghẹn thay, tủi nhục thay cho một Quân Đội đang bị bức tử.

Các Chi Đội của Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn dẫn đầu xuôi về hướng Tây ( Hố Nai). CĐ 1/5 CX chống trả, cản hậu hướng Đông và Bắc. CĐ 2/5 TK đánh trả hướng Nam. Tất cả giữ vững đội hình vừa giao tranh vừa rút lui. Khoảng 6 giờ sáng, mới hừng Đông, chúng tôi nhìn thấy nhiều Chiến xa CSBV xuất hiện và đang đuổi theo đoàn quân của chúng tôi. Tôi biết rằng, Chi Đoàn tôi mặc dù vẫn còn 3 Chiến xa M 41, 3 xe M 113 trang bị súng 106 ly không giật nhưng sẽ không địch lại với nhiều Chiến xa T 54. Còn CĐ 1/5 CX sắp giao tranh với T 54 vì chúng cũng sắp đến trong tầm chính xác của Đại bác 76 ly trên Chiến xa M 41.

Tôi liền điều động Chi Đoàn qua bên phải đường ray xe lửa để lấy lợi thế về địa hình và tạo khoảng cách giữa ta và địch cũng như dễ bề xoay xở hơn. Nhờ địa thế này tránh đạn đạo Đại bác 100 ly của T 54 trực xạ vào cạnh sườn trái. Tất cả đều di chuyển về hướng Hố Nai, chỉ tác xạ cầm chừng và khi thấy rõ địch. Không bao lâu CĐ 1/5 CX bị T 54 tấn công. Đơn vị tôi cũng bị Bộ Binh CSBV bám sát và tấn công mạnh từ bên kia đường ray, xa hơn nữa là T 54 đang bám theo. Đủ mọi loại súng thi nhau tác xạ, những luồng đạn lửa đan chéo nhau giữa ta và địch. Tình hình trở nên nguy kịch vì Chiến xa T 54 đã bám theo kịp và bắt đầu khai hỏa . Những tiếng rít rợn người của đạn 100 ly, từng cục lửa đỏ hực bay vút qua đội hình của 2 Chi Đoàn và nổ ngay giữa đội hình của Thiết Đoàn. Cộng với Súng cối 82 ly của địch đang rót đạn vào đoàn quân. Việt và tôi chỉ biết vừa chống trả với tất cả mọi hỏa lực cơ hữu vừa di chuyển theo hai bên trái, phải Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn rút về Hố Nai.

Tôi nhìn qua quan sát vài anh em Bộ Binh và Kỵ Binh trên xe Chỉ Huy, họ đang cầu xin một điều gì đó? Xin một phép lạ đến với họ và cho tất cả mọi người đang đối mặt với Tử thần? Trong cơn nguy biến và tuyệt vọng, nói thật ra tâm linh mỗi người đều dậy lên một niềm hy vọng dựa vào các Đấng Quyền Uy. Riêng tôi, đã làm Dấu Thánh Giá cầu xin Đức Chúa Toàn Năng, cầu xin Mẹ Maria đầy ơn phước bao che cho tất cả mọi người lính nơi đây tai qua nạn khỏi. Cầu mong Phép Nhiệm mầu, Quyền năng của Đấng Tối Cao sai khiến và làm thay đồi tình huống cực kỳ nguy hiểm hiện tại.
*
*
Dòng suy nghĩ chợt tắt khi hệ thống Truyền tin, Hỏa Long gọi tôi và Việt tiếp chuyện. Trong lúc thập tử nhất sinh ông cho biết có 2 Phi tuần bom Napalm (Bom xăng đặc) đang bay tới. Tôi và Việt bớt lo phần nào, tôi ngửa mặt lên, nhìn thấy những chiếc Khu trục hùng hổ bay sà sát xuống mặt đất. Chúng tôi chưa kịp nói thêm được gì, yêu cầu đánh ở đâu thì những luồng đạn Đại bác 20 ly nổ tóe lửa cách các xe chừng 50 mét. Tiếp đến, một dòng thác lửa cuồn cuộn bùng lên sát hông trái đội hình Chi Đoàn. Một đám lửa lớn nữa trải dài bên hông phải của CĐ 1/5 CX. Trong đời Binh nghiệp của tôi, tôi chưa bao giờ thấy các Sĩ Quan Không Trợ điều chỉnh chính xác như thế này. Hay các Phi Công tài ba liều lĩnh thả những trái bom hết sức mạo hiểm (không giữ khoảng cách an toàn) như hôm nay.

Tôi tự nhủ rằng lần sau đừng có đánh bom kiểu này nữa nha anh bạn Phi Công Khu Trục. Nhưng oái ăm thay không có một lần sau nào nữa cả. Đó là những Phi vụ cuối cùng của các anh, hay những quả bom cuối cùng được thả xuống cho cuộc chiến? Cả hai đều đúng. Tri ân các anh bạn Không Quân đã làm thay đổi tình huống nguy khốn.

Hai đám lửa lớn trải dài kẹp hai bên trái, phải của hai Chi Đoàn và bạt mạnh về hướng địch. Phải khen rằng những anh Phi Công này có kỹ thuật đánh bom Napalm xuất chúng. Khói lửa mù trời, nghẹt thở. Sức nóng bỏng rát của bom xăng hắt vào mặt mọi người và bao trùm bởi khói đen vì những quả bom lửa nổ quá gần vị trí. Thật quá nguy hiểm nhưng nhờ “Thần Lửa” đã tạo ra một khoảng cách khá xa giữa ta và địch, đã đẩy lùi địch về phía sau và đẩy lực lượng ta… về phía trước.

Tất cả tiếng súng bên ta, bên địch đều ngưng hẳn cùng một lúc. Chưa bao giờ có cái lệnh ngưng bắn cho cả 2 bên hiệu quả như lần này!…Tất cả như hoàn hồn, tôi ngước mắt nhìn lên trời 4 chiếc Khu trục đã cất lên tận trời xanh, xa xa những luồng lửa đạn Thượng liên 12ly8 của địch bắn đuổi theo sau một cách tuyệt vọng.

Hỏa Long ra lệnh cho tất cả tăng tốc độ tiến về phía trước. Bỏ lại sau lưng một biển lửa mênh mông. Bỏ lại trên vùng đất mang địa danh Trảng Bom hiền từ những gì tệ hại nhất của trận chiến tàn khốc. Một sự trùng hợp khá bẽ bàng Trảng BOM với HỎA Long, trọn nghĩa hơn là bom đạn và lửa khói đang hiện hữu nơi đây.
*
*
Kết quả trận chiến vừa rồi dưới mắt chúng tôi là 1 Chiến xa M 41, 2 M 113, 1 xe M 132 (xe phun lửa) đổi lấy 3 T 54 của địch. Ta- Địch, thua huề hay thắng? Đến giờ phút này, tất cả đều không còn thành vấn đề nữa, theo lệnh trên miễn sao chúng tôi chiến đấu đến cùng. Và chúng tôi đã làm chùn bước trước sức tiến quân của một lực lượng CSBV cấp Sư Đoàn có Chiến xa, Trọng pháo yểm trợ.

Chúng tôi lại chào tạm biệt thêm một Thị trấn của miền Đông đất đỏ đầy máu lửa chiến chinh!.

Bộ Chỉ HuyThiết Đoàn 5 Kỵ binh, CĐ 1/5 CX và CĐ 2/5 TK di chuyển về Hố Nai lúc 12 giờ trưa ngày 29-4-75 và bố trí trên một ngọn đồi thoai thoải thấp phía sau Nhà Thờ Tân Bắc. Tuyến đầu bây giờ là LĐ 468 TQLC phụ trách, cách vị trí chúng tôi 2 cây số về hướng Trảng Bom.

Theo lời yêu cầu của Tr/tá Nguyễn Đằng Tống Lữ Đoàn Trưởng. Hỏa Long gọi tôi cùng ông gặp Tr/tá Tống để phối hợp phòng thủ. Ba người họp ở bên hông Nhà Thờ Tân Bắc- Hố Nai để phối hợp chiến thuật giữa TQLC và Thiết Giáp trong thời gian sắp tới.

*
*
Tr/tá Nô và tôi xuống xe M 113 Chỉ Huy và đi bộ lại chiếc xe JEEP của Tr/tá Tống. Ông tiến tới đón 2 hai người, ông bắt tay Tr/tá Nô xong quay nhìn tôi chăm chăm một lúc, và hỏi “Đại úy Lưu có lại không Tr/tá ?”. Tôi liền nói lớn “Em Lưu nè, anh Tống”, hai mắt anh mở lớn nhìn tôi kinh ngạc, ôm choàng lấy người tôi nói “Trời! mầy đây hả Lưu”. Tôi chợt nhớ là mình chưa kịp rửa mặt, nhìn xuống bộ đồ trận đã đổi thành màu đen với bụi, tro lốm đốm bám đầy mình. Tôi đi lại soi mặt vào chiếc kính chiếu hậu của chiếc JEEP …tôi cũng không nhận ra tôi vì… không giống ai! Bảng tên trên ngực áo cũng đã mất chữ. Te tua quá đỗi!

Người lính TQLC nhìn mặt tôi và quay đi với nụ cười lẽn, anh trao cho tôi một “bình ton” nước. Và tôi xóa đi lớp bụi đen thui, đen thủi. Xóa thêm một cơn ác mộng, cơn ác mộng thứ tư trong vòng chưa đầy nửa tháng!

Cả 3 người Tr/tá Nô,Tr/tá Tống và tôi thả bộ ra đường phố Hố Nai để quan sát tình hình. Nhà dân, phố xá đóng cửa kín mít, hàng quán không còn bày bán một thứ gì cả. Có nhiều anh em Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ trang bị vũ khí chạy ngang chạy dọc chỉ chỏ lung tung. Ngày trước khu vực này sầm uất buôn bán nhộn nhịp, tấp nập, hôm nay vắng vẻ đìu hiu quá. Tôi gọi một anh Nghĩa Quân có vẻ là toán trưởng lại đề hỏi chuyện. Anh ta mặc đồ dân sự tay cầm khẩu súng phóng lựu M 79 với 2 dây đạn đầu màu vàng (đạn nổ) và một dây đạn chống chiến xa. Trên vai mang một khẩu M 16. Anh ta giới thiệu anh là Trung Đội trưởng Nghĩa Quân đang phân công anh em bố trí phòng thủ. Tôi hỏi anh ta có cần thêm đạn gì không? Anh ta bảo rằng anh em TQLC mới cho đạn M 79 chống chiến xa, và một số đạn M 16.

Đến giờ phút cuối cùng này. Những người Nghĩa Quân chỉ là Lực Lượng Bán Quân Sự, người lính không có số quân còn vững tay súng để sống chết với quê hương! Thán phục các anh, vì lòng yêu làng, thương xóm một lòng với đồng bào đã từ bỏ xứ Đạo, từ bỏ tất cả để từ miền Bắc di cư vào đây năm 1954. Nay các anh cương quyết gìn giữ xóm Đạo, bảo vệ một vùng Đất Thánh! Một hình ảnh đẹp, khó quên. Cầu xin Đức Mẹ ban bình an cho các anh.
*
*
Lợi dụng địa hình để có một chu vi phòng thủ tối ưu. Chín Chiến xa M 41 và 3 M 113 có gắn Đại bác bắn thẳng106 ly không giật bố trí quay súng về hướng Đông chờ Chiến xa T 54 của địch. Tất cả các khẩu Đại bác đều nạp đạn chống Chiến xa và sẳn sàng nhả đạn. Phía dưới thung lũng các Chiến Sĩ Mũ Xanh cũng sẳn sàng nghênh chiến.

Hai giờ chiều ngày 29-4-75, trận chiến mới, bắt đầu bùng nổ dữ dội phía thung lũng giữa TQLC và Bộ Binh CSBV. Khoảng nửa giờ sau từ trên đồi nhìn xuống chúng tôi thấy nhiều đám bụi xuất hiện. Nhiều Chiến xa địch đang áp sát nơi đang giao tranh, tiếp đến những cuộc quần thảo khốc liệt giữa Chiến Sĩ Mũ Xanh và địch có T 54 yểm trợ….2 T 54 cháy vì trúng đạn M 72 của TQLC.

Bất ngờ một đoàn trên 10 chiếc Chiến xa T 54 lù lù xuất hiện từ QL 1 di chuyển đến khoảng giữa vị trí phòng thủ của Thiết Đoàn và nơi đang giao tranh dưới thung lũng. Tôi nghĩ rằng chúng dự trù đánh bọc ngang hông lực lượng TQLC và không thấy chúng tôi vì chúng từ dưới địa hình thấp nhìn lên, chúng tôi được che khuất bởi những mô đất trên ngọn đồi.

Có còn cơ hội nào tốt hơn nữa, các Chiến xa T 54 đang đưa hông trước các họng Đại bác. Với khoảng cách 1 km trong tầm của Đại bác 76 ly của CX M 41 và 106 ly bắn thẳng. Tr/tá Nô, Th/tá Đào đã chỉ thị tôi và Việt phối hợp hành động. Mười hai trái đạn rời nòng bay vút vào các T 54. Hai bốc cháy, hai bay pháo tháp và lật nghiêng. Sáu chiếc còn lại liền quay đầu chỉa Đại bác 100 ly và tác xạ vào chúng tôi. Những trái đạn nổ tung lưng chừng trên triền đồi thoai thoải. Có những quả bay vút qua đầu với tiếng rít rợn người. Mười hai trái đạn nữa rời nòng, thêm 2 T 54 bị hạ.

Hướng Bắc bên kia QL1, TQLC và cả Trung Đoàn CS có Chiến xa yểm trợ đang giao tranh cũng được một giờ rồi. Bây giờ chúng tôi lại nghe tiếng súng lớn nhỏ nổ liên hồi ngoài đường phố Hố Nai. Tiếng súng càng lúc càng gần. Sự phấn khởi của tất cả mọi người trước những Chiến xa T 54 bị hạ chợp tắt nhanh chóng, khi nhìn thấy một đoàn Chiến xa T 54 và Bộ Binh CS nữa xuất hiện ngoài QL1 và đang hùng hổ tiến tới.

Tiếp đến chúng tấn công cuồng bạo vào Bộ Chỉ Huy của LĐ 468 TQLC và cả lực lượng của TĐ 5 KB. Một M 41 và 2 M 113 bị T 54 bắn banh xác…Chúng tôi rút lui nhanh chóng để khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn!!! Lại chia tay thêm một Thị trấn, một xứ Đạo-vùng Đất Thánh Hố Nai.

Và từ đó tôi không còn gặp lại một người anh, Tr/tá Nguyễn Đằng Tống. Sau này anh đã để lại thân xác trên núi rừng miền Bắc; với 4,5 khúc ruột bị nối vì chiến trận thì làm sao có thể sống được dưới chế độ lao tù CS. Một nén hương lòng thắp lên để nhớ Anh, anh Tống.
*
*
Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, 2 Chi Đoàn rút về đóng quân tại Ngã 3 Tam Hiệp lúc 7 giờ tối ngày 29-4. Nhìn về hướng Phi trường Biên Hoà nhiều cột lửa bốc cao với khói đen cuồn cuộn. Đêm đó chúng tôi nhìn thấy ngoài xa lộ thỉnh thoảng từng cặp Chiến xa CSBV chạy rất nhanh ngang qua vị trí phòng ngự. Chúng tôi nằm im lìm chờ lệnh…

Trong lòng đau đớn tột cùng khi kiểm kê lại sự tổn thất vừa qua. CĐ 2/5 TK bây giờ chỉ còn 10 chiếc M 113. Một chiếc Chiến xa M41 tôi thấy tội nghiệp, lẻ loi quá nên cho về với “mái nhà xưa” là CĐ 1/5 CX. Quân số còn lại chỉ vỏn vẹn 50 Kỵ Binh. Chiến tranh ơi! khốc liệt quá, tàn nhẫn quá, chỉ có 1 ngày CĐ 2/5 TK bị tiêu hủy 2 CX M 41 và 2 M 113, 20 Kỵ Binh các cấp loại khỏi vòng chiến đấu. Mới đây thôi chưa đầy 2 tuần lễ của đầu tháng 4, CĐ 2/5 đã bị mất 1 xe M 41, 8 xe M 113 và hơn 1/4 quân số trên QL 20. Chúng tôi cũng như những đơn vị của QLVNCH và tất cả Dân, Quân, Cán, Chính đã và đang HY SINH. Hy sinh để VNCH sống còn. Nhưng đau thương thay cho vận Nước, VNCH thua cuộc! vì sự xếp đặt trên sân khấu chính trị của các Siêu Cường Quốc.

Ngày 30-4-75 toàn bộ lực lượng rút về đến cầu Bình Phước lúc 1giờ chiều. Từ đây mọi sự liên lạc bị cắt đứt. Nhớ một người Thầy trong Binh chủng mà tôi đã từng học hỏi nhiều nhất, từ lúc chập chững vào đời Binh nghiệp đến ngày hôm nay. Nhất là Thầy trò cùng nhau gánh chịu tất cả đau thương nghiệt ngã của ngày vừa qua. Người Thầy Tr/tá Trần Văn Nô đã về lòng đất mẹ năm 1987.

Ngay tại đây Đơn vị tôi bị lực luợng CS khống chế và leo lên các xe. Tôi cố gắng liên lạc với Thiết Đoàn liền bị một Cán binh CS chụp lấy Ống Liên hợp Truyền tin ném đi. Một binh sĩ kề cận tôi chỉa súng vào anh Cán binh này, bị một Cán binh khác dộng báng súng vào người rớt xuống lòng xe. Nếu không có sự kiềm chế tột đỉnh của anh em Kỵ Binh thì chiếc xe M 113 này đã nổ tung, máu lửa tràn ngập. Thế là hết, mất tất cả rồi. Tất cả các súng Đại liên trên xe thay đổi chủ, chúng dẫn 10 xe M 113 (thuộc đơn vị tôi) về tại cổng chính Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi chứng kiến một cảnh đau lòng, Thiết Giáp ta, Đại liên ta, xạ thủ địch giao tranh với những đơn vị Biệt Kích 81 Nhảy Dù còn cố thủ trong Bộ Tổng Tham Mưu. Vì họ không chấp nhận sự đầu hàng của Lãnh Đạo cao nhất của đất nước. Đau đớn thay! Nhục nhã thay cho một sự đổi đời từ đây!

Lợi dụng sự hỗn loạn của Đồng bào, Quân nhân lũ lượt rời nhiệm sở. Anh em Thương binh vết thương còn rỉ máu bị xô đuổi từ Bệnh Viện Cộng Hòa đi về hướng Sàigòn. Tôi xuống xe bỏ cuộc và tháp tùng theo đoàn người, đi được chừng mấy bước, một họng súng AK 47 đen ngòm chỉa thẳng vào ngực, hét lớn “Quay lại xe, bằng không sẽ bắn bỏ”. Tôi đành phải trở lại xe và tháo bỏ thêm đôi giày trận đã theo tôi gần 8 năm trời ròng rã.

Tôi xỏ đôi bàn chân vào đôi dép quai dọc, với chiếc quần kaki, và chiếc áo mayô cùng màu ôliu. Một lần nữa tôi và anh em đồng đội thân thuộc trà trộn vào đoàn người đủ mọi thành phần thoát khỏi xe M 113. Trong lòng quặn thắt, tim nhói đau tột cùng, như bị buộc phải thoát khỏi lòng người Mẹ bao năm trời bao bọc, che chở cho những người con yêu quí, để đi về một phương trời vô định.

Tôi ra đi trong tức tưởi nghẹn ngào; ra đi trong âm thầm lặng lẽ. Không kịp nói một lời từ giã với các cấp Chỉ huy, bạn bè và đồng đội. Đầu óc choáng váng, nước mắt tuôn rơi, với từng bước chân mệt mỏi rã rời. Từng bước uể oải, nhọc nhằn xiêu vẹo (bàn chân trái của tôi đã từng bị thương 2 lần, nay không quen mang dép đi xa).Tôi vừa đi vừa nhìn xuống mặt đường thấy bóng mình chao đảo nghiêng ngã! Từ Lăng Cha Cả về đến cầu Công Lý (gần nhà anh ruột tôi) mà tôi đi đến 3 tiếng đồng hồ.

Sáng ngày 2-5-75 tôi mới nhờ người cháu chở về nhà tại Thủ Đức với bộ đồ dân sự của ông anh trên người. Tội nghiệp thay! Ba Mẹ vợ và cả vợ tôi vài phút đầu tiên không thể nhận ra tôi. Rồi sau đó tất cả oà khóc. Các con tôi đứng nhìn ngơ ngác, rồi cũng khóc theo (chúng không thề nào nhận ra tôi, vì từ lâu tôi không mặc đồ dân sự ). Mới ngày hôm qua đây, ông Anh rể và bà Mẹ vợ đi tìm tôi qua từng cái xác mặc đồ trận, nẳm gần các xe Thiết Giáp bị cháy, từ ngã tư Thủ Đức đến cầu Rạch Chiếc. Ôi! có hành động nào cảm động bằng. Thương thay !

Tôi đã trở về trong bình an, làm sao cả nhà cầm được nước mắt sung sướng.Tất cả đều khóc, khóc cho tôi được an lành sau cuộc chiến đẫm máu. Khóc cho tôi thân hình còn nguyên vẹn sau bao lần trên chiến trường nghiêng ngã. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người có con em, có chồng là những người lính VNCH. Hay chính những người lính trẻ như chúng tôi, hai ngày nay đều đã khóc. Khóc mừng cho sự sum hợp. Khóc cho sự mất mác lớn lao. Khóc cho một viễn ảnh Việt Nam Hòa Bình.

(Những nén hương lòng được thắp và dâng lên để tưởng nhớ những Người quá cố. Đã cùng chia sẻ với chúng tôi trong cơn hồng thủy : cốTr/tá TrầnVăn Nô, Cố Tr/tá Nguyễn Đằng Tống, CốTh/tá Nguyễn Đức Đào, Cố Đại/úy Lê Đức Việt, Cố Đại úy Hồ Thúc Hạ, Cố Th/úy Đỗ Chinh Chiến, Cố Th/úy Sơn. Và tất cả Anh Em đã hy sinh cho cuộc chiến tháng 4 năm 1975 dọc theo QL 20 và QL1) .

Vũ Đình Lưu / CA. tháng 3-2011

Trảng Bom-Hố Nai ngày 29-4-1975
Son Tran Lịch sử sẽ lưu danh những người lính mãi mãi
Hung Ta
Hung Ta Tuy thua tran nhung toan dan mien Nam tri on nhung nguoi linh VNCH da chien dau anh dung de bao ve mien Nam tu do cho den gio phut cuoi cung.Va xin thanh kinh tri on.xin thap nen huong long gui den nhung nguoi da hy sinh trong cuoc chien cuoi cung nay!TO QUOC-DANH DU-TRACH NHIEM!
Minh Hoang Nguyen
Minh Hoang Nguyen Rất anh dũng.
Trần Hydi
Trần Hydi Thật không may cho các chú là chiến đấu trong lệnh lui quân , nếu không thì sẽ khác rồi .
Son Hoang
Son Hoang Một thoáng oai hùng. Giờ này anh ở đâu... Những chiến binh dũng cảm..
Mai Nguyễn Huỳnh
Mai Nguyễn Huỳnh VÀI LỜI CẢM ƠN ANH CHIẾN SĨ QL.VNCH!
Tôi cũng là một chiến binh cuối cùng trực thuộc Bộ TTM/QLVNCH, đã chứng kiến những giây phút giao tranh dũng cảm, hào hùng của mọi đơn vị tác chiến, mọi quân binh chủng đổ về đây để bảo vệ Bộ TTM. nhưng ' lực bất tò
...Xem thêm
 
Nguồn: https://www.facebook.com/quansuvietnam2510/photos/a.1633113953599413.1073741828.1633108370266638/1698663673711107/?type=3&theater