40 Năm Hải Ngoại Được Mất Những Gì? -
Ai Giúp Cộng Sản Đánh Đổ Việt Nam Cộng Hòa
Lê Xuân Nhuận
TÓM-LƯỢC SỬ-LIỆU
BỨC-TỬ VIỆT-NAM CỘNG-HÒA
(trích từ hồi-ký Biến-Loạn Miền Trung. Hình của Blogger Nam Giao)

LTS: Trang nhà SH chọn bài viết sau đây đáp ứng mục "40 Năm Hải Ngoại Được Mất Những Gì?"
Mục đích của chúng tôi trong bài này chỉ là góp nhặt sự kiện để chứng
minh rằng Giáo Hội La Mã luôn luôn len lỏi vào chính quyền để lèo lái
vận mệnh của những quốc gia đối tượng theo chiều hướng nào có lợi cho họ
bất chấp hậu quả tai hại cho ai khác. Bài đã được đăng năm trước với ý
nghĩa khác. Ngoài ra, các từ ngữ biểu lộ quan niệm về chính trị của cá
nhân tác giả, nhất là góc nhìn từ chức vụ khá lớn trong chính quyền miền
Nam, không thể hiện quan điểm của trang nhà. (SH)
Lời Giới Thiệu - Từ lâu, tại hải ngoại, khi truy tầm
nguyên nhân khiến Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ vào mùa Xuân năm 1975,
nhiều “nhà nghiên cứu” thường cố ý giản lược hóa vào chỉ một nguyên
nhân mà thôi.
Các vị cựu viên chức VNCH thì bảo vì “
đồng minh tháo chạy”, các vị quân nhân vất súng trốn chạy trong 55 ngày thì bảo vì “
Việt Cộng có vũ khi Nga sô Trung Cộng”,
mấy ông tàn dư Cần Lao Công giáo, vốn khống chế lãnh vực truyền thông
nhằm chống phá Phật giáo để trả thù cho ông Diệm, thì bảo vì “
sư sải xuống đường”, v.v…
Một hiện tượng lịch sử cực kỳ phức tạp như sự sụp đổ của một
chế độ, sự xóa bỏ một quốc gia không thể đến chỉ từ chỉ một nguyên nhân
mà thôi, dù nguyên nhân đó có quan trọng đến mức nào. Thế nhưng những
thành phần hải ngoại kể trên thì vẫn duy trì nhận thức phi khoa học và
thái độ phản lịch sử loại nầy là vì họ chỉ muốn che giấu mặc cảm thất
trận.
Che giấu để vừa chạy tội cho mình, vừa đổ tội cho người khác.
Thật vậy:
■ Sao đồng minh (Mỹ) không “phản bội” ba nước tuyến đầu nóng
bỏng là Tây Đức, Nam Hàn và Đài Loan mà lại phải “tháo chạy” chỉ ở Nam
Việt Nam? Có phải vì chính bản thân cả hai nền Cộng hòa ở miền Nam vừa
không xứng đáng để làm “đồng minh”, vừa độc tài tham nhũng, bất lực
không hoàn thành nỗi “hợp đồng” chống Cộng với Mỹ không?
■ Sao khi còn bộ máy chiến tranh gồm nữa triệu quân Mỹ Cộng với
115,000 quân nhân của 8 nước đồng minh hiện diện thì 4 vùng chiến
thuật vẫn còn an toàn, mà đến khi Đồng minh bắt đầu thực hiện “
Việt Nam hóa”
(nghĩa là, bấy giờ, mới trao trách nhiệm chiến tranh cho VNCH) thì hai
năm sau, 1,5 triệu tay súng VNCH lại cởi áo tan hàng trong 55 ngày?
■ Sao trong khi vận mệnh miền Nam do hai ông Tổng thống Công
Giáo với binh hùng tướng mạnh, độc quyền cai trị suốt 10 năm tại miền
Nam thì không chịu trách nhiệm, mà lại đổ tội cho cuộc đấu tranh đòi
dân sự hóa và dân chủ hóa của Phật tử tại miền Trung vốn đã tàn lụi từ
năm 1967, tám năm trước ngày miền Nam thất thủ? Tại sao lại vu khống
cho một nhóm mấy ông Sư “
Phật giáo Ấn Quang” không phương tiện, không thế quốc tế mà làm “mất” miền Nam được?
Bài viết dưới đây, trích từ tác phẩm “
Biến Loạn Miền Trung”,
của tác giả Lê Xuân Nhuận, soi rọi một lực lượng chính trị - tôn giáo
tại miền Nam Việt Nam đã từng khống chế sinh hoạt chính trị của VNCH
trong suốt hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa.
Lực lượng nầy là các chức sắc trong Giáo hội Công giáo Việt
Nam, vốn được định hướng bởi lập trường chính trị của vị chủ chăn là
Giáo hoàng Phaolồ VI tại Vatican, đã thao túng và gây hổn loạn chính
trường miền Nam, lên đến cao điểm từ sau Hòa đàm Paris (1973). Họ tạo ra
những cuộc khủng hoảng chính trị giữa lúc miền Nam cần ổn định nhất;
tạo ra những vết dao “
đâm sau lưng chiến sĩ” giữa lúc trên
chiến trường, quân lực VNCH cần bàn tay yểm trợ nhất. Họ đã nối giáo cho
"giặc", thậm chí có người còn là “giặc” (mà sau 1975 mới lộ diện ra
cho chúng ta biết).
Vì thế, lực lượng nầy đúng là một trong những thành tố có trách
nhiệm chính yếu trong biến cố sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa năm 1975. /
NG
… Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng,
những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo
tu-hành, như các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân
Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v…
(cùng với Trần Hữu Thanh trong “
Phong Trào Chống Tham-Nhũng”),
cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn,
hoang-mang trong quần-chúng, và tạo sức ép đối với Tổng-Thống Thiệu,
làm nản thêm lòng người Mỹ, và tạo thêm lợi-thế về mặt chính-trị cho
Bắc-Việt xâm-lăng. (trang 436)
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng
Nói đến “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, tưởng cần nhắc lại một số
hoạt-động nổi bật của giới Kitô-Giáo trong và ngoài Việt-Nam Cộng-Hòa.
Trong thời-gian diễn ra Hội-Nghị Paris từ 1968 đến 1973),
Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam
Tháng 12-1969, Giám-Mục
Phạm Ngọc Chi, Phó Chủ-Tịch
Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam, qua Hoa-Kỳ, đã tuyên-bố với báo-chí Mỹ: “
Miền Nam [Việt-Nam] đồng-tình với chính-sách ‘Việt-Nam-Hóa Chiến-Tranh’ của Tổng-Thống Nixon.”
Tháng 9-1972, Đại-Hội lần 2 của tổ-chức “Kitô-Hữu Quốc-Tế” gồm
hơn 20 nước họp tại Quebec (Canada), với đề-tài giải-phóng các dân-tộc
Việt, Lào và Campuchia, đã “
tố-cáo các cuộc xâm-lăng và ném bom
vô-nhân-đạo của Mỹ, khẳng-định quyền tự-quyết, tự-do được sống hòa-bình
của nhân-dân Việt-Nam.”
Tức là việc Mỹ chuẩn-bị rút lui đã được Kitô-Giáo Việt-Nam,
giáo-dân mấy chục nước khác, và nhất là Giáo-Hoàng Phaolô VI tán-đồng,
không còn đánh nhau với Cộng-Sản nữa.
Ngày 20-9-1970, Linh-Mục
Phan Khắc Từ, Tuyên-Úy
Thanh Lao Công Sài-Gòn, qua Châu Âu, đã tuyên-bố tại Thành-Phố Firenze (Ý, nước có Tòa Thánh Vatican): “
Kinh-nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tín rằng Giáo-Hội [Kitô] tại Việt-Nam hôm nay là một công-cụ hữu-hiệu của người Mỹ.”
Tháng 3-1971, Linh-Mục
Nguyễn Viết Khai tuyên-bố: “
Từ
chính-quyền trung-ương xuống cho tận anh Trưởng Ấp, người Miền Nam
không được phép giải-quyết vấn-đề của mình mà không có người nước ngoài
xen vào.”
Tháng 11-1971, Linh-Mục
Trương Bá Cần, Tuyên-Úy
Thanh Lao Công toàn-quốc, tham-gia vụ đình-công tại Hãng Pin “Con Ó”, bị Cảnh-Sát bắt, đã viết: “
Giáo
Hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang
nắm quyền-hành trong xã-hội này… Giáo Hội của tôi cũng đã biết lựa
chọn, nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ...”
Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đồng-ý với lời cáo-buộc và chiêu-bài của đối-phương.
Nhưng, sau Hiệp-Định Paris 27-1-1973 [chấm dứt chiến-tranh
Việt-Nam], thì Bắc-Việt gia-tăng nỗ-lực và quyết-tâm tiến-chiếm Miền
Nam.
Ngày 19-9-1973, Tổng-Giám-Mục Sài-Gòn
Nguyễn Văn Bình đọc diễn-văn khai-mạc “Năm Thánh”: “
Chúng
tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực-sự chấm dứt
trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và
Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia.”
Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội-Nghị toàn-thể hàng giáo-phẩm, các Giám-Mục Miền Nam đã công-bố một bản tuyên-ngôn “
tha
thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương
dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và
thù ghét lẫn nhau.”
Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam [Cộng-Hòa] không đề-cập đến việc
Bắc-Việt vi-phạm Hiệp-Ước, mà chỉ muốn Miền Nam bắt tay làm hòa với
Miền Bắc―đối-nghịch lập-trường “4 Không” của Tổng-Thống Nguyễn Văn
Thiệu.
Giáo-Hội Kitô-Giáo Việt-Nam ở Sài-Gòn ra “
Thư Chung”
phát-động cuộc tranh-đấu “chống tham nhũng”, chống Tổng-Thống Nguyễn
Văn Thiệu. Họ đòi Thiệu phải từ-chức, vận-động trưng-cầu dân-ý buộc
Thiệu phải ra đi.
Lời kêu gọi đó đã dấy lên liền một “Phong-Trào” gọi là “Chống Tham-Nhũng”.
* *
*
“
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” do Linh-Mục
Trần Hữu Thanh cầm đầu, các LM
Đinh Bình Định và
Nguyễn Học Hiệu cùng Bác-Sĩ
Nguyễn Thị Thanh phụ-lực, qua một bản “Tuyên Ngôn” được sự bảo-trợ của 301 linh-mục khác, kể cả “
Tuyên-Úy Công Giáo”,
ra mắt tại Giáo-Xứ Tân Việt, Sài-Gòn, từ năm 1973, là một tập-hợp
tương-đối lớn, có nhiều tín-đồ nhất, và tại nhiều địa-phương nhất―so
với Nhóm các linh-mục cộng-sản nằm vùng và thân-Cộng tại Sài-Gòn.
“Phong-Trào” được sự tham-gia của các nhân-vật ngoài Kitô-Giáo, như
Thượng-Nghị-Sĩ Hoàng Xuân Tửu và Dân-Biểu Nguyễn Văn Kim cùng nhiều DB
thuộc Đảng Đại-Việt của Hà Thúc Ký và phía Dương Văn Minh; DB Đặng Văn
Tiếp phía Nguyễn Cao Kỳ; DB Nguyễn Văn Cử chống Diệm và phía Việt-Nam
Quốc-Dân-Đảng; DB Vũ Công Minh phía Hòa-Hảo; DB Đỗ Sinh Tứ phía
quân-đội; Bác-Sĩ Nguyễn Tuấn Anh; Luật-Sư
Đặng Thị Tám; Nhân-Sĩ
Nguyễn Trân; v.v…
Linh-Mục Thanh được báo-chí ngoại-quốc tặng cho danh-hiệu “
Hiệp Sĩ của Người Nghèo”.
Sau đó, “Phong-Trào” công-bố các bản “
Cáo Trạng” trong các
cuộc biểu-tình, xuống đường rầm-rộ dữ-dội và liên-tục của các tín-đồ do
các linh-mục lãnh-đạo có khi có hàng chục ngàn người tham-dự tại Huế,
Đà-Nẵng, Quy-Nhơn, Nha-Trang, Cam-Ranh, Sài-Gòn, Mỹ-Tho, Cần-Thơ, v.v…
Cuối năm 1974, nhất là đầu năm 1975, những cuộc biểu-tình
chống-chính-phủ của nhóm Linh-Mục Trần Hữu Thanh, có sự tham-gia của
một số chính-khách, lãnh-tụ đảng-phái, cộng với việc Hội-Đồng Giám-Mục
Việt-Nam phổ-biến “Thư Chung”, kêu-gọi các Nhà Thờ toàn-quốc “chống
tham nhũng”, thúc-đẩy giáo-dân xuống đường rầm-rộ, liên-tục… đã khiến
cho các binh-sĩ ngoài tiền-tuyến chán-nản, mất tinh-thần, và ảnh-hưởng
tai-hại đến sự sống-còn của đất-nước.
Bên cạnh “Phong-Trào” của LM Trần Hữu Thanh, còn có các Nhóm tay
sai Cộng-Sản và thân-Cộng, là các LM Trương Bá Cần, Thanh Lãng, Huỳnh
Công Minh, Vương Đình Bích, Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh; Nhóm “
Đối Diện”
của 11 linh-mục phản-chiến Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ,
Nguyễn Hữu Khai, v.v… trong mấy tháng cuối-cùng, đã lợi-dụng các buổi
thuyết-giảng tại các Nhà Thờ để công-khai tuyên-truyền cho “
người anh em bên kia”.
(Điển-hình là
Phan Khắc Từ, từ năm 1969 đã đi dự đại-hội
Thanh Lao Công Thế-Giới có xu-hướng thân-Cộng được Mạc-Tư-Khoa đỡ đầu,
tại Liban. Ở Pháp thì đến hội-ý với Nguyễn Thị Bình, Trưởng Phái-Đoàn
thương-thuyết của “Mặt Trận Giải Phóng”; tham-gia đình-công; biểu-tình
đòi công-bằng cho giới lao-động; cùng sinh-viên và công-nhân đòi
hòa-bình cho Việt-Nam. Sau này về nước thì dính vào Mặt Trận Nhân-Dân
Tranh-Thủ Hòa-Bình, Phong Trào Học-Sinh Sinh-Viên Đòi Quyền Sống,
Phong- Trào Chống Tăng Học-Phí, Chống Độc-Diễn; đóng vai “linh-mục hốt
rác” gây sự chú ý của dư-luận; dùng Nhà-Thờ Vườn Xoài làm nơi chế-tạo
bom xăng cho phong-trào đốt xe Mỹ trên đường phố; cùng công-nhân
đình-công để gây trở-ngại cho các cuộc hành-quân; tiếp tay CS dựng lên
Ủy-Ban Bảo-Vệ Quyền-Lợi Lao-Động Miền Nam; rồi lại giả-danh từ-thiện
hoạt-động trong tổ-chức trá-hình của CS là Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói…)
Chủ-Tịch Thượng-Nghị-Viện Trần Văn Lắm lên án Tổng-Thống Thiệu “
lạm quyền, tham nhũng”.
Một số lãnh-tụ đảng-phái và tôn-giáo, như Phan Bá Cầm (Hòa-Hảo),
Trần Quang Vinh (Cao-Đài), Hà Thế Ruyệt (Duy-Dân), Thượng-Tọa Pháp-Tri
và các Ông Ngô-Văn-Ký, Nguyễn Văn Lục, Xuân Tùng (Việt-Nam
Quốc-Dân-Đảng) thành-lập “Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng”, kêu-gọi TT
Nguyễn Văn Thiệu từ-chức và các phe liên-hệ “
chấm dứt chiến-tranh, giải-quyết vấn-đề Miền Nam bằng phương-thức hòa-bình”.
Nhóm “Sóng Thần” thì tổ-chức “
Ngày Ký-Giả đi Ăn Mày” rồi tiếp theo là “
Ngày Công-Lý và Báo-Chí Thọ-Nạn” vào tháng 10-1974.
Các Tuyên-Úy Công-Giáo thì tổ-chức Đại-Hội tại Thủ-Đô. Họ rao giảng với giáo-dân quân-nhân rằng “
cộng-sản cũng là con-cái của Chúa”, rằng “
Công-Giáo và CS có thể sống chung hoà-bình”…
Bản “Cáo Trạng số 1” được ghi là ký tại Huế vào ngày 8-9-1974,
khi được tung ra tại Nhà Thờ Tân-Sa-Châu, Sài-Gòn, có báo bảo là “
làm lung-lay ghế Tổng-Thống Thiệu.”
Các báo
Time,
Newsweek; các đài BBC, VOA đều loan
tin. Hậu-quả là Quốc-Hội Mỹ quá chán-ngán Chiến-Tranh Việt-Nam và
mệt-mỏi vì đã yểm-trợ một đồng-minh có quá nhiều khuyết-điểm và
thối-nát. Tức là
giới Kitô-Giáo Việt-Nam đã tiếp tay cho Hoa-Kỳ chấm dứt viện-trợ và phủi tay đối với Việt-Nam Cộng-Hòa.
Việc Mỹ cắt-giảm quân-viện đã làm tê-liệt hẳn khả-năng chiến-đấu
của Quân-Lực VNCH, và từ đó làm suy-nhược tinh-thần kháng-cự, yếu-tố
quan-trọng nhất trong bất-kỳ cuộc chiến-tranh nào.
Các chức sắc Công giáo đã làm loạn ở miền Nam, tạo bất ổn chính trị và khoảng trống an ninh, do đó đã trực tiếp đóng góp vào sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa vào mùa Xuân năm 1975.
Hình từ trái qua và trên xuống:
Phaolồ Nguyễn Văn Bình, Hoàng
Quỳnh, Giuse Trần Hữu Thanh,Gioan Baotixita Huỳnh Công Minh, Phêrô Phan
Khắc Từ, Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,
Thanh Lãng, Stêphanô Chân Tín,
* * *
Về phần Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu thì ông đích-thân đi trực-tiếp
cầu-cứu tại chính-quốc Hoa-Kỳ, nhưng đã không được nghênh-đón
long-trọng tại Thủ-Đô Hoa Thịnh Đốn. Năm 1968, Johnson (chủ-chiến,
Dân-Chủ) chỉ tiếp Thiệu tại thành-phố đảo Honolunu, và chỉ để thảo-luận
sách-lược hòa-đàm với Cộng-Sản. Năm 1969, Nixon (chủ-hòa, Cộng-Hòa)
cũng chỉ tiếp Thiệu tại Đảo Midway, và cũng chỉ để thỏa-thuận về
chính-sách Việt-Nam-Hóa và lịch-trình rút quân của Mỹ.
Thiệu lại đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu với Giáo-Hội Kitô La-Mã, là
một trung-tâm quyền-lực chính-trị khác của thế-giới. Tuy nhiên,
Giáo-Hoàng Paul VI, trong cuộc viếng-thăm lục-địa Á-Châu lần đầu-tiên,
đã không ghé đến Việt-Nam là quốc-gia đang bị Cộng-Sản đe-dọa, nhất là
Việt-Nam có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa này. Thiệu đến Tòa
Thánh, nhưng không được Giáo-Hoàng tiếp-kiến―dù Thiệu là một
Tổng-Thống, một con chiên ―vì lập-trường của Vatican về vấn-đề
Chiến-Tranh Việt-Nam là chỉ bênh-vực Hà-Nội, chỉ muốn chấm dứt
chiến-tranh dù Miền Nam có rơi vào chế-độ Cộng-Sản sắt máu. Đã thế,
Giáo-Hoàng còn chỉ-trích Thiệu, lại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và
Xuân Thủy, trưởng phái-đoàn Cộng-Sản tại Hòa-Hội Paris.
Từ năm 1968, Giáo Hoàng Phaolồ Đệ-Lục đã lập ra “Ngày Quốc-Tế
Hòa-Bình”, cổ-vũ Hòa-Bình bằng thương-thuyết tại Việt-Nam. Vatican
xác-định lập-trường là chấm dứt chiến-tranh, quan-hệ tốt với Miền Bắc
và Chính-Phủ Lâm-Thời Miền Nam. Chính Giáo-Hoàng trao-đổi công-điện
trực-tiếp với Hồ Chí Minh.
Vào tháng 6-1971, đang lúc tên gián-điệp cộng-sản Vũ Ngọc Nhạ (kẻ
được Linh-Mục Hoàng Quỳnh che-chở) bị Việt-Nam Cộng-Hòa cầm tù ở
Côn-Đảo, mà Tòa Thánh và Giáo-Hoàng Phaolô VI lại tặng Bằng Khen và Huy
Chương “
Vì Hòa Bình” cho y.
Tức là Giáo-Hoàng Paul VI đã biến Vatican và nhiều Giáo-Hội
địa-phương thành một guồng máy chính-trị, ngoại-giao, tình-báo khổng-lồ
để giúp Hà-Nội tiến chiếm Miền Nam.
Lãnh đạo Đế quốc Công giáo La Mã 15 năm, từ 1963 đến 1978, Giáo
hoàng Phaolồ VI (1897-1978) đã tác động lên chính sách đối ngoại của
bốn Tổng thống Mỹ (Kennedy, Johnson, Nixon và Ford) sao cho quyền lợi
của Vatican được bảo đảm, nhiều khi bất chấp những tác hại trên các
quốc gia khác.
Thế mà Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng vẫn chưa thấy là Hoa-Kỳ sắp
bỏ rơi Việt-Nam, không thay-đổi đường-lối chính-trị, vẫn cứ sử-dụng
giải-pháp quân-sự, và không tin là Hà-Nội có đủ sức tấn-công đại-quy-mô.
Ông sửa-đổi Hiến-Pháp để làm Tổng-Thống thêm một nhiệm-kỳ năm năm
nữa, khiến Đại-Tướng Thủ-Tướng Trần Thiện Khiêm phải ra mặt chống-đối,
làm tình-hình chính-trị trong nước càng rối-ren thêm.
Ðầu tháng 2-1975, “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” phổ-biến tiếp bản “
Cáo-Trạng số 2”
tố-cáo TT Thiệu nhiều tội và hô-hào lật đổ bằng vũ-lực, khiến ông phải
dùng biện-pháp mạnh, cho bắt giam nhiều chính-khách, trí-thức, lãnh-tụ
đảng-phái, như các Thượng-Nghị-Sĩ Thái Lăng Nghiêm, Phạm Nam Sách,
Nguyễn Văn Chức; các ông Hà Minh Lý, Trần Thúc Linh, và một số ký-giả
trong đó có những nhân-vật nổi tiếng chống-Cộng như Mặc Thu, Lê Trần,
Vũ Bằng, Đinh Từ Thức, Trương Cam Vĩnh, Ngô Đình Vận…
Để đối-phó với “Phong-Trào”, Thiệu vận-dụng nhiều đồng-đạo ủng-hộ mình.
Có sáu linh-mục, trong đó có cả Linh-Mục Hoàng Quỳnh, sáu đêm liền,
thay phiên nhau lên đài truyền-hình bênh-vực và ca-ngợi Thiệu; ngoài
ra, còn có các Nghị-Quyết, Quyết-Định, Đề-Nghị, có chữ ký của 70
Dân-Biểu ủng-hộ Thiệu.
Có cả Giám-Mục Lê Văn Ấn, đặc-trách Tuyên-Úy, Giám-Mục Nguyễn Văn Thuận, Linh-Mục Cao Văn Luận, đứng ra cãi giùm cho Thiệu.
Tình-hình gay-cấn đó, do “Phong Trào Chống Tham-Nhũng” gây nên, đã
tạo ra thế “nội công, ngoại kích”, quả là đã phá rối hậu-phương, làm
lung-lạc tinh-thần binh-sĩ nơi tiền-tuyến, làm lợi cho Cộng-Sản, trong
khi đó thì Bắc-Việt xua quân tấn-công Miền Nam…
Kết-Luận
Có người cho rằng “Phật-Tử Tranh-Đấu”, tức [số người hậu-thuẫn cho]
Phái Ấn-Quang của Phật-Giáo Việt-Nam (về sau là Giáo-Hội Phật-Giáo
Việt-Nam Thống-Nhất) đã liên-tục chống-đối Chính-Quyền Việt-Nam
Cộng-Hòa, khiến cho Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa sụp-đổ, rồi Nền Đệ-Nhị
Cộng-Hòa cũng suy-tàn theo.
Nhưng, theo như tôi đã lược-dẫn trên, thì:
“Phật-Tử Tranh-Đấu” đã chấm dứt hoạt-động từ ngày thành-lập Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, cuối năm 1967. Mãi đến lâu sau Hiệp-Định Paris 1973 mới tái-xuất-hiện trong “
Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc”.
Cả phía “
Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” bên giới Phật-Tử, lẫn phía “
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” bên giới Giáo-Dân, đều tranh-đấu chống Thiệu để có được một Tổng-Thống trong-sạch.
Tuy nhiên, các điểm khác nhau là:
● “
Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” chỉ họp tại Chùa,
sinh-hoạt ôn-hòa, bất-bạo-động, không đòi lật Thiệu, chỉ chờ đến ngày
bầu-cử Tổng-Thống vào cuối năm 1975 sẽ sử-dụng lá phiếu hợp-Hiến và
hợp-Pháp của mình. Trong khi đó thì “Phong-Trào Chống Tham Nhũng”
rầm-rộ xuống đường, biểu-tình tuần-hành, đòi Thiệu từ-chức, và hô-hào
dùng bạo-lực để lật đổ Thiệu tức-thời.
● “
Phật-Tử Tranh-Đấu” mít-tinh ôn-hòa, không xáo-trộn trật-tự
công-cộng, tiến-hành trong vòng luật-pháp cho phép, và theo
truyền-thống sinh-hoạt dân-chủ tại các nước Tự-Do. Trong khi đó thì
“Giáo Dân Tranh Đấu” triệt-hạ uy-tín và hiệu-năng quyền-lực của một
Tổng-Tư-Lệnh Quân-Đội đang đứng trước họng súng của quân thù, lại còn
đòi dùng vũ-lực để lật đổ một Tổng-Thống dân-cử, tức là xóa bỏ
Hiến-Pháp, tức là trở thành nội-phản/nội-thù của Quốc/Dân.
● Phía “
Giáo-Dân Tranh Đấu” thì đòi trừng-phạt một cá-nhân
tham-nhũng―mà tổng-số vật-sản bị lạm-chiếm so ra không đáng bao lăm đối
với tài-nguyên quốc-gia, lại vẫn còn đó, rồi sẽ lấy lại, chưa mất đi
đâu―trong lúc Phía “Phật-Tử Tranh Đấu” thì đặt “nợ nước trước thù nhà”,
mọi người chung sức đồng lòng chống giặc trước đã, trước hết là để trì
níu lại cái Cơ-Đồ Dân-Chủ đang trong cơ nguy bị vĩnh-viễn cướp mất đi.
Phần tôi, tôi đối-lập với chính-sách quân-phiệt của Tổng-Thống
Nguyễn Văn Thiệu―cũng như với chế-độ độc-tôn của Tổng-Thống Ngô Đình
Diệm trước kia―nhưng tôi đã chọn trước tiên là làm tròn bổn-phận của
một công-dân đối với Chính-Thể Cộng-Hòa.
Riêng về “
Phong Trào Chống Tham Nhũng”, có ít nhất là ba vấn-đề quan-trọng hàng đầu mà phía “
Giáo Dân Tranh Đấu” (“trả thù cho [cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm]”, theo lời trối-trăn của Diệm “
Tôi chết thì trả thù cho tôi”) cố ý không đề-cập đến:
I. Việc hạ bệ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu:
a/ Họ muốn đảo-chánh quân-sự, nhưng không thuyết-phục được ai, nên không thành-công.
b/ Họ quyết hạ Thiệu, nhưng không tìm ra được một “ứng-viên” nào của
“phe ta” xứng-đáng để lên thay Thiệu. Chỉ nhắm trước mắt mà không nhìn
thấy xa hơn―tình-hình hậu-Thiệu―thì tức chỉ là “không lấy thì khuấy
cho hôi” mà thôi.
II. Lý-do hạ Thiệu:
1) Thiệu là thủ-phạm, đã tấn-công Dinh Gia-Long, đưa đến cái chết của Diệm.
2) Nhưng, cái tội lớn nhất của Thiệu, là đã có Đảng Dân-Chủ, lan
trong quần-chúng, len trong chính-quyền, luồn trong quân-ngũ, mà lại chỉ
lo gia-tăng phe-cánh cho cá-nhân mình, chứ không chịu dùng nó [như một
Đảng Cần-Lao tái-sinh] để “mở-mang nước Chúa”.
III. Mục-đích đích-thực của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”:
Danh-xưng thực-thụ của Nhóm này (cái đuôi mà họ cố giấu) là: “
Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu nước và kiến tạo hòa bình”. Toàn câu đã được ghi rõ phía dưới “Cáo Trạng số 1”, làm tại Huế, ngày 8 tháng 9 năm 1974.
Trong các hoạt-động sôi-động trước mọi người, họ cố tình nhấn mạnh mấy chữ “chống tham nhũng” mà lơ đi cái đuôi là mấy chữ “
kiến tạo hòa bình”.
Thử hỏi: trong tình-thế dầu sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, có ai còn có cách nào “kiến-tạo hòa-bình” khác hơn là tuân giữ “
đức vâng lời”, tuân lệnh Giáo-Hoàng PhaoLô VI và ngoại-bang Vatican, bỏ súng, bắt tay với cộng-sản, rước địch vào nhà?
* *
*
Sau Hiệp-Định Paris năm 1971, chậm nhất là kể từ sau “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972, các vụ
“Bàn Thờ Phật Xuống Đường” cũng như
“Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” đã là chuyện cũ, đã lùi vào dĩ-vãng rồi.
Các ván cờ đó đã được các bên tham-dự xóa hết rồi.
Hệ-quả có chăng là sau vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” năm 1966 thì
Nhóm “Phật-Tử Tranh-Đấu” đã không còn “tranh-đấu” nữa; và sau vụ VC
“Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” năm 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 thì
tinh-thần chống-Cộng của Dân và Quân Miền Nam đã lên cao hơn.
Cho nên
Biến-Động Miền Trung là chuyện đã xưa rồi.
Mới nhất, gian-xảo nhất, và nham-hiểm nhất, là chuyện Biến-Loạn Miền Trung.
Trên bàn cờ thời-sự Miền Nam Việt-Nam, vào giai-đoạn cuối-cùng của
lịch-sử Việt-Nam Cộng-Hòa, chỉ còn có một ván cờ mới―chung-kết và
chung-quyết:
Đối-thủ chính bên phía đối-lập với Chính-Quyền là các Nhóm “
Giáo-Dân Tranh Đấu”, do đại-khối hơn 300 linh-mục trong “
Phong Trào Chống Tham Nhũng”
và cả đám linh-mục nằm vùng và thân-Cộng, “lãnh-đạo tinh-thần”
Kitô-Giáo Việt-Nam, đứng ra thao-túng tình-hình. Ở trên đầu và sau lưng
họ là Tòa Thánh La-Mã với đích-thân Giáo-Hoàng Phaolô VI cùng với hàng
chục quốc-gia chư-hầu của Vương-Quốc Vatican.
(Nhưng quốc-gia Việt-Nam của Kitô-Giáo đâu được làm một chư-hầu.
Chư-hầu là một nước nhỏ/yếu, tùng-phục một nước lớn/mạnh, để được
tồn-tại, nghĩa là vẫn còn là một nước. Đằng này, chỉ một Dòng Chúa
Cứu-Thế là một giáo-đoàn/chi-phái của Giáo-Hội Kitô, mà đã tự xem là
một Quốc-Gia, và thu-tóm cả nước Việt-Nam làm thành một Tỉnh nội-thuộc
của Nước họ rồi:
Thế đánh cạn-tàu ráo-máng của nội-thù đã chiếu bí Tổng-Thống Nguyễn
Văn Thiệu, trực-tiếp mở đường cho ngoại-địch hạ gục đối-thủ trong nước
cờ kết-thúc giữa Bắc-Việt Xâm-Lược với Việt-Nam Cộng-Hòa.
Vận Nước suy-đồi, mỗi người dù nhiều dù ít đều có một phần trách-nhiệm (thất-phu hữu-trách).
Chỉ có những kẻ đầy thiên-kiến, mù lương-tri, có ác-ý, và không tôn-trọng Sự Thật, mới đổ hết lỗi cho một riêng ai.
Ngày nay, mang thân-phận thất-quốc, lưu-vong, chỉ trừ những kẻ đã ở
hẳn bên phía cộng-sản Việt-Nam rồi, còn thì không có “Phật-Tử Tranh-Đấu”
nào mà không luyến-tiếc Việt-Nam Cộng-Hòa.
Trong lúc đó, có một số “Giáo-Dân Tranh-Đấu”, đến tận ngày hôm
nay―đã gần 40 năm qua―mà vẫn còn tự-hào, hãnh-diện về những âm-mưu,
toan-tính, nỗ-lực, và hành-động của cái-gọi-là “Phong-Trào Chống Tham
Nhũng”, vì mình không những chỉ chống-phá cá-nhân Tổng-Thống Nguyễn Văn
Thiệu mà đã đạp đổ cả cơ-chế Hiến-Pháp―với Lập-Pháp, Hành-Pháp,
Tư-Pháp ở trong Chính-Quyền―và các Khối, các Nhóm trong Dân-Nhân―với
các Chính-Đảng và các Giáo-Hội sống dưới Chính-Thể Việt-Nam
Cộng-Hòa―nói chung là Việt-Nam Cộng-Hòa.
Tóm lại, nếu vì một lý-do nào đó mà phải gán riêng cho đích-danh một
số người nào đó là “thủ-phạm chính” quấy-rối an-ninh trật-tự công-cộng
nhất, lũng-đoạn tình-hình chính-trị quốc-gia nhất, gây cho tinh-thần
dân-chúng hoang-mang nhất, khiến cho ý-chí chống-Cộng của chiến-sĩ
giao-động nhất, vào mấy năm cuối-cùng của Chiến-Tranh Việt-Nam―tức là
đâm một nhát dao chí-tử vào Việt-Nam Cộng-Hòa khi đang hấp-hối―thì số
người đó rõ-ràng, không thể chối-cãi được, phải là
thành-phần
cực-đoan trong Nhóm “Giáo-Dân Tranh-Đấu”―các linh-mục cộng-sản nằm
vùng, tay sai và thân-Cộng, cùng với Ban Lãnh-Đạo của “Phong-Trào Chống
Tham-Nhũng”―dù là một bộ-phận nhỏ―của giới tín-đồ Kitô-Giáo Miền Nam
Việt-Nam. (các trang 472-84)
Lê Xuân Nhuận
Theo nguồn: http://sachhiem.net/LICHSU/LEXNHUAN/LeXNhuan13.php