Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

Thượng đỉnh Liên Triều : Nam-Bắc cam kết không còn chiến tranh

Thượng đỉnh Liên Triều : Nam-Bắc cam kết không còn chiến tranh

media Lãnh đạo Bắc Triều Tiên, Kim Jong Un, (trái) và tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In tại cuộc thượng đỉnh ngày 27/04/2018. Reuters
Sáng 27/04/2018, lần đầu tiên sau hơn một thập niên, hai lãnh đạo Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên đã trực tiếp gặp mặt nhau tại Bàn Môn Điếm ở vùng phi quân sự phân chia hai nước.
Sau cái bắt tay và bước chân băng qua băng lại đường giới tuyến mang đầy ý nghĩa biểu tượng, tổng thống Hàn Quốc và lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un đã bước ngay vào bàn đàm phán với một nghị trình nặng ý nghĩa hòa giải : Giải trừ hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, thỏa thuận hòa bình và cải thiện quan hệ Liên Triều.
Sau hai phiên họp chính giữa hai phái đoàn, và một cuộc họp tay đôi giữa tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In và lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un, hai bên đã ra một thông cáo chung cam kết sẽ không còn chiến tranh giữa hai bên, tìm kiếm một thỏa thuận nhằm thiết lập một nền hòa bình vĩnh viễn và vững chắc, đồng thời xóa bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân trên bán đảo.
Thông cáo chung còn cam kết giảm trừ vũ khí, đình chỉ "các hành vi thù nghịch", biến vùng biên giới vốn là chiến tuyến thành một "khu vực hòa bình" và sẵn sàng đàm phán đa phương với các nước khác, trong đó có Hoa Kỳ.
Về những vấn đề song phương, hai bên đã đồng ý mở cuộc họp quân sự cấp cao ngay vào tháng tới để giảm nhẹ căng thẳng, sẽ khởi động lại chương trình đoàn tụ các gia đình bị chiến tranh ly tán, đồng thời tổng thống Hàn Quốc đã chấp nhận lời mời đi thăm Bắc Triều Tiên vào mùa thu năm nay.
Tham gia hội nghị thượng đỉnh Bàn Môn Điếm, về phía Bắc Triều Tiên, ngoài lãnh đạo Kim Jong Un, còn có bà Kim Yo Yong, em gái ông Kim Yong Un, và Kim Yong Chol, nguyên lãnh đạo ngành tình báo Bắc Triều Tiên, hiện phụ trách quan hệ Nam-Bắc. Về phía Hàn Quốc, cùng với tổng thống Hàn Quốc tham gia đàm phán có lãnh đạo tình báo Suh Hoon cùng với chánh văn phòng phủ tổng thống Im Jong Seok.
Một điểm được giới quan sát đặt biệt chú ý là giữa hai cuộc họp chung của hai phái đoàn, hai ông Moon Jae In và Kim Jong Un đã bất ngờ có một cuộc tiếp xúc tay đôi khoảng 20 phút, không có người nào khác tháp tùng theo.
Phải nói là trong suốt diễn tiến của hội nghị thượng đỉnh từ trước lúc khai mạc, cho đến khi kết thúc, hai lãnh đạo đã không ngớt có những lời lẽ, cử chỉ thể hiện sự hòa giải, trái ngượi hẳn với thời kỳ căng thẳng trước đây.
Từ Seoul, thông tín viên Frédéric Ojardias ghi nhận :
"Sáng nay, quả đúng là hai lãnh đạo Kim Jong Un và Moon Jae In đã cho thấy những hình ảnh tuyệt vời : tay trong tay, vẻ mặt tươi cười, họ đã cùng nhau bước qua lằn ranh trên mặt đất đánh dấu đường phân giới quân sự giữa hai nước. Ông Kim Jong Un đã một mình đi bộ đến nơi, trong lúc ông Moon Jae In đứng đón ở bên kia.
Đây là lần đầu tiên mà một lãnh đạo Bắc Triều Tiên vượt qua biên giới xuống miền Nam kể từ cuộc Chiến Tranh Triều Tiên cách đây bảy thập kỷ. Kim Jong Un, vẻ hết sức thoải mái, đã ghi vào sổ lưu niệm dành cho khách viếng hàng chữ "Một câu chuyện mới bắt đầu ; sự khởi đầu của một kỷ nguyên vì hòa binh".
Thế nhưng, đằng sau những biểu tượng hòa giải được tính toan tỉ mỉ đó, các cuộc thảo luận chắc chắn sẽ rất tế nhị, đặc biệt là trên vấn đề phi hạt nhân hóa.
Nhật báo bảo thủ Joongang Ilbo, sáng nay đã kêu gọi tổng thống Hàn Quốc dũng cảm bỏ họp, nếu Kim Jong Un "mơ hồ" về vấn đề phi hạt nhân hóa.
Còn trước tòa đô chính Seoul, một số người chống hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã tụ tập phản đối. Một tấm biểu ngữ ghi rõ : Một hiệp định hòa bình với miền Bắc chỉ là trò hề".

Nguồn: http://vi.rfi.fr/chau-a/20180427-thuong-dinh-lien-trieu-nam-bac-trieu-tien-cam-ket-se-khong-con-chien-tranh




THỜI SỰ THẾ GIỚI mới nhất 28/4/2018 | TRỰC TIẾP BẢN TUYÊN NGÔN LIÊN TRIỀU | TIN TỨC THẾ GIỚI E4U.
https://youtu.be/vtVatmDT7sY 

TRỰC TIẾP SÁNG 28/4 - VÌ SAO CẢ TỶ NGƯỜI BẬT KHÓC với KHOẢNH KHẮC TRIỀU TIÊN TUYÊN BỐ HÒA BÌNH

 https://youtu.be/I56X0yJ_a9Y

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

Mỹ tái xét Hiệp định Paris để ngăn chặn mật ước Thành Đô do Việt Cộng ký với với Trung Cộng?

Mỹ tái xét Hiệp định Paris để ngăn chặn mật ước Thành Đô do Việt Cộng ký với với Trung Cộng?

Cần tái xét Hiệp định Paris 1973 để ngăn chặn âm mưu sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc theo những thỏa thuận được ký kết tại Hội nghị Thành Đô 1990.

 https://youtu.be/Lgd7-dIQeCs

Hiệp định Paris 1973 - Tập 5(cuối) : Hòa bình cho dân tộc Việt Nam

https://youtu.be/VjS-z5WawAQ

Nam - Bắc Hàn thống nhất Nguyễn Phú Trọng run sợ khi Mỹ và Liên Hiệp Quốc cứu xét hiệp định Pari

https://youtu.be/1R0GvEkUJd8 

Nguyễn Phú Trọng PHẢN ĐỐI và RUN SỢ khi lãnh đạo NAM - BẮC Triều Tiên gặp nhau

https://youtu.be/jdX2N269bFI


Cựu nhà báo thời chiến: “Tôi không nghĩ chiến tranh VN là chống Mỹ cứu nước”

RFA
2018-04-26


Ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo RFA với bút danh Nam Nguyên, trò chuyện cùng RFA nhân sự kiện 30/4.
Ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo RFA với bút danh Nam Nguyên, trò chuyện cùng RFA nhân sự kiện 30/4.
RFA
Thưa quý vị, như vậy chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày 30/4, ngày kỷ niệm chiến tranh Việt Nam chính thức kết thúc. Sự kiện này được nhắc đến với rất nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên theo nhận định của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng chính phủ Hà Nội thì đây là ngày triệu người vui nhưng cũng triệu người buồn.
Mời quý vị cùng theo dõi buổi trò chuyện giữa RFA và ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo của RFA với bút danh Nam Nguyên, đồng thời ông cũng là một trong những phóng viên thời chiến tranh Việt Nam.
Xin chào nhà báo Nguyễn Mạnh Tiến, ông có thể chia sẻ những kỷ niệm đáng nhớ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975?
Nhà báo Nam Nguyên: Trong tuần lễ cuối cùng, những sự kiện quan trọng gồm có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, rồi phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng cũng chỉ được 5 ngày thì trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh với hy vọng Đại tướng Minh có thể hòa giải với phía bên kia để ngăn tình trạng sụp đổ của miền Nam và có thể là thành lập một chính phủ liên hiệp chẳng hạn.
Ngày 28/4/1975, tôi làm truyền thanh trực tiếp (live) từ dinh Độc Lập lễ trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh để lãnh nhiệm vụ Tổng thống. Các bạn chắc cũng lấy làm lạ lùng vì sao có thể trao nhiệm tại vì thường nếu Tổng thống xuống thì Phó Tổng thống lên, Phó Tổng thống xuống nữa thì người Phó của ông này sẽ lên, không có người đó thì Chủ tịch Thượng viện phải lên. Nhưng đây lại là trao nhiệm, có nghĩa là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa rất minh bạch, rành rọt nhưng nó đã không được thi hành kể từ ngày 28/4.
Khoảng 5 giờ chiều hôm đó diễn ra lễ trao nhiệm, có vẻ như chính phủ của Đại tướng Dương Văn Minh coi chuyện này là nghiêm túc, không phải nhận công việc này để đầu hàng. Có thể Đại tướng Dương Văn Minh là một nhà quân sự nên ông ấy biết tình hình như thế nào. Phòng tuyến Xuân Lịch mất rồi, sư đoàn 18 vỡ, ông tướng Lê Minh Đảo đã giữ được 10 ngày rồi mà ông ấy rất anh hùng, báo chí thế giới cũng ca tụng ông ấy.
Cái nghề báo là không được xúc động. Phải nói là tôi đã rất cố gắng để dặn mình không được xúc động nhưng cuối cùng trong khi tường thuật live tôi đã bình luận một câu. Nhưng câu đó thành ra lại được nhiều người biết đến. Họ nhắc lại câu tôi nói: “Vào lúc này trời âm u đổ mưa, cũng giống như tình hình của đất nước vậy!”
Khi tôi về đến đài sau buổi chiều hôm đó là đã thấy lộn xộn lắm rồi. Máy bay đã bay vô oanh kích ở Tân Sơn Nhất. Ngay ở đài tôi nhìn ra, có những máy bay đi ngang đó thì ở dưới người ta bắn lên. Có thể bắn cả những máy bay tôi thấy không phải của bên kia. Tình hình lúc đó rất khó khăn.
Đó là dấu ấn ngày 28/4. Ông Tổng thống Dương Văn Minh thực tế chỉ tại chức 36 tiếng đồng hồ.
Tới ngày 30/4, trong đài tôi được ông Tổng trưởng Thông tin mới gọi điện yêu cầu cử người qua để thu thanh một bản hiệu triệu của Tổng thống Dương Văn Minh. Thu xong phải phát vào lúc 10 giờ, nếu không phát đúng giờ thì Sài Gòn sẽ biến thành một biển máu. Hôm đó tôi không ở trong đài, nhưng sau này tôi hỏi thì họ nói là ông Lê Phú Bổn, phóng viên trẻ tốt nghiệp trường báo chí Vạn Hạnh là người được cử đi thu thanh. Và người kỹ thuật viên đi cùng là ông Hồ Ổn. Hai người đi qua Phủ Thủ tướng ở đầu đường Thống Nhất thu và mang về phát. Những ngôn từ rất chững chạc, cũng với nội dung đầu hàng thôi, Đại tướng Dương Văn Minh nói rằng mọi người buông súng, quân đội ở đâu thì giữ nguyên ở đó để chờ người đại diện phía bên kia đến và bàn giao trong trật tự. Tôi thấy cách ông ấy đầu hàng như vậy cũng rất hợp lý. Khi bản thu thanh loan ra được một thời gian ngắn thì quân đội Bắc Việt mới tiến vào dinh Độc Lập. Câu chuyện đến đoạn này thì có nhiều điểm không rõ trong lịch sử, mỗi người nói một kiểu. Ông Bùi Tín thì nói rằng lúc đó vào trong dinh chỉ có cấp cao nhất là đại úy xe tăng, còn lại là nhỏ hơn, chưa có ông Chính ủy của đoàn đó. Bây giờ báo chí người ta cũng nói ông Chính ủy này có thể đến lúc kéo cờ lên rồi ông ấy mới tới.
Họ nói không chấp nhận lời đầu hàng ban đầu, đòi rằng bây giờ ông phải nói ông đầu hàng vô điều kiện bởi vì chính quyền của ông tan rã rồi, không có gì để bàn giao. Tôi thấy điều này cũng hơi cay đắng, bởi vì không nhất thiết phải như vậy vì người ta đã chấp nhận đầu hàng rồi, bây giờ làm mọi việc có thể để tránh đổ máu thôi. Những người cán binh Cộng sản lúc đó đã rút súng và nói ông phải đọc lại bản mới và đi thu. Thế rồi họ chở ông ấy tới đài phát thanh để thu bản đầu hàng mới.
Trước khi ông Minh tới đài thì ông Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đã tới rồi. Người hoàng viên (tên gọi người thu thanh lúc bây giờ) là một phụ nữ, đã quá sợ hãi, có lẽ vì lần đầu tiên trông thấy bộ đội nón cối, súng ống, trong khi ông Tổng thống gần như bị áp đảo. Cô ấy sợ hãi quá, chân tay run lẩy bẩy không thu được. Có một nhà báo ngoại quốc ở đó, đã dùng cát-sét để thu. Một lúc sau ở phòng thu phụ người ta trấn tĩnh lại và thu được bằng băng lớn.
Đó là lời đầu hàng vô điều kiện và có lời chấp nhận lời đầu hàng đó của phía bên kia. Sở dĩ tôi phải kể dài dòng như vậy là vì có hai bản tuyên bố đầu hàng. Lần thứ nhất do ông Dương Văn Minh soạn thảo và đi thu. Lần thứ hai ông ấy bị áp giải đi thu. Nhiều người thắc mắc tại sao phải kể những chi tiết đó làm gì, nhưng tôi nghĩ rằng đối với lịch sử, sự thật quan trọng hơn sự kiện. Trong cuốn sách “Đại Thắng Mùa Xuân” của ông Văn Tiến Dũng, ông ấy nói đài Sài Gòn bỏ trống không còn một ai nữa. Quân ta (tức là quân Bắc Việt) đã vô thoải mái. Nhưng điều đó không đúng! Chính phủ không phải đã tan rã. Quân đội có thể mất phòng tuyến này hay phòng tuyến kia, nhưng đài tiếng nói quốc gia lúc đó vẫn còn.
Trong tháng 4 tôi còn có một kỷ niệm nữa không quên được. Khi Đà Nẵng mất, chắc khoảng 28/3, hôm đó tôi đang trực sở thời sự, thì ở dưới phòng kỳ thuật họ nói tôi xuống nói chuyện với đài Đà Nẵng. Ông quản đốc của đài Đà Nẵng, anh Huỳnh Quy, có vẻ mất bình tĩnh và giọng xúc động lắm.  Anh ấy hỏi “Tiến ơi mày có thể cứu được tao và các nhân viên của tao không?” Tôi cũng biết mình không thể giúp được gì, nên chỉ trấn an anh ấy thôi. Anh ấy bảo đang bị kẹt ở trong đài không thể ra được. Chúng tôi đang tìm cách giúp anh ấy, thì khoảng 15 phút sau anh ấy gọi lại bảo rằng “Tiến ơi không còn hi vọng gì nữa rồi, đã trông thấy họ ở ngoài hàng rồi.” Anh ấy chào vĩnh biệt, rồi về sau tôi không biết anh ấy như thế nào nữa. Đó là câu chuyện ám ảnh tôi hoài.
Họ muốn mở rộng chủ nghĩa Cộng sản ra toàn thế giới, đâu phải đánh Mỹ để cứu nước hay giải phóng miền Nam.
- Nhà báo Nam Nguyên
RFA: Qua những cảnh tượng ông được chứng kiến khi làm những phóng sự chiến trường, ông suy nghĩ như thế nào về cuộc chiến tranh Việt Nam?
Nhà báo Nam Nguyên: Đây là một câu hỏi lớn, tôi chỉ nêu ra suy nghĩ của một người phóng viên đã trải qua cuộc chiến thôi.
Tôi thấy rằng giá không có cuộc chiến này thì tốt hơn. Khi kết thúc cuộc chiến vào ngày 30/4, đã có tổng cộng khoảng 2 triệu người miền Bắc và miền Nam chết, hàng trăm ngàn người bị thương, không đếm xuể những người còn sống nhưng cụt tay, cụt chân của cả hai bên. Và cuộc chiến tranh đó mục đích là gì, giữa cùng là người Việt Nam với nhau? Bản thân tôi cũng có một phần gia đình ở miền Bắc. Tôi cũng sinh ra ở Hà Nội.
Nói không có thì tốt hơn là vì giả dụ ngay cả khi chưa có Điện Biên Phủ, cứ để nguyên thì chậm nhất đến thập niên 60, tất cả những nước có thuộc địa đều phải trả lại cho người ta hết, bang giao tốt đẹp, buôn bán làm ăn với nhau mà không bị chết người.
Trận chiến Điện Biên Phủ dành độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi như đã thành công, đưa đến Hiệp định Geneva chia hai miền đất nước. Giá mà dừng ở đó thì vẫn còn tạm ổn. Nhưng đằng này, chỉ vài năm sau, miền Bắc bắt đầu mang quân gây chiến, rồi chuyển vũ khí vào trong miền Nam với lý do Tổng tuyển cử đã không diễn ra như Hiệp định Geneva nên phải đánh. Miền Bắc đã chuẩn bị chiến tranh ngay từ lúc đó rồi.
Trên chiến trường khốc liệt quá! Những gì tôi được chứng kiến, nhận xét về quân sự cả hai bên, binh sĩ binh lính của cả hai bên rất can trường, anh hùng và sẵn sàng chết để phục tùng lệnh từ trên. Khi tôi và đồng nghiệp vào mặt trận An Lộc bằng máy bay, chưa kịp nhảy xuống thì khói đã bốc lên trên máy bay rồi. Trông thấy bãi đáp Khánh Ly rồi mà bị đánh bom phải lượn ra luôn. Tôi thấy bay được có một khúc là may bay bị rớt rồi, và ngay lập tức họ bắn hủy máy bay đó. Thế là chúng tôi vẫn chưa vào được An Lộc. Nhưng cuối cùng kiên trì tôi và một người phóng viên tên Dương Phục cũng đã vào được.
Đi đến đó thì thấy thành phố An Lộc không còn một căn nhà nào nguyên vẹn hết. Toàn bộ là gạch vụ và một vài bức tường. Chúng tôi đến bộ chỉ huy của ông tướng Lê Văn Hưng, là vị tướng tử thủ ở đó để phỏng vấn, và coi như thành công.
Khi về lại không về được, cứ đi ra bãi đáp, máy bay cứ đáp xuống là phía bên kia họ pháo kích máy bay không xuống được. Chúng tôi không có cách gì để lên được, cứ đi ra đi vô mấy lần rồi lại phải quay lại. May mắn cuối cùng đài truyền hình họ đi trực thăng vào quay. Ông sĩ quan báo chí của ông Lê Văn Hưng, là ông đại úy Qúy, nói ông ấy sẽ đưa bọn tôi ra ngay khi máy bay truyền hình tới, chờ sẵn ở đó, máy bay hạ cánh là nhảy lên liền. Tôi cũng làm như vậy, và đội truyền hình đã cứu mạng tôi. Nếu không, tôi sẽ phải ở lại trong đó không biết đến bao giờ.
Đến ngày 6/7 tôi được lệnh chuẩn bị kỹ càng để đi công tác đặc biệt, nhưng không nói đi đâu. Đến ngày hôm sau họ chở tôi vào dinh Độc Lập, và chỉ tôi lên một chiếc máy bay. Trên đó chỉ có tôi, một người bên truyền hình, còn lại toàn các ông lớn. Tôi nghĩ chắc phải đi đâu ghê gớm lắm. Có một chiếc máy bay có ông Tổng thống và cả ông Hoàng Đức Nhã. Máy bay bên bọn tôi có ông đại tướng Cao Văn Viên là Tổng tham mưu trưởng. Tới nơi, tôi thấy rừng cao su và đất đỏ, tôi linh cảm là vào An Lộc. Tôi nghĩ ông Tổng thống này gan thiệt, vì An Lộc tới lúc này chưa có giải phóng. Đằng xa mình nhìn thấy bom đạn nổ dữ lắm, phi cơ oanh tạc các vùng cao điểm để hộ tống máy bay này. Câu chuyện này cũng để lại nhiều dấu ấn, và ông Tổng thống Thiệu cũng thành công trong việc thực hiện chuyến đi này.
RFA: Với nhiều người trẻ sinh sau năm 1975, thậm chí sau đến 20 năm, đã được mái trường Xã hội Chủ nghĩa dạy là cuộc chiến tranh Việt Nam này là để chống Mỹ cứu nước. Không biết nhà báo suy nghĩ như thế nào về quan điểm này của Chính phủ Việt Nam?
Nhà báo Nam Nguyên: Tôi nghĩ là trong lúc học các bạn tin vào những câu chuyện như vậy. Tôi không nghĩ là chống Mỹ cứu nước, Việt Nam Cộng Hòa khi đó được thành lập và được viện trợ từ Hoa Kỳ để xây dựng lại đất nước. Khi chưa có chiến tranh, miền Nam trù phú, sung túc lắm, xuất cảng rất là khá, đời sống rất cao, được ví là hòn ngọc Viễn Đông. Đến ông Lý Quang Diệu cũng từng nói thời đó chúng tôi cũng chỉ mong được như miền Nam Việt Nam thôi. Đời sống rất sung túc mà không hề có quân Mỹ ở đó. Sở dĩ người ta giúp Việt Nam Cộng Hòa là vì theo chủ thuyết Domino, nếu cứ để Cộng sản tràn dần thì sẽ mất hết, tất cả sẽ là Cộng sản hết nên họ muốn chặn lại theo ý nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sẽ là tiền đồ của thế giới tự do. Chiến tranh bên kia quá lớn thì người Mỹ mới đem quân vào vì họ sợ mất.
Bên kia từ thời trước đã tuyên truyền nhiều, đặc biệt những năm xưa không phải giống như giới trẻ được biệt về miền Bắc sau này, thời trước miền Bắc khép kín không khác gì Bắc Hàn bây giờ. Người trong Nam chúng tôi không bao giờ được biết ngoài Bắc có cái gì, cũng không có hình ảnh luôn vì họ không cho người ngoài vào thăm, chỉ số ít những người thân chế độ mới được vào. Hình ảnh mà tôi biết được là khi ông Phạm Huấn ra Hà Nội công tác một ngày với một số phóng viên, họ có chụp một số hình ảnh và viết bài Một ngày tại Hà Nội. Hình ảnh rất nhiều và tôi cũng được xem. Khi xem, cảm giác Hà Nội y nguyên như hồi gia đình tôi di cư năm 1954. Không có thay đổi, không cất nhà thêm, trông nghèo nàn lắm. Ngoài đường phố ô tô không có, toàn xe đạp không à, và rất nghèo khổ rách rưới. Tôi hiểu miền Bắc họ dồn hết viện trợ vào chiến tranh và đời sống của người dân với họ không quan trọng. Một bên quan trọng đời sống của người dân, một bên làm sao thắng chiến tranh và tất cả dồn cho chiến tranh. Giáo dục từ nhi đồng, đều là tinh thần yêu tổ quốc, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại. Đối với những người miền Nam nghe rất sáo rỗng và buồn cười, nhưng tôi hiểu người miền Bắc lúc đó tinh thần họ như một và họ tin cái đó. Và nhờ những cái dối trá đó đã đưa đến chiến thắng. Mục đích của họ là muốn đánh chiếm miền Nam thì tiền vào súng đạn hết. Dân đói, ăn độn, dùng tem phiếu một tháng được mua mấy lạng thịt hay một năm được mua mấy mét vải. Trong khi miền Nam là một thế giới khác. Bây giờ lại nói đi giải phóng miền Nam, cả những gia đình không phải Cộng sản và Cộng sản, đều có lấn cấn trong đầu bởi vì trong Nam họ sống quá sung sướng, đời sống cao. Phương tiện có rất nhiều, tất cả những tân tiến đã có rất sớm ngay trong thập niên 60.
Nói chống Mỹ cứu nước thì họ phải nói vậy vì họ rất nhất quán. Nghe mới đầu có thể không tin còn ngờ vực nhưng nghe hoài rồi cũng tin. Ông Hồ Chí Minh còn nói đại khái là nếu đánh thắng sẽ giàu mạnh gấp 10 lần năm xưa nên họ càng muốn đi đánh. Nhưng tôi không thể tin được họ có thể nói ra những điều như đi giải phóng miền Nam vì 20 năm người dân miền Nam sống dưới ách nô lệ của thực dân mới Hoa Kỳ, rồi chế độ ngụy,…mà toàn dân vẫn tin. Nên tôi phải bái phục người Cộng sản họ có những lý thuyết như vậy, nhưng trình độ người dân lúc đó không thoát ra được vì họ phải sống khép kín.
Nói đánh Mỹ cứu nước, nhưng ông Hồ Chí Minh là Cộng sản quốc tế từ thời ông qua bên Nga, bên Pháp. Và ông Lê Duẩn thì nói chúng ta đánh Mỹ là đánh luôn cho cả Trung Quốc và Liên Xô. Tức là họ muốn mở rộng chủ nghĩa Cộng sản ra toàn thế giới, đâu phải đánh Mỹ để cứu nước hay giải phóng miền Nam.
RFA: Sau năm 1975, có một khoảng thời gian nhà báo vẫn sống ở Sài Gòn dưới sự điều hành của Chính phủ Hà Nội. Vậy ông nhận thấy điểm khác biệt gì nổi bật ở thời kỳ đó so với trước năm 1975?
Nhà báo Nam Nguyên: Chúng tôi thấy mình ở dưới địa ngục. Những người giàu, kha khá thì ở tầng đầu địa ngục, còn những người nghèo thì ở tầng giữa, hay tầng đáy. Tôi khổ lắm. Khi giải phóng là tôi mất hết nghề nghiệp, rồi bị bóc lột lấy luôn tiền bạc bằng các trận đổi tiền giới hạn số tiền đổi. Nhiều người mất nhà mất cửa, và nền kinh tế suy sụp hoàn toàn vì áp dụng chính sách xã hội chủ nghĩa. Lúc đó ông Đỗ Mười bảo rằng kinh tế quốc doanh theo đúng xã hội chủ nghĩa là tốt nhất, ngăn sống cấm chợ. Lý thuyết của ông ấy là quốc doanh hết, tỉnh này xài không hết thì trung ương sẽ lấy mang đi tỉnh khác chia. Đại khái là kinh tế không có sự lưu thông. Thành ra miền Nam trong 10 năm đầu tiên tan hoang luôn. Nếu họ áp dụng kinh tế thị trường của miền Nam có kiểm soát ngay từ đầu, và đừng có đánh tư sản hay cướp giật của người ta để giải phóng, thì có lẽ không đến nỗi tệ. Về sau ông Võ Văn Kiệt nói rằng có sự tự kiêu của Cộng sản và đã bỏ phí những cơ hội mà để cho mãi đến khi đổi mới 1986 nhưng thực tế phải đến 1990 thì đời sống mới khá lên. Nhưng nó sẽ đến một ngưỡng nào đó thôi, bởi vì vẫn còn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó nửa nạc nửa mỡ giống như độc tài chuyên chế nhưng do tổ chức của Đảng Cộng sản làm.
Những câu chuyện này xảy ra sau giải phóng thật đáng tiếc. Tôi muốn nêu thêm một ví dụ nữa, ở miền Nam năm 1965 dưới thời ông Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tức là Thủ tướng. Ông ấy có Chính phủ vì người nghèo, ông ấy đã làm một điều mà tôi thấy đến bây giờ Nhà nước Cộng sản vẫn chưa làm được. Ông ấy đã mở Tổng cục Tiếp tế và ở đó bán những thứ mà những người công chức quân đội có thể đến mua với giá rẻ, không có quota hay tem phiếu gì hết. Đặc biệt nữa là hữu sản hóa xe lam cho những người chạy xe lam, bán trả góp. Ông ấy đã thành công điều đó. Đối với cá nhân gia đình quân đội hay công chức, họ được mua trả góp hoặc trả hết. Chính phủ bây giờ còn chưa làm được điều đó cho quân đội hay công chức của mình. Và hữu sản hóa những cái như xe lam tôi thấy lại càng khó. Bây giờ thì họ đã thay đổi, nhưng lại nhiều vấn nạn sinh ra theo kiểu tư bản hoang dã, như lợi ích nhóm,…Cho nên tôi vẫn còn thương người Việt Nam mình lắm!
RFA: Xin chân thành cám ơn những chia sẻ của nhà báo!

 Nguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-with-former-rfa-journalist-about-april-30-1975-04262018141327.html

Con trai cố vấn Mỹ tử trận ở Việt Nam trò chuyện cùng RFA



Con trai cố vấn Mỹ tử trận ở Việt Nam trò chuyện cùng RFA

Diễm Thi, RFA
2018-04-19


Ông Robert Celeste bên mộ cha, Major Raymond Celeste, tại nghĩa trang West Point, New York tháng 5/2017.
Ông Robert Celeste bên mộ cha, Major Raymond Celeste, tại nghĩa trang West Point, New York tháng 5/2017.
RFA photo
Chiến tranh Việt Nam kết thúc đến nay đã hơn 40 năm; nhân dịp 30 tháng tư năm nay, RFA có cuộc trò chuyện với ông Robert Celeste, con trai út của ông Major Raymond Celeste, cố vấn cao cấp tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa, người tử trận tại Núi Thọ, Quảng Ngãi sáng sớm ngày 22/11/1965.
Khi cha mất, ông Robert Celeste mới chỉ ba tuổi nhưng hình bóng người cha chưa bao giờ phai mờ trong tâm trí ông suốt 53 năm qua. Và cũng vì cái chết của người cha mà ông tìm hiểu về cuộc chiến Việt Nam. Hôm nay ông sẽ chia sẻ những suy nghĩ của ông về cuộc chiến này.
Diễm Thi: Chúng tôi rất vui khi ông có mặt tại đây hôm nay. Trước hết tôi xin chia buồn với ông về nỗi đau mất cha. Ông nhớ gì về cha của mình, về lần cuối cùng ông gặp cha, lần cuối cùng ông được nghe về cha?
Robert Celeste: Cảm ơn (RFA) đã mời tôi đến đây. Đây là một vinh dự của tôi. Về câu hỏi vừa rồi thì lần cuối cùng tôi gặp cha tôi là ở căn cứ quân sự Fort Benning Georgia khi ông lên đường đi Việt Nam. Tại sân bay có mẹ tôi, anh trai tôi và tôi. Cha tôi ôm tạm biệt tất cả chúng tôi và chúng tôi nhìn ông bước lên máy bay để đi Việt Nam. Tôi vẫn nhớ nét mặt của cha tôi lúc quay lại nhìn chúng tôi lần cuối trước khi bước đi. Ông không để lộ cảm xúc gì hết. Đó là lần cuối cùng tôi thấy ông. Trong suốt thời gian ở Việt Nam (khoảng 3 tháng) ông tôi đã viết cho hai anh em tôi tổng cộng 7 lá thư.
Diễm Thi: Ông đã bao giờ về thăm lại nơi cha ông tử trận ở Việt Nam chưa?
Robert Celeste: Tôi chưa được đến đó bao giờ nhưng tôi biết nó ở làng Thạch Trụ, tỉnh Quảng Ngãi, rất gần với Biển Đông. Nhiều người lính từng đóng quân ở đó gửi cho tôi những tấm ảnh về chiến trường và khu vực nơi cha tôi tử trận. Tôi lưu giữ tất cả.
Diễm Thi: Ông biết gì về cái chết của cha ông
Robert Celeste: Tôi biết về trận đánh qua một cuốn sách được ghi chép lại. Theo đó thì Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân (BĐQ) với 465 binh sĩ bị tấn công bởi một trung đoàn Quân chính quy cộng sản Bắc Việt với 1500 lính, nhưng họ vẫn chiến thắng và được tưởng thưởng huân chương cao quý nhất của Tổng thống Hoa Kỳ Johnson (United States Presidential Unit Citation). Cha tôi bị một người lính Bắc Việt bắn chết trên núi Thọ khoảng 6 giờ sáng ngày 22/11/1965.
Diễm Thi: Nhiều ý kiến cho rằng những sự hy sinh như thế là ‘uổng phí’; nhưng theo ông thì sao?
rob.jpg
Ông Major Raymond Celesete, Cố vấn cao cấp tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH. Hình do ông Robert Celeste gửi RFA.
Robert Celeste: Trước hết tôi nghĩ tự do luôn là giá trị để chiến đấu. Cha tôi ý thức rất mạnh mẽ về trách nhiệm và cam kết rằng phải hoàn thành nghĩa vụ để người dân miền Nam Việt Nam tự định đoạt vận mệnh của mình. Cha tôi tốt nghiệp học viện West Point. Ông là một người lính có trách nhiệm và chuyên nghiệp.
Ông từng tình nguyện đi Việt Nam 3 lần nhưng đều bị từ chối. Lần sau cùng ông đích thân đến Pentagon thuyết phục cho ông được làm nhiệm vụ ở Việt Nam. Và khi đến Sài Gòn, ông nhận nhiệm vụ là cố vấn cao cấp của tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa.
Diễm Thi: Chính phủ Hà Nội vào những dịp 30/4 vẫn nói với người dân của họ đó là một chiến thắng vang dội trước một đế quốc hùng mạnh là Mỹ. Theo ông nên đánh giá thế nào cho công bằng đối với mọi người từ hai phía?
Robert Celeste: Đó là một cuộc chiến tranh rất phức tạp và bị hạn chế. Phức tạp bởi chúng ta không chỉ chiến đấu với quân đội Bắc Việt mà còn cả Trung Quốc và Liên Xô, hai nước tài trợ cho Bắc Việt trong cuộc chiến. Hạn chế vì lúc đó Trung Quốc và Nga đã có vũ khí hạt nhân.
Trong chiến tranh Miền Nam Việt Nam tổn thất khoảng 275.000 lực lượng vũ trang, 465.000 thường dân. Số tổn thất phía Bắc Việt cũng lên tới 3,6 triệu người.
Sau chiến tranh, thì có khoảng 250.000 người chết trong các trại cải tạo; không biết bao nhiêu người chết trên đường vượt biển; khoảng hai triệu người phải bỏ nước ra đi và người dân không được hưởng quyền tự do như họ được hưởng ở miền Nam trước đó.
Với những tổn thất như vậy ở cả hai phía và thêm vào đó Bắc Việt vi phạm Hiệp định Hòa bình Paris được ký năm 1973 thì tôi không nghĩ đây là một chiến thắng.
Diễm Thi: Tổng thống Donald Trump ra quyết định ngày 29 tháng 3 là Ngày vinh danh Cựu Chiến Binh Cuộc Chiến Việt Nam (National Vietnam War Veterans Day), ông muốn gửi thông điệp gì đến với những cựu chiến binh cuộc chiến Việt Nam, và những người con mất cha như ông?
Robert Celeste: Tôi rất tự hào về các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam với những hy sinh của họ. Tôi cũng rất tự hào về các cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa và thương cảm cho những người lính bị kẹt lại ở Việt Nam vì họ không được chăm sóc y tế tốt như chúng ta ở đây. Vì vậy, tôi cảm thấy rất đau buồn cho gia đình của họ cũng như gia đình của 58.000 người Mỹ bị giết ở Việt Nam.
Còn với những người mất cha trong chiến tranh thì tôi muốn nói rằng hãy tự hào với sự hy sinh của người Cha khi đấu tranh cho tự do. Cuộc chiến tranh Việt Nam là một phần của cuộc chiến tranh lạnh mà chúng ta phải chiến đấu từ những năm 1945 đến năm 1991.
Diễm Thi: Cám ơn ông về những chia sẻ vừa rồi.

Nguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/son-of-an-us-army-officer-killed-in-vietnam-talks-ab-the-war-04192018135643.html

Thương cảm:VN
Robert Celeste: Tôi rất tự hào về các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam với những hy sinh của họ. Tôi cũng rất tự hào về các cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa và thương cảm cho những người lính bị kẹt lại ở Việt Nam vì họ không được chăm sóc y tế tốt như chúng ta ở đây. Vì vậy, tôi cảm thấy rất đau buồn cho gia đình của họ cũng như gia đình của 58.000 người Mỹ bị giết ở Việt Nam.
Còn với những người mất cha trong chiến tranh thì tôi muốn nói rằng hãy tự hào với sự hy sinh của người Cha khi đấu tranh cho tự do. Cuộc chiến tranh Việt Nam là một phần của cuộc chiến tranh lạnh mà chúng ta phải chiến đấu từ những năm 1945 đến năm 1991.

FATHER`S DAY

NỖI LÒNG NGƯỜI CHA CHIẾN TRANH!
      {Ngày của cha- Father`s day- 17/6/2012}

Hồi ký gởi cho con…!
Nhân ngày Father Day của cha,
17-6-2012
Tg: Huỳnh Mai St.8872
Bh: Dạ Lệ Huỳnh
    Người cha thời chinh chiến. Và người mẹ lúc chiến tranh.

   Suốt 37 năm qua, đây mới là ngày thật sự của cha dám nói lên nỗi lòng của người cha chiến tranh. Vì các cha, và chú các con đã bị dập vùi trong chiến tranh huynh đệ tương tàn, giữa thắng và thua cho cái mất Tự Do, Hòa bình dân tộc trong thế giới lưỡng cực Cộng Sản và Tư Bản.

   Vì tương lai dân tộc và thế hệ tuổi trẻ các con, các chú bác, cha anh, phải hy sinh đời trai trẻ, chiến đấu bảo vệ  độc lập, tự do, hòa bình dân việt trước sự thôn tín của ngoại bang quốc tế Cộng Sản Nga-Tàu. Và vì quyền lợi,cùng sự phản bội đồng minh chiến hữu Hoa Kỳ, đã đưa cha-ông các con vào vòng lao lý tù tội của người Cộng Sản anh em,mất nhân tính, đối xử hận thù dân tộc- “Ngụy Quân ,Ngụy Quyền” Cái ngày “gảy súng tan hàng” bao nhiêu tội lỗi, và lở lầm dân tộc;bị đánh mất Tự Do Miền Nam VNCH, đề bị người dân đổ trút trên đôi vai đầy tránh nhiệm của người chiến sĩ VNCH, thậm chí còn “Đâm sau lưng chiến sĩ” bằng một đòn phản quốc chạy theo Việt cộng nằm vù MTGPMN. Và sẵn sàng bỏ rơi họ trong nhà tù Cộng Sản VN vì họ hết giá trị bảo vệ Tụ Do cho miền nam VN, và mang tất cả ảnh tượng “Xui xẻo, tai họa…!?”, đến nỗi thân nhân, gia đình, bạn bè không dám tiếp xúc tù cải tạo,vì sợ mang họa, mất công ăn việc làm và ghép tội phản động chế độ!-CNXH/CS. Cha bị bắc buộc phải nói lên tất cả sự thật phủ phàng dân tộc, vì cha bị cáo buộc phản động của chính quyền Cộng Sản hóa Miền Nam! bắc nhốt tù cải tạo, mà không ngày tuyên án vì yêu tổ quốc Tự do Việt Nam!?.

    Biết bao nhiêu nỗi oan hờn chế độ đổ trút lên đầu chiến sĩ VNCH. Nó oan hơn cả đám “Dân Oan” bị chính quyền CS/HN đàn áp,cưỡng chế đất đai của người dân có công với cách mạng “Giải phóng Miền Nam VN”, được CS/HN chia chát chiến lợi phẩm đất đai, nhà cửa ruộng vườn dân quân miền Nam. Nay họ không còn gì để mất…!? Trái lại Dân Oan bây giờ mất phần chiến lợi phẩm từ dân miền Nam, lại kêu ngược lại: “Chiến Sĩ VNCH Ơi!!!- các anh hãy cứu chúng tôi với!” có phải chăng, người dân cả nước, dù có là Cộng Sản, hay không Cộng Sản!? đã được phản tỉnh Tự Do, và biết tin yêu dân chủ,nhân quyền và bảo vệ quyền tư hữu người dân của chiến sĩ tự do VNCH.

   Trước vận nước, đổi thay tư tưởng, vì chính nghĩa quốc gia dân tộc của người Việt yêu nước, đã đánh thức tỉnh lòng dân, nhưng tiếc thay trong nước đang tồn tại một số người tuổi trẻ thanh niên rương cột quốc gia. đang chìm ngập trong ăn chơi, bất cần đời, theo chủ nghĩa “Mặc Kê Nô” Sống chết “Cha bây!?”… chì biết có tiền và giá đẹp, xe hơi, nhà lầu. Mặc cho kẽ ăn mày ngoài sương gió, những người khối rách áo ôm,bán từng tấm vé số nuôi thân, của các thương phế binh, cô nhi quả phụ, và các em bé Quốc gia Nghĩa Tử, chie61nn tranh không nhà! Họ là ai!? Là cha mẹ, cô chú, ông bà, anh em ruột thịt đã từng dành dụm chia sẻ từng chén bo bo, từng củ sắn mì, để nuôi họ lớn thành người có sức vốc, lớn khôn. Để rồi! họ “Bưng bô, bợ đít” chạy theo kẽ thù Cộng Sản,phản bội cha ông mình!?

   Nay cũng là ngày của cha, ngày của quốc tế làm cha- Father Day, 17/6/2012. Cha các con,. phải lấy quyền làm cha, nhắc nhở, và đặc trách nhiệm với các con trước cảnh “Quốc gia Hưng vong; thất phu hữu trách” hãy quay trở lại với lương tâm dân tộc, và dừng vô cảm trước dọa đầy dân tộc, trước ngu7oi2 anh em Cộng Sản tán tận lương tâm, trả thù dân tộc theo âm mưu xích hóa giặc Tàu Bắc Phương

   Xin viết ra đây: “ Nỗi lòng của người cha chiến tranh” để tạo một hướng đi đúng trong lòng dân tộc. Và là miền hãnh diện cho tổ quốc mai sau. Vận nước, tự do- dân tộc nằm trong lòng tay tuổi trẻ Việt Mam. Xóa nhòa mặc cảm tội lỗi tiền nhân- Tội tổ tiên- và mạnh dạn; tự tin xây dựng tổ quốc hòa bình; dân tộc tự do!!!
Xem tiếp:
http://maidayhoabnh.blogspot.com/2012/06/noi-long-nguoi-cha-chien-tranh.html


Bỏ rơi (Việt Nam Cộng Hoà) - Phần 3





Bỏ rơi (Việt Nam Cộng Hoà) - Phần 3

VNCH- Ngọc Trương (Danlambao) dịch - Tình hình Việt Nam sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào tháng 1, năm 1973.
Để thuyết phục Nam Việt Nam đồng ý với các điều khoản sai lầm tai hại vì để cho Bắc Việt giữ lại các lực lượng lớn ở miền Nam, Tổng thống Nixon nói với Tổng thống Thiệu:
“Nếu Bắc Việt vi phạm các điều khoản của Hiệp Định và tiếp tục gây hấn, Hoa Kỳ sẽ can thiệp quân sự để trừng phạt Bắc Việt. 

Theo Nixon, nếu cuộc chiến mới nổ ra, Nam Việt Nam bị thất thoát võ khí, Hoa Kỳ sẽ thay thế trên cơ sở một đổi một theo căn bản chính các bộ phận chiến đấu (xe tăng, pháo binh, v.v...) Hiệp định Paris cho phép. 

Cuối cùng, Nixon nói, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục yểm trợ tài chính mạnh mẽ cho Nam Việt Nam.”
Hoa Kỳ không thực hiện cả ba lời hứa.
Trong khi đó, Bắc Việt nhận sự yểm trợ chưa từng có từ các ông chủ quốc gia cộng sản. Trong chín tháng sau hiệp định Paris (từ tháng 1 - 9/1973) theo sách quân sử năm 1994 do Hà Nội xuất bản: 
Số lượng hàng hóa được vận chuyển từ Bắc vào cho các lực lượng cs miền Nam tăng gấp bốn lần so với cả năm trước.
Tuy vậy, đó chỉ là con số nhỏ theo báo cáo của cs, từ đầu năm 1974 đến tháng 4 năm 1975 - số quân dụng gởi vào Nam tăng 1.6 lần so với tổng số hàng đã gởi suốt mười ba năm trước đây.
Nếu Nam Việt Nam thoái thác hiệp định Paris, chắc chắn - không những Hoa Kỳ sẽ tự giải quyết không cần Nam Việt Nam tham dự, chính Quốc hội Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng cắt đứt viện trợ. 
Nếu Nam Việt Nam đồng ý với hiệp định này- với hy vọng sẽ tiếp tục nhận viện trợ của Mỹ, họ bị buộc phải chấp nhận quân Bắc Việt còn đe dọa bên trong lãnh thổ. 
Viễn ảnh chết chóc trước mắt, người miền Nam chọn cách thứ nhì, rồi bàng hoàng thấy rằng - cả hai cách đều tệ hại như nhau, quân Bắc Việt vẫn ẩn núp ở miền Nam và Hoa Kỳ cắt đứt mọi trợ giúp.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird giải thích hậu quả. Ông viết:
"Trong hai năm sau khi ký kết Hiệp định Paris, Nam Việt Nam giữ vững vị trí thật can đảm và đáng được tôn trọng để chống lại kẻ thù có thừa thãi tiền bạc.

Đàm phán hòa bình vẫn tiếp diễn giữa hai miền Nam và Bắc cho đến khi Quốc hội cắt đứt nguồn tài trợ của Hoa Kỳ vào năm 1975. 

Cộng sản bước ra khỏi cuộc thương thảo và không bao giờ trở lại.

Không có tài trợ của Hoa Kỳ, Nam Việt Nam nhanh chóng bị cs tràn ngập. Chúng ta chỉ tiết kiệm được 257 triệu đô la một năm và tiến trình này đã làm sụp đổ Nam Việt Nam, vốn có khả năng chiến đấu trong cuộc chiến không cần quân đội của chúng ta từ năm 1973"
Nhiều người Mỹ không thích nghe nói rằng các quốc gia độc tài toàn trị Trung cộng và Liên bang Xô viết là các đồng minh tốt và trung thành hơn một nước dân chủ như Hoa Kỳ, trường hợp này thực đúng như vậy. 
William Tuohy, người nhiều năm phụ trách đề tài chiến tranh cho tờ Washington Post, đã viết rằng:
"Gần như không thể tưởng tượng và chắc chắn không thể tha thứ được một quốc gia vĩ đại bỏ rơi những đồng minh bất lực và mỉa mai thay lại kỳ vọng vào lòng thương xót của Bắc Việt", nhưng chinh chúng ta đã làm điều đó.
Cho đến khi trợ giúp lần lượt bị cắt giảm khắc nghiệt và bắt đầu gây ảnh hưởng nặng nề, Nam Việt Nam đã chiến đấu rất thành công. Trong hai năm sau khi ký hiệp định Paris 1973, các lực lượng Nam Việt Nam phải chịu tổn thất hơn 59.000 người tử trận trong thời gian ngắn so với lính Mỹ tử trận suốt thập niên chiến tranh. 
Những thiệt hại gây ra cho một dân số chỉ bằng một phần mười dân số Hoa kỳ, thực rõ ràng Nam Việt Nam bị tàn phá rất nhiều, cường độ chiến tranh cũng dữ dội.
Merle Pribbenow chỉ ra rằng báo cáo chi tiết của Bắc Việt cho thấy rõ ràng - trong suốt 55 ngày cuối cùng của cuộc tấn công, nhiều trận đánh rất dữ dội xảy ra. Đây là sự thán phục dành cho dân miền Nam Việt Nam, lúc đó người miền Nam biết chắc chắn kết quả cuối cùng sẽ không tránh khỏi. 
Xin lưu ý - Lê Trọng Tấn (lúc đó là thượng tướng Bắc Việt), cho biết trong chiến dịch cuối cùng: 

"Nhân viên quân y chúng tôi đã phải thu dọn và chữa trị một số lượng lớn lính bị thương (mười lăm lần nhiều hơn so bị thương trong chiến dịch biên giới năm 1950, gấp 1.5 lần số bị thương tại Điện Biên Phủ và gấp 2.5 lần số bị thương trong Chiến dịch Quốc lộ 9 Hạ Lào năm 1971."
Pribbenow tính toán "điều này khiến quân Bắc Việt bị thương tối thiểu 40.000-50.000, và có thể cao hơn nữa, người ta không muốn thấy tổn thất như thế vào lúc QLVNCH bị coi là sụp đổ vào năm 1975 - như phần lớn các sử gia nói. "

Đại tá William LeGro phục vụ tại văn phòng Tùy viên Quốc Phòng (DAO -Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Sài Gòn) cho đến khi kết thúc chiến tranh. Nhìn kỹ cận cảnh lúc đó, ông thấy chính xác chuyện đã xảy ra: 
"Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ xuống gần như số không là nguyên nhân cuối cùng của sự sụp đổ. Chúng ta đã làm một điều khủng khiếp đối với miền Nam Việt Nam."
Gần lúc cuối, Tom Polgar, Trưởng trạm tình báo CIA tại Sài Gòn, gởi công điện đánh giá ngắn ngủi về tình hình đang xảy ra như sau: 
"Không nghi ngờ gì nữa về kết thúc cuối cùng, Nam Việt Nam không thể tồn tại được nếu không có viện trợ quân sự của Hoa Kỳ, trong khi khả năng tiếp tục gây chiến của Bắc Việt không bị thiệt hại và được Liên bang Sô viết, Trung cộng viện trợ đầy đủ."
Hậu quả của chiến tranh ở Việt Nam vẫn còn tồi tệ như người ta từng e ngại. 
Seth Mydans cây viết chuyên các vấn đề Đông Nam Á của tờ The New York Times viết rất sâu sắc và đầy trắc ẩn:
"Hơn một triệu người miền Nam chạy trốn khỏi đất nước sau khi chiến tranh kết thúc. Khoảng 400.000 người bị đưa vào trại giam để "cải tạo lại", có người trong một thời gian ngắn, nhưng một số khác bị giam đến mười bảy năm. 

1.5 triệu người khác bị buộc tái định cư trong "các khu kinh tế mới" những vùng đất khô cằn ở Nam Việt Nam, họ bị đói khổ và nghèo nàn tàn phá."
Phạm Xuân Ẩn, cựu Đại tá Việt cộng đã mô tả sự vỡ mộng của ông ta với chiến thắng của cộng sản tại miền Nam Việt Nam: 

"Tất cả những gì nói về 'giải phóng' hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm trước, tạo ra điều này, đất nước nghèo khổ này do một băng bọn cầm quyền tàn bạo, mang tính gia trưởng và chỉ là những lý thuyết gia thất học."
Bùi Tín, Đại tá quân Bắc Việt thẳng thắn nói một cách công bằng về kết cuộc của chiến tranh, ngay cả đối với kẻ chiến thắng.
"Đã quá muộn cho thế hệ của tôi, thế hệ của chiến tranh, của chiến thắng, và của sự phản bội. Chúng tôi đã thắng, và chúng tôi đã thua".
Thực vậy, dân miền Nam trả giá đắt trong cuộc tranh đấu lâu dài để được tự do. Quân đội có 275.000 người tử trận. Kế đến 465.000 thường dân thiệt mạng, do bọn khủng bố vc ám sát, hoặc chết vì vc pháo kích bừa bãi vào các thành phố, ngoài ra còn 935.000 người bị thương.
Trong số triệu thuyền nhân vượt biên, e rằng có một số đông không rõ lắm đã bỏ mạng trên biển. Tại Việt Nam khoảng 65.000 người khác bị hành quyết bởi những kẻ tự nhận là giải phóng. 
Trong các trại cải tạo tàn bạo, 250.000 người thiệt mạng. Hai triệu người buộc phải từ bỏ quê hương ra đi, thành lập cộng đồng mới của người Việt Nam.
Đánh giá về QLVNCH sẽ không đầy đủ nếu không đề cập đến những cựu quân nhân ly hương và gia đình của họ, những người đã tạo lập cuộc sống mới ở Hoa kỳ. Thêm vào đó là câu chuyện về chủ nghĩa anh hùng, sự quyết tâm và thành tựu. 
Họ biết rõ bản chất của những kẻ gọi là "giải phóng", trong nhiều năm qua giết chóc, làm thương tật, bắt cóc và gây ra ám ảnh cho hàng ngàn thường dân miền Nam. Một số lớn dân chúng chạy trốn khi cuộc chiến đấu kháng cự sụp đổ.
May mắn thay, nhiều người đã tạo được cuộc sống mới, cuộc sống tự do. 
Nước Mỹ được ban phước với một triệu người Việt Nam đã định cư, giúp nền văn hóa và sự giàu có vật chất của Hoa kỳ gia tăng lớn mạnh và thêm phong phú. 
Với nền kỹ nghệ và quyết tâm đáng kinh ngạc, những người Mỹ mới, giáo dục con cái, nuôi dưỡng gia đình và tận dụng mọi cơ hội của đất nước này cho những ai sẵn sàng làm việc.
Đây cũng chính là những người thuộc mọi cấp bậc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người từng chiến đấu trong nhiều năm đẫm máu, giành lấy tự do cho chính quê hương của họ.
Chúng ta bỏ rơi họ trước đây, đánh mất những hy sinh của họ, nhưng có lẽ chúng ta chuộc tội bằng cách thâu nhận họ đến đây nhiều năm về sau.
Phần đã đăng:
- Tái đánh giá QLVNCH - Tết Mậu Thân 1968.
- Địa phương quân và nghĩa quân
2018.04.10
_____________________________________
Tham khảo:

Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2018/04/bo-roi-viet-nam-cong-hoa-phan-3.html#more
 

Mỹ Thừa Nhận Bỏ Rơi VNCH-Vì Sao? Và Góc nhìn lịch sử

https://youtu.be/ZY8jwSW0TwQ

Dự Luật SB895 Đã Thông Qua U BG D Thượng Viện ngay25 4 2018

Dự luật SB 895 sẽ là cái tát vào mặt cộng sản Việt Nam

 https://youtu.be/fw9TD9VBJ90

 

Dự Luật SB895 Đã Thông Qua U BG D Thượng Viện ngay25 4 2018
https://youtu.be/kHeRQ6UWuQo    

 

Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị Quyết SB895 BẮT BUỘC con em cộng sản PHẢI HỌC lịch sử VNCH

 https://youtu.be/DiqbO_x7T7Q

 

Đài RFA tối ngày 26/4/2018: Việt Nam bị đưa TRỞ LẠI danh sách CPC diện quan tâm ĐẶC BIỆT

 https://youtu.be/Eyg7g098I9I


 

 

Vén lên màn bí mật tại Việt Nam: Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ?



Vén lên màn bí mật tại Việt Nam: Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ?

Mai Thanh Truyết (Danlambao) - Bài viết nầy trích trong quyển sách “Từ Bauxite Đến Uranium: Tiến trình Đô Hộ Việt Nam Của Trung Cộng” xuất bản tại Nam California năm 2009, và đã được cập nhật hóa. Tác giả đã đi nói chuyện nhiều nơi, nhưng cho đến ngày hôm nay, CSVN vẫn chưa có một lời “phản bác hay phản biện”. Tại sao có sự im lặng khó hiểu như vậy? Phải chăng, đó là một sự thật mà họ “há miệng mắc quai?” 
Trong hiện tại, chúng ta có thể nói một cách chính xác và không sợ phản biện là những người lính Tàu dưới dạng công nhân đang hiện diện đầy rẫy trên quê hương Việt Nam của chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, giống như mọi quốc gia trên thế giới như Tây Tạng, Tân Cương, Phi Châu và những nơi có dấu chân TC khai thác các công trình quặng mỏ hay những công ty sản xuất khác tại những nơi nầy.
Cộng sản Hà Nội cũng như Trung Cộng (TC) cũng không thể nào chối cãi được nhận định trên. Tại Việt Nam, người Tàu dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ, nói chuyện với nhau bằng tiếng Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh cãi, họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có gì nhục nhã cho bằng hiện tượng nầy xảy ra ngay chính trên mảnh đất quê hương của mình mà cán bộ hay công an cố tình làm ngơ trước những nghịch cảnh trên. Những khu biệt lập nầy do TC hoàn toàn quản lý mọi sinh hoạt, không có người “lạ” nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén mảng đến được, mặc dù những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lý. 
Cho đến hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, đặc biệt tại Vũng Áng, nơi có nhà máy gang thép Hưng Nghiệp Formosa tạo nên một luồn sóng phẫn uất trong lòng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để công nhân TC hiếp đáp mãi mãi được. 
Những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhất tại thành phố Alger, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc vì sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên mảnh đất quê hương của người bản xứ. 
Trở lại Việt Nam, riêng tại hai vùng đang là điểm nóng từ năm 2008 ở Việt Nam; đó là Tân Rai Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nầy hiện đang được TC phát động kế hoạch khai thác quặng mỏ bauxite từ 10 năm nay dưới sự đồng thuận của CSVN. Sau khi không thể bưng bít được, CSVN đã phải bạch hoá công bố hai công trình trên mặc dù đã ký kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào, qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như ở hải ngoại cảnh báo về hiễm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy. 
Nhưng trầm trọng hơn cả là qua việc nhường bước cho TC khai thác, CSVN để lộ ra tinh thần quốc tế vô sản (mà bây giờ đã biến thành tinh thần quốc tế hữu sản chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một tiến trình then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC. 
Hiện nay, đã có sự hiện diện của trên 10.000 công nhân TC ở Tân Rai và trên 7.000 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban Nhân Dân ở hai tỉnh trên công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều và theo như dự kiến của hai công trình khai thác trên, con số công nhân TC sẽ đạt đến 10.000 người cho mỗi nơi như trong dự án đã ghi. 
Có nhiều câu hỏi được đặt ra cho tình trạng nhân sự TC ở hai địa điểm trên là, tại sao họ có mặt 10 năm qua mà vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị hoàn tất việc khai thác cho cơ xưởng, giải quyết các vụ đuổi nhà, chiếm cứ các vườn trồng cây công nghiệp của dân như trà, cà phê, cao su v.v... mà chỉ lo xây dựng láng trại và nhà ở cho công nhân và chuyên viên cùng những dịch vụ sinh hoạt khác như giải trí riêng biệt và cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài bằng hàng rào được thiết lập chung quanh? 
Đây là một tiến độ công trình rất chậm so với số lượng nhân công hiện có và thời gian thi công. Và điều nầy đang làm ngạc nhiên cho những nhà quan sát có kinh nghiệm về hoạt động công trường. 
Từ đó, câu hỏi khác được đặt ra là, họ có thực tâm đến đây để khai thác quặng mỏ bauxite hay không? 
Hay là họ có những dự tính thâm độc nào khác mà việc khai thác quặng mỏ bauxite chỉ là Diện để chứng minh sự có mặt của họ, và trọng tâm chính của họ là Điểm, là khai thác một công trình bí mật nào khác? 
Kể từ 2014 trở đi, hàng năm, tại hai dự án nầy, CSVN đều khai lỗ hang chục triệu Mỹ kim mà vẫn tiếp tục khai thác và chấp nhận sự hiện diện của hàng chục ngàn nhân công, hay quân nhân (?) TC… tiếp tục chiếm đóng, và tiếp tục “sản xuất”… trên 3.000 “đứa con lai” tại hai nơi nầy. 
Để trả lời và khơi mở một số nghi vấn trên, cũng như qua đề tựa của bài viết, người viết xin lần lượt tạo dựng ra nhiều giả thuyết qua các tin tức có được để từ đó chứng minh sự hiện diện và hành động của TC trên mảnh đất quê hương Việt Nam. 
1. Việc khai thác quặng mỏ Uranium 
Cao nguyên Trung phần Việt Nam là một phần của cao nguyên Bolloven. Nơi sau nầy là một vùng đất bazan, chuyển hoá từ phún xuất thạch của núi lửa hàng triệu năm qua. Do đó, hàm lượng phóng xạ của vùng đất nầy rất cao so với các vùng đất tự nhiên khác. Và sác xuất có quặng mỏ Uranium cũng rất cao. 
Để có khái niệm về việc khai thác quặng mỏ Uranium, sau đây là quy trình sơ lược dựa theo các nguyên tắc căn bản đang được sử dụng trên thế giới. Thông thường quặng Uranium có được là do sự phối hợp của hai chất đồng vị (isotope) Uranium: Uranium235 và Uranium238. U238 được xem như là đồng vị nặng vì có số NEUTRON nhiều hơn U235. Chính U235 mới đích thực là tác nhân tạo ra nguồn năng lượng cho nhân loại và thông thường có trữ lượng trong hỗn hợp quặng mỏ là 0,7% mà thôi. Việc khai thác gồm: 
- Quặng Uranium trong thiên nhiên cần phải được tách rời hai đồng vị 238 và 235; 
- Sau đó Uranium 235 sẽ được tinh luyện (enrich) để đạt được nồng độ Uranium cần thiết để ứng dụng trong nhiều mục tiêu khác nhau. 
Việc tinh luyện Uranium gồm 3 phương pháp: ly tâm, khuếch tán vật lý, và dùng tia laser. Các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên hay Iran vẫn còn đang áp dụng phương pháp cổ điển là ly tâm. Trong lúc đó, ở các quốc gia phát triển khác như Hoa Kỳ và Tây Âu, hai phương pháp sau được dùng đến vì có hiệu quả và năng suất cao hơn. Muốn chế tạo ra bom nguyên tử, ít nhất, nồng độ của Uranium cần phải đạt được là 80%. Đối với các nồng độ thấp hơn, tuỳ thuộc vào những ứng dụng khác nhau trong việc dùng trong các nhà máy phát điện nguyên tử hay các hệ thống an toàn trong một số dịch vụ thật chính xác trong quy trình sản xuất mà con người không đủ khả năng để điều chỉnh bằng tay hay mắt được. 
2. Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc 
Đây là một trung tâm nghiên cứu về nguyên tử và phóng xạ được người Pháp xây dựng từ giữa thập niên 50 ở thế kỷ trước. Hiện nay, Trung Tâm vẫn còn hoạt động. CSVN dùng Trung tâm nầy để sản xuất các dụng cụ, hệ thống sensor để kiểm soát hay vận hành những khu vực hiểm yếu trong các công nghệ mhư khai thác mỏ than, hay các thiết bị kiểm soát trên tàu bè, cũng như trong các lãnh vực kiểm soát các valve an toàn về áp suất hay nhiệt độ, hoặc điều chỉnh một cách chính xác việc thay đổi điều kiện trong các quy trình sản xuất. Quan trọng hơn cả là việc ứng dụng vào các valve an toàn khi có vấn đề cấp bách trong vận hành để hạn chế hay tránh tai nạn. Hiện tại, Việt Nam đang nhập cảng nguyên liệu phóng xạ từ nước ngoài. 
Câu hỏi được đặt ra nơi đây là:  Tại sao người Pháp cho lắp đặt Trung Tâm nầy tại Đà Lạt vào thời điểm trên, trong khi quốc lộ 20 nối liền Sài Gòn và Đà Lạt chỉ là một con lộ thô sơ, chưa được tráng nhựa đẩy đủ?  Phải có điều gì bí ẩn khiến cho họ thành lập Trung Tâm nầy? 
Để trả lời hai câu hỏi trên, phải chăng là họ muốn xây dựng Trung Tâm gần nơi vùng có phóng xạ để nghiên cứu, thăm dò, và khai thác nguồn nguyên liệu phóng xạ tại chỗ? 
Ngược dòng lịch sử, trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngũi của Nhật Bổn vào thế chiến thứ hai vào những năm 1941, 42, 43…, họ cũng đã gởi nhiều phái đoàn địa chất để thăm dò vùng nầy. Và trong thời gian chiến tranh Mỹ-Việt, nhiều phái đoàn nghiên cứu của Hoa Kỳ cũng đi lại thường xuyên trên vùng Bolloven nầy. Thêm một nguồn tin từ một niên trưởng giáo sư hiện ở Phoenix, vào cuối năm 1944, một chiếc tàu Nhật trên đường từ Việt Nam trở về Nhật bị quân đội Đồng minh đánh chìm vì bị nghi có chở một số mẫu quặng mỏ Uranium lầy từ Cao nguyên Trung phần. Nhưng tất cả đều được giữ bí mật. Không có một báo cáo khoa học nào công bố về vấn đề trên hay cho biết vùng đất nghiên cứu có chứa nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium hay không? 
3. Giả thuyết về sự hiện diện của TC trong vùng Cao nguyên Trung phần 
Ngày 21 tháng 4 năm 2009, tại Công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto, Canada, Ông Chủ tịch Tổng Giám Đốc John Lynch đã công bố bản tin sau khi họp với đối tác là Việt Nam rằng, Công ty đã đồng ý trên nguyên tắc về việc chia sẻ, khai triển và khai thác quặng mỏ Uranium ở Việt Nam. Quả thật đây là một chỉ dấu cho thấy giả thuyết có nguồn nguyên liệu phóng xạ ở cao nguyên Trung phần Việt Nam là có thật. Chính nhờ đó mới có những giao kết thăm dò và khai thác giữa Việt Nam với các đối tác khác. 
Và TC, đã nắm bắt cũng như biết nguồn nguyên liệu nầy, vì vậy cho nên mới thực hiện dự án khai thác quặng mỏ bauxite để đánh lạc hướng thế giới thêm một lần nữa. 
Theo ước tính sơ khởi của công ty NWT thì cao nguyên có trữ lượng là 210 ngàn tấn quặng oxid uranium (U3O8) với nồng độ trung bình là 0,06%. Và ở một tài liệu khác cho biết hàm lượng quặng mỏ oxid uranium ở mỏ than Nông Sơn, Quảng Ngãi là 8.000 tấn quặng và có cùng một nồng độ trung bình với oxid uranium ở Cao nguyên. 
Qua hai thông tin trên, một lần nữa có thể cho chúng ta có một kết luận một cách xác tín là với mức độ quan trọng về nguồn nguyên liệu nầy khiến cho nhiều quốc gia như Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ đã biết trước nhưng không công bố mà thôi vì điều kiện an ninh của Việt Nam trong thời chiến lúc bấy giờ không cho phép. 
Và ngày hôm nay, TC đã biết và thay vì đến Việt Nam để khai thác nguồn nguyên liệu quý giá về phương diện quốc phòng nầy, họ đã đánh lận con đen để nói tráo qua việc khai thác quặng mỏ Bauxite. 
Với hàm lượng oxid uranium kể trên, có thể ly trích và khai thác được hàng trăm Kg Uranium có nồng độc cao có thể ứng dụng vào trong kỹ nghệ quốc phòng và quân sự. 
Thêm nữa có hai chi tiết sau đây để củng cố giả thuyết về việc TC đang bí mật chuẩn bị việc khai thác quặng mỏ Uranium: 
- Mỏ than Nông Sơn đã được VNCH khai thác từ năm 1961, và vẫn được vận hành từ đó đến nay, và hoàn toàn không có tai nạn nào xảy ra ở đây. TC với tư cách nào và với lý do gì đã đem trên 200 chuyên viên vào nơi đây từ năm 2009? 
- Một phần cao nguyên Bolloven nằm trên địa phận Lào đã được TC thuê mướn trong vòng 50 năm? 
Hai chỉ dấu sau nầy chính là cái chìa khóa để mở toang cánh cửa bí mật giữa CSVN và TC trong việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Việc khai thác nầy chỉ là Diện để che mắt thế giới, và Điểm chính là việc tìm kiếm, khai thác, ly trích và tinh luyện chất phóng xạ Uranium 235 để làm tăng lợi khí“cường quốc” của Hán tộc. 
Và đây mới là điểm then chốt của tham vọng quyền lực của TC với sự đồng thuận của đảng cộng sản Việt Nam. 
4. Ảnh hưởng của việc khai thác quặng mỏ Uranium 
Đứng về mặt môi trường, quy trình khai thác quặng mỏ Uranium tương đối phát thải phế thải ít hơn và dễ bảo quản cũng như kiểm soát hơn việc khai thác bauxite. Tuy hai công trình đều đem đến sự hủy diệt thảm thực vật ở miền Cao nguyên nầy, nhưng đứng về hiệu quả kinh tế, phát triển quốc gia, cũng như quốc phòng, việc khai thác Uranium chiếm nhiều ưu thế hơn cả. 
Thêm một điểm cần lưu ý là, một khi Việt Nam chủ động và làm chủ được nguồn nguyện liệu quan trọng và hiếm quý nầy, vị trí của Việt Nam trên thương trường quốc tế sẽ được bảo đảm cũng như tư thế chính trị cũng sẽ được nâng cao vì nguyên liệu nầy sẽ là một yếu tố quyết định trong các mặc cả trong nhiều lãnh vực nhất là quốc phòng đối với những quốc gia khác trên thế giới. Kinh nghiệm Bắc Hàn, một quốc gia nghèo đói, nhưng vì có “nguyên tử và hạt nhân” cho nên làm cho thế giới …kiên dè! 
5. Thay lời kết 
Qua những nhận định vừa nêu trên, giả thuyết về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên Trung phần và ở Nông Sơn có tính xác tín rất cao. Và giả thuyết nầy lại là một lý giải cho sự hiện diện của những người lính dưới dạng công nhân ở hai nơi nầy. 
Nếu suy nghĩ trên trở thành hiện thực, người Việt quốc gia ở quốc nội và hải ngoại phải làm gì trước những diễn biến đang xảy ra trên quê hương? 
Một điều không thể chối cải được là tiến trình Hán hóa Việt Nam của TC đã thể hiện rất rõ ràng. Đây là một tiến trình tiệm tiến giống như trường hợp của Tân Cương và Tây Tạng. Ngay sau khi chiếm đóng Trung Hoa lục địa, và nhất là lợi dụng tình trạng còn lỏng lẻo của Hội Quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc thời bấy giờ (1949), Mao Trạch Đông vội vàng chiếm đóng quốc gia Tây Turquistan và đổi tên thành Tân Cương, cũng như chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Tiếp theo sau, chính sách Hán hóa bắt đầu thực hiện bằng cách cho người Hán nhập cư vào hai nơi nầy để rồi lần lần đồng hóa bằng những cuộc hôn nhân dị chủng. Hồ Cẩm Đào, và Tập Cận Bình ngày nay vẫn tiếp tục chương trình trên và kết quả hiện tại là dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương mình, và dân Tân Cương chỉ còn chiếm 42% trên tổng số cư dân tại nơi đây. 
Qua hai diễn biến lịch sử kể trên, Việt Nam chắc chắn sẽ nằm trong “tầm bắn” của TC trong chính sách nầy trong một tương lai không xa. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, hai món hàng dầu hỏa và quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên đã được chính quyền thời bấy giờ mặc cả với nhiều quốc gia đối trọng khác nhau ngõ hầu cứu vãn miền Nam, nhưng bị thất bại. Và ngày hôm nay, nguy cơ nguồn nguyên liệu quốc phòng nầy sẽ lọt vào tay TC rất cao. 
Chính vì thế, một trong những việc làm cấp bách hôm nay là phải cảnh báo cho thế giới biết rõ âm mưu của TC về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên và Nông Sơn, để từ đó mượn áp lực chính trị và kinh tế của thế giới để đình chỉ việc khai thác trên. Nếu không, TC, một khi làm chủ được nguồn nguyên liệu nầy sẽ mọc “thêm râu thêm cánh” và ngang nhiên tung hoành như đi vào chỗ không người. Tinh thần Hán tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng của TC càng được đẩy mạnh thêm lên qua quyển Tân Biên Sử mới của TC mà biên giới gồm thâu cả vùng Đông Nam Á, Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nam Bắc Hàn v.v... Bằng bất cứ giá nào, người Việt khắp nơi sẽ không để nguồn nguyên liệu nầy lọt vào tay TC. Nếu không, Việt Nam sẽ biến thành một vùng tranh chấp quốc tế và thảm họa sẽ khó lường trong tương lai một khi đã có tranh chấp. 
Việc liên kết với các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nầy để tạo hậu thuẫn trong các cuộc tranh chấp với TC là một trong những điềi kiện tối cần thiết trong lúc nầy. Cũng cần phải nói thêm là việc kết đoàn với Ấn Độ, một đối lực ngang ngữa với TC cũng là việc nên làm. Ấn Độ cũng vừa có một quyết định sáng suốt trước hiễm hoại TC là chấm dứt hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu khí xuyên qua Ấn Độ, Miến Điện và Vân Nam (TC). Đây là bước ngăn chặn có hiệu quả nhất trước sự bành trướng của TC. 
Sự kết đoàn giữa quốc nội và hải ngoại, giữa Việt Nam và quốc tế rất cần thiết trong lúc nầy hơn bao giờ hết vì chính đảng Cộng sản Bắc Việt đã bất lực một khi để sự việc kể trên xảy ra cho đất nước trong lúc họ có khả ngăn chặn từ lúc đầu. 
Lịch sử Việt Nam sẽ không quên tội ác kể trên của CSVN, thái thú biết nói tiếng Việt của Trung Cộng. 
Mai Thanh Truyết - Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam - VEPS 
______________________________________
Ghi chú: Theo báo Thanh Niên ngày 6/8/2009, ông Trần Xuân Hương, Bộ trưởng Bộ Môi trường & Tài nguyên lúc đó công bố ngày 4 tháng 8 là Việt Nam quyết định thăm dò và khai thác quặng mỏ Uranium ở Nông Sơn, ước lượng có trữ lượng 8.000 tấn quặng oxid uranium U3O8. Việc khai thác nầy chia làm hai đợt cho đến 2020. Đối với một số địa điểm khác, ông cũng có nêu tên tỉnh Lâm Đồng nhưng không nói cụ thể như trường hợp Nông Sơn cũng như tên Đắk Nông cũng không được nhắc tới. Phải chăng đây là hai vị trí cấm kỵ và nhạy cảm vì còn nằm dưới chiêu bài khai thác quặng mỏ bauxite của TC? 
Và ông cũng cho biết là đã ký Biên bản ghi nhớ (Memorendum of Understanding) với Ấn Độ trong việc nghiên cứu và định hướng về công nghệ áp dụng cho việc khai thác quặng mỏ Uranium trên.

nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2018/04/ven-len-man-bi-mat-tai-viet-nam-quang.html#more


Đã từ rất lâu, ngay trước khi hán ngụy vc cho tiến hành dự án bauxite Tây Nguyên, các nhà chuyên môn trong nước cũng đã mạnh dạn nêu ý kiến về vấn đề trọng yếu cho An ninh Quốc gia.
Nhưng hán ngụy vẫn gát bỏ ngoài tai.
Xin trích dẫn một đoạn trong bài viết KHÔNG CẦN ĐÁNH, HÁN NGỤY VC VẪN DÂNG NƯỚC liên quan đến vấn đề " Bauxite Tây Nguyên ".
Nhượng quyền khai thác Mỏ bauxite Tây nguyên
Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên là một loạt các dự án khai thác mỏ bô xít ở khu vực Tây Nguyên, Việt Nam. Dự án này đã gây ra nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau trong dư luận, báo chí, Quốc hội. Các ý kiến chủ yếu xoay quanh vấn đề an ninh, quốc phòng, hiệu quả kinh tế, hậu quả xã hội, tác động đối với môi trường sinh thái, công nghệ Trung Quốc lạc hậu, việc sử dụng lao động phổ thông Trung Quốc tại khu vực Tây Nguyên trái với Luật lao động Việt Nam.
Từ năm 2001, trong Ðại hội IX, dự án này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua: “Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bauxite là chủ trương nhất quán từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay”.
Ngày 1 tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 167 phê duyệt

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

MINH SƠN LÂM || TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1

TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1 “Chiến lược VNCH” có hai khả năng: 1) Triệt tiêu đảng cộng sản Việt-Nam. 2) Vô hiệu hóa thế chiến lược của Tàu cộng tại biển đông Dẫn đến đối đầu với lực lượng Mỹ tại Ấn độ Dương và Thái Bình Dương.

https://youtu.be/-WVcTybkPUs

TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1

1.146 lượt xem

TT Ðào Minh Quân với “Chiến lược VNCH” giai đoạn 1 “Chiến lược VNCH” có hai khả năng: 1) Triệt tiêu đảng cộng sản Việt-Nam. 2) Vô hiệu hóa thế chiến lược của Tàu cộng tại biển đông Dẫn đến đối đầu với lực lượng Mỹ tại Ấn độ Dương và Thái Bình Dương.

https://youtu.be/Gwi2Jmg18U8