Một buổi tưởng niệm 30 tháng Tư tại Little Saigon, California.
Thiện Ý
Hàng năm cứ đến ngày 30 tháng 4, ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam, nhà đương quyền Việt Nam tự nhận là “Bên thắng cuộc” thường tổ chức ăn mừng như một ngày “Đại thắng Mùa Xuân”.
Trong khi những tổ chức chính trị, xã hội và người Việt quốc gia hay là
người Việt Nam không cộng sản ở hải ngoài thì thường tổ chức tưởng niệm
như một “Ngày Quốc Hận”. Bài viết này nhằm xác định rõ thực chất cũng như thực tế về ngày 30-4-1975: Ai thắng ai?
Theo ý nghĩa từ ngữ thông thường, trong một cuộc chiến tranh “Bên thắng cuộc” là
bên đã đánh bại hoàn toàn đối phương, sau khi đối phương đầu hàng hay
bị tiêu diệt, đưa cuộc chiến tranh đến kết thúc. Chẳng hạn Thế Chiến II
(1939-1945) đã kết thúc sau khi Phe Trục thua cuộc (Đức-Ý-Nhật) phải đầu hàng phe thắng cuộc Đồng Minh (Mỹ-Anh-Pháp-Nga-Trung). Vậy thì ngày 30-4-1975 kết thúc chiến tranh Việt Nam, ai thắng ai?
Như chúng tôi đã trình bày trong nhiều bài viết và cả một cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam, rằng đó là cuộc chiến tranh giữa hai phe, bốn bên. Hai phe đó là (1) phe xã hội chủ nghĩa và (2) phe tư bản chủ nghĩa (Chiến tranh ý thức hệ toàn cầu); với bốn bên (1) Liên Xô và Trung quốc, (2) bên Hoa Kỳ và đồng minh (Ngoại chiến), (3) bên Việt cộng và (4) bên Việt quốc (nội chiến quốc-cộng). Cả hai cuộc chiến này cùng diễn ra trên chiến trường Việt Nam, trùng lắp không gian và thời gian, nên thường gọi chung là cuộc “Chiến tranh Việt Nam”. Cuộc
chiến này đã chấm dứt vào ngày 30-4-1975, sau khi bên cộng sản Bắc Việt
đánh bại hoàn toàn bên quốc gia Nam Việt, thôn tính được Miền Nam,
thống nhất đất nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Như vậy theo ý nghĩa từ ngữ thông thường, phe xã hội chủ nghĩa đã
thắng phe tư bản chủ nghĩa trong cuộc chiến tranh cục bộ tại Việt nam,
vì đã giành thêm lãnh địa toàn cõi Việt Nam cho phe XHCN để thực hiện
tham vọng cộng sản hóa toàn cầu. Hay nói cách khác một cách cụ thể là
các bên ngoại chiến Liên Xô và Trung quốc đã thắng bên Hoa Kỳ và đồng
minh trong cuộc chiến tranh cục bộ Việt Nam. Đồng thời, bên nội chiến
Việt cộng cũng đã thắng bên nội chiến Việt quốc trong “cuộc chiến tranh quốc-cộng” tại Việt Nam (một
giai đoạn của cuộc “Nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”, hai giai đoạn kia
là “Tiền chiến tranh Quốc-Cộng” (1930-1954) và “hậu chiến tranh
Quốc-Cộng” từ 1975 đến nay vẫn chưa kết thúc).
Thế nhưng theo nhận định của chúng tôi, đó chỉ là “chiến thắngbiểu kiến” (coi vậy chứ không phải vậy).Vì chiến tranh Việt Nam kéo dài 21 năm (1954-1975) nhưng đã kết thúc nhanh gọn, bị động và bất ngờ cho cả hai bên nội chiến Quốc-Cộng (nhưng không bất ngờ với các bên ngoại chiến);
cùng với diễn biến các sự kiện vào những ngày tháng cuối cùng trước và
sau khi kết thúc cuộc chiến một cách không bình thường, tựa hồ như một
kịch bản tiền định… Vì nếu việc kết thúc chiến tranh Việt Nam quả là một
“thắng lợi thật” của phe XHCN trong đó có “bên thắng cuộc” Việt cộng,
thì tình hình Việt Nam và thế giới phải biến chuyển theo chiều hướng
khác với thực tế kể từ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày
30-4-1975. Tỷ như phe XHCN phải khai thác triệt để “Chiến thắng của cách mạng Việt Nam” để đẩy mạnh các cuộc “chiến tranh cách mạng, chiến ntranh giải phóng” để
cộng sản hóa các nước trong vùng và các vùng nghèo đói khác trên thế
giới. Thế nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược, chẳng cần nói ra thì ai
cũng đã biết. (1) Vì vậy, chúng tôi cho rằng sự kết thúc chiến tranh Việt Nam
vào ngày 30-4-1975 như thế không phải là thắng lợi thực sự và chung cuộc
của phe này (phe xã hội chủ nghĩa và Việt cộng) với phe kia (phe tư bản chủ nghĩa và Việt quốc) mà chỉ là vì nhu cầu thay đổi thế “chiến lược toàn cầu mới” (The New Globle Trategy)
của các cường quốc cực nói chung, Hoa Kỳ nói riêng, sau khi các mục
tiêu và lợi ích chiến lược trong vùng các bên ngoại chiến đã thành đạt
thông qua cuộc chiến Việt Nam. Do đó, Hoa Kỳ đã chủ động đưa cuộc chiến
tranh Việt Nam đến kết thúc, để khởi động cho một tiến trình đưa “các bên thắng cuộc” (phe XHCN và Việt cộng) đến “thua cuộc hoàn toàn” để đi vào “Chiến lược toàn cầu mới” (2)
Thực tế quả đã diễn biến đúng như vậy. Vì chỉ 15 năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Liên Xô “Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa” và hầu hết các nước XHCN trên thế giới đã sụp đổ tan tành (1990-1991). Tất cả đã chuyển đổi qua “chế độ dân chủ với nền kinh tế thị trường tự do” (vốn là nội dung chủ yếu của thế chiến lược toàn cầu mới). Như vậy là phe XHCN đã “thua cuộc hoàn toàn” trong cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu hình thành sau Thế Chiến II,diễn ra dưới hai hình thái “Chiến Tranh Lạnh “ (The Cold War) giữa các nước giầu và “Chiến tranh Nóng” (The Hot War)
nơi một số các nghèo, trong đó có Việt Nam.. Nghĩa là cuộc chiến tranh ý
thức hệ toàn cầu coi như chấm dứt sau 16 năm chấm dứt chiến tranh Việt
Nam.(1975-1991), là thua cuộc hoàn toàn và vĩnh viễn. Bên thắng cuộc Việt cộng, nằm trong phe XHCN, trong cuộc chiến tranh Việt Nam hôm qua, tất nhiên cũng không tránh khỏi số phận là “bên thua cuộc hoàn toàn” trong cuộc “nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”
tại Việt Nam, khi quá trình tiêu vong đã, đang diễn ra và sắp đi đến
kết thúc. Nghĩa là chế độ độc tài đảng trị hay toàn trị cộng sản dưới
bảng hiệu “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam” (ngụy danh, ngụy nghĩa) cũng đã và đang trên quá trình tiêu vong để hình thành một chế độ dân chủ pháp trị, đa đảng với “ nền kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”; dù thực tế đảng và nhà cầm quyền CSVN (đỏ vỏ xanh lòng) hiện nay vẫn cố ngụy biện để kéo dài tuổi thọ, rằng Việt Nam đang đi theo con đường “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; nhưng không thể cưỡng lại chiều hướng mới không thể đảo ngược của “chiến lược toàn cầu mới” của các cường quốc cực (dân chủ hóa về chính trị, thị trường tự do hóa về kinh tế…), cũng như chiều hướng phát triển tất yếu của thực tiễn và lịch sử Việt Nam.(tất yếu Việt Nam phải đi đến dân chủ với nền kinh tế thị trường tự do phát triển…)
Tựu chung, căn cứ vào diễn biến các sự kiện không bình thường trước
và sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30-4-1975, chúng tôi
cho rằng Liên Xô, Trung quốc và phe xã hội chủ nghĩa trong đó có “bên thắng cuộc” Việt cộng, chỉ đạt được “Chiến thắng biểu kiến” (giả tạo),có
tính giai đoạn; do nhu cầu thay đổi thế chiến lược toàn cầu mới của các
cường quốc cực, mà Hoa Kỳ đã chủ động thực hiện kịch bản đưa cuộc chiến
tranh Việt nam đi đến kết thúc. Chính xác hơn có thể nói: Chiến
tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30-4-1975 như thế, đã chỉ là thắng lợi
của các bên ngoại chiến trong hai phe xã hội chủ nghĩa (đứng đầu là Liên Xô…) và tư bản chủ nghĩa (đứng đầu là Hoa Kỳ…)vì các lợi ich chiến lược quân sự và kinh tế họ đã thành đạt thông qua cuộc chiến. Chính các bên nội chiến (Việt cộng và Việt quốc) trong hai phe mới là các bên thua cuộc hoàn toàn. Vì đã tri tình (Việt cộng) hay ngay tình (Việt quốc)
làm công cụ chiến lược một thời cho các bên ngoại chiến trong cuộc
chiến tranh Việt Nam, sát hại lẫn nhau và tàn phá tan hoang đất nước,
dẫn đến tụt hâu sau chiên tranh. Vậy xin hỏi bên Việt cộng tự nhận là “Bên thắng cuộc” hàng năm có nên tiếp tục ăn mừng ngày 30-4-1975, ngày kết thúc cuộc chiến tranh “cốt nhục tương tàn” như một chiến thắng nữa hay thôi?- Đồng thời, khi chúng tôi viết bài này, thì hội nghị Thượng Đỉnh Liên Triều vừa diễn ra và kết thúc tốt đẹp (27-4-2018).
Qua các tường thuật và hình ảnh được truyền đi khắp thế giới đã gây xúc
động lòng người. Cá nhân người viết không khỏi rưng rưng nước mắt khi
liên tưởng đến tình cảnh Quê Hương Đất Nước mình. Qua Thông cáo chung
của Thượng đỉnh Liên Triều đã thể hiện tình tự dân tộc cao độ, khởi sự
cho một tiến trình hòa giải hòa hợp dân tộc đầy triền vọng tốt đẹp cho
nhân dân và đất nước Triều Tiên. Nhân dân Việt Nam tự hỏi: Không biết những người lãnh đạo
đảng và nhà đương quyền Việt Nam có suy nghĩ, so sánh gì với Triều Tiên,
một nước có số phận không may như Việt Nam cùng rơi vào thế gọng kìm
của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu, hình thành sau Thế Chiến II.
Thế nhưng đảng Lao Động Triều Tiên (tên gọi khác của đảng cộng sản bản xứ)
đã khôn ngoan hơn đảng CSVN, là sau cuộc chiến tranh 3 năm (1950-1953)
xâm chiếm miền Nam bị liên quân Nam Hàn và Hoa Kỳ dưới ngọn cờ Liên Hiệp
quốc đánh bại, đã ngưng chiến, tạo thế lực quân sự (chế tạo hạt nhân,
hỏa tiễn đạn đạo…) để 65 năm sau cuộc chiến (1953-2018) đã tạo được thế
lực mạnh, chủ động đi bước trước thực hiện hòa giải dân tộc qua hội nghị
thượng đỉnh với chế độ cộng hòa Nam Hàn; và chủ động thương lượng tay
đôi với đại cường quốc Hoa Kỳ qua hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng thống
Hoa Kỳ Donald Trump và lãnh tụ Bắc Triều tiên Kim Jong Un dự trù diễn ra
vào cuối tháng 5 hay đầu tháng 6 tới đây. Trong khi, đảng CSVN (trong chiến tranh lấy tên là đảng Lao động Việt Nam)
thì hiếu chiến và thiếu khôn ngoan hơn, trong quá khứ đã dùng bạo lực
chiến tranh để thống nhất đất nước, với cái giá núi xương sông máu dân
Việt, làm tan hoang đất nước, để lại hậu quả nghiêm trọng, toàn diện và
di hại lâu dài cho dân tộc.
Vậy người dân xin hỏi những người lãnh đạo đảng CS và nhà nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (ngụy danh, ngụy nghĩa) hôm nay có dám noi gương các lãnh đạo đảng Lao Động Triều Tiên và nhà cầm quyền chế độ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, .chủ động và thực tâm khởi động tiến trình hòa giải và hòa hợp dân tộc theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm tự này,
chứ không phải chỉ là thủ đoạn chính trị và chiêu bài lừa mị như bao
lậu nay? Câu trả lời xin dành cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các
đảng viên đảng CSVN đã nắm độc quyền quyền thống trị toàn cõi đất nước
43 năm sau cuộc chiến. (1975-2018) và công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội tại Việt Nam coi như đã thất bại hoàn toàn và vĩnh viễn,
như ông Tổng Trọng đã thú nhận bằng sự hoài nghi rằng: không biết đến cuối Thế kỷ này đã có được xã hội “ xã hội chủ nghĩa “ hay không. Thiện Ý Houston, ngày 28 tháng 4 năm 2018. Ghi chú: (1), (2): Trong tài liệu viết cho “Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam”năm 1976, người viết đã đưa ra nhận định, rằng “Cuộc
chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế, chẳng phải là thắng lợi của phe
này đối với phe kia, mà chỉ là vị sự thay đổi thế chiến lược quốc tế của
các cường quốc cực mà thôi…”; để sau đó đưa ra lời kêu gọi những người CSVN, rằng “chúng
tôi khẩn thiết kêu gọi những người đang miệt mài xây một “Thiên đường
cộng sản” trên đất nước này cần xét lại. Bởi vì biên giới quốc gia muôn
đời vẫn là cái giới hạn mà các dân tộc sống chung phải bảo vệ trên hết
và trước hết…” ; và rằng “Chỉ có đứng
trên lập trường dân tộc, dưới ánh sáng chủ nghĩa yêu nước,chúng ta mới
có thể tìm ra được con đường đúng nhất, có lợi nhất cho dân tộc Việt
Nam, phù hợp với ý nguyện của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam, chứ
không phải là tham vọng của những kẻ cầm quyền…”. Tài liệu quay roneo dày khoảng 30 trang này người viết đã nhờ một
người (Bs. N.T.T hiện sống tại Canada) là bạn thiếu thời và cũng là
đồng hương Quảng Trị với Ks.Lê Hãn, Trưởng nam của cố TBT Lê Duẫn,
chuyển tài liệu này đến thân phụ Ông. Chúng tôi không rõ tài liệu này có
đến tay ông Lê Duẩn hay không. Tất cả những nhận định và lời kêu gọi trên, chúng tôi có in lại
trong cuốn “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý, ấn
hành tháng 4-1995, tái bản năm 2005- Xin vào đọc thêm chi tiết tại: luatkhoavietnam.com, Mục “Diễn
Đàn”, Tiểu mục “Tác giả-Tác phẩm” để đọc tác phẩm- Xin vào Tiểu mục “Hội
luận-Phỏng vấn” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả về tác phẩm này
(Tháng 5-1995), có nhắc lại lời kêu gọi trên. Ý kiến:
Image caption
Cảnh giao tiếp thân mật của lãnh đạo hai miền Nam - Bắc Hàn đã gây xúc động cho không ít người
Thế rồi 43 năm cũng trôi qua như một giấc mơ từ ngày chia ly đó.
Ở tuổi này, như nhiều người Việt khác ở hải ngoại, tôi không tin nổi đã qua hơn 2/3 đời mình ở xứ ngoài.
Đã
định chui vào nếp sống bận rộn thường lệ hàng ngày để quên đi tháng Tư
này, nhưng đài báo lại cứ ra rả suốt vài ngày qua về chuyến thăm khu Phi
quân sự của hai nhà lãnh đạo Bắc và Nam Hàn để chấm dứt tình trạng
chiến tranh từ 1953, mưu cầu bán đảo Triều Tiên phi hạt nhân hóa, nhất
là mong cam kết của Bắc Hàn ngưng thử các hỏa tiễn hạt nhân và liên lục
địa. Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04? Kỷ niệm 30/4 'đang bớt đi phần hào nhoáng'? Hoa Kỳ giải mật hết hồ sơ vụ ám sát Kennedy Chuẩn tướng Lương Xuân Việt sang Hàn Quốc
Nhưng
cái bắt tay đầu tiên ở dải bê tông đơn giản ngăn cách hai miền của các
ông Moon và Kim đã gây cho tôi những xúc động mãnh liệt và xúc cảm trào
dâng của một người xa xứ gốc Việt mong một giây phút tương tự cho Việt
Nam.
Trong suốt ngày 27/4, ta thấy các cảnh, từ thương nghị chính
thức đến những phút hai ông đi dạo tâm sự, ôm chầm nhau sau khi ký thông
cáo chung, cảnh hai bà vợ nắm tay nhau tung tăng đến buổi tiệc tối do
bên Nam đãi với các món ngon vật lạ từ nhiều miền, nhất là ông Kim cầu
kỳ bắt đoàn mình nấu riêng món mỳ lạnh miền Bắc đem đến buổi tiệc.
Chi tiết nhỏ thôi nhưng cho thấy họ cầu kỳ sửa soạn cho lần họp mặt và muốn tỏ thiện chí cho bên kia thấy dễ chịu hơn.
Thông
cáo chung chỉ cho thấy thiện chí muốn thương thảo tiếp, còn các kết quả
hòa đàm lớn hơn hay tế nhị hơn vẫn còn được giữ kín bên trong, và nhất
là còn tùy thuộc cuộc gặp gỡ vào tháng 5 hay tháng 6 giữa Tổng thống
Trump và ông Kim nếu còn được giữ, cũng như các cuộc tiếp xúc chắc chắn
có giữa Bắc Hàn và Trung Quốc trong vài tuần tới. Bản quyền hình ảnhSTAFFImage caption
Tàu HQ-504 chở 7000 người trốn thoát khỏi Đà Nẵng và
Huế từ Cam Ranh về đến Vũng Tàu 03/04/1975: nhiều người Việt ở hải
ngoại vẫn suy tư nhiều về ngày phải bỏ nước ra đi
Tóm lại là vấn đề bắt tay giữa hai nước Hàn cũng chỉ
mới bắt đầu và còn tùy thuộc nhiều biến chuyển có thể ảnh hưởng đến
chính trị và hòa bình toàn cầu trong những năm tháng tới.
Trở về
giấc mơ thầm kín của một ngày bắt tay giữa hai Bên thắng cuộc và Bên
thua cuộc ở nước mình - theo cách gọi mới thời thượng, khá phổ biến của
tác giả Huy Đức--trong quyển sách "Bên Thắng Cuộc" - quả thấy thật xa
vời dù chỉ trong tưởng tượng.
Giấc mơ quá xa vời
'Bên
Thắng Cuộc' gồm hơn bốn triệu đảng viên kể cả guồng máy quân sự và an
ninh lớn mạnh và toàn trị, lại thêm đông đảo nhóm hậu thuẫn nắm đặc
quyền và đặc lợi kinh tế, từ sức mạnh chung ý thức hệ ngày trước chuyển
sang quyền lợi chính trị và nhất là quyền lợi kinh tế chung bây giờ phải
bảo vệ, không dễ gì muốn đối thoại (và có lẽ không có lý do gì để đối
thoại) với nhóm 'bên kia' - Phe Thua Cuộc. 'Bên Thắng Cuộc' chỉ ra hạn chế của Đổi Mới Tác giả 'Thư gửi bạn ta' vừa qua đời Hồ sơ JFK: KGB, Johnson và Ngô Đình Diệm Nhớ lại 'Tháng Ba gãy súng'
Trong
đất nước có gần 90 triệu người do Bên Thắng Cuộc kiểm soát chặt chẽ,
cũng khó biết có bao nhiêu người chia sẻ thật sự chủ nghĩa và chế độ cai
trị của giới cầm quyền.
Qua các sách báo và tiếp xúc hàng ngày,
nhất là những lúc tâm sự thật lòng, nhiều quan sát viên có thể nhận ra
nhiều tầng lớp dân chúng trong miền Nam vẫn mơ về những ngày cũ với "Bên
Thua Cuộc" hay ít nhất là lý tưởng của họ.
Ngay ra ngoài Bắc,
nơi cốt lõi của Bên Thắng Cuộc, không ít thanh niên bây giờ hay ngay cả
bô lão còn khen tụng thăm hỏi về những cái hay cũ của VNCH, nhất là thời
vàng son của miền Nam 1956-62 dưới nền Đệ nhất Cộng hòa. Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption
Cuốn 'Bên Thắng Cuộc' của Huy Đức đã nói đến giai
đoạn hậu chiến và tư duy của các lãnh đạo Việt Nam thế hệ đó
Ẩn số lớn nhất là thành phần 15-40 tuổi bây giờ
chiếm 40% trong dân số, không ai hiểu nhóm người trẻ đó đang thật sự
nghĩ gì và vào tuổi lãnh đạo đất nước Việt Nam trong 10-20 năm tới, họ
sẽ hành động chọn lựa ra sao?
Ngoài ra, thành phần trung lưu đang
lớn mạnh theo cấp số nhân với những quyền lợi và tài năng kinh tế đáng
kể, thêm vào kiến thức toàn cầu rộng rãi qua mạng Internet mê say đời
sống tân tiến và dân chủ của các xã hội Tây phương, liệu có chấp nhận
mãi sự kềm kẹp tư tưởng và hành động của họ?
Tương lai đất nước
Đây là hai thành phần không giáo điều sẽ quyết định tương lai của đất nước và xã hội Việt Nam trong ba, bốn thập niên tới?
Nếu
có cơ hội, nhóm này kết hợp với nhóm tinh hoa cùng tuổi ở hải ngoại sẽ
tạo dựng cột trụ phát triển cho một Việt Nam phú cường trong tương lai.
"Bên
Thua Cuộc" cũng gồm gần ba triệu người gốc Việt ở hải ngoại, đang có
mặt trên 120 quốc gia, là một khối đông nhiều tài năng và tinh hoa,
nhưng tương đối "thầm lặng" vì hoàn cảnh phải ở tản mác và đa số bận rộn
với cuộc mưu sinh hàng ngày, không có thì giờ để theo dõi ngay cả tin
tức những biến cố trong nước, đừng nói gì đến việc kết nối tổ chức thành
một lực lượng có tiếng nói để mong đối thoại với trong nước.
Ngoài
ra phải nhận thực, sự chia rẽ sâu xa của cộng đồng hải ngoại! Nhiều
thành phố lớn đông người Việt có 2-3 hội đại diện, ngay cả các tôn giáo
dễ đoàn kết cũng chia làm nhiều nhóm lãnh đạo, ngay cả vài hội cựu học
sinh của vài trường lớn cũ ở miền Nam cũng chứng kiến sự hiện diện của
vài nhóm 'ly khai' muốn tranh quyền là tiếng nói đại diện. Điệp viên Phạm Xuân Ẩn: Ông là ai? Thành công chính trị của phụ nữ Mỹ gốc Việt trong năm 2016 Hà Nội 'tăng tổ Đảng' trong doanh nghiệp tư
Tình
trạng này cho thấy một nhóm nhỏ đại diện cho khu Bolsa bên California,
Eden Center ở Virginia, hay Bellaire ở Houston Texas, khó có tư cách hay
khả năng đối thoại nếu có một ngày "bên trong nước mời về".
Những
lãnh đạo ở ngoài có tinh thần "quốc gia" dạo các năm 1975-80 ở tuổi
30-55 còn tràn đầy tài năng và lý tưởng mong ngay trở về, giờ đây sau 43
năm đã phần đông nằm xuống hay vào sống trong nhà dưỡng lão.
Nhiều
thanh niên 18-30 thuở đó tràn đầy nhiệt huyết và hiểu biết về quê hương
nay đã về hưu và muốn sống cuộc đời trầm lặng bên cạnh con cháu và vui
hưởng an nhàn.
Thế hệ trẻ 1-15 tuổi dạo đó thì bây giờ trưởng
thành và nhiều người thành công trong các xã hội mới nhưng lại không
hiểu tiếng Việt và với họ, Việt Nam cũ chỉ như tờ giấy trắng vì phần lớn
đã không biết gì về quê hương cũ của cha ông.
Những chuyến ngắn về thăm quê hương của gia đình hay
với bạn bè cho họ cảm giác của một xã hội Việt Nam tân tiến hơn với
nhiều cảnh du lịch đẹp hay các món ăn ngon.
Image caption
Năm 2016 là năm đặc biệt thành công cho các ứng
viên nữ gốc Việt trên chính trường Hoa Kỳ, những người thuộc một thế
hệ mới
Bên Thua Cuộc cũng có thể mong mỏi nơi cảm tình xưa
cũ của nhiều tầng lớp dân chúng miền Nam và tầng lớp trẻ miền Bắc bây
giờ, như nói ở trên, nhưng làm sao để các giới đó có tổ chức và tiếng
nói mạnh mẽ hơn trong bối cảnh chính trị như hiện nay, ngoài mong mỏi
theo thời gian, giới có tuổi bảo thủ sẽ chui vào sau sân khấu chính trị,
nhường chỗ cho các thế hệ trẻ hiện tại.
Và lại còn sự xung đột
khốc liệt với thế hệ các 'Thái tử Đảng' bây giờ sẽ tiếp nối ôm chặt
quyền bính và đặc quyền đặc lợi kinh tế, nhất là các tài sản nhà đất đã
lấy được thừa hưởng từ cha ông trong 40-50 năm qua?
Câu trả lời,
nếu có, đúng là Việt Nam tôi ơi, tất cả tùy vào vận nước vận nhà do hồng
phúc tiên tổ để lại, sau mấy chục năm chinh chiến hận thù làm rách nát
đất nước, và đang để lại một gia tài tụt hậu bây giờ và trong vài chục
năm nữa?
Niềm hy vọng còn lại chỉ mong ở sự kết hợp của hai thế hệ trẻ rường cột trong và ngoài nước, như đã nói ở trên.
Có ai nghĩ đến điều đó trong ngày 30/4 năm nay, ở cả hai bên thắng và thua cuộc? Bài viết thể hiện quan điểm riêng của kinh tế gia Phạm Đỗ Chí, hiện sống tại Florida, Hoa Kỳ. Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese/forum-43953032
Họa sĩ Thành Chương tự hỏi có nên vứt bỏ các huân chương, huy chương thời "chiến tranh chống Mỹ"
Một số trí thức Việt Nam có nhiều ảnh hưởng trên mạng xã hội mới đây
đưa ra những quan điểm có tính chất “xét lại” sự kiện 30/4, ngày Việt
Nam gọi là “giải phóng miền Nam” nhưng nhiều người lại coi là “ngày quốc
hận”, thu hút hàng nghìn lượt phản ứng và chia sẻ trên mạng.
Họa sĩ Thành Chương hôm 28/4 đăng một bài ngắn trên Facebook cá nhân,
cho biết, năm 1967 ông đã từ chối đi học ở Đức để nhập ngũ, “sẵn sàng
hy sinh, chiến đấu cho lý tưởng Cộng Sản cao đẹp và sự nghiệp Chống Mỹ
Cứu Nước vĩ đại!”
Đăng cùng bài là tấm ảnh cho thấy một số huân chương, huy chương mà
ông được trao, ghi nhận ông “có công” trong quân ngũ. Song họa sĩ nổi
tiếng hiện sống ở Hà Nội viết: “Xưa những tấm huân chương, huy chương
này là niềm vinh dự tự hào! Nay thấy chúng thật vớ vẩn, vô nghĩa!” Ông
cũng tự hỏi “nên giữ hay vứt chúng đi đây???”
Họ hy sinh xương máu như vậy là để
phấn đấu cho một đất nước giang sơn liền một dải, dân chủ, giàu mạnh,
văn minh, tiến kịp các nước. Nhưng cung cách quản lý, điều hành đất nước
của nhà cầm quyền hiện nay khiến họ buồn quá.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện
Trong một đoạn khác, ông Chương nói 43 năm qua, cứ đến ngày 30/4,
“luôn có một đám” mà ông mô tả rằng không chỉ “ăn mày dĩ vãng, giờ chúng
Ăn Cướp cả qúa khứ và dĩ vãng để mưu cầu danh lợi!”
Họa sĩ không nói cụ thể những người ông gọi là “một đám” đó là ai.
Ông kêu gọi “Xin gác cái quá khứ hào hùng ấy lại! Sống cho hiện tại và
hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn!”
Bài viết 171 từ của ông đã nhận được ít nhất 5000 phản ứng ủng hộ lẫn chia sẻ trên mạng.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, một blogger có nhiều ảnh hưởng qua các bài
viết phản biện về chính quyền, nói với VOA rằng ông thấy “bàng hoàng” về
những ý kiến “gay gắt” của họa sĩ 69 tuổi, vốn từng có thời gian dài
làm báo và suốt đời không “va chạm gì với chính trị”.
Ông Diện cho rằng quan điểm mới thể hiện của ông Chương cho thấy
trong lòng cá nhân họa sĩ, và rộng hơn là nhiều trí thức Việt Nam, họ
“nuối tiếc” những hy sinh ở tuổi thanh xuân để rồi nhận lại là một đất
nước sau nhiều thập kỷ còn kém phát triển, cùng với tham nhũng tràn lan.
Ông Diện nói với VOA:
“Họ hy sinh xương máu như vậy là để phấn đấu cho một đất nước giang
sơn liền một dải, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, tiến kịp các nước. Nhưng
cung cách quản lý, điều hành đất nước của nhà cầm quyền hiện nay khiến
họ buồn quá. Phản ứng đó là không phải là với quá khứ của cuộc chiến, mà
đấy là sự phản ứng của người trí thức từng tham gia cuộc chiến đối với
cách điều hành và lãnh đạo đất nước của nhà cầm quyền hiện tại”.
Thành phố Hồ Chí Minh đã phát triển hơn nhiều sau 43 năm song vẫn thấp hơn kỳ vọng của nhiều người
Các con số thống kê chính thức của Việt Nam và các tổ chức quốc tế
cho hay GDP đầu người của Việt Nam năm 2017 ở mức 2.385 đôla. Trong khối
ASEAN, con số này thua Lào, chỉ hơn Campuchia và Myanmar.
Nếu so sánh với GDP đầu người của Hàn Quốc, con số của Việt Nam chỉ bằng 8% của mức 29.780 đôla mà người Hàn đạt được năm 2017.
Bác sĩ Võ Xuân Sơn, người hay bình luận về đời sống chính trị, xã hội
Việt Nam trên mạng xã hội, đã bàn về “cái giá của sự thống nhất” trong
bài viết đăng hôm 27/4 trên trang Facebook cá nhân có hơn 50.000 người
theo dõi.
Ông viết rằng thời nhỏ khi ông hỏi người lớn rằng tại sao Đức và
Triều Tiên không có “chiến tranh giải phóng dân tộc”, ông thường nhận
được câu trả lời là “chúng ta yêu nước hơn họ”.
Cuộc chiến mà những người cộng sản Việt Nam gọi là “chống Mỹ cứu
nước” kết thúc năm 1975, với chiến thắng lại cho người cộng sản toàn
quyền cai trị nước Việt Nam thống nhất.
Giờ đây, ở độ tuổi trung niên, bác sĩ Sơn ở thành phố Hồ Chí Minh tóm
tắt lại thực trạng đất nước: “Đạo đức xã hội băng hoại, đất nước bị
chia rẽ sâu sắc, xã hội ngày càng mất ổn định, những kẻ trong bộ máy cầm
quyền càng ngày càng tham lam, độc ác, người dân càng ngày càng cảm
thấy bế tắc, hoang mang”.
Ông cũng nhắc đến một thực tế là hàng triệu người đã bỏ đất nước ra
đi “vì kinh tế, vì bức bách, vì chán chường, vì mong muốn một tương lai
cho con, cháu...”
Theo báo chí trong nước, chỉ riêng năm 2017, có gần 135.000 người
“lao động xuất khẩu” Việt Nam được đưa ra nước ngoài, nâng tổng số người
đi làm việc theo hình thức này lên đến khoảng 500.000.
Con số chính thức đó không bao gồm hàng vạn người khác đi làm việc “chui” ở nhiều nước.
Trong khi đó, ở trong nước, giới chuyên gia kinh tế dẫn các số liệu
khẳng định khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) đang thể hiện
vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Họ đóng góp đến 1/5 GDP,
3/4 cho xuất khẩu và 1/4 vốn đầu tư toàn xã hội. Trong số các doanh
nghiệp FDI có nhiều hãng của Hàn Quốc và Đức thuê hàng trăm ngàn người
lao động Việt Nam.
Đề cập đến hơn 3,3 triệu người Việt Nam thiệt mạng trong chiến tranh,
bác sĩ Võ Xuân Sơn nêu ra kết luận: “Cái giá mà chúng ta phải trả cho
thống nhất đất nước thật sự là quá đắt. Đấy là chưa kể, chúng ta đang
trở thành những kẻ làm thuê rẻ mạt, đang bị chính những kẻ ‘không yêu
nước bằng chúng ta’ sai khiến, bóc lột”.
Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang không nhắc đến hòa hợp, hòa giải trong bài viết hôm 27/4/2-18 về sự kiện 30/4/1975
Bên cạnh những cái nhìn bày tỏ thất vọng, đã xuất hiện ý kiến kêu gọi nhà nước và xã hội kỷ niệm ngày 30/4 theo hình thức khác.
Luật sư Nguyễn Danh Huế đề xuất qua Facebook cá nhân rằng nên lấy tên
gọi chính thức là “ngày thống nhất” và cũng là “ngày đại đoàn kết toàn
dân”.
Theo ông, thay vào “tổ chức kỷ niệm tưng bừng chiến thắng” sẽ là các
lễ tưởng niệm những nạn nhân của chiến tranh trên khắp đất nước, thắp
hương tưởng nhớ những người lính “tại các nghĩa trang cả 2 phía”.
... người cộng sản khi họ đã nghĩ
điều gì thì họ không bao giờ thay đổi. Và nó như một cái đinh đã đóng
chết vào một bức tường. Không bao giờ họ thay đổi ... Và chúng tôi cũng
không thấy dấu hiệu nào về việc hòa hợp hòa giải
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện
Ông cũng gợi ý nên thăm hỏi, chăm sóc các thương binh và những người
chịu mất mát do chiến tranh “bất kể họ ở phía nào của cuộc chiến”. Việc
tìm kiếm và quy tập hài cốt những người lính mất tích cũng cần được tiến
hành “không phân biệt họ thuộc phía nào”.
Luật sư cho rằng những việc nêu trên “nếu không làm ngay thì sẽ muộn”.
Nhưng dưới con mắt tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, đề xuất của ông Huế - dù
được chia sẻ nhiều trên mạng xã hội - dường như vẫn chỉ là những lý
tưởng đẹp khó trở thành hiện thực, dù nó nói lên khát vọng của đông đảo
những người ở cả hai phía.
Ông Diện đưa ra lý do:
“Khó lắm. Bởi vì là người cộng sản khi họ đã nghĩ điều gì thì họ
không bao giờ thay đổi. Và nó như một cái đinh đã đóng chết vào một bức
tường. Không bao giờ họ thay đổi. Cái đó rất khó. Và chúng tôi cũng
không thấy dấu hiệu nào về việc hòa hợp hòa giải”.
Hôm 27/4, báo chí Việt Nam đăng một bài viết dài của chủ tịch nước
Trần Đại Quang về “kỷ niệm 43 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước”.
Bài viết dài hàng nghìn từ, như thường lệ, dành phần lớn để ca ngợi
thắng lợi do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Toàn bài chỉ có một câu ngắn nói về
“xây dựng con người Việt Nam yêu nước, đoàn kết, có năng lực sáng tạo,
trung thực, trách nhiệm và nhân ái”, trong khi không có bất cứ từ “hòa
hợp” hay “hòa giải” nào. Phản hồi:
Ngày
30/4 là ngày " Hà Nội được giải phóng " ( miền Nam có sống khổ đâu mà
phải " giải phóng" chỉ vì dân miền Nam thuộc loại " đứng núi nầy trông
núi nọ" . Đến nổi khi tiến vào Sài Gòn du kích miền Nam còn cho rằng như
vào chổ không người , bộ đội trên xe tank có thể " nấu mì gói ". Chính
vì thế mà miền Nam khi đánh chiếm ít có sự đổ máu ! .Từ một " nơi" chưa
hề biết " bồn vệ sinh" được sử dụng ra sao ( bộ đội dùng để nuôi cá ) ,
chưa hề biết lò xo bình nước nóng để làm gì ( họ dùng để nấu nước trực
tiếp ) chưa biết dùng khăn để chùi miệng ( cán bộ , bộ đội dùng đủa để
chùi miệng) , còn chưa biết đồng hồ có
bao nhiêu cửa sổ ? cũng chưa hề ly nước đá tại sao có bọt chung quanh
miệng cứ cho là ly bị vở ? và trong ba lô lúc nào cũng chứa " mì chính (
bọt ngọt) là gia vị thức ăn "chủ lực"....v.v. còn nhiều thứ " ngơ ngẩn"
tưởng chừng như từ một " hành tinh" nào đó tới Sài Gòn ...Sau 43 năm đã
tự " sướng" cho rằng HN là " trung tăm văn hóa, trí tuệ của cã nước " (
chỉ thấy toàn mua bằng , nhờ cấp dưới học " hộ" lấy bằng , mua quan bán
chức ) . Hà Nội có "trai thanh gái tú " . Xài hàng hiệu là chứng ming
đẵng cắp" ra nước ngoài đi đến đâu là trộm cắp " hàng hiệu ) đến đó (
bên Nhật ) ! Trước thời 1975 cũng chính vì chế độ VNCH quan cấp cao nào
cũng " tham nhũng" , dân thì than oán. Đồng minh Mỹ thì phải " bỏ chạy
lấy người" ! Nhìn dòng lịch sử thì tình trạng bây giờ " tham thũng ,
tham ô, tham vặt" có thể nói từ một " nhân viên quèn" cho tới lảnh đạo
cấp TW...tiền kiếm vào thì chỉ có một đồng còn mất thì cã tỷ đồng ...cán
bộ thì mạnh ai cứ " vơ vét" đến nổi ngân sách không còn tiền , nợ nần
chồng chất các ngân hàng thế giới ...bây giờ Nhà nước còn " sống" là nhờ
vào các DN FDI ( đầu tư nước ngoài ) , tiền kiều hối kiều bào hải
ngoại, công dân trong nước đi lao động...v.v nếu như một ngày nào đó
không còn DN FDI đầu tư ở VN họ rút về hết, kiều hối không còn ( thế hệ
sau thì chắc chắn là không gửi VN nữa rồi ..). Nhìn thấy cã một hệ thống
chính trị " lôi đâu là thấy tham nhũng tới đó! " Không lẽ đồng bào
trong nước phải trở về thời kỳ cách đây 43 năm là " ăn bo bo " độn gạo
lại hay sao ? chuyện gì cũng có thể xảy ra ! Tôi xin
trích và tóm lược lại lời của một " cụ bà " Biệt động Sài Gòn -Gia Định "
tại bến Cát Bình Dương . Cụ còn nói rằng : cục muối thì HN chia đôi-
còn cục đường thì họ muốn cướp hết !
Người Việt tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ, tưởng niệm Ngày Quốc Hận hôm 30/4/2018.
Photo courtesy of facebook Luan Dang
Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chính sách về hòa hợp và hòa giải dân tộc trong suốt 43 năm qua.
Đó là lời ông Lương Thanh Nghị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về
người Việt Nam ở nước ngoài, được báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh
dẫn lời, trong số ra ngày 30/4/2018, tròn 43 năm ngày chiến tranh Việt
Nam kết thúc.
Ông Lương Thanh Nghị liệt kê những hoạt động mà Nhà nước Việt Nam tổ
chức hướng tới cộng đồng người Việt tại hải ngoại, như là tổ chức hội
nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới, tổ chức trại hè tại Việt
Nam cho thế hệ trẻ người Việt ở hải ngoại, tổ chức đưa người Việt sống
tại nước ngoài thăm quân đảo Trường Sa nơi đang có tranh chấp căng thẳng
với Trung Quốc.
Theo ông Lương Thanh Nghị, nhiều kiều bào có định kiến với nhà nước
Việt Nam đã thay đổi nhận thức và chính kiến sau khi tham gia những
chương trình như vậy.
Tuy nhiên ông Lương Thanh Nghị cũng nói rằng dù có những cố gắng hòa
hợp hòa giải nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Ông không nói rõ
thêm là những điều chưa đạt được là gì.
Sau khi quân đội cộng sản tiến vào Sài Gòn, thống nhất nước Việt Nam,
hơn hai triệu người tại Miền Nam Việt Nam đã bỏ nước ra đi, đa số đi
bằng đường biển. Họ đã đến định cư tại nhiều quốc gia phương Tây, quan
trọng nhất là các cộng đồng tại Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada.
Hàng năm cứ đến ngày 30/4 thì những cộng đồng này lại tổ chức lễ
tưởng niệm ngày được gọi là tháng tư đen, và tổ chức những cuộc biểu
tình phản đối trước các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại
những quốc gia mà họ đang sống.
https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/vietnam-reconciliation-diasporas-04302018093602.html
Bìa cuốn hồi kỳ Vượt Tù Vượt Biển của Huỳnh Công Ánh.
RFA photo
‘Vượt Tù, Vượt Biển' cùng Huỳnh Công Ánh
00:00/00:00
Cuốn hồi ký “Vượt tù Vượt biển” của tác giả Huỳnh Công Ánh được giới thiệu đến với mọi người sau 42 năm kể từ tháng 4 năm 1975.
Trong đó, những sự kiện, hình ảnh của miền Nam kể từ buổi sáng 30
tháng 4-75, cuộc sống của người lính Việt Nam Cộng hoà trong trại cải
tạo, hay những chuyến vượt biển kinh hoàng được tác giả kể lại trong
cuốn hồi ký với vai trò là một nhân chứng lịch sử. Nhân vật Tôi
Nhân vật “tôi” xuyên suốt trong 21 chương của “Vượt tù, vượt biển” là
Đại uý Sư đoàn 22 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hoà, người tù vượt
ngục trại Long Giao, người lái tàu vượt biển hai lần, chủ tịch Hội Cựu
Quân nhân tại đảo Pulau Bidong năm 1981; người sáng lập Phong trào Hưng
ca Việt Nam: nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh.
Tất cả những vai trò từng tồn tại trong 70 năm cuộc đời được ông gói
ghém trong 21 chương của “Vượt tù, vượt biển”, cuốn hồi ký ông ấp ủ 38
năm. Khi thực hiện được, thì đã bước sang năm thứ 42 kể từ buổi sáng 30
tháng 4 năm 1975. “Cho tới bây giờ, những hình ảnh suốt từ năm 75 ra tới miền Bắc,
rồi trốn tù, nó nằm mãi trong đầu. Mặc dù tuổi đã lớn nhưng những hình
ảnh không bao giờ quên. Vì tuổi lớn, có những sự kiện có thể mất đi
nhưng không có gì thêm bớt. Và những nhân vật vẫn còn nằm yên đó..”
Thật sự là như thế. Sài Gòn buổi sáng 30 tháng 4 năm 75 hiển hiện ra
dưới ngòi bút của ông với đầy đủ âm thanh, sắc thái, mùi vị. Ông gọi
những chương đó là “Tan hàng, Bỏ súng”. Tan hàng; Bỏ súng “30.4. Hình như suốt đêm qua Sài Gòn chập chờn không ai tròn giấc
ngủ. Tôi không thể nằm yên ở nhà chịu trận mà không biết những gì đang
xảy ra bên ngoài đường phố. Tôi rời nhà với đôi mắt cay xè. Sài Gòn vẫn
nắng chói chang… Sáng sớm hôm nay một chiếc trực thăng HU.1D bên kia đường, đỗ trên
nóc nhà đón thân nhân, đã vướng dây điện, nằm chúi đầu như sắp rơi
xuống đất. Ngoài đường cả một cảnh tượng hỗn loạn đang xảy ra, xe cộ
xuôi ngược, và chưa lúc nào đường phố thấy người đi bộ nhiều như sáng
nay, nhiều người chạy trên đường với thái độ hốt hoảng…”
Cho tới bây giờ, những hình ảnh suốt từ năm 75 ra tới miền Bắc, rồi trốn tù, nó nằm mãi trong đầu. - Huỳnh Công Ánh
“Cảm giác trưa ngày 30 tháng 4 là cảm giác không biết mình sẽ đi về
đâu sau cái ngày Việt Cộng chiếm miền Nam, sau ngày buông súng. Lúc đó
cứ nghĩ là bây giờ họ thắng rồi, họ lấy hết đất nước rồi, cảm giác như
đờ đẫn, không biết đứng ở đâu, không biết làm gì. Cho tới khi có thông
cáo đi tù cải tạo 10 ngày thì cũng vui mừng, giỡn đùa…ôi 10 ngày nhằm
nhò gì, 3 tháng cũng nhằm nhò gì. Ở tù 10 ngày, 3 tháng hay 1 năm rồi ra
có cơ hội đi làm ăn hoặc đi học lại, vì tôi tổng động viên năm 68, hai
mươi mấy tuổi thôi, tôi cũng ước mơ đi học lại.”
Qua những tình tiết tác giả kể lại trong “Bỏ súng”, người đọc sẽ thấy
và hiểu những lớp xi măng đầu tiên xây dựng nên một thành trì xã hội
chủ nghĩa ngày nay. “…Thời gian của tháng 5-75 là thời gian của xôn xao họp hành,
thành lập khu phố, kê khai giấy tờ và học tập cái gọi là “chính sách của
cách mạng”. Chị giúp việc nhà hàng xóm kế cận căn nhà tôi ở, nghe đâu
cũng là Việt Cộng nằm vùng, bây giờ là Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân phường.” Về Long Giao
Những tháng ngày sau đó của Huỳnh Công Ánh và đồng đội của ông được
lột tả thật đến từng tiếng thở, tiếng ngáy, tiếng máy xe nổ ầm ì trong
đêm khuya. Cách ông tường thuật đoạn đường về Long Giao mà bần bật lên
đó là niềm tin, niềm hy vọng, rồi tiếp nối là sự hoang mang, để rồi cuối
cùng là thất vọng. “Giờ này trong bóng tối, chen chúc trong chiếc xe, tôi mới thấy ân
hận. Vợ con tôi chắc đã ngủ rồi mà không biết cảnh chồng và cha đang
ngồi trên chiếc xe bít bùng này và đi về đâu? Hoàn cảnh này không thể có
chuyện đi “học tập 10 ngày” được rồi. Cũng có thể chúng chở ra biển,
rồi nhận chìm tàu, hay đem lên núi xử bắn rồi lấp xuống hố.”
7 năm trong trại tù Long Giao trong hồi ký của Huỳnh Công Ánh không
thiếu những câu chuyện bi hài. Những mẫu chuyện ngắn, được kể lại gọn
gàng qua những lời đối thoại không văn vẻ, nhưng rất “trịnh trọng” bởi
cách xưng hô “thưa gửi các bộ”, đủ để người đọc phải vỡ oà cái cảm xúc
vừa buồn cười, vừa cay đắng.
Một bức ảnh chụp ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho thấy lính Việt Nam Cộng Hòa bị hộ tống bởi bộ đội Bắc Việt.AFP photo
“…Những tuần lễ đầu ở Long Giao, khi đi ngang qua các vọng gác của
các bộ đội, thấy nhiều viên đá cục chất đống dưới chân vọng gác. Sau
mới biết, bộ đội sau khi đi đại tiện, họ dùng đá để lau chùi. Bộ đội mà
thế thì huống gì là tù, lấy giấy ở đâu? chỉ dùng lá, cục đá hoặc chà
dưới cỏ. Man rợ như thế đấy. Cũng có những câu chuyện nực cười khác Khi mới vào Long Giao, có anh tên là Lê Thông, mang kính cận dày
cộm. Một hôm đi ngược chiều với bộ đội, tên bộ đội gọi giật lại:
- Anh kia, ai cho phép anh đeo kiếng?
- Báo cáo cán bộ, tôi bị cận thị. Anh Thông trả lời
- Cận thị là cái gì? Lấy xuống, lấy xuống mau!
- Báo cáo cán bộ lấy kiếng xuống thì tôi quờ quạng lắm, làm sao thấy đường đi?
- Tôi không đùa với anh đâu nhé. Lấy xuống mau!” Vượt tù, vượt biển
Từ những chương này trở về sau, là những mốc thời gian tác giả gọi là
tàn khốc nhất. Chính vì vậy mà trong suốt 38 năm, dù trải qua nhiều
thăng trầm của cuộc đời, ông vẫn không quên một chi tiết nào. Từ cuộc
vượt ngục lịch sử thoát khỏi những ngày học tập cải tạo trong trang phục
của bộ đội Bắc Việt cho đến hai lần lái tàu vượt biển. “Khi ở tù, phải có 1 thời gian suy nghĩ rất là lâu, bao nhiêu năm
liền về ý định trốn tù. Vượt biển thì khốc liệt lắm, trong vòng có mấy
ngày thôi. Tôi đã từng bị mảnh đạn bị thương, rồi bỗng nhiên trở thành
người chỉ huy cứu 29 người trên tàu sống sót trong 17 ngày trôi trên
biển. Chính mình cũng bị hải tặc Thái Lan khoét lưỡi lê trong hậu môn
chảy máu đi không được, bị kẹp tay tra khảo. Nó khốc liệt sợ hãi hơn
đường trốn tù. Cái hãi hùng của chuyến vượt biên thứ hai nếu xảy ra
giống như chuyến thứ nhất thì liệu vợ, con và cháu và em của mình sẽ ra
sao? vì mình mà họ chết. Nếu mình chết 1 mình không sao. Nhưng liên luỵ
đến con nhỏ, cháu mình thì cảm giác nó sợ sệt, không ăn không ngủ được
nhiều hơn là trong tù.
Cho đến giờ này, thỉnh thoảng, cái gọi là
hãi hùng nó vẫn còn. Có nhiều đêm ngủ phải đá lung tung, hoặc nhiều đêm
ngủ giật mình ôm mền ôm gối chạy. - Huỳnh Công Ánh
Vượt biên là mình phải làm sao cho tàu đi không chìm dưới biển,
làm sao để tránh hải tặc vô cướp, hiếp dâm…Khi đi rồi không biết sẽ đi
về đâu? Tấp vô bến nào hay được tàu vớt hay bị chìm tàu?”
Những ký ức tưởng như sẽ dần nguôi ngoai, nhưng không phải thế. Ông
nhớ lại cuộc đời của một người tỵ nạn đến Mỹ ba mươi mấy năm, và thấy
rằng nó cay đắng thâm trầm nghiệt ngã hơn thời gian 7 năm học tập cải
tạo rất nhiều. “Cho đến giờ này, thỉnh thoảng, cái gọi là hãi hùng nó vẫn còn. Có
nhiều đêm ngủ phải đá lung tung, hoặc nhiều đêm ngủ giật mình ôm mền ôm
gối chạy. Nhiều khi trong giấc chiêm bao mình thấy họ bắt mình, kéo
mình, mình vẫy vùng, đá vào người vợ nằm kế mình. Nhiều lần như thế,
nghĩa là nó ám ảnh mình suốt đời. Thành ra cái chuyện ám ảnh, lo âu, dĩ vãng trong tù là nhớ vanh
vách, chỉ có đọc ra, ghi ra, chứ không thêm thắt, hư cấu, văn chương gì
cả.” Nhân chứng lịch sử
Khó mà tìm được một mỹ từ hay một chi tiết bắt người đọc phải suy
nghĩ trong hồi ký của Huỳnh Công Ánh. Thay vào đó, từng câu từng chữ
hiện ra gãy gọn, thật thà, có cả cái tiếng chửi thề không lẫn vào đâu
được của người miền Nam, đưa người đọc của nhiều thế hệ quay về sống với
từng giây phút của năm tháng đó, chứng kiến những câu chuyện đó.
Ông nói rằng để thoát được những chuyến đi ấy, ông đã chịu ơn tình
của nhiều người. Những ân tình đó là nguyên nhân đến 38 năm sau cuốn hồi
ký mới ra đời. Niềm vui của ông được diễn tả bởi hai chữ “bàng hoàng”
vì ông cho rằng ông đã thực hiện được sứ mệnh của cuộc đời mình.
Ước mơ và khát vọng lớn nhất là tôi làm
tròn vai trò người chứng nhân của lịch sử, khúc quanh lịch sử cay nghiệt
nhất mình là chứng nhân. - Huỳnh Công Ánh
“Ước mơ và khát vọng lớn nhất là tôi làm tròn vai trò người chứng
nhân của lịch sử, khúc quanh lịch sử cay nghiệt nhất mình là chứng nhân.
Và mình đứng cửa giữa, tức là lòng mình đã chùng xuống rồi. Ba mươi mấy
năm tôi mới viết, thì sự hận thù ra ngòi bút, ra trong tư tưởng không
còn nữa. Nó đã bình tâm rồi. Mình muốn mình là người Việt Nam yêu nước,
mình muốn mình là nhân chứng thật sự giữa hai chế độ miền Bắc và miền
Nam. Và nhân chứng đó chỉ đưa ra hình ảnh thôi, không phê phán, không
chửi rủa, không đả đảo, không hận thù.”
Điều ông mong muốn, với vai trò là một nhân chứng kể lại một khúc
quanh của lịch sử, người đọc, và thế hệ sau sẽ tự biết cái nào đúng, cái
nào sai, cái nào cần thiết cho giống nòi Việt Nam.
Khi chương cuối cùng của hồi ký “Vượt tù, vượt biển” khép lại, người
đọc vẫn còn thấy đâu đó buổi sáng hỗn loạn của ngày 30 tháng 4 lịch sử.
Với nhiều người khác, biến cố ấy không chỉ dẫn đến một cuộc vượt tù cải
tạo và hai chuyến vượt biển của Huỳnh Công Ánh, mà còn dẫn đến một câu
chuyện dài chưa có hồi kết của đất nước, dù đã bước sang năm thứ 42.
Sám hối tội ác chiến tranh, người cộng sản không làm được?
Kính Hòa, phóng viên RFA 2017-04-27
Bức tường khắc tên những chiến binh Mỹ tử trận ở Việt Nam, tại Washington, DC. Ảnh chụp ngày 11/11/2016.
AFP photo
Sám hối tội ác chiến tranh, người cộng sản không làm được?
00:00/00:00
Kỷ niệm 42 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, ngày 26 tháng tư
tại đảo Jeju, Hàn Quốc, một bức tượng người mẹ ôm con mang tên Lời ru
cuối cùng được khánh thành.
Theo báo chí Việt Nam thì bức tượng này hình thành trong trào lưu các
cựu chiến binh Hàn Quốc nhìn nhận những hành động tội ác mà họ đã gây
ra trong cuộc chiến Việt Nam.
Các cựu chiến binh Mỹ cũng có những hành động tương tự bấy lâu nay.
Ở phía ngược lại, không có những hành động tương tự từ phía lực lượng của đảng cộng sản. Tại sao?
Bắt đầu câu chuyện với chúng tôi, nhà báo Võ Văn Tạo hiện sống ở Nha Trang nói về chiến tranh:
“Chiến tranh nào cũng tội lỗi hết, chả có cuộc chiến tranh nào
tránh được những sai lầm, cũng như chuyện gây ra tội ác, dù mục đích này
hay mục đích khác, thì nó cũng đều gây tai nạn cho người dân, thương
vong cho người dân. Đó là điều khó tránh trong những cuộc chiến tranh
lớn.”
Ông Võ Văn Tạo từng tham gia chiến tranh Việt Nam trong hàng ngũ bộ
đội cộng sản, từng tham dự chiến dịch khốc liệt 1972 tại chiến trường
Quảng Trị.
Ông Hoàng Ngọc Diêu, hiện sống ở Úc, ra đi từ Việt Nam sau năm 1975,
nhận định về hành động sám hối của các cựu chiến binh Hàn Quốc: “Cúi đầu chấp nhận những việc mình đã làm sai trong quá khứ, là
một hành động can đảm. Họ nhận được cái đúng và cái sai, chấp nhận, công
khai với mọi người rằng họ đã làm một hành động sai. Theo tôi đó là một
hành động rất nhân bản, bởi thật sự trong quá khứ họ đã làm những việc
sai. Họ không dùng lý do chiến tranh để biện hộ cho họ.”
Lực lượng Hàn Quốc, hay còn gọi là Nam Hàn, tham gia chiến tranh bên
cạnh lực lượng miền Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ, có hai sư đoàn đóng
quân dọc theo các tỉnh miền Trung từ Quãng Ngãi cho đến Nha Trang. Ông
Võ Văn Tạo là người quê ở vùng này nói rằng trong nhiều trận càn quét
binh lính Nam Hàn đã giết chết nhiều dân thường.
Đó là một hành động che đậy thiếu can đảm, thiếu minh bạch của một nhà cầm quyền luôn tự xưng là đúng đắn và chính nghĩa. - Ông Hoàng Ngọc Diêu
Những hoạt động tưởng nhớ chiến tranh với cảm giác tội lỗi cũng xảy
ra đối với quân đội Hoa Kỳ, khi một số cựu chiến binh trở về làng Sơn Mỹ
tưởng nhớ trận thảm sát dân thường ở đây. Hay gần đây nhất người ta nói
đến lời thú nhận phạm tội của ông Bob Kerrey, cựu dân biểu Hoa Kỳ đã
từng chỉ huy một trận càn ở tỉnh Bến Tre làm chết nhiều dân thường.
Về phía bộ đội cộng sản, người ta hay nói đến biến cố Mậu Thân 1968,
khi mà hàng ngàn người dân thường bị bắn chết và vùi chôn tập thể ở
thành phố Huế.
Tuy nhiên cho đến nay không có một lời thú nhận nào về hành động đó
từ phía đảng cộng sản Việt Nam, mặc dù theo ông Hoàng Ngọc Diêu, ngày
càng có nhiều chứng cứ, hình ảnh và tư liệu chứng minh rằng có cuộc thảm
sát Mậu Thân Huế 1968. “Đó là một hành động che đậy thiếu can đảm, thiếu minh bạch của
một nhà cầm quyền luôn tự xưng là đúng đắn và chính nghĩa. Có lẽ là với
lý do bảo vệ cái họ cho là chính nghĩa nên họ không dám minh bạch những
chuyện đó.”
Ông Võ Văn Tạo đưa ra một sự phân tích về thái độ khác nhau đối với quá khứ phạm tội ác chiến tranh như vậy từ hai phía:
“Tôi nghĩ rằng ở những nước có tự do ngôn luận thì lương tâm con
người ta được trình bày một cách đầy đủ. Còn ở Việt Nam thì nó khác,
những quyền ăn quyền nói, tự do, lương tâm,… đều bị bóp nghẹt hết. Tự do
chính trị, tự do tư tưởng cũng thế. Nhà nước cộng sản Việt Nam luôn
thực thi chính sách tuyên truyền một chiều, tô hồng tất cả những gì đảng
cộng sản Việt Nam thực hiện hoặc chủ xướng, và bôi đen cái mà họ không
thích. Điều đó dẫn đến chuyện hầu hết bộ đội của Việt Nam, sau cuộc
chiến, không bao giờ tự vấn lương tâm rằng mình đã làm gì trong chiến
tranh mà gây tội ác.”
Tuy nhiên ông Tạo nói rằng không phải người bộ đội cộng sản nào cũng
hoàn toàn không tự vấn lương tâm như vậy. Ông kể lại câu chuyện người
bạn của ông là ông Trần Đức Thạch đã nhận nhiệm vụ che giấu cuộc thảm
sát dân thường tại chiến trường Xuân Lộc vào năm 1975. Lúc đó, sau khi
bị một tổn thất nặng nề bị mất 250 tay súng, cộng với sự tuyên truyền
của các chính trị viên rằng vùng Xuân Lộc là nơi sinh sống của những
người gốc Bắc di cư, chống cộng quyết liệt, đơn vị của ông Thạch gây ra
một cuộc thảm sát dân thường để trả thù. Ông Trần Đức Thạch bị ám ảnh và
trở về chiến trường xưa thắp hương hối hận.
Tuy nhiên ông Võ Văn Tạo nói rằng trường hợp như ông Thạch là một trường hợp riêng lẻ rất hiếm hoi.
https://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/42years-april30/the-penitent-of-war-why-communists-cannot-do-that-kh-04272017080451.html
TT Trump xuất hiện trong buổi RỪNG CỜ VÀNG biểu tình ỦNG HỘ đưa Việt Nam trở lại CPC
https://youtu.be/PDt1QS8bMeo
Bất ngờ Donald Trump và phu nhân đồng hành cùng Hậu Duệ VNCH tham gia lễ tưởng niệm 30/04 https://youtu.be/KfhSSgIx6iI
Paris biểu tình Tưởng niệm 43 năm ngày Quốc Hận 30 4 1975
Paris tuy đã vào Xuân, nhưng hôm nay chủ nhật 29-4-2018 thời tiết đột nhiên trở lạnh và mưa như là ông Trời cũng khóc thương cho đồng hương người Việt tỵ nạn csvn trên đất khách Paris Pháp quốc nhân 43 năm ngày Quốc hận 30-4-1975 /30-4-2018, 10 giờ sáng chủ nhật thời tiết lạnh và dự báo có mưa , đồng hương người Việt tỵ nạn csvn đã tề tựu tại địa điểm trước hang ổ Việt cộng tại Paris ( Sứ quán Việt cộng cũ tại Paris) Buổi biểu tình tưởng niệm 43 năm Ngày Quốc Hận do Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gai Tự do tại Pháp tổ chức. Sau nghi thức chào Quốc kỳ VNCN cờ vàng ba sọc đỏ và phút mặc niệm. Bác sĩ Phan Khắc Tường chủ tịch CĐNVQGTD/P ngỏ lời chào mừng quan khách và Đồng hương tham dự , Ông đã đọc lời lên án cộng sản Ác với Dân Hèn với giặc và vi phạm nhân quyền bắt tù người yêu nước lên án csvn bán nước cho tàu cộng bằng tiếng Pháp cho người bản xứ hiểu tại sao có buổi tình hôm nay. Sau đó Ông Nguyễn hữu Xương Tổng thư ký đọc bài tố cáo tội ác cộng sản , Xen kẽ là những khẩu hiệu được hô vang dội tới trong hang ổ csvn cùng với những bài ca đấu tranh được cất vang của toàn thể đồng hương người Việt tỵ nạn cs tại Pháp , Buổi biểu tình chấm dứt lúc 12 giờ qua các khẩu hiệu như đả đảo csvn hèn với giặc Ác với dân, đả đảo việt cộng thay sai cho tàu cộng, Nhân Quyền cho Việt Nam, bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Được biết CĐNVQG TD/P đã tổ chức Chiều Tưởng Niệm 30-4 Quốc Hận với những ca nhạc đấu trang chiều 28-4-2018 tại phòng hội Nhà thờ quận 13 Avenue de Choisy.
https://youtu.be/8cawu4dnFQ0
PHÓNG SỰ CỘNG ĐỒNG: Viếng thăm cựu chiến binh Hoa Kỳ của Miss Golden World
Với mục đích đẩy mạnh văn hoá, chia sẻ yêu thương và mong muốn được mang
đến những niềm vui nho nhỏ cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ trong tuần lễ
30 tháng 4 đen năm nay, cô Lâm Hoàng My, giám đốc công ty Miss Golden
World, là 1 trong những công ty lớn trong lĩnh vực giải trí đã thành
công trong cuộc thi hoa hậu thế giới 2017 tại trung tâm Mass Muatual,
cùng với các hoa hậu Mai Vân Hứa, Gillian Hinkson và Olga Konstanzia đã
có cuộc viếng thăm, gặp gở và trò chuyện để tỏ lòng biết ơn sâu sắc của
mình đến với các cựu quân nhân Hoa Kỳ trong ngày tưởng niệm 30 tháng 4
năm nay tại viện dưỡng lão dành cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ thuộc
thành phố Holyoke tiểu bang Massachusetts.
https://youtu.be/GHu0lDOJxs4
Ngày Quốc Hận người dân Việt Nam ĐỐT Cờ Đỏ và VINH DANH Cờ Vàng 3 sọc của VNCH
https://youtu.be/lIYl9_7IeSM
Vì sao tứ trụ Việt Nam đều trốn biệt tăm mỗi khi ngày QUỐC HẬN đến Cờ Vàng 3 Sọc tung bay?
TIN VUI: Mỹ chính thức ra nghị quyết về ngày Quốc Hận và lệnh trừng phạt mới cho CSVN
https://youtu.be/ZVrVaNybA8I
Nguyễn Phú Trọng bất ngờ công bố sự thật về ngày 30/04 khiến người dân VN vui mừng
https://youtu.be/qyX44iIVwyA
Những ngày cuối cùng của VNCH
Nam Nguyên, RFA 2015-04-20
Ảnh minh họa ngày 30 tháng tư năm 1975
Files photos
Những ngày cuối cùng của VNCH
00:00/00:00
Bốn mươi năm trước, vào ngày 30/4/1975, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo
dài 2 thập niên đã kết thúc. Cuộc chiến quốc-cộng đã làm 2 triệu người
Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc bỏ mạng cùng sự hy sinh của hơn 58 ngàn
người thuộc lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh.
Nam Việt Nam lúc đó đã kết thúc sứ mệnh “tiền đồn của thế giới tự do”
một cách nhanh chóng và cay đắng. Những ngày cuối cùng của VNCH đã diễn
ra như thế nào?
Vỡ trận
Tháng 3/1975 trước thực tế tiềm lực quân sự suy yếu, đạn dược chỉ còn
đủ dùng trong 30 ngày, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định tái
phối trí lực lượng. Tuy vậy quyết định triệt thoái khỏi cao nguyên Trung
phần tức Quân khu II và cách thức mà các tư lệnh chiến trường thực hiện
nó là một sai lầm lịch sử. Sự hỗn loạn dẫn tới việc mất luôn cả khu vực
Quân khu I ở phía Bắc Việt Nam Cộng Hòa, Huế rồi Đà Nẵng thất thủ và sự
sụp đổ dây chuyền kéo dài tới quê hương của Tổng thống Thiệu là Phan
Rang.
Trước áp lực từ nhiều phía, ngày 21/4/1975 Tổng thống VNCH Nguyễn Văn
Thiệu quyết định từ chức và rời khỏi Việt Nam hai ngày sau đó. “Thưa đồng bào, anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố
từ chức tổng thống và theo Hiến pháp, Phó Tổng thống Trần Văn Hương sẽ
đảm nhận chức Tổng thống…”
Khi nhà giáo Trần Văn Hương trở thành vị Tổng thống thứ ba của chế độ
VNCH, thì cũng là lúc mặt trận Xuân Lộc tuyến phòng thủ cuối cùng của
Saigon đã vỡ, các lực lượng của VNCH can trường chịu thiệt hại nặng và
giữ vững được 12 ngày đêm.
Bàn giao - Diễn văn lịch sử
Giữ chức Tổng thống VNCH được 5 ngày và bất lực trước tình hình sụp
đổ nhanh chóng, ngày 26/4/1975 Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu Quốc
hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm
giải pháp vãn hồi hòa bình hòa giải dân tộc. Quốc hội VNCH ra nghị quyết
chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ Tổng thống. Trên thực tế
Hiến pháp VNCH đã không còn được thi hành từ thời điểm này.
Chiều 28/4/1975 lễ bàn giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn
Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập. Nam Nguyên của ban Việt ngữ RFA lúc
đó là Đặc phái viên của Hệ thống Truyền thanh Quốc gia đã thực hiện cuộc
Trực tiếp Truyền thanh cuối cùng của mình từ Dinh Độc Lập. Đoạn ghi âm
lịch sử mà quí thính giả sắp nghe là những lời của Tổng thống Trần Văn
Hương đan xen với tường thuật của Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến thuộc Hệ
thống Truyền thanh Việt Nam: Tổng thống Trần Văn Hương: “…Làm thế nào cho dân được sống yên…làm
thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của Đại tướng đối với
hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này
không bao giờ quên công lao đó của đại tướng…(vỗ tay) Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến : “…Sau khi nguyên Tổng thống Trần Văn
Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan
đã gỡ huy hiệu Tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một
huy hiệu Tổng thống mới với hình một hoa mai năm cánh…Đây là Phóng viên
Hệ thống Truyền thanh Việt Nam, quí thính giả đang theo dõi Trực tiếp
Truyền thanh lễ trao nhiệm chức Tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương
và cựu Đại tướng Dương Văn Minh…Thưa quí thính giả vào lúc này bên ngoài
dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang
trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước…”
Một trong hàng triệu thính giả đã nghe cuộc trực tiếp truyền thanh
lịch sử ngày 28/4/1975 là ông Nguyễn Quốc Thái, một nhà báo thuộc nhóm
tạp chí Hành Trình, Đất Nước và Trình Bầy. Ba tờ báo này do một nhóm trí
thức công giáo được cho là thiên tả chủ trương và có khuynh hướng đối
lập với chính phủ. 40 năm sau cuộc bàn giao lịch sử giữa hai vị Tổng
thống Trần Văn Hương và Dương Văn Minh, từ Saigon ông Nguyễn Quốc Thái
cho biết cảm nhận của ông vào thời điểm chiều 28/4/1975: “Lúc đó tôi biết mọi chuyện đã xong rồi; có một hiển hiện rõ ràng
là tất cả những người có thể giữ lại miền Nam thì đã rời khỏi miền Nam.
Đây là một cuộc bàn giao theo sắp xếp, nhưng có người hoang tưởng rằng
việc đảm nhận chức vụ đó có thể trao đổi thỏa thuận với phía bên kia là
Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam… Nếu nhìn lại cuộc bàn giao đó thì
thấy rằng đây là một cái gạch nối quá ngắn, mà chỉ làm một cái việc đã
được sắp xếp, đã được hứa hẹn trong hoang tưởng của người nhận trách
nhiệm lúc đó.”
Khí tiết Việt Nam: tướng chết theo thành
4 thập niên sau ngày sụp đổ của Miền Nam Tự do dưới danh xưng Việt
Nam Cộng Hòa, nhiều tài liệu lịch sử đã được bạch hóa cho thấy Hoa Kỳ
chỉ mong muốn việc rút quân của họ được an toàn trong một khoảng thời
gian nhất định và thích hợp; tương lai của VNCH hầu như đã được quyết
định trong Hiệp định Paris 27/1/1973. Nam Việt Nam rơi vào số phận
nghiệt ngã vì bị đồng minh bỏ rơi, những mật ước của Tổng thống Nixon
với TT Thiệu đã đi vào quên lãng. Hoa Kỳ đã không can thiệp quân sự khi
phía Cộng sản vi phạm Hiệp định Paris lấn chiếm lãnh thổ với những cuộc
tấn công qui mô.
Vào những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam, Đại tướng Dương Văn Minh
được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng;
mặc dầu bản thân ông Minh và bộ tham mưu của ông có thể có những người
vẫn còn tin vào giải pháp chính phủ liên hiệp như Phó Tổng thống Nguyễn
Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Nhậm chức chưa đầy 48 giờ, Tổng thống
Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, tuyên bố của ông được phát đi trên hệ
thống Truyền Thanh Quốc gia vào buổi trưa ngày 30/4/1975. “Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi
phí phạm xương máu người Việt Nam…Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả anh em
chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng
yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam
Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng
Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận Lễ bàn giao
Chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào…”
Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập đi lập lại lệnh buông súng của Tổng
thống Dương Văn Minh, cũng như nhật lệnh tương tự của Thiếu tướng
Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho Trung tướng Vĩnh Lộc
vị Tổng Tham mưu trưởng sau cùng, quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ
khí cho những người chủ mới của đất nước. Nhiều vị tướng lãnh, sĩ quan
cao cấp đã tuẫn tiết sau lệnh đầu hàng như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam,
Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên
Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai…
Xe tăng Cộng sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập, bộ đội xe
tăng treo lá cờ của Mặt trận Giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11g
30 trưa ngày 30/4/1975, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Miền Nam
tự do hay VNCH là một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp
nhận chủ nghĩa cộng sản và được Hoa Kỳ hỗ trợ. Chế độ ấy trải qua hai
nền cộng hòa và tồn tại được 21 năm. Cuộc chiến Quốc - Cộng giữa những
người cùng chung giòng máu nhưng khác ý thức hệ đã làm thiệt mạng hơn
hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc. Phía đồng minh của VNCH,
58.000 quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ khác của các nước
đồng minh như Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.
Tiếp thu dinh Độc Lập
Thưa quí thính giả, cũng là một sự tình cờ lịch sử, khi cờ của Mặt
trận Giải phóng đã tung bay trên Dinh Độc Lập, thì các đại diện chính
trị của bên Cộng sản chưa vào tới Saigon để tiếp nhận Chính quyền. Do
vậy ông Bùi Tín lúc đó là Trung tá trong vai trò một nhà báo Cộng sản
Bắc Việt, cũng là người có cấp bậc cao nhất và được bộ đội xe tăng ủy
quyền vào Dinh gặp Chính quyền Dương Văn Minh. Ông Bùi Tín hiện nay tỵ
nạn chính trị ở Pháp. Năm 2005 từ Paris ông Bùi Tín kể lại giây phút
lịch sử khi ông giáp mặt ông Dương Văn Minh và toàn thể nội các Vũ Văn
Mẫu: SB: “ Tôi là người đầu tiên tiếp xúc, ông Dương Văn Minh và tất cả
đứng dậy…ông Minh nói là chúng tôi chờ quí vị tới từ sáng nay, đặng
chuyển giao chính quyền….Tôi có trả lời là, tất cả chính quyền các ông
không còn nữa qua cuộc tấn công của chúng tôi…cho nên không thể bàn giao
cái gì đã không còn nữa…”
Do sự kiện cựu Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân đã tỵ
nạn chính trị khi sang Pháp dự Hội Báo L’humanité năm 1990, kể từ đó báo
chí Hà Nội tường thuật những câu chuyện hoàn toàn khác với lời kể của
ông Bùi Tín.
Vào những thời khắc sau cùng của chế độ VNCH, chuyện gì xảy ra ở Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ? Câu hỏi này đã được chúng tôi đặt ra với ông Robert
Funsett, người vào thời điểm đó đang là Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại
Giao Mỹ. Năm 2005 ông Funsett kể lại với Ban Việt Ngữ chúng tôi như sau:
“Ðúng giờ này, vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, giờ Washington
tức rạng sáng 30/4 theo giờ Việt Nam, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ Trung
Tâm Ðiều Hành ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip
Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin. Ðại Sứ Martin chưa muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì
giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ
thị ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với
chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại
Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội. Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại
sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.”
Đồng minh bội ước
Sau 4 thập niên từ khi chấm dứt chiến tranh các tài liệu hồ sơ của
Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã được bạch hóa. Số phận của Việt Nam
Cộng Hòa đã được định đoạt và Nam Việt Nam sẽ chỉ tồn tại cho đủ thời
gian để Hoa Kỳ rút chân khỏi cuộc chiến một cách an toàn. Đây là một
thực tế phũ phàng của lịch sử. Việt Nam Cộng Hòa có cái giá phải trả khi
hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ.
Bị Washington cắt viện trợ quân sự và kinh tế, VNCH đơn độc trong
cuộc chiến chống cộng. Vào năm 1975 không có nhiều người ở miền Nam tự
do thấy trước là số phận của mình đã được các siêu cường sắp đặt. Khi
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và ra đi, quân dân VNCH chịu nhiều
nỗi thống khổ với muôn vàn oán hận ông. 15 năm sau sự sụp đổ của VNCH,
xuất hiện tại California Hoa Kỳ năm 1990, cựu Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu đã đăng đàn trả lời chất vấn của cộng đồng người Việt. Sau đây là
một trích đoạn những biện giải của ông Nguyễn Văn Thiệu: “ Tổng Thống Nixon có nói nếu như không có vụ Watergate thì tình
trạng Việt Nam không đến nỗi như vậy. Chúng ta tin hay không tin là
quyền của chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ làm việc trên sự kiện người ta
cúp viện trợ quân sự, cúp viện trợ kinh tế, ngoại giao thì áp lực và
không có phản ứng mãnh liệt. Trong lúc đó Nga Xô và Trung Cộng thì tăng
cường viện trợ cho cộng sản và họ thừa thắng xông lên để xâm chiếm miền
Nam đặt thế giới và Hoa Kỳ trước một việc đã rồi. Cho nên tôi phải từ
chức, cái hành động mà tôi từ chức ngay lúc đó chính tôi cũng đã thấy
khó chịu rồi. Nhưng mà tôi không có một sự lựa chọn nào khác, nếu như
tôi còn ngồi thì tôi mang tội với nhân dân, là vì ông còn ngồi mà Mỹ
không viện trợ bởi vì ai nấy cũng được cho hiểu như vậy, vì ông còn ngồi
mà Việt Cộng không thương thuyết, phải có Dương Văn Minh lên mới được
thương thuyết vì ông còn ngồi mà chiến tranh còn triền miên chết chóc.
Tôi thấy lịch sử sẽ chứng minh cái đó trúng hay trật, cái đó để cho lịch
sử và nhân dân, nhưng bổn phận của tôi là một Tổng thống lúc đó tôi
phải ra đi.”
Lịch sử đã sang trang từ 40 năm qua, những người chịu trách nhiệm hay
là chứng nhân một giai đoạn lịch sử của VNCH đều đã khuất bóng. Việt
Nam đã thống nhất từ năm 1976 nhưng 40 năm qua những người cộng sản
chiến thắng đã tự ru ngủ mình, theo cách nói của cố Thủ tướng Võ Văn
Kiệt.
4 thập niên sau chiến tranh, vào tháng 3/ 2015 Thủ tướng VN Nguyễn
Tấn Dũng nhìn nhận Việt Nam phát triển quá chậm, kém xa 6 nước sáng lập
ASEAN, hiện nay có nhiều lãnh vực còn thua kém cả Lào và Campuchia.
Nước Việt Nam thống nhất đã 40 năm nhưng vẫn còn quá nhiều câu hỏi
được đặt ra về sự tụt hậu cũng như vấn đề dân chủ, dân quyền và nhân
quyền.