Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

Bỏ rơi (Việt Nam Cộng Hoà) - Phần 3





Bỏ rơi (Việt Nam Cộng Hoà) - Phần 3

VNCH- Ngọc Trương (Danlambao) dịch - Tình hình Việt Nam sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào tháng 1, năm 1973.
Để thuyết phục Nam Việt Nam đồng ý với các điều khoản sai lầm tai hại vì để cho Bắc Việt giữ lại các lực lượng lớn ở miền Nam, Tổng thống Nixon nói với Tổng thống Thiệu:
“Nếu Bắc Việt vi phạm các điều khoản của Hiệp Định và tiếp tục gây hấn, Hoa Kỳ sẽ can thiệp quân sự để trừng phạt Bắc Việt. 

Theo Nixon, nếu cuộc chiến mới nổ ra, Nam Việt Nam bị thất thoát võ khí, Hoa Kỳ sẽ thay thế trên cơ sở một đổi một theo căn bản chính các bộ phận chiến đấu (xe tăng, pháo binh, v.v...) Hiệp định Paris cho phép. 

Cuối cùng, Nixon nói, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục yểm trợ tài chính mạnh mẽ cho Nam Việt Nam.”
Hoa Kỳ không thực hiện cả ba lời hứa.
Trong khi đó, Bắc Việt nhận sự yểm trợ chưa từng có từ các ông chủ quốc gia cộng sản. Trong chín tháng sau hiệp định Paris (từ tháng 1 - 9/1973) theo sách quân sử năm 1994 do Hà Nội xuất bản: 
Số lượng hàng hóa được vận chuyển từ Bắc vào cho các lực lượng cs miền Nam tăng gấp bốn lần so với cả năm trước.
Tuy vậy, đó chỉ là con số nhỏ theo báo cáo của cs, từ đầu năm 1974 đến tháng 4 năm 1975 - số quân dụng gởi vào Nam tăng 1.6 lần so với tổng số hàng đã gởi suốt mười ba năm trước đây.
Nếu Nam Việt Nam thoái thác hiệp định Paris, chắc chắn - không những Hoa Kỳ sẽ tự giải quyết không cần Nam Việt Nam tham dự, chính Quốc hội Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng cắt đứt viện trợ. 
Nếu Nam Việt Nam đồng ý với hiệp định này- với hy vọng sẽ tiếp tục nhận viện trợ của Mỹ, họ bị buộc phải chấp nhận quân Bắc Việt còn đe dọa bên trong lãnh thổ. 
Viễn ảnh chết chóc trước mắt, người miền Nam chọn cách thứ nhì, rồi bàng hoàng thấy rằng - cả hai cách đều tệ hại như nhau, quân Bắc Việt vẫn ẩn núp ở miền Nam và Hoa Kỳ cắt đứt mọi trợ giúp.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird giải thích hậu quả. Ông viết:
"Trong hai năm sau khi ký kết Hiệp định Paris, Nam Việt Nam giữ vững vị trí thật can đảm và đáng được tôn trọng để chống lại kẻ thù có thừa thãi tiền bạc.

Đàm phán hòa bình vẫn tiếp diễn giữa hai miền Nam và Bắc cho đến khi Quốc hội cắt đứt nguồn tài trợ của Hoa Kỳ vào năm 1975. 

Cộng sản bước ra khỏi cuộc thương thảo và không bao giờ trở lại.

Không có tài trợ của Hoa Kỳ, Nam Việt Nam nhanh chóng bị cs tràn ngập. Chúng ta chỉ tiết kiệm được 257 triệu đô la một năm và tiến trình này đã làm sụp đổ Nam Việt Nam, vốn có khả năng chiến đấu trong cuộc chiến không cần quân đội của chúng ta từ năm 1973"
Nhiều người Mỹ không thích nghe nói rằng các quốc gia độc tài toàn trị Trung cộng và Liên bang Xô viết là các đồng minh tốt và trung thành hơn một nước dân chủ như Hoa Kỳ, trường hợp này thực đúng như vậy. 
William Tuohy, người nhiều năm phụ trách đề tài chiến tranh cho tờ Washington Post, đã viết rằng:
"Gần như không thể tưởng tượng và chắc chắn không thể tha thứ được một quốc gia vĩ đại bỏ rơi những đồng minh bất lực và mỉa mai thay lại kỳ vọng vào lòng thương xót của Bắc Việt", nhưng chinh chúng ta đã làm điều đó.
Cho đến khi trợ giúp lần lượt bị cắt giảm khắc nghiệt và bắt đầu gây ảnh hưởng nặng nề, Nam Việt Nam đã chiến đấu rất thành công. Trong hai năm sau khi ký hiệp định Paris 1973, các lực lượng Nam Việt Nam phải chịu tổn thất hơn 59.000 người tử trận trong thời gian ngắn so với lính Mỹ tử trận suốt thập niên chiến tranh. 
Những thiệt hại gây ra cho một dân số chỉ bằng một phần mười dân số Hoa kỳ, thực rõ ràng Nam Việt Nam bị tàn phá rất nhiều, cường độ chiến tranh cũng dữ dội.
Merle Pribbenow chỉ ra rằng báo cáo chi tiết của Bắc Việt cho thấy rõ ràng - trong suốt 55 ngày cuối cùng của cuộc tấn công, nhiều trận đánh rất dữ dội xảy ra. Đây là sự thán phục dành cho dân miền Nam Việt Nam, lúc đó người miền Nam biết chắc chắn kết quả cuối cùng sẽ không tránh khỏi. 
Xin lưu ý - Lê Trọng Tấn (lúc đó là thượng tướng Bắc Việt), cho biết trong chiến dịch cuối cùng: 

"Nhân viên quân y chúng tôi đã phải thu dọn và chữa trị một số lượng lớn lính bị thương (mười lăm lần nhiều hơn so bị thương trong chiến dịch biên giới năm 1950, gấp 1.5 lần số bị thương tại Điện Biên Phủ và gấp 2.5 lần số bị thương trong Chiến dịch Quốc lộ 9 Hạ Lào năm 1971."
Pribbenow tính toán "điều này khiến quân Bắc Việt bị thương tối thiểu 40.000-50.000, và có thể cao hơn nữa, người ta không muốn thấy tổn thất như thế vào lúc QLVNCH bị coi là sụp đổ vào năm 1975 - như phần lớn các sử gia nói. "

Đại tá William LeGro phục vụ tại văn phòng Tùy viên Quốc Phòng (DAO -Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Sài Gòn) cho đến khi kết thúc chiến tranh. Nhìn kỹ cận cảnh lúc đó, ông thấy chính xác chuyện đã xảy ra: 
"Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ xuống gần như số không là nguyên nhân cuối cùng của sự sụp đổ. Chúng ta đã làm một điều khủng khiếp đối với miền Nam Việt Nam."
Gần lúc cuối, Tom Polgar, Trưởng trạm tình báo CIA tại Sài Gòn, gởi công điện đánh giá ngắn ngủi về tình hình đang xảy ra như sau: 
"Không nghi ngờ gì nữa về kết thúc cuối cùng, Nam Việt Nam không thể tồn tại được nếu không có viện trợ quân sự của Hoa Kỳ, trong khi khả năng tiếp tục gây chiến của Bắc Việt không bị thiệt hại và được Liên bang Sô viết, Trung cộng viện trợ đầy đủ."
Hậu quả của chiến tranh ở Việt Nam vẫn còn tồi tệ như người ta từng e ngại. 
Seth Mydans cây viết chuyên các vấn đề Đông Nam Á của tờ The New York Times viết rất sâu sắc và đầy trắc ẩn:
"Hơn một triệu người miền Nam chạy trốn khỏi đất nước sau khi chiến tranh kết thúc. Khoảng 400.000 người bị đưa vào trại giam để "cải tạo lại", có người trong một thời gian ngắn, nhưng một số khác bị giam đến mười bảy năm. 

1.5 triệu người khác bị buộc tái định cư trong "các khu kinh tế mới" những vùng đất khô cằn ở Nam Việt Nam, họ bị đói khổ và nghèo nàn tàn phá."
Phạm Xuân Ẩn, cựu Đại tá Việt cộng đã mô tả sự vỡ mộng của ông ta với chiến thắng của cộng sản tại miền Nam Việt Nam: 

"Tất cả những gì nói về 'giải phóng' hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm trước, tạo ra điều này, đất nước nghèo khổ này do một băng bọn cầm quyền tàn bạo, mang tính gia trưởng và chỉ là những lý thuyết gia thất học."
Bùi Tín, Đại tá quân Bắc Việt thẳng thắn nói một cách công bằng về kết cuộc của chiến tranh, ngay cả đối với kẻ chiến thắng.
"Đã quá muộn cho thế hệ của tôi, thế hệ của chiến tranh, của chiến thắng, và của sự phản bội. Chúng tôi đã thắng, và chúng tôi đã thua".
Thực vậy, dân miền Nam trả giá đắt trong cuộc tranh đấu lâu dài để được tự do. Quân đội có 275.000 người tử trận. Kế đến 465.000 thường dân thiệt mạng, do bọn khủng bố vc ám sát, hoặc chết vì vc pháo kích bừa bãi vào các thành phố, ngoài ra còn 935.000 người bị thương.
Trong số triệu thuyền nhân vượt biên, e rằng có một số đông không rõ lắm đã bỏ mạng trên biển. Tại Việt Nam khoảng 65.000 người khác bị hành quyết bởi những kẻ tự nhận là giải phóng. 
Trong các trại cải tạo tàn bạo, 250.000 người thiệt mạng. Hai triệu người buộc phải từ bỏ quê hương ra đi, thành lập cộng đồng mới của người Việt Nam.
Đánh giá về QLVNCH sẽ không đầy đủ nếu không đề cập đến những cựu quân nhân ly hương và gia đình của họ, những người đã tạo lập cuộc sống mới ở Hoa kỳ. Thêm vào đó là câu chuyện về chủ nghĩa anh hùng, sự quyết tâm và thành tựu. 
Họ biết rõ bản chất của những kẻ gọi là "giải phóng", trong nhiều năm qua giết chóc, làm thương tật, bắt cóc và gây ra ám ảnh cho hàng ngàn thường dân miền Nam. Một số lớn dân chúng chạy trốn khi cuộc chiến đấu kháng cự sụp đổ.
May mắn thay, nhiều người đã tạo được cuộc sống mới, cuộc sống tự do. 
Nước Mỹ được ban phước với một triệu người Việt Nam đã định cư, giúp nền văn hóa và sự giàu có vật chất của Hoa kỳ gia tăng lớn mạnh và thêm phong phú. 
Với nền kỹ nghệ và quyết tâm đáng kinh ngạc, những người Mỹ mới, giáo dục con cái, nuôi dưỡng gia đình và tận dụng mọi cơ hội của đất nước này cho những ai sẵn sàng làm việc.
Đây cũng chính là những người thuộc mọi cấp bậc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người từng chiến đấu trong nhiều năm đẫm máu, giành lấy tự do cho chính quê hương của họ.
Chúng ta bỏ rơi họ trước đây, đánh mất những hy sinh của họ, nhưng có lẽ chúng ta chuộc tội bằng cách thâu nhận họ đến đây nhiều năm về sau.
Phần đã đăng:
- Tái đánh giá QLVNCH - Tết Mậu Thân 1968.
- Địa phương quân và nghĩa quân
2018.04.10
_____________________________________
Tham khảo:

Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2018/04/bo-roi-viet-nam-cong-hoa-phan-3.html#more
 

Mỹ Thừa Nhận Bỏ Rơi VNCH-Vì Sao? Và Góc nhìn lịch sử

https://youtu.be/ZY8jwSW0TwQ

Dự Luật SB895 Đã Thông Qua U BG D Thượng Viện ngay25 4 2018

Dự luật SB 895 sẽ là cái tát vào mặt cộng sản Việt Nam

 https://youtu.be/fw9TD9VBJ90

 

Dự Luật SB895 Đã Thông Qua U BG D Thượng Viện ngay25 4 2018
https://youtu.be/kHeRQ6UWuQo    

 

Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị Quyết SB895 BẮT BUỘC con em cộng sản PHẢI HỌC lịch sử VNCH

 https://youtu.be/DiqbO_x7T7Q

 

Đài RFA tối ngày 26/4/2018: Việt Nam bị đưa TRỞ LẠI danh sách CPC diện quan tâm ĐẶC BIỆT

 https://youtu.be/Eyg7g098I9I


 

 

Vén lên màn bí mật tại Việt Nam: Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ?



Vén lên màn bí mật tại Việt Nam: Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ?

Mai Thanh Truyết (Danlambao) - Bài viết nầy trích trong quyển sách “Từ Bauxite Đến Uranium: Tiến trình Đô Hộ Việt Nam Của Trung Cộng” xuất bản tại Nam California năm 2009, và đã được cập nhật hóa. Tác giả đã đi nói chuyện nhiều nơi, nhưng cho đến ngày hôm nay, CSVN vẫn chưa có một lời “phản bác hay phản biện”. Tại sao có sự im lặng khó hiểu như vậy? Phải chăng, đó là một sự thật mà họ “há miệng mắc quai?” 
Trong hiện tại, chúng ta có thể nói một cách chính xác và không sợ phản biện là những người lính Tàu dưới dạng công nhân đang hiện diện đầy rẫy trên quê hương Việt Nam của chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, giống như mọi quốc gia trên thế giới như Tây Tạng, Tân Cương, Phi Châu và những nơi có dấu chân TC khai thác các công trình quặng mỏ hay những công ty sản xuất khác tại những nơi nầy.
Cộng sản Hà Nội cũng như Trung Cộng (TC) cũng không thể nào chối cãi được nhận định trên. Tại Việt Nam, người Tàu dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ, nói chuyện với nhau bằng tiếng Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh cãi, họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có gì nhục nhã cho bằng hiện tượng nầy xảy ra ngay chính trên mảnh đất quê hương của mình mà cán bộ hay công an cố tình làm ngơ trước những nghịch cảnh trên. Những khu biệt lập nầy do TC hoàn toàn quản lý mọi sinh hoạt, không có người “lạ” nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén mảng đến được, mặc dù những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lý. 
Cho đến hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, đặc biệt tại Vũng Áng, nơi có nhà máy gang thép Hưng Nghiệp Formosa tạo nên một luồn sóng phẫn uất trong lòng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để công nhân TC hiếp đáp mãi mãi được. 
Những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhất tại thành phố Alger, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc vì sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên mảnh đất quê hương của người bản xứ. 
Trở lại Việt Nam, riêng tại hai vùng đang là điểm nóng từ năm 2008 ở Việt Nam; đó là Tân Rai Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nầy hiện đang được TC phát động kế hoạch khai thác quặng mỏ bauxite từ 10 năm nay dưới sự đồng thuận của CSVN. Sau khi không thể bưng bít được, CSVN đã phải bạch hoá công bố hai công trình trên mặc dù đã ký kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào, qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như ở hải ngoại cảnh báo về hiễm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy. 
Nhưng trầm trọng hơn cả là qua việc nhường bước cho TC khai thác, CSVN để lộ ra tinh thần quốc tế vô sản (mà bây giờ đã biến thành tinh thần quốc tế hữu sản chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một tiến trình then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC. 
Hiện nay, đã có sự hiện diện của trên 10.000 công nhân TC ở Tân Rai và trên 7.000 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban Nhân Dân ở hai tỉnh trên công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều và theo như dự kiến của hai công trình khai thác trên, con số công nhân TC sẽ đạt đến 10.000 người cho mỗi nơi như trong dự án đã ghi. 
Có nhiều câu hỏi được đặt ra cho tình trạng nhân sự TC ở hai địa điểm trên là, tại sao họ có mặt 10 năm qua mà vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị hoàn tất việc khai thác cho cơ xưởng, giải quyết các vụ đuổi nhà, chiếm cứ các vườn trồng cây công nghiệp của dân như trà, cà phê, cao su v.v... mà chỉ lo xây dựng láng trại và nhà ở cho công nhân và chuyên viên cùng những dịch vụ sinh hoạt khác như giải trí riêng biệt và cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài bằng hàng rào được thiết lập chung quanh? 
Đây là một tiến độ công trình rất chậm so với số lượng nhân công hiện có và thời gian thi công. Và điều nầy đang làm ngạc nhiên cho những nhà quan sát có kinh nghiệm về hoạt động công trường. 
Từ đó, câu hỏi khác được đặt ra là, họ có thực tâm đến đây để khai thác quặng mỏ bauxite hay không? 
Hay là họ có những dự tính thâm độc nào khác mà việc khai thác quặng mỏ bauxite chỉ là Diện để chứng minh sự có mặt của họ, và trọng tâm chính của họ là Điểm, là khai thác một công trình bí mật nào khác? 
Kể từ 2014 trở đi, hàng năm, tại hai dự án nầy, CSVN đều khai lỗ hang chục triệu Mỹ kim mà vẫn tiếp tục khai thác và chấp nhận sự hiện diện của hàng chục ngàn nhân công, hay quân nhân (?) TC… tiếp tục chiếm đóng, và tiếp tục “sản xuất”… trên 3.000 “đứa con lai” tại hai nơi nầy. 
Để trả lời và khơi mở một số nghi vấn trên, cũng như qua đề tựa của bài viết, người viết xin lần lượt tạo dựng ra nhiều giả thuyết qua các tin tức có được để từ đó chứng minh sự hiện diện và hành động của TC trên mảnh đất quê hương Việt Nam. 
1. Việc khai thác quặng mỏ Uranium 
Cao nguyên Trung phần Việt Nam là một phần của cao nguyên Bolloven. Nơi sau nầy là một vùng đất bazan, chuyển hoá từ phún xuất thạch của núi lửa hàng triệu năm qua. Do đó, hàm lượng phóng xạ của vùng đất nầy rất cao so với các vùng đất tự nhiên khác. Và sác xuất có quặng mỏ Uranium cũng rất cao. 
Để có khái niệm về việc khai thác quặng mỏ Uranium, sau đây là quy trình sơ lược dựa theo các nguyên tắc căn bản đang được sử dụng trên thế giới. Thông thường quặng Uranium có được là do sự phối hợp của hai chất đồng vị (isotope) Uranium: Uranium235 và Uranium238. U238 được xem như là đồng vị nặng vì có số NEUTRON nhiều hơn U235. Chính U235 mới đích thực là tác nhân tạo ra nguồn năng lượng cho nhân loại và thông thường có trữ lượng trong hỗn hợp quặng mỏ là 0,7% mà thôi. Việc khai thác gồm: 
- Quặng Uranium trong thiên nhiên cần phải được tách rời hai đồng vị 238 và 235; 
- Sau đó Uranium 235 sẽ được tinh luyện (enrich) để đạt được nồng độ Uranium cần thiết để ứng dụng trong nhiều mục tiêu khác nhau. 
Việc tinh luyện Uranium gồm 3 phương pháp: ly tâm, khuếch tán vật lý, và dùng tia laser. Các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên hay Iran vẫn còn đang áp dụng phương pháp cổ điển là ly tâm. Trong lúc đó, ở các quốc gia phát triển khác như Hoa Kỳ và Tây Âu, hai phương pháp sau được dùng đến vì có hiệu quả và năng suất cao hơn. Muốn chế tạo ra bom nguyên tử, ít nhất, nồng độ của Uranium cần phải đạt được là 80%. Đối với các nồng độ thấp hơn, tuỳ thuộc vào những ứng dụng khác nhau trong việc dùng trong các nhà máy phát điện nguyên tử hay các hệ thống an toàn trong một số dịch vụ thật chính xác trong quy trình sản xuất mà con người không đủ khả năng để điều chỉnh bằng tay hay mắt được. 
2. Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc 
Đây là một trung tâm nghiên cứu về nguyên tử và phóng xạ được người Pháp xây dựng từ giữa thập niên 50 ở thế kỷ trước. Hiện nay, Trung Tâm vẫn còn hoạt động. CSVN dùng Trung tâm nầy để sản xuất các dụng cụ, hệ thống sensor để kiểm soát hay vận hành những khu vực hiểm yếu trong các công nghệ mhư khai thác mỏ than, hay các thiết bị kiểm soát trên tàu bè, cũng như trong các lãnh vực kiểm soát các valve an toàn về áp suất hay nhiệt độ, hoặc điều chỉnh một cách chính xác việc thay đổi điều kiện trong các quy trình sản xuất. Quan trọng hơn cả là việc ứng dụng vào các valve an toàn khi có vấn đề cấp bách trong vận hành để hạn chế hay tránh tai nạn. Hiện tại, Việt Nam đang nhập cảng nguyên liệu phóng xạ từ nước ngoài. 
Câu hỏi được đặt ra nơi đây là:  Tại sao người Pháp cho lắp đặt Trung Tâm nầy tại Đà Lạt vào thời điểm trên, trong khi quốc lộ 20 nối liền Sài Gòn và Đà Lạt chỉ là một con lộ thô sơ, chưa được tráng nhựa đẩy đủ?  Phải có điều gì bí ẩn khiến cho họ thành lập Trung Tâm nầy? 
Để trả lời hai câu hỏi trên, phải chăng là họ muốn xây dựng Trung Tâm gần nơi vùng có phóng xạ để nghiên cứu, thăm dò, và khai thác nguồn nguyên liệu phóng xạ tại chỗ? 
Ngược dòng lịch sử, trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngũi của Nhật Bổn vào thế chiến thứ hai vào những năm 1941, 42, 43…, họ cũng đã gởi nhiều phái đoàn địa chất để thăm dò vùng nầy. Và trong thời gian chiến tranh Mỹ-Việt, nhiều phái đoàn nghiên cứu của Hoa Kỳ cũng đi lại thường xuyên trên vùng Bolloven nầy. Thêm một nguồn tin từ một niên trưởng giáo sư hiện ở Phoenix, vào cuối năm 1944, một chiếc tàu Nhật trên đường từ Việt Nam trở về Nhật bị quân đội Đồng minh đánh chìm vì bị nghi có chở một số mẫu quặng mỏ Uranium lầy từ Cao nguyên Trung phần. Nhưng tất cả đều được giữ bí mật. Không có một báo cáo khoa học nào công bố về vấn đề trên hay cho biết vùng đất nghiên cứu có chứa nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium hay không? 
3. Giả thuyết về sự hiện diện của TC trong vùng Cao nguyên Trung phần 
Ngày 21 tháng 4 năm 2009, tại Công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto, Canada, Ông Chủ tịch Tổng Giám Đốc John Lynch đã công bố bản tin sau khi họp với đối tác là Việt Nam rằng, Công ty đã đồng ý trên nguyên tắc về việc chia sẻ, khai triển và khai thác quặng mỏ Uranium ở Việt Nam. Quả thật đây là một chỉ dấu cho thấy giả thuyết có nguồn nguyên liệu phóng xạ ở cao nguyên Trung phần Việt Nam là có thật. Chính nhờ đó mới có những giao kết thăm dò và khai thác giữa Việt Nam với các đối tác khác. 
Và TC, đã nắm bắt cũng như biết nguồn nguyên liệu nầy, vì vậy cho nên mới thực hiện dự án khai thác quặng mỏ bauxite để đánh lạc hướng thế giới thêm một lần nữa. 
Theo ước tính sơ khởi của công ty NWT thì cao nguyên có trữ lượng là 210 ngàn tấn quặng oxid uranium (U3O8) với nồng độ trung bình là 0,06%. Và ở một tài liệu khác cho biết hàm lượng quặng mỏ oxid uranium ở mỏ than Nông Sơn, Quảng Ngãi là 8.000 tấn quặng và có cùng một nồng độ trung bình với oxid uranium ở Cao nguyên. 
Qua hai thông tin trên, một lần nữa có thể cho chúng ta có một kết luận một cách xác tín là với mức độ quan trọng về nguồn nguyên liệu nầy khiến cho nhiều quốc gia như Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ đã biết trước nhưng không công bố mà thôi vì điều kiện an ninh của Việt Nam trong thời chiến lúc bấy giờ không cho phép. 
Và ngày hôm nay, TC đã biết và thay vì đến Việt Nam để khai thác nguồn nguyên liệu quý giá về phương diện quốc phòng nầy, họ đã đánh lận con đen để nói tráo qua việc khai thác quặng mỏ Bauxite. 
Với hàm lượng oxid uranium kể trên, có thể ly trích và khai thác được hàng trăm Kg Uranium có nồng độc cao có thể ứng dụng vào trong kỹ nghệ quốc phòng và quân sự. 
Thêm nữa có hai chi tiết sau đây để củng cố giả thuyết về việc TC đang bí mật chuẩn bị việc khai thác quặng mỏ Uranium: 
- Mỏ than Nông Sơn đã được VNCH khai thác từ năm 1961, và vẫn được vận hành từ đó đến nay, và hoàn toàn không có tai nạn nào xảy ra ở đây. TC với tư cách nào và với lý do gì đã đem trên 200 chuyên viên vào nơi đây từ năm 2009? 
- Một phần cao nguyên Bolloven nằm trên địa phận Lào đã được TC thuê mướn trong vòng 50 năm? 
Hai chỉ dấu sau nầy chính là cái chìa khóa để mở toang cánh cửa bí mật giữa CSVN và TC trong việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Việc khai thác nầy chỉ là Diện để che mắt thế giới, và Điểm chính là việc tìm kiếm, khai thác, ly trích và tinh luyện chất phóng xạ Uranium 235 để làm tăng lợi khí“cường quốc” của Hán tộc. 
Và đây mới là điểm then chốt của tham vọng quyền lực của TC với sự đồng thuận của đảng cộng sản Việt Nam. 
4. Ảnh hưởng của việc khai thác quặng mỏ Uranium 
Đứng về mặt môi trường, quy trình khai thác quặng mỏ Uranium tương đối phát thải phế thải ít hơn và dễ bảo quản cũng như kiểm soát hơn việc khai thác bauxite. Tuy hai công trình đều đem đến sự hủy diệt thảm thực vật ở miền Cao nguyên nầy, nhưng đứng về hiệu quả kinh tế, phát triển quốc gia, cũng như quốc phòng, việc khai thác Uranium chiếm nhiều ưu thế hơn cả. 
Thêm một điểm cần lưu ý là, một khi Việt Nam chủ động và làm chủ được nguồn nguyện liệu quan trọng và hiếm quý nầy, vị trí của Việt Nam trên thương trường quốc tế sẽ được bảo đảm cũng như tư thế chính trị cũng sẽ được nâng cao vì nguyên liệu nầy sẽ là một yếu tố quyết định trong các mặc cả trong nhiều lãnh vực nhất là quốc phòng đối với những quốc gia khác trên thế giới. Kinh nghiệm Bắc Hàn, một quốc gia nghèo đói, nhưng vì có “nguyên tử và hạt nhân” cho nên làm cho thế giới …kiên dè! 
5. Thay lời kết 
Qua những nhận định vừa nêu trên, giả thuyết về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên Trung phần và ở Nông Sơn có tính xác tín rất cao. Và giả thuyết nầy lại là một lý giải cho sự hiện diện của những người lính dưới dạng công nhân ở hai nơi nầy. 
Nếu suy nghĩ trên trở thành hiện thực, người Việt quốc gia ở quốc nội và hải ngoại phải làm gì trước những diễn biến đang xảy ra trên quê hương? 
Một điều không thể chối cải được là tiến trình Hán hóa Việt Nam của TC đã thể hiện rất rõ ràng. Đây là một tiến trình tiệm tiến giống như trường hợp của Tân Cương và Tây Tạng. Ngay sau khi chiếm đóng Trung Hoa lục địa, và nhất là lợi dụng tình trạng còn lỏng lẻo của Hội Quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc thời bấy giờ (1949), Mao Trạch Đông vội vàng chiếm đóng quốc gia Tây Turquistan và đổi tên thành Tân Cương, cũng như chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Tiếp theo sau, chính sách Hán hóa bắt đầu thực hiện bằng cách cho người Hán nhập cư vào hai nơi nầy để rồi lần lần đồng hóa bằng những cuộc hôn nhân dị chủng. Hồ Cẩm Đào, và Tập Cận Bình ngày nay vẫn tiếp tục chương trình trên và kết quả hiện tại là dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương mình, và dân Tân Cương chỉ còn chiếm 42% trên tổng số cư dân tại nơi đây. 
Qua hai diễn biến lịch sử kể trên, Việt Nam chắc chắn sẽ nằm trong “tầm bắn” của TC trong chính sách nầy trong một tương lai không xa. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, hai món hàng dầu hỏa và quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên đã được chính quyền thời bấy giờ mặc cả với nhiều quốc gia đối trọng khác nhau ngõ hầu cứu vãn miền Nam, nhưng bị thất bại. Và ngày hôm nay, nguy cơ nguồn nguyên liệu quốc phòng nầy sẽ lọt vào tay TC rất cao. 
Chính vì thế, một trong những việc làm cấp bách hôm nay là phải cảnh báo cho thế giới biết rõ âm mưu của TC về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên và Nông Sơn, để từ đó mượn áp lực chính trị và kinh tế của thế giới để đình chỉ việc khai thác trên. Nếu không, TC, một khi làm chủ được nguồn nguyên liệu nầy sẽ mọc “thêm râu thêm cánh” và ngang nhiên tung hoành như đi vào chỗ không người. Tinh thần Hán tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng của TC càng được đẩy mạnh thêm lên qua quyển Tân Biên Sử mới của TC mà biên giới gồm thâu cả vùng Đông Nam Á, Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nam Bắc Hàn v.v... Bằng bất cứ giá nào, người Việt khắp nơi sẽ không để nguồn nguyên liệu nầy lọt vào tay TC. Nếu không, Việt Nam sẽ biến thành một vùng tranh chấp quốc tế và thảm họa sẽ khó lường trong tương lai một khi đã có tranh chấp. 
Việc liên kết với các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nầy để tạo hậu thuẫn trong các cuộc tranh chấp với TC là một trong những điềi kiện tối cần thiết trong lúc nầy. Cũng cần phải nói thêm là việc kết đoàn với Ấn Độ, một đối lực ngang ngữa với TC cũng là việc nên làm. Ấn Độ cũng vừa có một quyết định sáng suốt trước hiễm hoại TC là chấm dứt hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu khí xuyên qua Ấn Độ, Miến Điện và Vân Nam (TC). Đây là bước ngăn chặn có hiệu quả nhất trước sự bành trướng của TC. 
Sự kết đoàn giữa quốc nội và hải ngoại, giữa Việt Nam và quốc tế rất cần thiết trong lúc nầy hơn bao giờ hết vì chính đảng Cộng sản Bắc Việt đã bất lực một khi để sự việc kể trên xảy ra cho đất nước trong lúc họ có khả ngăn chặn từ lúc đầu. 
Lịch sử Việt Nam sẽ không quên tội ác kể trên của CSVN, thái thú biết nói tiếng Việt của Trung Cộng. 
Mai Thanh Truyết - Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam - VEPS 
______________________________________
Ghi chú: Theo báo Thanh Niên ngày 6/8/2009, ông Trần Xuân Hương, Bộ trưởng Bộ Môi trường & Tài nguyên lúc đó công bố ngày 4 tháng 8 là Việt Nam quyết định thăm dò và khai thác quặng mỏ Uranium ở Nông Sơn, ước lượng có trữ lượng 8.000 tấn quặng oxid uranium U3O8. Việc khai thác nầy chia làm hai đợt cho đến 2020. Đối với một số địa điểm khác, ông cũng có nêu tên tỉnh Lâm Đồng nhưng không nói cụ thể như trường hợp Nông Sơn cũng như tên Đắk Nông cũng không được nhắc tới. Phải chăng đây là hai vị trí cấm kỵ và nhạy cảm vì còn nằm dưới chiêu bài khai thác quặng mỏ bauxite của TC? 
Và ông cũng cho biết là đã ký Biên bản ghi nhớ (Memorendum of Understanding) với Ấn Độ trong việc nghiên cứu và định hướng về công nghệ áp dụng cho việc khai thác quặng mỏ Uranium trên.

nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2018/04/ven-len-man-bi-mat-tai-viet-nam-quang.html#more


Đã từ rất lâu, ngay trước khi hán ngụy vc cho tiến hành dự án bauxite Tây Nguyên, các nhà chuyên môn trong nước cũng đã mạnh dạn nêu ý kiến về vấn đề trọng yếu cho An ninh Quốc gia.
Nhưng hán ngụy vẫn gát bỏ ngoài tai.
Xin trích dẫn một đoạn trong bài viết KHÔNG CẦN ĐÁNH, HÁN NGỤY VC VẪN DÂNG NƯỚC liên quan đến vấn đề " Bauxite Tây Nguyên ".
Nhượng quyền khai thác Mỏ bauxite Tây nguyên
Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên là một loạt các dự án khai thác mỏ bô xít ở khu vực Tây Nguyên, Việt Nam. Dự án này đã gây ra nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau trong dư luận, báo chí, Quốc hội. Các ý kiến chủ yếu xoay quanh vấn đề an ninh, quốc phòng, hiệu quả kinh tế, hậu quả xã hội, tác động đối với môi trường sinh thái, công nghệ Trung Quốc lạc hậu, việc sử dụng lao động phổ thông Trung Quốc tại khu vực Tây Nguyên trái với Luật lao động Việt Nam.
Từ năm 2001, trong Ðại hội IX, dự án này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua: “Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bauxite là chủ trương nhất quán từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay”.
Ngày 1 tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 167 phê duyệt

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

MINH SƠN LÂM || TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1

TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1 “Chiến lược VNCH” có hai khả năng: 1) Triệt tiêu đảng cộng sản Việt-Nam. 2) Vô hiệu hóa thế chiến lược của Tàu cộng tại biển đông Dẫn đến đối đầu với lực lượng Mỹ tại Ấn độ Dương và Thái Bình Dương.

https://youtu.be/-WVcTybkPUs

TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1

1.146 lượt xem

TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1 “Chiến lược VNCH” có hai khả năng: 1) Triệt tiêu đảng cộng sản Việt-Nam. 2) Vô hiệu hóa thế chiến lược của Tàu cộng tại biển đông Dẫn đến đối đầu với lực lượng Mỹ tại Ấn độ Dương và Thái Bình Dương.

https://youtu.be/Gwi2Jmg18U8

Chế độ VNCH ở Nam Việt Nam đã bị cưỡng tử như thế nào?


Bạn đọc làm báo

Chế độ VNCH ở Nam Việt Nam đã bị cưỡng tử như thế nào?



Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. (AP Photo)


43 năm trước (1975-2018), vì không nắm được ý đồ chiến lược của Mỹ, Cộng sản (CS) Hà Nội đã hăm hở bước vào giai đọan cuối cùng của cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam. Trong giai đọan này, nếu chỉ nhìn qua hiện tượng, người ta thấy như có sự ăn ý giữa Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt (CSBV), kẻ tung, người hứng để cùng cưỡng tử chế độ VNCH một cách ngọan mục.
I.- KHỞI ÐI TỪ SỰ KIỆN PHƯỚC LONG BỊ CỘNG QUÂN ĐÁNH CHIẾM.
Ngày 7-1-1975, bộ đội CSBV đã mở cuộc tiến công và đã chiếm đóng được tỉnh lỵ Phước Long như một thử nghiệm đầu tiên ý chí của Hoa Kỳ, thăm dò xem phản ứng đến mức độ nào. Hoa Kỳ đã lập tức lên tiếng tố cáo mạnh mẽ hành động vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình tại Việt Nam ngày 27-1-1973 của CSBV, kèm theo lời đe dọa sẽ trừng phạt nghiêm khắc nếu CS không ngưng ngay những hành động lấn chiếm tương tự.
Sau sự lên án tố cáo có tính chiếu lệ với kẻ thù, Mỹ đã không có hành động nào khác hơn thể hiện ý chí và quyết tâm giúp “bạn” bảo vệ chế độ VNCH. Không những thế, dường như ai đó đã vô tình hay cố ý giúp thực hiện đúng ý định của Hoa Kỳ, khi khuyên Tổng thống Thiệu không nên đánh chiếm lại Phước Long làm gì cho hao binh tổn tướng, mà hãy dùng sự kiện Phước Long như là bằng chứng tố cáo trước công luận thế giới về hành động phá hoại Hiệp định Paris của CSBV. Bởi vì giải pháp cho Việt Nam bây giờ là giải pháp chính trị chứ không phải quân sự. Có lẽ vì nghe theo lời “cố vấn” này, nên Tổng thống Thiệu đã không tìm cách lấy lại Phước Long mà chỉ ra lệnh đẩy mạnh tuyên truyền, tố cáo CSBV vi phạm Hiệp Ðịnh, đẩy mạnh chiến dịch vẽ cờ, lấn đất giành dân, chuẩn bị chiếm ưu thế về lãnh thổ trong một giải pháp chính trị tương lai? Mặc dầu “đầu tháng 1 năm 1975, Tổng thống Thiệu đã ra lệnh tập trung lực lượng không quân gồm 116 oanh tạc cơ, 160 phi cơ trực thăng, dội bom và đánh phá trọn một tuần lễ xuống Phước Long, nhưng vẫn không đẩy lùi nổi 3 sư đòan chính quy Bắc Việt đang chiếm lấy thị trấn này…” (17)
Trong khi đó, từ sự kiện Phước Long, dư luận lúc đó ở Sài gòn lan truyền khắp Miền Nam, nói nhiều đến một chính phủ liên hiệp ba thành phần, nói nhiều đến giải pháp trung lập. Dường như trong tâm lý quần chúng cũng như quân đội VNCH lúc ấy đều bị hoang mang giao động, tinh thần chủ hòa đang có chiều hướng lấn ép chủ chiến. Tình cảnh này đã có ảnh hưởng rất lớn vào tinh thần chiến đấu của binh sĩ quân lực VNCH. Quân dân Miền Nam như cùng hướng lòng về một giải pháp chính trị, với tâm trạng chờ đợi, mất cảnh giác chiến đấu và suy giảm nghiêm trọng ý chí chống cộng.
Trong khi đó, Mỹ đã không có hành động trừng phạt cương quyết nào với đối phương, mà lại gia tăng áp lực đối với chính phủ VNCH, thúc đẩy và nuôi dưỡng tình hình bất ổn, xáo trộn nội bộ, đẩy chế độ vào thế tam, tứ đầu thọ địch. Áp lực mạnh nhất đánh vào cân não quân đội và dân chúng VNCH là quyết định cắt giảm quan trọng viện trợ kinh tế, quân sự cho VNCH giữa lúc chế độ đang trong điều kiện thử thách sống còn. Như vậy là Mỹ đã không giữ lời cam kết khi “Việt Nam hóa chiến tranh” (Tăng cường viện trợ quân sự để trang bị đầy đủ cho QLVNCH đủ sức làm công việc tự bảo vệ); không giữ những lời hứa công khai cũng như riêng tư với Tổng thống Thiệu của Tổng thống Hoa Kỳ Nixon (viện trợ kinh tế, quân sự dồi dào cho VNCH để giúp thành tựu Hiệp định Paris theo ý muốn của Mỹ). Hậu quả tất nhiên của đòn cân não này là tinh thần chiến đấu của tướng sĩ Quân lực VNCH suy yếu và tiềm năng chống cộng của cả chế độ VNCH phải sút giảm nghiêm trọng. Chúng ta hãy nghe sau này ông Thiệu kể lại:
“… vào năm 1975, tiềm lực chiến đấu của chúng tôi giảm 60%, trong khi đó tiềm lực chiến tranh của Hà Nội gia tăng ghê gớm. Tôi có thể nói trong hai năm sau khi ký kết Hiệp định Paris, chiến tranh đã dữ dội hơn trước. Tuần nào tôi cũng cử phái viên tới Washington để giải thích. Tôi đã gửi thư cho tổng thống Mỹ, tôi phân bầy nỗi nguy hiểm với Ðại sứ Mỹ ở Sàigòn, song không có chuyển biến gì cả...” (18)
Chuyển biến gì được nữa, khi ý định của Mỹ lúc này là đang muốn trói chặt VNCH về chính trị, kinh tế, quân sự, để chờ cho CSBV đến ban cho một phát súng ân huệ. Mỹ đã trói chặt VNCH về chính trị trong một giải pháp liên hiệp với CS, với chiêu bài “hòa giải, hòa hợp dân tộc” để ru ngủ và làm tê liệt ý chí chống cộng của quân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ đã trói chặt về kinh tế khi cắt giảm tối đa về mọi mặt, là cắt nguồn máu nuôi sống chế độ. Mỹ đã chặt tay chặt chân về quân sự, khi không thực hiện trang bị, cung cấp vũ khí đạn dược đủ để cho trụ cột chủ yếu chống cộng đủ sức làm công việc tự bảo vệ. Việc Quốc hội Hoa Kỳ chỉ thông qua một ngân khoản viện trợ hàng trăm triệu (700 triệu) so với nhu cầu thực tế hàng tỉ, trong lúc tình hình chiến sự nguy ngập, thử hỏi Quân lực VNCH còn đâu tinh thần và sức mạnh chiến đấu để mà làm công việc tự bảo vệ?
Mặt khác, đúng lúc này, không biết ai xui khiến cho Tổng thống Thiệu ra lệnh giải giới các lực lượng bán quân sự như Nhân dân Tự vệ và các giáo phái có trang bị vũ khí, gọi là để tập trung lực lượng và sức mạnh chiến đấu của Quân lực VNCH. Ðiển hình là vụ giải giới lực lượng bán quân sự của Phật giáo Hòa Hảo khỏang 10.000 người, bắt giam ông Hai Tập, Tổng Chỉ huy Lực lượng Bảo an Hòa Hảo.
“. . . Cuối tháng 1/1975, ông Hai Tập, ông Lương Trọng Tường thành lập một sư đoàn Bảo an Hòa Hảo với mục đích tiếp tục chiến đấu kháng cộng, nếu VNCH sụp đổ. Ông Thiệu lập tức giải tán và bắt giam ông Hai Tập vì sợ lực lượng Hòa Hảo lật đổ ông...” (19)
Việc làm này của ông Thiệu như là hành động tự chặt tay mình về mặt quân sự. Ai đã cố vấn cho ông Thiệu làm việc này, hay do sáng kiến cá nhân, điều này chỉ có ông biết. Người bàng quang chỉ có thể suy đoán, có thể là sáng kiến cá nhân vì mối lo sợ riêng, song cũng có thể là sự gợi ý của các “cố vấn” người Mỹ, hoặc là người của Việt cộng “nằm vùng” bên cạnh ông. Vì rằng vào thời điểm này, tuy khác ý đồ, nhưng Mỹ và Việt cộng dường như đã gặp nhau ở mục tiêu chung: Triệt tiêu chế độ VNCH càng sớm càng tốt.
Thế nhưng cho đến lúc này dường như người lãnh đạo cao nhất của chế độ VNCH vẫn chưa nắm bắt được ý định thực sự của “người bạn đồng minh Hoa Kỳ”. Vẫn như còn cố tin vào những lời cam kết, hứa hẹn bí mật hay công khai trên giấy trắng mực đen của chính phủ cũng như cá nhân Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon. Như vậy, quả thực tập đoàn lãnh đạo chế độ công cụ ngoại bang ở Hà Nội đã tài giỏi hơn nhiều so với chế độ ở Sài Gòn. Tổng thống Thiệu vẫn ngây thơ tin rằng những hành động đích thân của ngài Ðại sứ Martin bay từ Sài gòn về Washington như là để bênh vực cho lập trường của mình. Sau khi cộng quân chiếm Phước Long, ông Thiệu vẫn tin tưởng và chờ đợi Hoa Kỳ thực hiện những lời hứa và cam kết trong những bức thư trao đổi riêng tư với Tổng thống Nixon. Trong khi đó, các lãnh tụ cáo già CSBV thì tỏ ra hết sức chú tâm và nương theo ý đồ của Mỹ để đạt ý đồ của mình. Sau khi đánh chiếm được Phước Long, cộng quân như tạm ngưng các cuộc tiến công lớn để thăm dò phản ứng của Mỹ.
Nhớ lại phản ứng của Mỹ lúc ấy là ngoài những lời lên án, tố cáo, đe dọa “Sẽ trả đũa”, Mỹ chỉ tăng cường các chuyến bay do thám, mà theo nhận xét của ông Thiệu “Việc ấy chẳng khác gì dùng bồ câu thay thế B-52…”. Ðồng thời, Tổng thống Gerald Ford, người kế vị Tổng thống Nixon bị mất chức giữa nhiệm kỳ vì vụ Watergate, cũng cố làm ra vẻ hết lòng xin Quốc hội Mỹ viện trợ bổ sung 300 triệu Mỹ kim cho VNCH.
Thế nhưng theo lời Ðại sứ Martin “… Nam Việt Nam không nhận được viện trợ bổ sung mà còn không nhận được chút viện trợ nào trong năm tài chánh sắp tới, bắt đầu từ Tháng 6-75… Nói khác đi, nội trong 3 tháng nữa ông Thiệu sẽ đứng trước sự kiện bị cúp viện trợ…” (20). Ông Martin kết luận: “Cố gắng bơm thêm sức mạnh cho ai đó bằng những bảo đảm mà chính mình không tin thì sẽ chẳng đi đến đâu hết…” (21)
Ðến đây, trước phản ứng yếu ớt của Mỹ với thù (CSBV), sự gia tăng áp lực chính trị, kinh tế của Mỹ với bạn (VNCH), các lãnh tụ CS ở Hà Nội càng tin tưởng chắc chắn Mỹ sẽ không can thiệp trực tiếp trở lại, dù họ có gia tăng áp lực quân sự đến đâu. Họ bắt đầu lên kế họach thôn tính miền Nam VN với dự liệu ít nhất 2 năm nữa mới “giải phóng” được miền Nam. Hà nội vẫn thực sự chưa biết ý đồ này của Mỹ: Không phải chỉ không can thiệp trở lại mà còn muốn khai tử chế độ VNCH càng sớm càng tốt. Nghĩa là Mỹ đã có ý định xóa bàn cờ cũ chơi bàn cờ mới. Trong khi đó ông Thiệu và tập đoàn lãnh đạo VNCH thì vẫn nghĩ Mỹ sẽ không bao giờ “dám” bỏ rơi miền Nam, mọi áp lực chẳng qua chỉ để buộc cá nhân ông Thiệu và phe cánh của ông phải từ bỏ quyền hành, trao lại cho ê-kíp khác, nên nội bộ đã rơi vào sự xâu xé tranh giành quyền lợi cá nhân, phe đảng, quên cả mục tiêu sống còn là ngăn chặn CSBV xâm lăng. Một cách vô tình “phe quốc gia” đã như tự đào hố chôn mình. Mặc dầu ai cũng đồng ý với nhận định của ông Thiệu lúc ấy “Chế độ VNCH còn là còn tất cả, nếu mất vào tay CS là mất tất cả”. Nhưng tất cả trên thực tế đã có những hành động góp phần làm tiêu vong chế độ.
Sau này chính ông Thiệu kể: “… Mỹ để lại 300.000 quân tại Châu Âu sau khi Thế Chiến II đã chấm dứt 30 năm; để lại 50.000 quân ở Nam Hàn sau khi chấm dứt 20 năm. Lúc chúng tôi để Mỹ rút quân, chúng tôi chỉ yêu cầu được giúp đỡ để tiếp tục chiến đấu, không còn phải duy trì nửa triệu quân ở Việt Nam, Mỹ chỉ phải chi tiêu 1 phần 20 so với trước kia. Vậy họ còn đòi hỏi gì hơn ở chúng tôi?...” (22)
Nhận định này của ông Thiệu chứng tỏ quan điểm lãnh đạo lỗi thời do không nhìn thấy đã có sự đổi thay chiến lược của Mỹ. Theo đó, Mỹ không phải chỉ muốn cá nhân ông Thiệu mà muốn cả cái chế độ mà ông cầm đầu bấy lâu nay phải biến đi càng nhanh càng tốt. Bởi vì đã qua rồi những cơ hội tốt để tồn tại vững vàng như Nam Hàn, để không bị hủy diệt vào những lúc Hoa Kỳ có nhu cầu phải thay đổi chiến lược như thế này.
II/- ÐẾN SỰ KIỆN BUÔN MÊ THUỘT THẤT THỦ – THỬ THÁCH CUỐI CÙNG CHO TRỤ CỘT CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ÐỘ VNCH.
Ðến đây các bước người ta chuẩn bị cho một chế độ sụp đổ như đã hoàn bị. Tình hình nội bộ chế độ VNCH hoàn toàn rối ren, tê liệt. Quân lực VNCH, cây trụ cột cuối cùng chống đỡ cho sự tồn tại thêm thời gian của chế độ thì ra sao?
Theo tài liệu đọc được sau này thì, sau Hiệp Ðịnh Paris năm 1973 về VN, Quân lực VNCH thực sự chỉ còn sáu đến bẩy trăm ngàn quân chiến đấu. Về trang bị đạn dược và các phương tiện chiến tranh hiện còn có thể giúp Quân lực VNCH tiếp tục chiến đấu ít nhất 2 năm. Tương quan lực lượng giữa quân lực VNCH và bộ đội CSBV theo tỉ lệ 4-1. Ðến tháng 1-1975 tỉ lệ này chỉ còn 2-1. Bởi vì sau 2 năm ngưng ném bom, một phần đường mòn HCM đã được CSBV sửa chữa và đặt ống dẫn dầu dọc theo đường mòn này. Trong một thời gian ngắn, 150.000 quân CSBV đã xâm nhập thêm vào chiến trường miền Nam. Sau khi chiếm được Phước Long, Hà Nội đã có thể chuẩn bị cho một lực lượng 300.000 quân bám sát đường mòn HCM tiến vào miền Nam. Tất cả những họat động này, người Mỹ biết rất rõ, song đã không có hành động gì. Vì sao?
Chúng ta hãy nghe một chuyên viên phân tích tình báo Mỹ kể lại: “Khởi đầu cuộc tấn công cuối cùng của CS… lúc đó chúng tôi đã biết rằng CSBV đưa vào miền Nam VN một lực lượng to lớn hơn nhiều so với lực lượng chúng tôi biết đang có ở đây. Họ đã tập trung số quân này phía Tây Cao Nguyên. Bấy giờ Buôn Mê Thuột xét về mặt lịch sử, luôn luôn là điểm tựa phòng thủ của chính quyền trên cao nguyên. Buôn Mê Thuột mất thì sự phòng thủ có thể bị đánh ngang sườn. CSBV rất khôn ngoan, họ chuyển quân mà không sử dụng liên lạc vô tuyến điện. Họ đưa vào vùng Buôn Mê Thuột ba sư đòan mà chúng tôi không hề hay biết…” (23).
Có thực là người Mỹ không hay biết hay là họ biết mà đã cố tình không cho chính quyền VNCH biết, lại còn tìm cách đánh lạc hướng dùm cho đối phương? Vì chẳng lẽ tình báo Hoa Kỳ chỉ dựa trên sự theo dõi liên lạc vô tuyến của VC để nắm bắt tình hình? Vậy thì chỉ có thể do bị che mắt của “Bạn” và thế nghi binh của “Thù”, mà các nhà quân sự VNCH đã đoán sai ý đồ của VC. Đoán sai nên đã cho rằng cộng quân có thể lập lại cuộc tấn công Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, vượt qua khu phi quân sự. Vì vậy họ đã tập trung quân ở phía Bắc Ðà Nẵng để đối phó? Trong khi đó, Buôn Mê Thuột vốn là một vị trí chiến lược trọng yếu thì quân đội Sài Gòn đã không chuẩn bị phòng thủ tương xứng, chỉ triển khai 40.000 quân ở đó. Họ đâu ngờ rằng lúc ấy, 300.000 quân CSBV đã ẩn nấp bao vây, chờ giờ hành động. Ðể đánh lạc hướng, bộ đội CSBV đã cho truyền đi các bức điện giả làm như mục tiêu tiến công của họ là Pleiku, nơi đặt bản doanh của Quân Ðoàn II quân lực VNCH.
Quân cộng sản đã thành công trong ý đồ này, vì các nhà quân sự VNCH bao lâu nay quen dựa vào chiến lược, chiến thuật đánh CS do người Mỹ họach định sẵn, nên đã có thói quen ỷ lại, lười “động não” để sáng tạo nên đã dễ dàng bị đánh lừa của cả bạn lẫn thù. Sự thể là đúng 2 giờ sáng ngày 10-3-1975, bộ đội CSBV đã mở cuộc tấn công Buôn Mê Thuột. Vì quá bất ngờ, không kịp tăng viện và không có quân yểm trợ nên sau 30 giờ bị vây hãm, phản công yếu ớt, Buôn Mê Thuột đã thất thủ. Rồi cũng như Phước Long, Buôn Mê Thuột thất thủ, Mỹ vẫn không có hành động gì để trừng phạt, ngăn chặn bước xâm lăng của CSBV.
Dư luận thắc mắc, phải chăng ai đó lại “Cố vấn” cho Tổng thống Thiệu với cùng luận điệu, rằng không nên đánh chiếm lại Buôn Mê Thuột làm gì cho hao binh tổn tướng, lại vẫn nên dùng sự kiện Buôn Mê Thuột để đẩy mạnh tuyên truyền tố cáo CSBV trắng trợn vi phạm Hiệp định Paris trước thế giới. Rằng lý do không cần đánh chiếm lại đất đai còn là vì giải pháp cho vấn đề Việt Nam bây giờ là giải pháp chính trị chứ không phải quân sự. Vậy thì chỉ nên “co cụm lại” để tập trung lực lượng bảo vệ các thành phố chiến lược quan trọng, để chờ giải pháp chính trị… Sau này tài liệu cho biết, một trong những cố vấn đã ảnh hưởng đến quyết định “rút lui chiến thuật” của Tổng thống Thiệu là Vũ Ngọc Nhạ, tình báo chiến lược của CSBV, như đã trích dẫn ở phần trên.
Nhưng tựu chung, có lẽ vì nghe theo mọi lời khuyên xem ra có vẻ hợp lý, mà ngày 15-3-1975, tức bốn ngày sau Buôn Mê Thuột thất thủ, Tổng thống Thiệu đã vội triệu tập các tướng lãnh cao cấp trong một phiên họp ở căn cứ Cam Ranh, để đi đến quyết định vô tiền khoáng hậu trong quân sử VNCH cũng như quân sử thế giới: Rằng cao nguyên và miền Trung phải bị bỏ rơi! Nghĩa là ông Thiệu đã quyết định bỏ luôn Quân đoàn I và Quân đoàn II. Quyết định này đã gây bàng hoàng, choáng váng cho nhiều người. Vì như thế là chỉ qua một đêm, ông Thiệu đã nhượng cho đối phương một nửa lãnh thổ VNCH!
Sau này ông Thiệu đã biện bạch rằng: “Chúng tôi phải rút quân về bảo vệ các vùng quan trọng, vì chúng tôi đánh giá là Mỹ sẽ không giúp nữa. Nếu họ giúp thì đã giúp rồi. Chúng tôi không thể chờ đợi đến khi quá chậm. Phải chấp nhận nỗi hiểm nghèo có tính tóan. Biết rằng rút lui mà không có khả năng cơ động và hỏa lực mạnh thì sẽ nguy hiểm. Nhưng chúng tôi vẫn phải làm.” (25)
Tại sao ông Thiệu dám chọn giải pháp này dù biết rằng nguy hiểm như vậy? Vì ông ta muốn tạo áp lực để phút chót thấy tình hình nguy ngập Mỹ có thể can thiệp chăng? Vì một lời khuyên trực tiếp hay chỉ là sự gợi ý gián tiếp song có hiệu quả của quan chức Mỹ ở Sài gòn? Có thể cả hai. Vì ngài Ðại sứ Martin quả đã có sự gợi ý này: “Chỉ còn một con đường khôn ngoan duy nhất là cắt bớt các tuyến quân sự và chỉ giữ lại một phần đất mạnh về kinh tế là vùng châu thổ phía Nam”(26). Như vậy là sự gợi ý của ngài Ðại sứ Mỹ cuối cùng ở Sàigòn cộng với lời khuyên của các “cố vấn” đã được ông Thiệu cảm nhận và thực hiện như một sáng kiến táo bạo. Có điều kết quả thu lượm được thuộc về phía Hoa Kỳ và Việt Cộng, còn hậu quả được dành cho nhân dân Miền Nam yêu chuộng tự do, những người đã nằm xuống trong cuộc chiến và những kẻ sống sót sau cuộc chiến!
Thực vậy, giải pháp trên đã được thực hiện bằng một cuộc “di tản chiến thuật” mà thực tế đã biến thành một cuộc “tháo chạy tán lọan” vô tiền khoáng hậu trong lịch sử các cuộc chiến tranh cục bộ. Các chiến lược gia đã phải gọi đó la “Một cuộc rút lui được vạch ra tồi nhất và thi hành tệ hại nhất trong lịch sử quân sự”. Một cuộc di tản chiến thuật gọi là co cụm lại để bảo toàn lực lượng và để đủ sức bảo vệ các vùng chiến thuật trọng yếu, rốt cuộc đã chẳng bảo vệ được gì khác hơn là góp phần làm cho quá trình sụp đổ của một chế độ nhanh chóng hơn. Vì cuộc rút quân tàn tệ này nó đã phá hủy mau chóng quân phong quân kỷ và tinh thần chiến đấu của quân sĩ Quân Lực VNCH. Một quân đội mà trước đó đã bị hoang mang giao động bởi những đòn cân não của cả bạn lẫn thù. Hậu quả tất nhiên là quân sĩ sẽ không còn muốn chiến đấu mà chỉ muốn tháo chạy sao cho an toàn bản thân và lo cho gia đình, để có cơ may tồn tại trong một giải pháp chính trị tương lai đã được định đoạt. Hầu như binh lính VNCH đều có tâm trạng không muốn là người phải hy sinh cuối cùng của cuộc chiến.
Thiện Ý
*Ghi chú: Trích “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý, ấn hành lần đầu Tháng 4 năm 1995 và tái bản Tháng 4 năm 2005 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.
- (17, (19), (24):Gián Điệp Nhị Trùng, Trần Trung Quân, nhà xuất bản Nam Á, Paris 1990 (trang 335, 337, 338)
- (18), (20) đến (23, (25)và (26): Theo “The Ten Thousand days War” của Michael Maclear, nhà báo Mỹ được giải thưởng Pulitzer nhờ những bài viết về chiến tranh Việt Nam.
- Xin vào: luatkhoavietnam.com , mục “Diễn Đàn”, tiểu mục “Tác giả & Tác phẩm” để đọc thêm trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”, tiểu mục “Phỏng vấn & Hội luận” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả Thiện Ý năm 1995 về tác phẩm này.

  • Thiện Ý nguyên luật sư tại Sài Gòn trước 1975, hiện là Chủ tịch Câu Lạc bộ Luật khoa Việt Nam ở Houston.
Nguồn:https://www.voatiengviet.com/a/che-de-vnch-o-nam-viet-nam-da-bi-cuong-tu-nhu-the-nao/4346812.html

Người Là Ai - Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 Tròn 14 ngày sau khi Sài Gòn thất thủ và sự tuẫn tiết của 5 vị tướng Nguyễn Khoa Nam Hồ Ngọc Cẩn Phạm Văn Phú Lê Nguyên Vỹ Trần Văn Hai Lê Văn Hưng - Cùng hàng ngàn những binh sĩ, sĩ quan khác của miền Nam Việt Nam đã tuẫn tiết, hy sinh vì sự yên bình của đất phương Nam. Làm chuẩn HD nên âm thanh to rõ chuẩn cho quý đồng hữu download và thưởng thức..Ai copy nhạc của Jimmy Reed xin để lại nguồn,Jimmy chủ trương tự do,không đánh dấu video bản quyền,nên quý anh chị,đồng hữu khi up lại hãy để nguồn Jimmy để tôn trọng người làm ra nó nhé ..Và để tránh việc dơ bẩn Channel của như Playlist kính mong các anh em chiến hữu khi thưởng thức và xem thì có những con rận,con sâu,những dư luận viên đi bôi nhọ người khác trên mạng thì mong mọi người hãy gắn Spam để Jimmy có thể Ban nick và remove những comment dốt nát ra khỏi Channel...Xin Cảm Ơn ! ********************** NGƯỜI LÀ AI Tổ Quốc Ghi Ơn Dân Nam còn nhớ Người đã nằm xuống Cho sông núi trường tồn Cho muôn người hạnh phúc Muôn dân được tự do NGƯỜI LÀ AI Sử sách khắc ghi Công anh rực rỡ Anh là chiến sỹ Rất anh dũng hào hùng Gian nguy không sờn chí Vì đại nghĩa liều thân NGƯỜI LÀ AI NGƯỜI LÀ AI Là Trần Hưng Đạo Hai Bà Trưng Nguyễn Khoa Nam HỒ Ngọc Cẩn Phạm Văn Phú Lê Nguyên Vỹ Trần Văn Hai Lê Văn Hưng Những anh hùng yêu nước Vì nước quên mình Là chiến sĩ Máu thấm lòng đất mẹ Để sông núi màu xanh Ta người đang sống Không bao giờ quên ơn Với người nằm xuống Được sưởi ấm hồn thiên Lời tri ân tha thiết Hồn tử sĩ Việt Nam

Nguồn:https://www.voatiengviet.com/a/che-de-vnch-o-nam-viet-nam-da-bi-cuong-tu-nhu-the-nao/4346812.html

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

Việt Nam Cộng hòa có thật sự thua trận?


Việt Nam Cộng hòa có thật sự thua trận?

Phi Cảnh
2018-04-23

 
Một xe tăng Bắc Việt lăn bánh qua cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn hôm 30/4/1975
Một xe tăng Bắc Việt lăn bánh qua cổng Dinh Độc Lập ở Sài Gòn hôm 30/4/1975
AP
Người Việt Nam Cộng sản cho rằng Việt Nam Cộng hòa đã thua trận thì chẳng còn tư cách gì để nói người khác. Nhưng thắng thua liệu có phải là tất cả?

Cuộc chiến không công bằng

Một cuộc đấu võ đúng tinh thần thể thao phải diễn ra trên võ đài với đầy đủ luật lệ và yêu cầu về hạng cân thì mới công bằng. Đương nhiên cũng có loại đánh nhau trên đường phố bất chấp luật lệ. Giống như thời La Mã, ngoài võ sĩ trên đấu trường thì còn có những võ sĩ thi đấu vô luật lệ dưới hầm mỏ.
Nhưng không phải chiến thắng nào cũng như chiến thắng nào. Ngoài đường phố nếu dùng mọi trò bẩn hoặc thắng một đối thủ quá chênh lệch thì có gì vinh hạnh? Võ sĩ La Mã chỉ có thể giành được vinh quang trên đấu trường, chứ không phải chiến thắng vô luật lệ ở hầm mỏ - nơi dơ bẩn và bị khinh bỉ.
Trong chiến tranh cũng thế, đâu phải cứ là chiến tranh thì anh có thể dùng bất cứ thủ đoạn nào để giành phần thắng. Nếu nói cứ đánh nhau là bất chấp luật lệ, thì anh còn ngồi vào bàn để ký mấy cái hiệp định làm chi? Nếu là một tổ chức tự phát như tổ chức khủng bố chẳng hạn, thì không cần luật lệ; còn khi đã là một quốc gia thì phải có luật chứ. Sau này Việt Nam Cộng sản chẳng xin vào các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, Liên Hợp Quốc, WTO… để nâng cao vị thế là gì? Và đã xin vào thì phải chấp nhận luật của người ta, đâu dùng luật rừng được nữa.
Có nghĩa là gì, nếu muốn được tôn trọng như một quốc gia thì phải có luật pháp và tôn trọng luật pháp. Kể cả chiến tranh cũng vậy.
Chiến tranh Việt Nam không phải là chiến tranh quy ước - loại chiến tranh mà các lực lượng tham chiến của mỗi bên đã được xác định rõ. Phe Việt Nam Cộng sản trộn lẫn vào trong dân gây khó khăn cho Việt Nam Cộng hòa, vì bản chất của chiến tranh là tiêu diệt đối phương, nhưng nếu giết dân thì thế giới lại lên án. Khi không thể xác định rõ kẻ thù thì đánh kiểu gì?
Rất nhiều người nghĩ rằng kiểu “Chiến tranh du kích” ấy là bình thường. Nó không bình thường đâu! Mỹ cũng có một cuộc nội chiến Nam – Bắc. Khi phe miền Nam sắp thua cuộc, Bộ tham mưu của tướng Lee đề nghị phân tán lực lượng, ẩn nấp trong nhà dân, trong rừng núi để đánh du kích nhưng vị tướng chỉ huy quân đội miền Nam đã từ chối vì “Chiến tranh là nghiệp của người lính, là nhiệm vụ của chúng ta, không được đẩy trách nhiệm này vào người dân vô tội. Cho dù ta là tướng bại trận cũng không thể dùng cách này, nếu phải dùng sinh mạng của mình để đổi lấy bình an cho người dân miền Nam thì ta thà lựa chọn trở thành tội phạm chiến tranh và chịu hành quyết còn hơn”.
Nó khác hẳn với Chủ nghĩa Cộng sản sẵn sàng “hy sinh tất cả” hay “phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” để đạt được mục đích. Phía Bắc Việt huy động mọi thành phần dân tộc tham gia cuộc chiến gồm cả phụ nữ, trẻ em lẫn người già – một đối tượng là phái yếu cần được bảo vệ, một đối tượng cần phải cho ăn học, một đối tượng đã đến lúc nghỉ ngơi mà phải chịu đói khổ, dấn thân vào nguy hiểm chết người. Cái gọi là cuộc chiến “của toàn dân tộc” ấy chẳng có gì đáng để tự hào cả.
Người Việt Nam Cộng hòa không coi chiến tranh là tất cả, không dồn tất cả để đánh nhau, họ còn phải sống, làm việc và phát triển; vì thế, tất nhiên chỉ có quân đội chiến đấu. Trong quân đội ấy chỉ có nam giới đủ tuổi đi quân ngũ, không người già, không trẻ em và phụ nữ không phải tham gia tác chiến. Lực lượng tham chiến hai bên như vậy đã không rõ ràng (phía Cộng sản), lại còn không cân bằng.
Việc cho cả trẻ em, người già tham gia chiến tranh còn một mục đích khác, đấy là tạo nên sự thương sót của dư luận nếu những đối tượng này tử trận. Nó giống việc đặt các cơ sở quân sự gần các khu dân cư, bệnh viện… vậy. Người dân đáng lẽ ra là đối tượng được bảo vệ thì lại bị đem ra làm bia đỡ đạn.
Cuộc chiến còn không công bằng ở chỗ Việt Nam Cộng hòa là một đất nước tự do dân chủ, người dân có quyền chỉ trích, biểu tình, mà có nước tự do dân chủ nào mà lãnh đạo làm hài lòng được người dân? https://www.rfa.org/vietnamese/news/ReadersOpinions/what-if-the-republic-of-vietnam-survived-04132018130758.html
Việt Nam Cộng hòa tất nhiên còn tự do báo chí – điều tối kỵ trong chiến tranh. Thế nên mới có chuyện ông Nick Út được đi theo lính miền Nam để chụp ảnh, máy bay đánh bom tiêu diệt Cộng sản nhưng ai ngờ lính miền Bắc xâm nhập chui vào nơi có dân để chốn. Dân chạy ra cầu cứu lính Việt Nam Cộng hòa thì bị Nick Út giơ máy ảnh lên chụp xong đăng lên toàn thế giới mà ai nhìn vào cũng nghĩ rằng “lính Mỹ ăn thịt trẻ em Việt Nam”. Vậy mà bức ảnh ấy cũng có thể trở thành biểu tượng của chiến tranh Việt Nam được?
Bức ảnh chỉ nói lên một nửa sự thật ấy khi về Mỹ được trao giải Pulitzer – giải thưởng danh giá bậc nhất cho báo chí để rồi cả nước Mỹ lên án cuộc chiến. Như thế thì còn đánh đấm gì?
Mai Chí Thọ từng nói toạc với tù nhân chính trị rằng: “Hồ Chí Minh có thể là một kẻ độc ác, Nixon có thể là một người vĩ đại. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng tôi có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng tôi đã thắng và người Mỹ đã bị đánh bại vì chúng tôi đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, rằng Nixon là một kẻ giết người và người Mỹ là những kẻ xâm lược. Yếu tố then chốt là kiểm soát được người dân và quan điểm của họ. Chỉ có chủ nghĩa Marx-Lenin là có thể làm được điều đó”.
Chính vì sự giả dối ấy nên những vụ giết người của Bắc Việt với cách thức không khác gì khủng bố như đánh bom nhà hàng Mỹ Cảnh, ném lựu đạn vào dân đang xem hát ở Cần Thơ hay thảm sát Huế Mậu Thân chẳng hạn thì bị xem nhẹ, dường như người nào sống ở miền Nam đều đáng chết cả. Còn khi người Cộng sản bị chết thì lại thành sự kiện nổi tiếng.
Quân đội Mỹ luôn tin vào chính nghĩa nên luôn hành động chính trực, thẳng thừng giữa thanh thiên bạch nhật, chính vì vậy nên dễ bị hiểu lầm. Họ đã thua trên mặt trận tuyên truyền trước những kẻ nham hiểm.
Tại sao dám vu khống Mỹ xâm lược khi họ chỉ giúp giữ chế độ tự do dân chủ ở miền Nam? Việt Nam Cộng hòa chỉ lo phòng thủ chứ đâu có đánh ra Bắc. Mỹ chỉ ném bom vì miền Bắc đã xâm phạm miền Nam.
Trong khi Mỹ vẫn xử phạt binh lính nếu có hành động đi quá giới hạn thì Bắc Việt lại trao huân chương cho những kẻ đánh bom khủng bố chết dân thường. 2 thái cực hoàn toàn trái ngược cho thấy truyền thông đã hết sức bất công. Trong một cuộc chiến mà trọng tài chỉ bênh một bên thì bên kia có cơ hội giành phần thắng?
Một ví dụ nữa là phe Cộng sản luôn cố tình tạo cho người ta cảm giác rằng họ với vũ khí thô sơ phải đánh nhau với một phe được trang bị vũ khí hiện đại. Thực tế bộ đội miền Bắc không hề thiếu vũ khí, ra trận là có đạn “bắn thoải mái” do Nga Tàu cung cấp; đó là sự hỗ trợ tương đương nhưng kín đáo. Chính vì vậy nói rằng miền Nam không làm được gì khi không có Mỹ là không công bằng, miền Bắc nếu không được viện trợ từ nước ngoài thì chắc chắn phải cưỡi ngựa bắn cung để ra trận, vì họ đâu có tự sản xuất ra được đạn dược, xăng dầu…

Thắng rồi để làm gì?

Người Việt coi việc Nhật Bản “phải chấp nhận để Mỹ đóng quân” là kém cỏi, nhưng gặp người Nhật thì không khác gì gặp thánh sống. Người Việt cũng xem việc Triều Tiên không thể thống nhất đất nước là không bằng Việt Nam, nhưng bây giờ thậm chí không dám mơ có ngày được như Nam Triều Tiên.
Nói đâu xa, Việt Nam Cộng hòa bị coi là “đu càng” , nhưng những cư dân “đu càng” như cầu thủ bóng đá Lee Nguyễn, đầu bếp Christine Ha thì được trọng vọng hơn bất cứ đồng nghiệp nào tại Việt Nam. Thù lao mà Lee Nguyễn nhận được khủng khiếp đến mức cho đến nay không ai biết đích xác là bao nhiêu, chỉ biết rằng trong 2 năm ngắn ngủi ở Việt Nam, cầu thủ “đu càng” này nói rằng đã kiếm đủ cho phần đời còn lại. Chắc chắn không một cầu thủ Việt Nam Cộng sản nào dám mơ có một ngày đội bóng quê hương sẽ trả mức lương như vậy cho mình.
Gia đình Việt Nam Cộng sản cũng co ro cúm rúm khi tiếp đón gia đình Việt Nam Cộng hòa “đu càng” từ Mỹ, Pháp… trở về, đi ăn cũng gia đình “đu càng” trả tiền. Vậy thì ai thắng ai? Ai mang tư thế của người chiến thắng?
Thái Lan không dám đánh nhau, Nhật Bản từng thua trận, Đức cũng thua, Pháp thì khỏi nói: nổi tiếng về đánh nhau kém. Nhưng hỡi ôi, đánh nhau quan trọng đến thế ư? Chỉ những anh choai choai mới khoái đánh nhau như thế. Chả trách mà Tản Đà làm thơ: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.”
Mà ngay trong cái việc đánh nhau thôi, tại sao anh không tiếc xương máu lúc đánh nhau với Pháp, Mỹ, mà giờ động đến một chữ Trung Quốc cũng không dám? Suốt ngày tự hào đánh Pháp đánh Mỹ nhưng nếu có ai nhắc đến giặc Tàu là cả quan lẫn dân đều nạt ngay: “Thế muốn chiến tranh hay hòa bình? Nó mà đánh cho thì…”.
Chao ôi, dân tộc “Việt Nam anh hùng” đây ư? Té ra việc chửi giặc Pháp giặc Mỹ hàng ngày là do biết chúng nó là người quân tử, chúng nó người lớn không thèm chấp mình, chứ chẳng phải mình anh dũng anh hùng gì cho cam.

Cái giá của thủ đoạn đê hèn

Nói tóm lại rằng: bất chấp luật lệ, dùng mọi thủ đoạn để thắng không phải hành động của người quân tử. Việt Nam Cộng hòa cũng như các nước văn minh khác: tôn trọng pháp luật ngay cả trong thời chiến – lúc mà đáng lẽ có thể áp dụng tình trạng khẩn cấp hay thiết quân luật để siết chặt quyền tự do dân chủ.
Người Cộng sản có thể mãi hát bài ca chế giễu phe thua cuộc nhưng trên thực tế, người Việt Nam Cộng hòa lên tiếng chỉ vì họ còn có tâm với đất nước đấy thôi. Sau năm 1975 họ được các nước giàu có văn minh dang tay đón nhận, họ có cuộc sống sung túc ở nơi mà chỉ số ít doanh nhân và chủ yếu là con cháu quan chức Cộng sản mới có cơ hội đặt chân đến.
Người Việt Nam Cộng hòa ừ thì “thua” đấy, nhưng họ được sống cùng những người quân tử. Còn những người “chiến thắng” ở lại, khi anh không phải người quân tử, sẽ có thằng không quân tử khác trị anh.
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do
Nguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/news/ReadersOpinions/did-the-south-lose-04232018092909.html

Biểu tình lớn ngày 30/4 sắp tới

Việt Nam

Biểu tình lớn ngày 30/4 sắp tới




Lời kêu gọi biểu tình ngày 30-4 ở Paris (Ảnh chụp từ trang lyhuong.net)



Nhiều cuộc biểu tình dự trù diễn ra nhân dịp 42 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc (30/4) tại nhiều thành phố lớn trên thế giới như Washington DC, Paris, Frankfurt, Canberra… và có thể ở cả Việt Nam.
Ông Đinh Hùng Cường, Chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam tại thủ đô Hoa Kỳ và vùng phụ cận cho biết về kế hoạch tại Washington DC:
“Cuộc biểu tình ngày 30/4 này không phải là cuộc biểu tình phản đối thường lệ, mà là một cuộc biểu tình để yểm trợ cho những người đòi quyền sống ở Việt Nam, những người đòi quyền tự do chính đáng của người dân, nhất là đấu tranh đòi hỏi dân chủ, tự do, và nhân quyền cho Việt Nam. Phản đối hành động đánh đập người dân đi biểu tình đòi hỏi quyền lợi về vấn đề Formosa.”
Cuộc biểu tình ngày 30/4 này không phải là cuộc biểu tình phản đối thường lệ, mà là một cuộc biểu tình để yểm trợ cho những người đòi quyền sống ở Việt Nam, những người đòi quyền tự do chính đáng của người dân, nhất là đấu tranh đòi hỏi dân chủ, tự do, và nhân quyền cho Việt Nam. Phản đối hành động đánh đập người dân đi biểu tình đòi hỏi quyền lợi về vấn đề Formosa.
Ông Đinh Hùng Cường
Theo chương trình, sự kiện này sẽ bắt đầu vào lúc 14 giờ ngày 30/4 trước tòa đại sứ Việt Nam ở Washington, mà theo ông Đinh Hùng Cường sẽ tập hợp nhiều cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ tham gia:
“Chúng tôi luôn luôn kêu gọi và hy vọng rằng sẽ có một số đông cô bác tham gia vì cuộc biểu tình ngày 30/4 này không phải như thường lệ thành ra số người chúng tôi tin tưởng rằng số người tham gia sẽ đông đảo hơn những lần trước.”
Ngoài cuộc biểu tình tại thủ đô Washington, cộng đồng người Việt tại vùng đông bắc Hoa Kỳ còn tổ chức các sự kiện tri ân và tưởng niệm các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa vào những ngày cuối tuần bắt từ ngày 22/4 cho đến ngày 2/5.
Từ Melbourne, Australia, ông Đỗ Văn Thắng, người phụ trách ghi danh cho cuộc biểu tình 30/4 sắp tới tại thủ đô Canberra của Cộng đồng Người Việt Tự do Úc Châu cho VOA biết đoàn sẽ thực hiện một cuộc biểu tình trước Tòa đại sứ Việt Nam và Tòa đại sứ Trung Quốc tại Canberra.
“Nhiều tiểu bang gom lại cũng vài ngàn người, trung bình khoảng 2.000-3.000 người. Kỳ này hy vọng cũng đông. Mình yểm trợ để cho người dân trong nước đứng lên quang mục quê hương, đòi quyền tự quyết.”
Theo trang lyhuong.net, cộng đồng người Việt tại Pháp cũng sẽ tổ chức một cuộc biểu tình trước sứ quán Việt Nam tại Paris từ 14 giờ đến 18 giờ ngày 30/4 với chủ đề: “Hãy đứng lên vì môi sinh và sự sống còn của dân tộc và là trách nhiệm của người dân.”
Tại Đức vào lúc 13 giờ ngày thứ Bảy 29/04 sẽ diễn ra cuộc biểu tình trước Tổng lãnh sự Việt Nam ở Frankfurt “để hỗ trợ cho tất cả những cuộc xuống đường của toàn dân tại quốc nội,” theo trang lyhuong.net.



Một cuộc tuần hành của giáo sứ Song Ngọc
Một cuộc tuần hành của giáo sứ Song Ngọc

Linh mục Nguyễn Đình Thục, giáo xứ Song Ngọc ở Nghệ An, nơi chịu thiệt hại nặng nề vì thảm họa Formosa cho VOA biết giáo xứ của ông chưa có kế hoạch cho cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật 30/4 năm nay, nhưng theo ông, việc thực hiện một cuộc biểu tình thì “không phải là điều quá khó khăn.”
Linh mục Nguyễn Đình Thục nói:
“Cho đến bây giờ thì vẫn chưa có lời kêu gọi biểu tình. Nhưng việc chúng tôi biểu tình cũng không phải cái gì khó khăn mà chúng tôi cần phải có một chương dài và kế hoạch này nọ. Đối với cộng đồng giáo sứ thì việc chúng tôi xuống đường biểu tình, yêu cầu hay phản đối một vấn đề gì đó thì không phải là điều quá khó khăn.”
Liên tiếp trong tháng 3 tháng vừa qua, hàng trăm giáo dân giáo xứ Song Ngọc, Nghệ An, đã nhiều lần xuống đường yêu cầu chính quyền giải quyết bồi thường thiệt hại cho ngư dân trong sự cố môi trường Formosa.
Vào ngày 03 tháng 4, một cuộc biểu tình lớn đã diễn ra ở huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh, mà theo người địa phương ước tính lúc cao điểm có khoảng 7.000 người quanh khu vực đặt trụ sở Ủy ban huyện; đa số người biểu tình là giáo dân.
Tại Hà Nội, ngày 10/4, Bộ trưởng Công an, Thượng tướng Tô Lâm, đã chủ trì cuộc họp “bàn về các giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự trong dịp Lễ kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4.”




Người dân biểu tình trước UBND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, ngày 3/4/2017. (Ảnh Facebook Nhật Ký Yêu nước)
Người dân biểu tình trước UBND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, ngày 3/4/2017. (Ảnh Facebook Nhật Ký Yêu nước)

Tại một cuộc họp này, Bộ trưởng Tô Lâm chỉ đạo cấp dưới “kiên quyết” không để xảy ra các vụ “tụ tập đông người, chặn quốc lộ” như đã xảy ra ở miền trung trong thời gian gần đây.
Ngoài ra, theo truyền thông trong nước, cũng trong ngày 10/4, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì một cuộc họp với Quân ủy trung ương tại Bộ Quốc phòng “nhằm chỉ đạo nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu.”
Những cuộc họp quan trọng của lãnh đạo Việt Nam phần nào cho thấy sự thận trọng của chính quyền và cũng là chỉ dấu rằng các biện pháp răn đe, bắt bớ sẽ được tiếp tục sử dụng để ngăn chặn các cuộc biểu tình, nếu có, vào dịp lễ 30/4 năm nay.
Cộng đồng người Việt hải ngoại nói các cuộc biểu tình đã lên lịch nhằm yểm trợ cho các phong trào kêu gọi dân chủ trong nước.
Ông Đinh Hùng Cường nói:
Cuộc biểu tình bên nhà Việt Nam là thái độ của những người anh hùng, những người dân đã không chịu nỗi sự áp bức. Chúng tôi thấy đây là đúng lúc. Người dân Việt Nam phải can đảm. Chúng tôi ở hải ngoại sẽ làm hết sức mình yểm trợ các bạn trong nước. Việc làm của các bạn là vô cùng chính đáng. Thái độ đó chúng tôi rất kính phục và ngưỡng mộ, cho dù bị đe dọa, bóp chặt trong trứng nước trước các vụ phản đối.”
Hôm qua 10/4, báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam nói rằng “tận dụng sự cố môi trường biển tại các tỉnh miền Trung, hơn một năm qua, những phần tử xấu dưới vỏ bọc ‘tôn giáo’ đã ra sức lôi kéo một bộ phận giáo dân gây rối an ninh trật tự hòng tạo cớ ‘vu khống, ăn vạ’ chính quyền ‘đàn áp tôn giáo, bóp nghẹt dân chủ’ để từ đó lu loa với thế giới về một Việt Nam ‘bất ổn’, chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích động bạo loạn, kêu gọi nước ngoài can thiệp vào Việt Nam.”