michael nguyen . Cái hiệp định Paris này không phải hôm nay tôi mới
biết , mà tôi cũng đã suy nghĩ từ bao năm nay rồi . Chỉ có sách lược này
thì mới có thể đánh gục được cái DCSVN trên pháp lý khi mình tay không
tấc sắt bạn ạ . Tuy nhiên , vì tôi không thuộc thành phần trong bộ tham
mưu của CPQGVNLT nên tôi không dám khẳng định là ông ĐMQ dùng chiến lược
đó . Có một điều khi nghe ĐMQ nói là sẽ cùng Mỹ và Quốc Tế về lại VN
thì tôi chỉ đoán vậy mà thôi . Sách lược này đã làm cho CS phải run sợ
nếu như Quốc Tế mang ra mổ sẻ . Chính vì lẽ đó nên chúng mới huy động
tối đa lực lượng với những lời lẽ trơ trẽn nhất để nói ĐMQ là tự phong ,
tổ chức ma . Sau đó có nhiều bằng chứng đưa ra , chúng đổi chiến thuật
vu khống ông là CS trá hình . Điều đó vô tình chúng đã tự hại chúng .
Lời gian dối đó đã là bằng chứng cho sự xuyên tạc . Nếu như tổ chức này
không phải là đối tượng quan trọng thì sao chúng lại làm như thế ? Những
gì CPQGVNLT đưa ra chứng minh tuy trễ , nhưng lại là điều lợi thật lớn
lao bởi tất cả những kẻ xấu đã bị chường mặt ra , những xuyên tạc chúng
đã bị tác dụng ngược khiến ngươì dân tin tưởng ĐMQ hơn . Tôi có cảm
tưởng Trời đã phù hộ cho ĐMQ từ lâu nay và Trời sẽ phù trợ cho đất nước
và dân tộc VN . Tôi có cảm giác như thế . Chỉ có Hiệp định Paris mới
trước là tháo gông xiềng CS , sau là để xù những nợ nần mà DCSVN đã vay
mượn từ TQ . Đó là điều mà ĐMQ đã đưa ra chiến dịch đạp mặt HCM , và DMQ
đã nhấn mạnh nguồn gốc HCM chỉ là tên gián điệp ngươì Tàu . Điều đó rất
có lợi trên phương diện pháp lý nếu như xảy ra tranh tụng nợ nần cuả
DCSVN để lại . Không những thế mà còn có thể kiện ngược lại TQ đã cài
ngươì là tên Hồ Tập Chương phá nát Giang Sơn VN . Đó là cái nhìn cuả tôi
về ĐMQ . Sách lược thật tuyệt vời nên tôi ủng hộ . Đặt giả sử nếu như
đất nước có thoát ách CS mà không phụ thuộc bởi hiệp định Paris , do
chính phủ VNCH lâm thời đòi lại thì VN chỉ còn là bãi rác với đống nợ
nần chồng chất . Biển đảo , đất liền đã bị DCSVN dâng hiến cho Tàu Cộng
sẽ khó khăn để đòi lại . Thân ái . Nguồn: https://waymy0778.wordpress.com/2017/05/29/cai-hiep-dinh-paris/
Câu này là đặc biệt quan trọng trong sự thừa nhận của John
Kerry rằng ông ta đã gặp gỡ với các nhà lãnh đạo của cả hai phái đoàn
cộng sản vào hòa đàm Paris vào tháng Sáu năm 1970, trong đó có bà Bình,
bộ trưởng ngoại giao của Chính phủ cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam
Việt Nam (PRG), còn được gọi là Việt Cộng. Hồ sơ của FBI từng ghi nhận
rằng Kerry sau đó đã trở lại Paris để gặp gỡ với phái đoàn cộng sản Bắc
Việt vào tháng Tám năm 1971, và cũng đã từng lên kế hoạch cho một chuyến
đi thứ ba vào tháng Mười Một.Trước khi phát hiện ra Thông tư
này, thì không có bằng chứng trực tiếp rằng Hà Nội đã thực sự chỉ đạo
các hoạt động của Phong Trào Phản Chiến ở Mỹ bằng cách truyền đạt các
mục tiêu và mong muốn của Hà Nội đến các lãnh đạo phong trào phản chiến
thông qua các chuyến thăm thường xuyên của họ đến Paris, mặc dù nhiều
nhà nghiên cứu đã khẳng định điều đó là xác thực. Những Phân tích sâu
hơn về các tài liệu này đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm cho
rằng bà Nguyễn Thị Bình đã sử dụng các cuộc gặp gỡ của y thị với John
Kerry ở Paris để hướng dẫn cho Kerry về phương cách mà ông và Hội Cựu
Chiến Binh Phản Chiến của Mỹ có thể làm tốt nhất vai trò của người đại
diện cho Hà Nội tại Hoa Kỳ. Vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1971, một chiến
lược quan trọng của Hà Nội đã được xúc tiến gọi là Kế hoạch hòa bình Bảy
điểm của Nguyễn Thị Bình.
Kế hoạch này được xây dựng khéo léo để
buộc Tổng thống Nixon phải đưa ra một thời hạn để kết thúc cuộc chiến
tranh Việt Nam và rút hết quân đôi Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Theo kế
hoạch hòa bình 7 điểm của bà Bình, trở ngại duy nhất để Hà Nội đưa ra
thời hiệu phóng thích các tù nhân chiến tranh của Mỹ ấy là Tổng Thống
Nixon đã không sẵn sang đưa ra ngày giờ cụ thể cho việc rút quân. Tất
nhiên, việc chấp nhận một cách đầy đủ các điều khoản của Kế hoạch hòa
bình 7 điểm sẽ buộc chính phủ Hoa Kỳ phải thừa nhận bại trận và đầu
hàng, một sự đầu hàng nhục nhã bao gồm việc bồi thường chiến tranh cho
phía cộng sản Việt Nam như một là một sự thừa nhận trước công luận quốc
tế rằng Hoa Kỳ là kẻ xâm lược sai trái trong một cuộc chiến tranh phi
nghĩa.
Một phần của Thông tư có tiêu đề “CHUẨN BỊ CHO PHONG TRÀO
PHẢN CHIẾN MÙA THU 1971” đã làm rõ ràng tầm quan trọng của sự phát triển
kế hoạch hòa bình 7 điểm của bà Nguyễn Thị Bình mà cộng sản Việt Nam
đặt để trên phạm vi nước Mỹ đó là:
Đề nghị hòa bình bảy điểm của
Chính phủ cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam không chỉ giải
quyết vấn đề liên quan đến việc phóng thích các tù binh Mỹ mà còn thúc
đẩy người dân của tất cả các tầng lớp xã hội và thậm chí cả thân nhân
của phi công Mỹ bị giam giữ tại Miền Bắc Việt Nam tham gia phong trào
chống chiến tranh.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ
cho thấy Chính phủ cách mạng lâm Nam Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam “SVN”,
tức là Việt Cộng còn Chính Phủ Bắc Việt, “NVN” tức là đề cập đến miền
Bắc Việt Nam.
Và một lần nữa, đã nhấn mạnh việc cộng sản Việt Nam
xem sự nối kết các hoạt động của phong trào phản chiến Mỹ, nền chính trị
Hoa Kỳ và nền chính trị tại Nam Việt Nam với nhau, như là mục tiêu tổng
quát của Kế hoạch hòa bình 7 điểm của Thị Bình có một tầm quan trọng
như thế nào:
Bè lũ Nixon - Thiệu bè lũ sẽ vô cùng lúng túng vì đề
nghị hòa bình bảy điểm được ủng hộ bởi các phong trào đấu tranh trên mặt
trận chính trị của các chính trị gia thuộc Chính Phủ Cách Mạnh Lâm Thời
Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và các phong trào phản chiến ở Mỹ. Vì vậy,
tất cả các địa phương, các đơn vị, các phân khu phải phổ biến rộng rãi
đề nghị hòa bình bảy điểm này, phải đẩy mạnh phong đấu tranh chính trị
của quần chúng nhân dân cả ở các thành phố cũng như ở các vùng nông
thôn, tận dụng lợi thế của các rối loạn và chia rẽ trong của phía đối
phương (Việt Nam Cộng Hòa) trong cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng
thống sắp tới. Các cơ quan đoàn thể phải phối hợp thành công hơn với các
phong trào phản chiến ở Mỹ để cô lập các phe nhóm Nixon - Thiệu.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ. “RVN” nghĩa là Việt Nam Cộng Hòa, tức là chính quyền Miền Nam do Hoa Kỳ hậu thuẩn.
Cuối năm 1970, một Việt Cộng chiêu hồi đã mô tả lại một kế
hoạch mà cộng sản sử dụng những thành phần thân cộng ở Mỹ để vận động
các thành viên gia đình của tù binh Mỹ bị giam giữ ở Miền Bắc Việt Nam
cùng tham gia trong các phong trào phản chiến. Bản tóm tắt sau đây của
cuộc phỏng vấn các cán binh cộng sản hồi chánh đã được cung cấp cho Ủy
Ban Đối Ngoại Hạ Viện:
Cộng sản Việt Nam đã hoạch đinh một kế
hoạch tiếp tục những nỗ lực tuyên truyền, vận động của họ để giành sự
đồng tình của thế giới đối với họ và để thu hút càng nhiều những sự hỗ
trợ cho cuộc đấu tranh từ các nước khác của cộng sản càng tốt để tạo ra
một môi trường thuận lợi cho cộng sản Bắc Việt tại Hội nghị Paris về
chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình cho Việt Nam.
Cộng sản
Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động phản chiến ở Mỹ, gây tình
trạng bất ổn trong nước, bằng các phong trào phản đối sự can thiệp của
Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam để tăng nhanh tiến trình triệt thoái
quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam và tạo ra áp lực sớm chấm dứt chiến tranh.
Nỗ
lực này sẽ được hướng trực tiếp đến các binh sỹ Hoa Kỳ Mỹ tại Việt Nam
để họ yêu sách với chính phủ Hoa Kỳ rằng họ phải được trở về nước và
được đoàn tụ với gia đình và vợ của của họ .
Cộng sản Việt Nam sẽ
nổ lực để tạo ra các dự thảo chống chiến tranh và thái độ chống chiến
tranh ở Mỹ bằng cách tổ chức các nhóm thân cộng tại Hoa Kỳ để các nhóm
đó liên lạc với các gia đình có con em đang chiến đấu ở Việt Nam và xúi
giục họ gọi con em bỏ ngủ về nước. Đồng thời, các băng nhóm thân cộng
tại Hoa Kỳ cũng sẽ được tổ chức để phân phối các dự thảo và truyền đơn
chống chiến tranh cho sinh viên và thanh niên Mỹ.
Vào ngày 01
tháng hai năm 1971, tại buổi điều tra của Winter Soldier ở Detroit, các
Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã đưa ra lời tuyên bố của bà Virginia Warner,
mẹ của tù binh chiến tranh Jim Warner, đôn đốc Tổng thống Nixon phải
“kết thúc chiến tranh để các tù nhân chiến tranh có thể trở về nhà.” Jim
Warner đã cáo buộc chính John Kerry đã khai thác nỗi sợ hãi của mẹ mình
để có được lời tuyên bố đó.
Vào ngày 22 tháng bảy năm 1971, John
Kerry đã tổ chức một cuộc họp báo ở Washington DC, kêu gọi Tổng thống
Nixon chấp nhận kế hoạch hòa bình 7 điểm của Thị Bình. Tại cuộc họp báo
đó, bao quanh Kerry là vô sô vợ con các tù binh chiến tranh cùng cha mẹ
và anh chị em của họ được mời tham dự để quảng bá thông điệp của mình.
Sự kiện này được tường trình trên tờ Thời Báo New York vào ngày 23 Tháng
Bảy năm 1971 và trên tờ Thế Giới Cộng Sản Hàng Ngày vào hôm 24 tháng 7
năm 1971. Mỗi bài viết được đăng kè bức ảnh của Kerry được bao quanh bởi
các thành viên gia đình tù binh chiến tranh.
Việc John Kerry sử
dụng các gia đình tù binh chiến tranh trong hoạt động phản chiến đã trực
tiếp tạo ưu thế cộng sản Bắc Việt trong chương trình nghị sự tại Hòa
Đàm Paris như mô tả của cán binh cộng sản hồi chánh cũng như trong Thông
tư mới được phát hiện, cho thấy thị Bình đã đề nghị cùng một kế hoạch
hành động cho các nhà hoạt động phản chiến mà y thị đã từng gặp gỡ ở
Paris.
[Lưu ý: Một số gia đình tù binh chiến tranh đã được liên
lạc bởi một nhóm “giao liên” do Cora Weiss, con gái của tài nhà hổ trợ
tài chính cho đảng cộng sản, Samuel Rubin, lãnh đạo với những đề xuất là
sẽ giúp chuyển thư tín và các thông tin về người chồng tù binh của họ
nếu gia đình đồng ý công khai lên án cuộc chiến tranh. Hầu hết các thành
viên gia đình tù binh từ chối hợp tác với hành vi tống tiền này, ngay
cả khi họ được hứa hẹn sẽ đối xử tốt hơn với chồng hoặc con của họ tại
các nhà tù ở Hà Nội. Bốn người vợ tù binh tức giận phản đối tại cuộc họp
báo của John Kerry vào tháng bảy, một trong số đó cáo buộc Kerry tội
“thường xuyên sử dụng đau khổ và đau buồn của chúng tôi” để xiễn dương
tham vọng chính trị của mình.]
Các Kết Nối: Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ)
Một
luận cứ quan trọng trong các tài liệu cho thấy mức độ mà những người
cộng sản Việt Nam đã làm việc với và thông qua các Liên Minh Dân Tộc Vì
Hòa Bình và Công Lý. Thông tư, ngay lập tức tiết lộ các Phái Đoàn Cộng
tham dự cuộc đàm phán hòa bình Paris đã được sử dụng để hướng dẫn phong
trào phản chiến Mỹ, đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Ủy Ban Dân Tộc
Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) như thế nào đối với những nỗ lực này:
Đối
với các phong trào phản chiến ở Mỹ, thì hai thực thể quan trọng hơn cả
là: Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) và Ủy Ban Quốc Gia Hành
Động Vì Hòa Bình (NPAC). Hai phong trào này đã tập [jpđược nhiều sức
mạnh quần chúng và tổ chức nhiều cuộc biểu tình tuần hành. Trong đó, Ủy
Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) là quan trọng nhất. Ủy Ban này
vẫn duy trì mối quan hệ với chúng tôi.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ (Nhấn Mạnh Bổ Sung).
Trong
báo cáo thường niên 1971 của Cục Nội An đã mô tả Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa
Bình Và Công Lý (PCPJ) là một tổ chức đặt dưới quyền kiểm soát của cộng
sản Mỹ: “Vấn đề đáng quan tâm ở đây là các đảng viên đảng Cộng sản đã
tạo ra những ảnh hưởng lớn, và những hướng dẫn có tác động mạnh mẽ đến
sự hình thành và phát triển các chính sách của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa
Bình Và Công Lý (PCPJ)”.
Những tường trình về kết quả giám sát của
FBI vừa công bố gần đây đã chứng tỏ một mối liên kết mạnh mẽ giữa John
Kerry, Al Hubbard, các Cựu Chiến Binh Phản Chiến, Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa
Bình Và Công Lý (PCPJ) và các chuyến đi của họ đến Paris để gặp gỡ với
thị Bình. Như những tranh luận được trình bày trong cuốn Unfit For
Command, về Hubbard, trưởng ban điều hành của Hội Cựu Chiến Binh Phản
Chiến và một đường lối cứng rắn cực đoan có quan hệ với các thế lực đen
Black Panthers và Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ), đã trực
tiếp tuyển dụng John Kerry vào Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến Binh Phản
Chiến, bỏ qua quá trình bầu cử của tổ chức. Tuyên bố của Al Hubbard rằng
bản thân từng là một phi công vận tải, từng bị thương tích trong chiến
đấu, đã trở nên bất khả tín khi Bộ Quốc phòng công bố các tài liệu chứng
minh rằng, mặc dù Hubbard đã ở trong không lực lượng Không quân, nhưng
ông không phải là phi công cũng chẳng phải là sĩ quan, và chưa bao giờ
phục vụ tại chiến trường Việt Nam và cũng đã chưa từng tham gia chiến
đấu ở bất cứ nơi đâu. Chính ông John Kerry chia sẻ câu chuyện tham chiến
của mình với Al Hubbard trong cuộc biểu tình Phản Đối Cuộc Hành Quân
Lam Sơn 719 tại Washington, DC, và Kerry đã xuất hiện cùng với Hubbard
trên chương trình Gặp Gỡ Báo Chí trên kênh truyền hình NBC vào ngày 18
Tháng Tư năm 1971. Hubbard cũng đã ký Hiệp ước Hòa Bình Dân Tộc People's
Peace Treaty (Giữa Người Mỹ, Người Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam và
người Việt Nam Cộng Sản ở Miền Bắc), một tài liệu của Ủy Ban Dân Tộc Vì
Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) mà đã tái khẳng định vị trí của Bắc Việt Nam
và Việt Cộng, nhân danh Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến.
Một tường
trình của FBI ấn ký ngày 11 tháng 11 năm 1971 báo cáo rằng FBI đã nắm
bắt được thông tin tại Hội nghị Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến khu vực
Norman Oklahoma, vào ngày 5-
Tháng 7, năm 1971, rằng John Kerry và
Al Hubbard đã hoạch định chuyến đi đến Paris trong tháng 7 để tham gia
vào các cuộc đàm phán hòa bình với các đoàn đại biểu cộng Sản Việt Nam.
Trong khi tài liệu này đang được phối kiểm từ nhiều nguồn khác nhau, thì
một báo cáo khác của FBI khác đã tường minh rằng Đảng Cộng sản Mỹ lo
liệu mọi chi phí cho chuyến đi của Al Hubbard đến Paris.
Cần lưu ý
rằng “ĐẢNG CỘNG SẢN” ĐƯỢC ĐỀ CẬP ĐẾN TRÊN RETEL là Đảng Cộng sản Hoa
Kỳ, VÌ AL HUBBARD LÀ THÀNH VIÊN phối hợp của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa
Bình Và Công Lý (PCPJ), CŨNG NHƯ GIL GREEN LÀ THÀNH VIÊN CỦA ỦY BAN QUỐC
GIA CỦA CỘNG SẢN Hoa Kỳ và Jarvis TYNER LÀ GIÁM ĐỐC LIÊN ĐOÀN THANH
NIÊN CÔNG NHÂN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC. HUBBARD, GREEN VÀ TYNER ĐÃ TỪNG CÙNG
THAM DỰ CÁC CUỘC HỌP CỦA LIÊN MINH DÂN TỘC VÌ HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ
(PCPJ).
- Trong một báo cáo về giám sát thực địa của Cục Điều Tra
Liên Bang FBI, nộp ngày 11 tháng 11 năm 1971, gồm một bản sao của báo
cáo này được gởi đến văn phòng FBI ở Boston bằng đường hàng không yêu
cầu Văn Phòng lưu tâm đặc biệt đến John Kerry .
Một báo cáo khác
của Cục Điều Tra Liên Bang FBI trong lĩnh vực giám sát thực địa ngày 24
Tháng 11 năm 19 đã tường trình chi tiết về phần trình bày của Al Hubbard
cho các ủy ban điều hành và chỉ đạo Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến trong
một cuộc họp tại thành phố Kansas, Missouri, trong suốt những ngày cuối
tuần từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 11 năm 1971. Tại cuộc họp này các Hội
Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã xem xét, và sau đó đã từ chối kế hoạch ám
sát một số thượng nghị sĩ Hoa Kỳ ủng hộ cuộc chiến tranh Việt Nam. John
Kerry được ghi nhận là có hiện diện trong cuộc họp. Một lần nữa, Al
Hubbard đã làm sáng tỏ thêm sự phối hợp của cộng sản có liên quan đến
chuyến đi gần đây của ông đến Paris:
[BLACK OUT] Xin được thông báo rằng Hubbard đã cung cấp các thông tin sau về chuyến đi Paris của mình như sau:
Có
hai thực thể nước ngoài, một là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) và
Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, đã mời đại diện của Hội Cựu Chiến Binh Phản
Chiến cùng đại diện Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, và một nhóm cánh tả tại
Paris, cùng tham dự cuộc họp của họ ở Paris. Hubbard khai là ông được
bầu chọn để đại diện cho Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến. Một người đàn
ông khác, không rõ danh tính đã được mời đại diện cho đảng cộng sản Hoa
Kỳ và một cá nhân không rõ danh tính khác đã được tuyển chọn để đại diện
cho các nhóm cánh tả ở Paris. Tại cuộc họp, Hubbard cũng đã trình bày
rằng chuyến đi của ông được tài trợ bởi Đảng Cộng Sản Mỹ.
- Báo cáo giám sát thực địa của Cục Điều Tra Liên Bang, nộp 24 Tháng 11 năm 1971.
Một
lá thư do Al Hubbard viết vào ngày 20 tháng 4 năm 1971 đã xóa tan mọi
nghi ngờ về sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội Cựu chiến binh chống chiến
tranh Việt Nam và Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý. Địa chỉ nơi
gửi đi là từ các văn phòng Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến ở Washington,
DC, bức thư đưa ra lời kêu gọi cho các thành viên của Hội Cựu Chiến Binh
Phản Chiến hãy dành sự hỗ trợ cho Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công
Lý (PCPJ). Nội dung bức thư cũng bàn thảo về một số phương cách mà hai
tổ chức đó đã làm việc chặt chẽ với nhau:
Đây là một lời kêu gọi
giúp đỡ cho Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). Trong những
tháng qua, Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). đã hỗ trợ
Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến bằng nhiều cách. Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa
Bình và Công Lý (PCPJ) đã cung cấp miễn phí văn phòng làm việc cho Hội
Cựu Chiến Binh Phản Chiến, và Liên Minh cũng cho phép Hội được sử dụng
tất cả các thiết bị văn phòng cần thiết như máy máy quay rô nê ô, máy
làm stencil thư mục và máy đánh chữ. Họ cho chúng tôi mượn chiếc xe hơi,
phương tiện thông tin, và thiết bị địa chỉ công cộng. Nhân viên của họ
đã tiếp nhận thông tin báo chí cho chúng tôi và giúp chúng tôi tham gia
cùng chúng tôi trong tình đồng chí để giúp đỡ cho chúng tôi cùng tiến bộ
của chúng tôi. Bây giờ là lúc mà chúng ta có thể đáp trả lại bằng sự hỗ
trợ này.
Vào ngày thứ bảy, 24 Tháng Tư, Liên minh cần sự giúp đỡ
quyên góp tiền và bán các nút bấm tại cuộc diễu hành tuyệt và cuộc biểu
tình lớn. Những người làm công việc quyên góp và bán hàng phải tràn đầy
hang hái và quyết tâm. Sẽ có vấn đề rắc rối về an ninh trong việc mang
số tiền lớn đến các ngân hàng. Liên minh cần quyền lực của nhân dân, và
cần hàng trăm người tham gia trợ giúp.
Tôi tha thiết mong các bạn sẽ tiến lên để hỗ trợ cho bạn bè của chúng tôi trong trường hợp khẩn cấp này.
-
Al Hubbard đã ký tên dưới bức thư, từ Văn Phòng Hội Cựu Chiến Binh Phản
chiến tại phòng 900, 1029 Đại Lộ Vermont. N.W. Washington, DC, ngày
ngày 20 tháng 4 năm 1971. Bức thư dược tìm thấy trong hồ sơ đối tượng
tại Ủy Ban An Ninh Nội Địa, Washington, DC
Hai ngày sau khi bức
thư được viết ra, John Kerry đã thực hiện một buổi làm chứng nổi tiếng
của mình trước Thượng nghị sĩ Fulbright của Ủy ban Đối ngoại, trong đó
ông so sánh quân đội Mỹ tại Việt Nam với quân đội của Thành Cát Tư Hãn.
Cuộc tuần hành và biểu tình mà Hubbard đã được kêu gọi sự hỗ trợ của Hội
Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã trở thành cuộc biểu tình với quy mô lớn
của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ) vào ngày 24 tháng 4 ở
Washington, DC mà ngay lập tức theo sau là một cuộc biểu tình của Hội
Cựu Chiến Binh Phản chiến phản đối cuộc hành quân Lam Sơn 719 kéo dài
một tuần. Tờ Thế Giới Cộng Sản hàng ngày đã tường thuật vào ngày 27
tháng 4 rằng “Cống vật đặc biệt đã được dùng để trả công cho vai trò đặc
biệt của Cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam” đã tham
gia vào cuộc biểu tình của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý
(PCPJ), và chương trình tường thuật được tiếp nối bằng phần trích dẫn
bài phát biểu dài lê thê của John Kerry tại sự kiện đó.
Sự dối trá trắng trợn của truyền thông Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam cuối cùng đã bị bộc lộ
Chelsea Schilling * Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) lược dịch - Nào
là hình chụp nhà sư tự thiêu gây bàng hoàng cho người Mỹ vào năm 1960.
Nào là hình chụp Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia bắn du kích Việt Cộng ngay
tại đường phố Sài Gòn. Nào là hình chụp người con gái nhỏ trần truồng
chạy giữa đường, toàn thân bị cháy do bom napalm.
Đó là hình ảnh của cuộc chiến Việt Nam qua ống kính lệch lạc của giới truyền thông Hoa Kỳ mà ta được biết bấy lâu.
Hình ảnh người lính Mỹ tại cuộc chiến Việt Nam được giới truyền thông
Hoa Kỳ mô tả như là những kẻ nghiện ngập, cuồng sát, giết cả trẻ em.
Đồng minh của Hoa Kỳ là chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số
phận bị xuyên tạc bởi giới truyền thông Mỹ. Chính thể này cũng được
giới truyền thông Mỹ mô tả nào là tham nhũng, hối lộ, hèn nhát và không
đáng hay không có chính nghĩa để cho người Mỹ hy sinh bảo vệ.
Câu hỏi đặt ra là những hình ảnh và những lời xuyên tạc trên nhan nhãn
khắp các đài truyền hình tại Mỹ, khắp các tờ báo tại Mỹ có thật sự diễn
tả đúng bản chất của cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và ngăn ngừa thảm họa
Cộng Sản, cũng như có nói đúng về thảm cảnh mà người Việt phải hứng chịu
trước thảm họa này?
Hai nhà điều hành và sản xuất phim Richard Botkin và Fred Koster đã
can đảm nhìn vào sự thật của cuộc chiến khi cho ra cuốn phim tài liệu
với tựa đề: “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” tạm dịch là "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bội trong cuộc chiến tại Việt Nam,”
trình chiếu tại Westminster vào ngày 27 tháng Ba năm 2015. Bộ phim đưa
ra những mẩu chuyện có thật về tình đồng đội, về lòng quả cảm, về tinh
thần quốc gia cũng như sự hy sinh trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Cộng
Sản, điều mà giới truyền thông Hoa Kỳ cố tình chối bỏ.
Botkin thành thật thừa nhận là người dân Mỹ đã bị giới truyền thông Mỹ lừa phỉnh!
Botkin cho tạp chí mạng Worldnetdaily (www.WND.com) biết như sau: "Những
người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam cũng quả cảm can trường không thua
kém gì thế hệ trước của họ khi tham dự đệ nhị thế chiến." Botkin còn cho biết thêm: "Có
cả hàng trăm ngàn sĩ quan Hoa Kỳ các cấp phục vụ tại Việt Nam lập nhiều
công trạng nhưng chỉ có mỗi một trung úy William Calley là được báo chí
bàn đến rầm rộ vì bị kết tội giết 22 thường dân tại làng Mỹ Lai vào
ngày 16 tháng Ba năm 1968."
Botkin khẳng định: “Chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề cho công bằng không thể thiên lệch như vậy."
Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được vài năm, tổng thống Nixson đã phải thở dài mà thừa nhận rằng: "Không
có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ lại bị che giấu dối gạt nhiều như
cuộc chiến tại Việt Nam. Một cuộc chiến trước thì bị truyền thông (Mỹ)
xuyên tạc, sau thì bị đánh giá thiên lệch."
Theo như Botkin tâm sự, nhiều bộ phim khác về cuộc chiến tại Việt Nam như: "Apocalypse Now", "The Deer Hunter", "Good Morning, Vietnam,” "Rambo", hay “Full Metal Jacket” cũng
chỉ là những bộ phim có tính giải trí mua vui, và những bộ phim này
không nêu rõ được những gian lao hung hiểm mà những người lính đã phải
chiến đấu hết sức dũng cảm khi đối diện trong nỗ lực ngăn chặn thảm họa
Cộng Sản.
Nhà làm phim Botkin nói: “Giới truyền thông Mỹ đã mô tả những người
lính Mỹ tham chiến tại đã bị lừa để đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa, để rồi
khi những người lính này trở về thì họ bị cả xã hội gạt bỏ quên lãng và
bị coi như là công cụ của giới kỹ nghệ sản xuất vũ khí mà thôi. Còn
những người Việt Nam đồng minh của chúng ta (tức Việt Nam Cộng Hòa) thì
lại còn bị mô tả một cách xuyên tạc nặng nề hơn nữa, nào là tham nhũng,
độc tài, hèn nhát, và không đáng để nước Mỹ phải hy sinh cứu giúp "
Thế nhưng cũng theo nhà làm phim Botkin, cũng là người viết cuốn sách "Lội ngược dòng oan nghiệt" ("Ride the Thunder") để rồi từ đó, cuốn phim tài liệu: "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bôi trong cuộc chiến tại Việt Nam"
được dựng lên, sau khi đích thân đi điều nghiên tại những nơi xảy ra
giao tranh cũ của Thủy Quân Lục Chiến (của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)
cùng các cố vấn Hoa Kỳ trước sự tấn công của Cộng quân, thì lại khẳng
định rằng mọi xuyên tạc của giới truyền thông Hoa Kỳ đối với Việt Nam
Cộng Hòa là hoàn toàn sai!
Botkin giải thích như sau: "Cuốn phim tài liệu này là cố gắng của
chúng tôi nhằm xóa đi hiểu lầm về cuộc chiến Việt Nam do truyền thông
(Mỹ) xuyên tạc, trả lại danh dự cho những người lính Mỹ tham chiến và
đồng minh Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Cộng Sản là thảm họa cần phải
ngăn chận và sự tham dự cuộc chiến của người Mỹ chúng ta là chính đáng."
Vào thập niên 1970, theo chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh" của
tổng thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình đương đầu ngăn chặn
Cộng quân. Phim của Botkin kể lại câu chuyện có thật bị lãng quên chẳng
còn ai biết đến nữa về sự can đảm của những cố vấn Mỹ và những người
lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong một trận
đánh chống lại sự tấn công ồ ạt của Cộng quân trong kế hoạch tổng tấn
công vào mùa hè năm 1972, cứu vãn cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé
này thoát khỏi tình thế nguy ngập.
Người thật việc thật - cuốn phim diễn tả lại diễn biến của trận đánh tại
Đông Hà, khi Cộng quân với quân số trên 20 ngàn người và 200 chiến xa
đã hoàn toàn bị đánh bật lại bởi một lực lượng chỉ có 700 lính thuộc
binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vài cố
vấn quân sự của Mỹ.
Do anh dũng chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường, những người lính
Thủy Quân Lục Chiến đã phải chịu đựng sự trả thù của Cộng sản bị bỏ đói
và lao động khổ sai trong các trại tập trung (không luật sư toà án xét
xử) gọi là trại "học tập cải tạo."
Cuốn phim tài liệu cũng đề cập lại quãng đời học tập cải tạo của Trung
tá Thủy Quân Lục Chiến Lê Bá Bình ở Nam Hà năm 1979. Người thủ vai ông
là diễn viên Joseph Hiếu.
"Chúng tôi mở đầu bằng cuộc đời ông trong trại tù tập trung "học tập
cải tạo" rồi từ đó truy ngược về lại quá khứ trước đó của đời ông. Thông
qua sự truy ngược đó, chúng tôi dựng lại bối cảnh Việt Nam sau đệ nhị
thế chiến, khi ông còn là đứa trẻ. Chúng tôi cũng phỏng vấn những người
Mỹ, những người Việt sinh sống cùng thời với ông.”
Trung tá Bình, một quân nhân thứ thiệt khó ai bì, phục vụ 13 năm trong
quân đội và chịu 11 năm tù trong trại tập trung. Bất chấp bao nhiêu lần
bị thương và bao nhiêu mất mát, ông vẫn can trường bình thản đối diện
oan nghiệt. Ông bị thương chín lần và được thưởng huân chương American
Silver Star.
Botkin giải thích thêm: "Khi chúng ta tham chiến tại Việt Nam, mỗi
người lính chỉ ở đó từ 12 tháng đến 13 tháng, nhưng Trung tá Bình thì ở
đó đối diện chiến tranh từ đầu cho đến cuối. Thông qua cuộc đời của
Trung tá Bình, tôi hy vọng người Mỹ chúng ta sẽ thấy sự hy sinh của
chúng ta tại Việt Nam là chính nghĩa và cần thiết "
Khi cuộc chiến đi đến hồi kết thúc, hàng triệu công dân Việt Nam Cộng
Hòa chạy giặc tìm đủ cách di tản tị nạn Cộng sản. Bao nhiêu người bị bỏ
tù hoặc bị tử hình. Sáng 30 tháng Tư, những người lính Thủy Quân Lục
Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng, kết thúc 21 năm chiến
đấu.
Những diễn viên của cuốn phim này có rất nhiều người là người Việt tị
nạn Cộng Sản. Nơi mà cuốn phim này được quay, Southern California (miền
Nam tiểu bang California) thực ra cũng đã có 370 ngàn người Mỹ gốc Việt
sanh sống mà hầu hết là những người Việt tỵ nạn Cộng sản, cựu chiến
binh, thuyền nhân; có gần 200 ngàn người Việt định cư tại Orange County.
Botkin tâm sự thêm: "Đối với những người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng
Sản, kể lại những oan nghiệt từ cuộc chiến mà họ chịu đựng không phải
chỉ là để kiếm tiền mà là những nỗi lòng u uất của kẻ mất nước, cảm thấy
có trách nhiệm phải nói lên sư thật. Họ chống Cộng tới cùng. Họ chống
Cộng vì họ nhìn rõ bộ mặt thật của Việt Cộng. Gia đình thân nhân của họ
hoặc là bị giết, hoặc là bị tù đày bởi Việt Cộng. Họ mất tất cả và sẵn
sàng bỏ tất cả để có được tự do. Tôi đã hết cách lánh né mà buộc phải
nhìn thẳng vào sự thật với lòng cảm thông kính trọng họ."
Hệ quả của cuộc chiến tại Việt Nam, cũng theo nhà làm phim theo Botkin,
đã giúp toàn khối Đông Nam Á và Á Châu né tránh được thảm họa Cộng Sản
vốn đang lây lan mạnh lúc bấy giờ cũng như có hòa bình ổn định để phát
triển.
Botkin nói: "Khi chúng ta đổ bộ lên Việt Nam năm 1965, du kích Cộng
Sản đã gây rối ở Philippine, Mã Lai, Indonexia và Thái Lan. Nhờ có sự
hiện của Hoa Kỳ tại Việt Nam, bất chấp bao nhiêu lời xuyên tạc từ truyền
thông như đã nghe đã thấy, đã giúp trì hoãn sự bành trướng của thảm họa
Cộng Sản và khiến nền kinh tế của những quốc gia kể trên có thời giờ
chấn hưng và phát triển để đủ sức tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng
Sản. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, không có nỗ lực của người
Mỹ chúng ta tham chiến tại Việt Nam thì các quốc gia này không được như
ngày nay."
"Và đối với nước Mỹ chúng ta ngày nay," Botkin bàn thêm,
"chúng ta đang loay hoay tìm lấy chính mình. Biết bao nhiêu người Mỹ
trong chúng ta nghĩ rằng đất nước mình là một quốc gia ác độc tàn nhẫn
(cũng bởi do truyền thông Mỹ gây ra,) nhưng trên thực tế, nước Mỹ chúng
ta là ánh sáng của nhân loại, người Mỹ chúng ta là biểu tượng của nhân
bản tốt đẹp cho thế giới."
Rồi ông Botkin khẳng định: "Chúng ta đã cứu thế giới vào thời đệ nhị thế
chiến, chúng ta đã cứu Nam Hàn khỏi thảm họa Cộng Sản cũng như đã cố
giúp Việt Nam ngăn chận Cộng Sản khi tham chiến ở nơi này.”
Sự phản bội của Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa- một sự thật nhục nhã!
Bruce Herschensohn (**) - Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) lược trình - Trở
về lại cuối năm 1972, Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ đã hoàn toàn thắng
trên mọi mặt trận. Đây không phải là nhận định của tôi (Herschensohn) mà
là nhận định của chính kẻ thù chúng ta là Cộng Sản Bắc Việt. Chiến
thắng về mặt quân sự gần như là tuyệt đối khi tổng thống Nixon ra lệnh
oanh tạc mọi vị trí chiến lược từ kỹ nghệ đến quân sự ở Hà Nội lẫn cảng
Hải Phòng và cuộc oanh tạc này chỉ sẽ dừng lại cho đến khi nào Cộng Sản
Bắc Việt chịu ngồi lại vào bàn hòa đàm ở Paris.
Cộng Sản Bắc Việt hết cách đã đồng ý ngồi lại hòa đàm tại Paris và chúng ta (Hoa Kỳ) đã chấm dứt oanh tạc như đã hứa.
Ngày 23 tháng Giêng năm 1973, tổng thống Nixon đã tuyên bố bốn bên gồm
Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam (gọi tắt là Việt Cộng) sẽ tiếp tục hòa đàm và ký thỏa ước hòa bình
tại Paris vào ngày 27 cùng tháng. Các điều khoản trong Hiệp Nghị mà Hoa
Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa có được là một sự thắng lợi lớn đảm bảo hào
bình tại nơi này. Tại tòa Bạch Ốc, ngày 27 được mừng gọi là ngày VVD -
"Victory in Việt Nam Day.”
Hoa Kỳ hậu thuẫn cho chiến thắng này bằng một lời cam kết đơn giản như
sau - tức là trong điều khoản hòa đàm của Hội Nghị Paris, nếu Việt Nam
Cộng Hòa cần quân viện để tự vệ khi Cộng Sản vi phạm Hiệp Định, Hoa Kỳ
sẽ quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa đầy đủ súng đổi súng- đạn thế đạn;
tức là dùng một viên đạn thì được một viên đạn mới, bị thiệt hại một
trực thăng thì có một trực thăng mới thay thế.
Sự hung hãn tấn công của Cộng Sản Bắc Việt đã bị ngưng hẳn do những
điều khoản của hiệp định Paris. Thế rồi giá trị hòa bình của Hiệp Định
này bị chà đạp do những sự kiện như sau:
1. Vào tháng Tám năm 1974, tổng thống Nixon phải từ chức vì báo chí
truyền thông Mỹ làm rầm rộ vụ Watergate (được cho là tổng thống đặt máy
nghe lén tại trụ sở đảng Dân Chủ)
2. Cũng vì vậy, sau cuộc bầu cử Quốc Hội ba tháng sau đó, đảng Dân Chủ
chiếm đa số ghế. Tân quốc hội Hoa Kỳ do đảng Dân Chủ chiếm đa số quyết
định cắt giảm hoàn toàn quân viện mà nước Mỹ đã chính thức cam kết theo
tinh thần hòa đàm của Hiệp Nghị Paris trước đó, gạt bỏ cam kết đồng minh
mà Hoa Kỳ đã chính thức cam kết với Việt Nam Cộng Hòa. Nói một cách
khác, Quốc Hội Hoa Kỳ khóa 94 do đảng Dân Chủ chiếm đa số đã hoàn toàn
bội ước.
3. Vào ngày 10 tháng Tư năm 1975, tổng thống Ford kháng nghị quyết định
này của Quốc Hội. Trong bài phát biểu trước truyền hình vào chiều hôm
đó, tổng thống Ford khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội phải có trách nhiệm đảm
bảo danh dự và chữ tín của Hoa Kỳ, không thể bội ước như thế nhưng các
nghị sĩ của quốc mới này bỏ ra ngoài không muốn tiếp tục nghe, coi nhẹ
danh dự của Hoa Kỳ trước thế giới. Nhiều người trong số dân biểu này đã
có thể trở thành dân biểu trong danh vọng là nhờ đã bội phản nước Mỹ
trước đó do có quá khứ tham gia phản chiến bấy lâu, cho nên, họ dứt
khoát bất chấp danh dự của nước Mỹ, đẩy nước Mỹ vào quyết định bội ước.
4. Ngày 30 tháng Tư, do kiệt quệ, Việt Nam Cộng Hòa thất thủ. Các trại
tập trung mọc lên như nấm và hiện tượng Thuyền Nhân Vượt Biển (chưa từng
có trong 21 năm chiến tranh) đã xảy ra.
Nếu Việt Nam Cộng Hòa nhận được quân viện như Hoa Kỳ cam kết (khi ngồi
vào hiệp định Paris 1973), kết cục của cuộc chiến có khác đi không?
Thật ra, kết cuộc đã khác đi từ lâu. Tướng lãnh của Cộng Sản Bắc Việt đã
thừa nhận họ đánh để dò xét thử phản ứng của tổng thống Ford bằng cách
cẩn thận lấn chiếm từng làng nhỏ một rồi từng thành phố một. Và phản ứng
của chúng ta (Hoa Kỳ) là thụ động bất hứa. Hoa Kỳ không hề quân viện
cho Việt Nam Cộng Hòa như đã cam kết. Cho nên, Cộng Sản Bắc Việt hiểu rõ
ngay là họ có thể tiến về Sài Gòn mà không còn lo sợ gì nữa. Sau này,
thành phố này đã bị đổi tên là thành Hồ.
Nguyên thượng nghị sĩ Arkansas, William FullBright, đã từng là chủ tịch
UB Đối Ngoại Thượng Viện lại còn tuyên bố (một cách trơ trẽn mất danh
dự) về sự kiện Hoa Kỳ bội ước để rồi Việt Nam Cộng Hòa thất thủ như sau:
"Tôi cũng chỉ buồn như là tiểu bang Arkansas bị thua một trận bóng ném
cho tiểu bang Texas vậy thôi." (*)
Hoa Kỳ đương nhiên biết là Cộng Sản sẽ vi phạm Hiệp Định Hòa Bình tại
Paris và đã dự phòng cho trường hợp xấu nhất. Điều mà lịch sử Mỹ không
ngờ là chính Quốc Hội của đất nước này lại đi bội ước và không tôn trọng
Hiệp Định, xé bỏ cam kết và danh dự của quốc gia mình, sẵn sàng bội
phản đi giúp cho kẻ thù của quốc gia mình là Cộng Sản Bắc Việt. Sự phản
bội này là sự thật!"
Ghi chú phụ thêm từ chương trình:
a. Sau khi Sài Gòn thất thủ, hàng triệu người miền Nam phải vào trại tập
trung trong rừng rú. 250 ngàn người chết ở đó, do bị xử bắn, bệnh tật,
tra tấn hoặc bị đói kém
b. Từ năm 1975 đến năm 1995, hai triệu thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra
đi để cố thoát tìm tự do, khoảng 200 ngàn người bị giết, mất tích do đắm
tàu hay bị cướp biển hãm hại.
c. Ngày nay, Việt Nam vẫn còn chế độ Cộng Sản nhưng lại bỏ đường lối
kinh tế XHCN vốn là nguyên nhân chính dẫn đến cả triệu người phải hy
sinh hoặc bị sát hại.
TRUNG QUỐC SẼ GÂY CHIẾN TRANH VÀO LÚC NÀO? VÌ SAO?
Dạo gần đây, trên các phương tiện thông tin truyền thông,
chúng ta liên tục thấy sự sôi nổi ở vấn để biển Đông, cũng như sự hung
hăng của Trung Quốc. Đôi lúc chúng ta nghĩ rằng chiến tranh đã rất cận
kề. Rồi chúng ta tự hỏi, nó có khả năng diễn ra hay không? Bao giờ nó
diễn ra? Diễn ra như thế nào?
Khoảng thời gian 2020 – 2050
Theo tôi, đây là thời gian vàng cho Trung Quốc động binh. Trong thời
gian này, Trung Quốc có một số điều kiện tương đối thuận lợi, và họ sẽ
phải tận dụng triệt để nếu muốn đạt được mưu đồ xâm lược của mình, vì
tấn công trước hoặc sau khoảng thời gian này thì Trung Quốc sẽ lâm vào
rắc rối lớn.
Dưới đây là các lí do khiến Trung Quốc sẽ động binh trong giai đoạn 2020 – 2050: Vấn đề tài nguyên:cái
lí do gây chiến này ai cũng biết rồi, Trung Quốc hiện đang khát tài
nguyên hơn cả, thứ đầu tiên Trung Quốc cần là dầu mỏ để bôi trơn nền
kinh tế đang phát triển nóng và nhanh như vũ bão, sau đó là các loại tài
nguyên khác.
Nhìn vào sự phát triển của Trung Quốc ngay hôm nay làm ta nhìn thấy
không gì hơn ngoài một nước tư bản trong giai đoạn đầu, (khi còn là tư
bản thực dân cướp đất giành tài nguyên như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha). Trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông, ai cũng biết là đủ sức nuôi sống
nền kinh tế Trung Quốc trong khoảng 40 năm sau, số lượng cá ở biển Đông
đủ nuôi sống đám ngư dân ở phía Nam Trung Quốc một thời gian dài.
Đây là một trong những điều kiện cần để Trung Quốc tiến hành chiến
tranh với bất kì nước nào trên biển Đông, chứ chưa phải là điều kiện
thuyết phục chúng ta về mốc thời gian trên cho lắm. Vấn đề dân số:thực
ra hơi khôi hài khi lấy vấn đề này ra nói, nhưng đây lại là vấn đề rất
lớn để Trung Quốc gây chiến. Thậm chí nó còn quyết định luôn việc tại
sao phải đánh trong giai đoạn này mà không phải giai đoạn khác. Tại sao
thế?
Tỷ lệ dân số đông và trong 10, 20 năm tới tính từ năm 2012 thì lại
càng đông theo hướng tiêu cực, vấn đề chênh lệch giới tính giữa nam và
nữ rất nghiêm trọng, dân số già hóa dần, an sinh xã hội sẽ trở thành
gánh nặng.
Vậy làm sao để giải quyết vấn đề dân số sẽ già này mà không có lối
thoát này? Đó là … giết chết bớt đi trước khi họ kịp già. Nhưng làm sao
giết dân một cách hợp pháp? Cách hợp pháp nhất là …đẩy ra chiến trường!
Và mốc thời gian 2020-2050 là khoảng thời gian tốt để giết bớt một thế
hệ ở Trung Quốc và bắt đầu một thế hệ mới cân đối hơn. Vấn đề chính trị:Lần
này, nếu có chiến tranh, Trung Quốc sẽ không để xảy ra những cuộc tranh
cãi lớn trong nội bộ chế độ lãnh đạo như năm 1979 nữa, sự tranh cãi về
vấn đề tấn công một đồng mình chung ý thức hệ Cộng sản, các nhà lãnh đạo
Trung Quốc sẽ không để lập lại.
8 năm tính từ năm 2012 có lẽ là quá đủ để Trung Quốc loại hẳn những
đối thủ chính trị có tư tưởng thân đồng minh cùng ý thức hệ (VD như Việt
Nam và Trung Quốc chung ý thức hệ cộng sản, nói thật chứ theo quan điểm
cá nhân tôi thì Trung Quốc chẳng “cộng sản” chỗ nào cả!) để thay lên
một đội ngũ nắm quyền là những kẻ có tham vọng “chinh quốc, bình thiên
hạ” để phục vụ cho tham vọng bành trướng của mình.
Điển hình trong số đó là vụ thanh trừng Bạc Hy Lai đang xôn xao dư
luận, kẻ đang lên như diều gặp gió ở Trung Quốc , gần như chắc chắn sẽ
có chân trong bộ chính trị Trung Quốc .
Ông ta là người thế nào? Có phải là người yêu quý láng giềng và sẵn
sàng cãi nhau trong bộ chính trị Trung Quốc để giảm áp lực chiến tranh
lên láng giềng không? Câu trả lời là không biết, nhưng có lẽ ông sẽ là
trở ngại, sẽ là cái loa phát thanh đứng đầu trong các luồng ý kiến chống
đối chiến tranh mà Tập Cận Bình sẽ phát động trong tương lai.
Khi nội bộ Trung Quốc đã không còn những kẻ chống đối thì rõ ràng là
rất gọn đường cho Trung Quốc đưa ra quyết sách tấn công tùy thích. Vấn đề sức mạnh quân sự: Trung Quốc năm 2012 bây giờ
đã có gì nào? Một mớ tàu cà tàng, gần chục con tàu đổ bộ 071 tự đóng,
một mớ tàu ngầm thế hệ cũ khởi động cứ như bò rống và 1 cái xác vỏ cũ
rích mang tên Thi Lang làm tàu sân bay nhưng vẫn còn thiếu … cáp hãm
phanh.
Và cũng như một tướng Trung Quốc đã phát biểu: “Tàu sân bay, Trung
Quốc cần bao nhiêu sẽ có!” Thế nên tới thời điểm 2020, Trung Quốc có lẽ
cũng đã “nhái” xong mấy sợi cáp hãm phanh, đóng xong vài tàu sân bay, ít
nhất cũng phải kha khá chừng vài chục con, tệ lắm là 3 đến 5 con tàu
phục vụ cho mục tiêu không tốt đẹp gì của mình.
Đấy là mới kể về hải quân, chưa nói gì về năng lực chống tiếp cận,
hay không quân cả, Trung Quốc sẽ có thể hoàn thành tên lửa Dongfeng 21,
31 gì đó và J-20 máy bay tàng hình chôm công nghệ của Mỹ ít ra cũng có
thể nhấc cánh bay thật, chứ không chạy dưới đường băng để chụp ảnh nữa!
Trung Quốc sẽ phải tấn công trong giai đoạn này là vì để càng lâu thì
Việt Nam, Philip, Mỹ dưới kia càng mạnh, càng xây được thêm nhiều công
xưởng, máy móc, vũ khí, củng cố quân đội và cả nền kinh tế. Còn Mỹ cũng
sẽ đưa ra nhiều kế sách mới làm suy yếu Trung Quốc. Cho nên, Trung Quốc
phải chọn một mốc thời gian nào mà tương quan sức mạnh giữa họ và các
nước kia có lợi nhất để phát động chiến tranh.
Vấn đề cuối cùng: quan trọng nhất: tham vọng bành trướng, tâm lý của người Hán suốt 3000 năm nay, tại sao lại là bành trướng xuống hướng Nam mà không phải nơi nào khác?
Nhắc lại lịch sử cũ, cách đây vài ngàn năm, khi mà trong vô số các bộ
tộc du mục phương bắc những bộ tộc nhỏ yếu đã hợp lại thành tộc Hoa Hạ
(đây là lý do vì sao lại gọi là người Hoa, hay Trung Hoa), sau đó bắt
đầu hướng Nam, thôn tính giành đất của các bộ tộc yếu thế, hiền lành,
gốc nông nghiệp phía Nam, rồi tràn qua bờ sông Dương Tử, tức sông Trường
Giang, thôn tính các tộc Việt gọi chung là Bách Việt, sau đó đổi tên
tộc thành dân tộc Hán! Còn ở xa bên phương Nam chỉ còn sót lại duy nhất
các tộc Nam Việt, chính là chúng ta ngày nay.
Các bạn có tự hỏi tại sao lại hướng Nam mà không phải là hướng Bắc,
hướng Đông, hường Tây không? Tại vì tâm lý từ xa xưa của tộc Hán, vốn là
một tộc du mục hiếu chiến như bao tộc khác, nhưng lại là một trong
những tộc du mục yếu nhất ở phương Bắc nên không dám đấu lại các tộc
hùng mạnh khác. Đó cũng là lí do lí giải câu hỏi tại sao nhà Hán vốn
hùng mạnh thế mà khi Thành Cát Tư Hãn xâm lược lại nhanh chóng thất bại
dẫn đến việc lập ra nhà Nguyên-Mông,
Thành Cát Tư Hãn mạnh chỉ là một mặt của vấn đề, mặt còn lại là tâm
lý của tộc Hoa Hạ vốn đã sợ thua Mông Cổ từ lâu nên khi đụng trận đã sớm
thất bại. Và vì sợ hướng Bắc nên cứ lấn riết xuống phương Nam, dần tạo
thành THÓI QUEN HƯỚNG NAM – một trong những lí do lớn (bên cạnh sự tham
lam, mong bành trướng, và hiếu chiến) khiến quyết tâm chiếm Việt Nam và
Đông Nam Á của Trung Quốc là lớn hơn bao giờ hết.
***
Trên đây là 5 lí do sẽ dẫn đến việc Trung Quốc sẽ tấn công trong
khoảng thời gian 2020 – 2050. Tuy nhiên, tương lai là bất định. Chuyện
gì sẽ xảy ra nếu chiến tranh trượt ra khỏi mốc 2020 – 2050 mà tôi dự báo
mà xảy trước hoặc sau đó? Dưới các phân tích tiếp theo của tôi. Nếu chiến tranh xảy ra ở mốc trước 2020
Có một số lí do, rất có thể xảy ra, dẫn đến việc Trung Quốc tiến hành chiến tranh trước năm 2020. Bản tính nóng vội của Trung Quốc.Trong
lịch sử lẫn văn hóa của mình, Trung Quốc luôn luôn là kẻ nóng vội, đó
là một trong những lí do mà trong các cuộc chiến thời xưa giữa Việt Nam
-Trung Quốc, người phương Bắc luôn là kẻ gây chiến trước và cũng vì nóng
vội nên luôn là kẻ thất bại. Trung Quốc quá tự tin về tiềm lực quân sự của mình.Trung
Quốc phải thừa hiểu rằng nuốt được Việt Nam thì tiếp theo Mỹ, Nga sẽ
không để Trung Quốc yên. Mớ tàu chiến của Hạm đội Nam Hải trước 2020 vẫn
chưa thể coi là đủ để thách thức sức mạnh của Mỹ. Các cuộc chiến tranh ở Trung Đôngcũng
có thể là một nhân tố khiến Trung Quốc nổi điên lên đẩy mạnh chiến
tranh ở Biển Đông để giành nguồn kiểm soát dầu mỏ bù cho nguồn dầu bị
kẹt ở Trung Đông, chưa kể họ sẽ đánh để cứu đồng minh Iran, làm Mỹ phải
căng quân ra 2 mặt trận. Từ một cuộc va chạm nho nhỏở biển Đông, do sự thiếu kiềm chế hoặc hành xử không khôn ngoan của một trong các bên, có thể sẽ làm bùng nổ một cuộc xung đột lớn. Những hành động “thái quá” của Mỹ, Philippine, thậm chí là Việt Namở khu vực biển Đông có thể khiến Trung Quốc “nổi điên” và đưa ra quyết định tấn công.
Nếu chiến tranh xảy ra trong giai đoạn này thì điều gì sẽ xảy ra?
Trung Quốc chưa đủ thực lực, làm thế nào mà trong 8 năm tới có thể đóng
đủ tàu sân bay để xưng hùng xưng bá với Mỹ ở Biển Đông? Đánh một nước sẽ
đánh động toàn bộ các nước khác, làm thất bại đến hàng chục năm “ẩn
mình chờ thời”, “trỗi dậy hòa bình”, hay “giấu đi ánh hào quang, duy trì
sự bí ẩn”.
Còn với riêng Việt Nam – đất nước án ngữ tuyến đường vận chuyển dầu
và nguyên liệu từ Trung Đông và Châu Phi đến Trung Quốc, nếu Trung Quốc
chưa đủ sức mạnh để“đấm một phát chết luôn” thì đừng dại mà đụng vào,
bởi một cuộc chiến kéo dài sẽ kéo sập nền kinh tế và đời sống xã hội
Trung Quốc. Nếu chiến tranh xảy ra ở sau mốc 2050
Đến lúc này, dân số đã quá giá, thế mạnh lớn nhất của Trung Quốc lại
phản tác dụng, làm suy yếu nền kinh tế, tạo gánh nặng lên an sinh xã
hội, giảm sức chiến đấu của quân đội, Trung Quốc sẽ suy vong nếu tiến
hành chiến tranh.
Về mặt kinh tế, Trung Quốc phát triển quá nhanh, quá nóng nên không
bền vững. Không có gì đảm bảo rằng 4 thập niên nữa Trung Quốc sẽ ổn định
được nền kinh tế phát triển bền vững và đều đặn. Nội việc bây giờ phụ
thuộc quá nhiều vào nhập khẩu dầu mỏ là đã thấy kinh tế Trung Quốc không
ổn định rồi. Rồi sự chêch lệch quá mức trong thu nhập giữa các tầng lớp
cũng dần đẩy những bất bình đẳng xã hội đi xa hơn, càng làm giảm sự
đoàn kết của người dân Trung Quốc nếu có chiến tranh.
Trong khoảng thời gian đó, không biết quân đội nhân dân Việt Nam đã
xây được mấy chục cái nhà máy sản xuất tên lửa Kh-35UE, và Yakhont, mua
biết bao nhiều tàu ngầm và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hải quân trên khắp
lãnh thổ, cũng như đẩy mạnh đầu tư vào vũ khí chống tiếp cận?.
Philippinescũng thế, Mỹ lại càng ghê gớm hơn thế. Không ai chịu đứng
yên ngồi nhìn Trung Quốc phát triển vũ khí để đánh mình cả. Tóm lại, sau
năm 2050, cơ hội chiến thắng của Trung Quốcchẳng còn được bao nhiêu. NIGHTMOONLIGHT Nguồn: http://www.quandany.com/Khac/Tintucmoi/tabid/107/smid/657/ArticleID/1650/Default.aspx
Theo nguồn: http://tintucquansu.info/trung-quoc-se-gay-chien-tranh-vao-luc-nao-vi-sao.html
MỘT CHUYỆN THẬT ĐAU THƯƠNG Cha Tôi, Chết Không Cần Quan Tài Đào Nam Hòa Con ghi lại bài này thay cho nén hương lòng để thành tâm tưởng nhớ đến
Bố Mẹ nhân ngày giỗ Bố lần thứ 8 và giỗ Mẹ lần thứ 7 (Đào Nam Hòa.)
Tôi không biết bắt đầu câu chuyện từ lúc nào, nhưng có lẽ ấn tượng nhất
và rõ nét nhất mà hầu hết người dân miền Nam Việt Nam nhớ mãi là ngày
30/4/1975.
Khi miền Nam sụp đổ cũng là lúc bất ngờ tất cả nỗi
thống khổ đày đọa ập xuống. Nhanh như một cơn cuồng phong thịnh nộ phá
nát tan hoang. Mất tất cả!
Ngày 10/06/1975 tôi vẫn còn nhớ rất
rõ. Trước khi đi cái gọi là “học tập cải tạo” 10 ngày, dù với suy nghĩ
chỉ là 10 ngày như lời thông báo, cha tôi cũng không có lấy mấy ngàn dằn
túi. Ông bảo tôi (lúc đó 19 tuổi) đem 2 chỉ vàng cuối cùng còn lại của
gia đình- là đôi bông tai của bà nội tôi để lại- ra tiệm vàng bán. Đó là
kỷ vật quý nhất nhưng đành phải bán để mua ít lương thực cho ông mang
đi. Hai chỉ vàng lúc ấy bán được 33 ngàn. Ông mua khoảng 2 ngàn đồng
lương thực các thứ và dằn túi 1 ngàn. Còn lại 30 ngàn ông dặn ở nhà cố
gắng 13 mẹ con dè xẻn ăn uống đợi Ông về.
Mười ngày trôi qua
nhanh chóng- không ai trong số cải tạo trở về. Tôi nghĩ đây là một cú
lừa mà đã và sẽ được lịch sử ghi lại kỹ hơn. Giá sinh hoạt tăng từng
giờ. Buổi sáng 100 đồng 1 ổ bánh mỳ thì chiều đã lên 120. Sau 3 tuần thì
12 anh em tụi tôi và mẹ tôi không còn một đồng nào trong nhà. Chị tôi
lớn nhất 21 tuổi còn đang đi học, và em út mới có 2 tuổi. Mười hai con
tàu há mồm tuổi đang lớn nuốt bao nhiêu cho đủ! Cơm và thức ăn mỗi bữa
mẹ tôi phải chia cho từng đứa. Vài hột cơm sót nơi đáy nồi cũng không
yên. Chúng tôi đổ nước vào và cạo sạch không còn một hột. Còn hơn là gạo
châu củi quế.
Mẹ tôi và vài đứa em phải đi xâm canh làm ruộng
rau muống, một hình thức của kinh tế mới để giãn dân,. Không lên voi
nhưng phải xuống chó, mẹ tôi và em tôi ngày ngày vào ruộng hái rau muống
xong gánh bộ về tới chợ cách đó 6 cây số để bán. Buổi sáng khoảng 3 giờ
khi trời còn mờ mịt hơi sương và giá lạnh, mẹ và em tôi thay nhau gánh
bộ cho kịp phiên chợ sáng. 70 bó rau oằn trên vai người phụ nữ nhỏ bé
cao 1,45 nặng chưa tới 40Kg. 6kg rau mới đổi được 1 kg gạo. Một tuần mới
cắt được một lần chờ cho rau mọc. Những ngày còn lại là cấy rau, nhổ
cỏ,trồng khoai mỳ…Sức ăn trước ngày 30/4/75 của gia đình tôi một bữa là 3
lít gạo, tức 1 tuần 42 lít, khoan nói chuyện thức ăn cá mắm gì hết. Nay
1 tuần chỉ còn 13 lít!
Bắt đầu tháng 7/1975 lần lượt đồ đạc
trong nhà mọc cánh nhẹ nhàng,nhanh chóng, lả lướt, bay đi theo chân
những kẻ buôn hàng. Từ cái quạt trần, tôn cống, hàng rào, tủ quần áo,
đài radio, giường sắt, đồng hồ treo tường, đồng hồ đeo tay … đều giã từ
để về với chủ mới. Hết sạch đồ thì mấy kẻ đi buôn bảo giở gạch bông, gIở
bớt tôn ngoài mái hiên,tôn trần nhà.. bán tiếp. Bán cho đến khi căn
nhà nhỏ bỗng trở nên rộng tênh vì chả còn thứ gì ngoại trừ vài cái nồi
nấu bằng củi đen thui cũng đã sứt quai gãy gọng.Buổi tối trải chiếu ngủ
dưới đất là xong với cái bụng lép kẹp và cơn đói hành hạ. Không biết
bao lần tôi phải ăn tưởng tượng trong đêm khuya bằng cách hình dung mấy
món ăn tầm thường ngày trước như vài con khô, miếng dừa kho, tô canh
bầu.. ( Mơ mà cũng hà tiện không dám mơ thịt cá hải sản.)
Bố
tôi sau 6 tháng trong trại cải tạo lần đầu được viết thư về, Ông dặn khi
lên thăm nuôi, không cần mang theo gì cả vì trong trại có đủ mọi thứ.
Hic! Ông hiểu hơn ai hết, còn cái gì để mà mang cho ông! Tôi nhớ mãi
ngày lên thăm nuôi ông ở trại Thanh Hoá (Hố Nai), cả nhà chỉ có 1 cái xe
đạp, còn lại mẹ và các em tôi cuốc bộ 8 cây số mang theo 1 cái giỏ đi
chợ lưng lửng với ít thịt kho mắm ruốc, 1 ký đường,2 hộp sữa và 1 bộ
quần áo. Nhìn những người đi thăm nuôi, có người gánh 2 bao đầy mà lòng
tôi trào dâng niềm tủi hổ.
Sau đợt đổi tiền ngày 22/9/1975,
Chúng tôi như đàn chim vỡ tổ, tất cả bỏ học ngang, vài đứa em nhỏ tiếp
tục theo mẹ làm ruộng rau muống, còn lại mỗi đứa một phương trời kiếm
sống. Đứa lên Gia Ray vào rừng lấy củi, làm lò than, đứa theo xe lửa bán
trà đá, hàng rong, đứa bán thuốc lá.
Hơn 3 năm sau Bố tôi được
cho về để nhìn xác nhà tan hoang điêu tàn loang lở, nhìn bầy con xanh
khướt, gầy rạc, tản mát. Một chị tôi bệnh tâm thần không người chăm sóc
phải lang thang ăn xin đầu đường xó chợ,có lần xin không được, quá đói,
chị giựt mấy miếng đậu hũ bỏ chạy, chị bị người ta phang đòn gánh chảy
máu lỗ đầu giữa ngày bố tôi được tha về.
Bố không khóc, cũng
không nói gì! Qua hàng xóm xin ít bông băng. Lòng ông như xát muối! Có
lẽ ông bấy giờ mới thấm sâu mệnh đề “mất Nước là tất cả mất”. Khóc lóc
than van ích lợi gì. Giọt nước mắt chỉ làm cho kẻ chiến thắng hả hê say
sưa thêm mà thôi. Rồi theo chủ trương, ông không được ở lại thành phố.
Họ hàng nhà tôi đa số cũng là thành phần Ngụy quân, Ngụy quyền nên không
ai giúp gì được cho nhau. Cuối năm 1978 Ông lên rừng Gia Ray ngay chân
núi, cất túp lều nhỏ bé xiêu vẹo, ngày ngày ông và 2 em tôi sống nhờ
rừng.Ai ở rừng mới biết: ăn của rừng rưng rưng nước mắt! Và từ đó chuỗi
ngày lầm than, buồn thảm lại tiếp tục sau hơn 3 năm trong trại cải tạo.
Đói nhiều hơn no, buồn nhiều hơn vui. Cực khổ nặng nhọc quần quật suốt
cả ngày chỉ đủ kiếm vài lon gạo vài con cá khô.
10 năm sau, tôi
đã làm ăn khá hơn, mua được chiếc xe máy Mini scootter, lần đầu tiên
lên thăm Ông, quà cho Ông chỉ là 1 lít rượu đế nấu bằng rỉ mật. Ông mừng
lắm vì tôi đã tương đối ổn định công việc.Trong bữa cơm hôm đó, Ông
nói:
-Bố năm nay 63 tuổi rồi, cuộc đời không dành cho Bố con
mình được sống sum họp và đầy đủ. Dù sao các con cũng cố gắng vươn lên
để thoát khỏi bệnh tật, đói khát và tù đày.
Rồi Ông chỉ tay dưới chân ngọn núi Chứa Chan:
- Nhớ lời Bố dặn, nếu Bố có chết, các con không cần quan tài làm chi
cho tốn kém, cứ bó chiếu vùi thây Bố dưới chân núi là Bố mát mẻ rồi.
Thú thật, lúc ấy nếu tất cả 12 anh em tôi gom lại chắc cũng không đủ
tiền mua cái quan tài loại chót. Ông biết và không muốn các con gánh
nặng thêm!
Năm 1999, sau bao nhiêu là khó khăn vì không có tiền
làm hồ sơ xuất cảnh diện HO, cuối cùng thì 4 bố con tôi cũng tới được
Mỹ. Ngày lên đường mẹ tôi và 9 em phải ở lại vì hộ khẩu lung tung không
đuợc phái đoàn Mỹ chấp thuận. Bốn bố con mà hành trang vỏn vẹn có 5 va ly nhỏ và nhẹ tênh, chưa tới 1/3 tiêu chuẩn trọng lượng.
Đến Mỹ 3 anh em tôi phải đi làm ngay sau tháng đầu tiên để kiếm tiền
trả nợ lúc làm hồ sơ. Bố tôi thì ăn welfare vì Ông đã 74 tuổi. Ban đầu
hội thiện nguyện giúp thuê nhà, 4 bố con phải ở chung trong 1 căn
apartment 2 phòng ngủ cùng với 2 người nữa là 6 người. Quá chật, chúng
tôi đành ra ở riêng trong khi Bố tôi được chính phủ Mỹ cho ở nhà
Housing. Và từ đó Ông sống cô độc, một thân một mình. Nhưng cũng là lúc
Ông làm được một việc lớn nhất, to nhất, ý nghiã nhất kể từ sau ngày
30/4/1975! Hàng tháng Ông trả tiền điện và tiền nhà chưa tới tổng cộng
80$. Thức ăn thì Ông đi xin các Hội từ thiện miễn phí. Có lần tôi giận
Bố kinh khủng. Gia đình tôi cố tình chở Ông vào 1 quán kêu cho Ông mấy
món ngon, Ông từ chối, chỉ xin cho 1 diã bánh cuốn là đủ. Ôngnói: Ở Việt
Nam nhà mình còn quá khổ, Bố không đành ăn ngon bên này nhưng các con
đi làm vất vả cần bồi bổ, cứ ăn đi. Mỗi tháng số tiền dư còn lại gần
400$ Bố để dành và cứ 6 tháng Bố gởi về VN cho Mẹ và 9 đứa con còn ở
lại.
Chị cả tôi viết thư qua có câu: “Bố ơi, nhiều lần con phải
đi bán máu với số tiền 200 ngàn một lần để có tiền nuôi con. Để có 200
ngàn đồng tiền Việt, tụi cò máu nó đã ăn chặn mấy chặng rồi. Cầm 300$ Bố
cho mà con cứ ngỡ trong mơ. Đời con chưa bao giờ cầm số tiền lớn như
thế…
Phải bán 10 lần máu chỉ mới được 150$ …” Bố đọc thư không
khóc! mặc dù Bố biết chị chỉ cân nặng có… 34 Kg! Hic! Gan góc đến thế là
cùng! Rồi việc phải tới! Một ngày mùa đông năm 2006, tức sau gần 8 năm ở
Mỹ. Tự dưng Bố kêu và đưa tôi 8.000$ và một tờ di chúc – nét chữ vẫn
còn rất đẹp dù đã có dấu hiệu nghệch ngoạc biểu hiệu của tuổi già –
trong di chúc có nói rõ:
Khi bố chết đi, bố đã hỏi cô Hoa,
người của hội thiện nguyện, và biết rằng tiền hỏa thiêu không quan tài
chỉ mất có 800$ thôi!. Bố nói bố không cần quan tài, không cần để nhà
quàn làm gì cho tốn dăm ngàn, cứ để người ta đưa thẳng bố đi thiêu, trừ
tiền thiêu ra, còn bao nhiêu con cứ làm theo di chúc gởi về cho người
bên Viet Nam..
Sau đó mấy ngày, Bố đột qụy! Người ta đưa Bố
vào trại Dưỡng lão. Rồi Bố hấp hối. Ba anh em tôi họp nhau và quyết định
làm theo di chúc của Bố. Và chúng tôi phải ký một hợp đồng với nhà
thiêu. Khi Bố tắt thở, sau 1 tiếng người ta đuổi hết anh em tôi ra,
trong phòng người ta bỏ Bố vào 1 cái bao và kéo cái fermeture là xong!
Quá đơn giản cho một kiếp người! Khả năng 3 anh em tôi lúc đó mới đi làm
ăn lương 1 giờ 8$ (lương tối thiểu) chỉ vừa đủ tiền nhà tiền ăn. Vẫn
biết có làm đám tang bỏ Bố vào quan tài bằng vàng với hàng ngàn người
tham dự cũng vậy thôi vì Bố đâu biết gì nữa mà sao tôi vẫn cảm thấy xót
xa vô bờ. Cuối đời của một sĩ quan, từng chỉ huy hàng mấy trăm lính,
từng chỉ huy mấy cung đường sắt, âm thầm, vắng lặng và quạnh hiu. Không
ai biết, không ai đưa tiễn! Y như một chiến sĩ vô danh! Người ta bỏ Bố
lên chiếc xe kéo, đẩy ngang chỗ chúng tôi đang đứng, tất cả con, dâu và
cháu chỉ có 5 người, họ dừng lại và hỏi chúng tôi có muốn nói gì không.
Tôi có cảm tưởng như một luồng điện lạnh chạy xé dọc sống lưng. Tôi chỉ
lắp bắp nói như kẻ không hồn:
- Vĩnh biệt Bố. Từ nay Bố không còn phải hy sinh nữa Bố nhé. Công ơn của Bố cao hơn núi Thái Sơn Bố ạ!
Rồi họ lạnh lùng kéo Bố tôi đẩy lên chiếc xe dài, đi chỗ nào thiêu hay
làm gì, ở đâu, chúng tôi không được biết! Họ làm theo hợp đồng.Tôi không
khóc! Không còn nước mắt để khóc!
Hai tuần sau tôi lấy tro cốt
Bố. Khi cô nhân viên nhà xác đưa hộp tro cốt ở dưới có ghi tên bố tôi,
chỉ đến lúc bấy giờ, nước mắt tôi tự dưng tuôn ra đầm đìa – vô thức!
MỘT CHUYỆN THẬT ĐAU THƯƠNG Cha Tôi, Chết Không Cần Quan Tài Đào Nam Hòa Con ghi lại bài này thay cho nén hương lòng để thành tâm tưởng nhớ đến
Bố Mẹ nhân ngày giỗ Bố lần thứ 8 và giỗ Mẹ lần thứ 7 (Đào Nam Hòa.)
Tôi không biết bắt đầu câu chuyện từ lúc nào, nhưng có lẽ ấn tượng nhất
và rõ nét nhất mà hầu hết người dân miền Nam Việt Nam nhớ mãi là ngày
30/4/1975.
Khi miền Nam sụp đổ cũng là lúc bất ngờ tất cả nỗi
thống khổ đày đọa ập xuống. Nhanh như một cơn cuồng phong thịnh nộ phá
nát tan hoang. Mất tất cả!
Ngày 10/06/1975 tôi vẫn còn nhớ rất
rõ. Trước khi đi cái gọi là “học tập cải tạo” 10 ngày, dù với suy nghĩ
chỉ là 10 ngày như lời thông báo, cha tôi cũng không có lấy mấy ngàn dằn
túi. Ông bảo tôi (lúc đó 19 tuổi) đem 2 chỉ vàng cuối cùng còn lại của
gia đình- là đôi bông tai của bà nội tôi để lại- ra tiệm vàng bán. Đó là
kỷ vật quý nhất nhưng đành phải bán để mua ít lương thực cho ông mang
đi. Hai chỉ vàng lúc ấy bán được 33 ngàn. Ông mua khoảng 2 ngàn đồng
lương thực các thứ và dằn túi 1 ngàn. Còn lại 30 ngàn ông dặn ở nhà cố
gắng 13 mẹ con dè xẻn ăn uống đợi Ông về.
Mười ngày trôi qua
nhanh chóng- không ai trong số cải tạo trở về. Tôi nghĩ đây là một cú
lừa mà đã và sẽ được lịch sử ghi lại kỹ hơn. Giá sinh hoạt tăng từng
giờ. Buổi sáng 100 đồng 1 ổ bánh mỳ thì chiều đã lên 120. Sau 3 tuần thì
12 anh em tụi tôi và mẹ tôi không còn một đồng nào trong nhà. Chị tôi
lớn nhất 21 tuổi còn đang đi học, và em út mới có 2 tuổi. Mười hai con
tàu há mồm tuổi đang lớn nuốt bao nhiêu cho đủ! Cơm và thức ăn mỗi bữa
mẹ tôi phải chia cho từng đứa. Vài hột cơm sót nơi đáy nồi cũng không
yên. Chúng tôi đổ nước vào và cạo sạch không còn một hột. Còn hơn là gạo
châu củi quế.
Mẹ tôi và vài đứa em phải đi xâm canh làm ruộng
rau muống, một hình thức của kinh tế mới để giãn dân,. Không lên voi
nhưng phải xuống chó, mẹ tôi và em tôi ngày ngày vào ruộng hái rau muống
xong gánh bộ về tới chợ cách đó 6 cây số để bán. Buổi sáng khoảng 3 giờ
khi trời còn mờ mịt hơi sương và giá lạnh, mẹ và em tôi thay nhau gánh
bộ cho kịp phiên chợ sáng. 70 bó rau oằn trên vai người phụ nữ nhỏ bé
cao 1,45 nặng chưa tới 40Kg. 6kg rau mới đổi được 1 kg gạo. Một tuần mới
cắt được một lần chờ cho rau mọc. Những ngày còn lại là cấy rau, nhổ
cỏ,trồng khoai mỳ…Sức ăn trước ngày 30/4/75 của gia đình tôi một bữa là 3
lít gạo, tức 1 tuần 42 lít, khoan nói chuyện thức ăn cá mắm gì hết. Nay
1 tuần chỉ còn 13 lít!
Bắt đầu tháng 7/1975 lần lượt đồ đạc
trong nhà mọc cánh nhẹ nhàng,nhanh chóng, lả lướt, bay đi theo chân
những kẻ buôn hàng. Từ cái quạt trần, tôn cống, hàng rào, tủ quần áo,
đài radio, giường sắt, đồng hồ treo tường, đồng hồ đeo tay … đều giã từ
để về với chủ mới. Hết sạch đồ thì mấy kẻ đi buôn bảo giở gạch bông, gIở
bớt tôn ngoài mái hiên,tôn trần nhà.. bán tiếp. Bán cho đến khi căn
nhà nhỏ bỗng trở nên rộng tênh vì chả còn thứ gì ngoại trừ vài cái nồi
nấu bằng củi đen thui cũng đã sứt quai gãy gọng.Buổi tối trải chiếu ngủ
dưới đất là xong với cái bụng lép kẹp và cơn đói hành hạ. Không biết
bao lần tôi phải ăn tưởng tượng trong đêm khuya bằng cách hình dung mấy
món ăn tầm thường ngày trước như vài con khô, miếng dừa kho, tô canh
bầu.. ( Mơ mà cũng hà tiện không dám mơ thịt cá hải sản.)
Bố
tôi sau 6 tháng trong trại cải tạo lần đầu được viết thư về, Ông dặn khi
lên thăm nuôi, không cần mang theo gì cả vì trong trại có đủ mọi thứ.
Hic! Ông hiểu hơn ai hết, còn cái gì để mà mang cho ông! Tôi nhớ mãi
ngày lên thăm nuôi ông ở trại Thanh Hoá (Hố Nai), cả nhà chỉ có 1 cái xe
đạp, còn lại mẹ và các em tôi cuốc bộ 8 cây số mang theo 1 cái giỏ đi
chợ lưng lửng với ít thịt kho mắm ruốc, 1 ký đường,2 hộp sữa và 1 bộ
quần áo. Nhìn những người đi thăm nuôi, có người gánh 2 bao đầy mà lòng
tôi trào dâng niềm tủi hổ.
Sau đợt đổi tiền ngày 22/9/1975,
Chúng tôi như đàn chim vỡ tổ, tất cả bỏ học ngang, vài đứa em nhỏ tiếp
tục theo mẹ làm ruộng rau muống, còn lại mỗi đứa một phương trời kiếm
sống. Đứa lên Gia Ray vào rừng lấy củi, làm lò than, đứa theo xe lửa bán
trà đá, hàng rong, đứa bán thuốc lá.
Hơn 3 năm sau Bố tôi được
cho về để nhìn xác nhà tan hoang điêu tàn loang lở, nhìn bầy con xanh
khướt, gầy rạc, tản mát. Một chị tôi bệnh tâm thần không người chăm sóc
phải lang thang ăn xin đầu đường xó chợ,có lần xin không được, quá đói,
chị giựt mấy miếng đậu hũ bỏ chạy, chị bị người ta phang đòn gánh chảy
máu lỗ đầu giữa ngày bố tôi được tha về.
Bố không khóc, cũng
không nói gì! Qua hàng xóm xin ít bông băng. Lòng ông như xát muối! Có
lẽ ông bấy giờ mới thấm sâu mệnh đề “mất Nước là tất cả mất”. Khóc lóc
than van ích lợi gì. Giọt nước mắt chỉ làm cho kẻ chiến thắng hả hê say
sưa thêm mà thôi. Rồi theo chủ trương, ông không được ở lại thành phố.
Họ hàng nhà tôi đa số cũng là thành phần Ngụy quân, Ngụy quyền nên không
ai giúp gì được cho nhau. Cuối năm 1978 Ông lên rừng Gia Ray ngay chân
núi, cất túp lều nhỏ bé xiêu vẹo, ngày ngày ông và 2 em tôi sống nhờ
rừng.Ai ở rừng mới biết: ăn của rừng rưng rưng nước mắt! Và từ đó chuỗi
ngày lầm than, buồn thảm lại tiếp tục sau hơn 3 năm trong trại cải tạo.
Đói nhiều hơn no, buồn nhiều hơn vui. Cực khổ nặng nhọc quần quật suốt
cả ngày chỉ đủ kiếm vài lon gạo vài con cá khô.
10 năm sau, tôi
đã làm ăn khá hơn, mua được chiếc xe máy Mini scootter, lần đầu tiên
lên thăm Ông, quà cho Ông chỉ là 1 lít rượu đế nấu bằng rỉ mật. Ông mừng
lắm vì tôi đã tương đối ổn định công việc.Trong bữa cơm hôm đó, Ông
nói:
-Bố năm nay 63 tuổi rồi, cuộc đời không dành cho Bố con
mình được sống sum họp và đầy đủ. Dù sao các con cũng cố gắng vươn lên
để thoát khỏi bệnh tật, đói khát và tù đày.
Rồi Ông chỉ tay dưới chân ngọn núi Chứa Chan:
- Nhớ lời Bố dặn, nếu Bố có chết, các con không cần quan tài làm chi
cho tốn kém, cứ bó chiếu vùi thây Bố dưới chân núi là Bố mát mẻ rồi.
Thú thật, lúc ấy nếu tất cả 12 anh em tôi gom lại chắc cũng không đủ
tiền mua cái quan tài loại chót. Ông biết và không muốn các con gánh
nặng thêm!
Năm 1999, sau bao nhiêu là khó khăn vì không có tiền
làm hồ sơ xuất cảnh diện HO, cuối cùng thì 4 bố con tôi cũng tới được
Mỹ. Ngày lên đường mẹ tôi và 9 em phải ở lại vì hộ khẩu lung tung không
đuợc phái đoàn Mỹ chấp thuận. Bốn bố con mà hành trang vỏn vẹn có 5 va ly nhỏ và nhẹ tênh, chưa tới 1/3 tiêu chuẩn trọng lượng.
Đến Mỹ 3 anh em tôi phải đi làm ngay sau tháng đầu tiên để kiếm tiền
trả nợ lúc làm hồ sơ. Bố tôi thì ăn welfare vì Ông đã 74 tuổi. Ban đầu
hội thiện nguyện giúp thuê nhà, 4 bố con phải ở chung trong 1 căn
apartment 2 phòng ngủ cùng với 2 người nữa là 6 người. Quá chật, chúng
tôi đành ra ở riêng trong khi Bố tôi được chính phủ Mỹ cho ở nhà
Housing. Và từ đó Ông sống cô độc, một thân một mình. Nhưng cũng là lúc
Ông làm được một việc lớn nhất, to nhất, ý nghiã nhất kể từ sau ngày
30/4/1975! Hàng tháng Ông trả tiền điện và tiền nhà chưa tới tổng cộng
80$. Thức ăn thì Ông đi xin các Hội từ thiện miễn phí. Có lần tôi giận
Bố kinh khủng. Gia đình tôi cố tình chở Ông vào 1 quán kêu cho Ông mấy
món ngon, Ông từ chối, chỉ xin cho 1 diã bánh cuốn là đủ. Ôngnói: Ở Việt
Nam nhà mình còn quá khổ, Bố không đành ăn ngon bên này nhưng các con
đi làm vất vả cần bồi bổ, cứ ăn đi. Mỗi tháng số tiền dư còn lại gần
400$ Bố để dành và cứ 6 tháng Bố gởi về VN cho Mẹ và 9 đứa con còn ở
lại.
Chị cả tôi viết thư qua có câu: “Bố ơi, nhiều lần con phải
đi bán máu với số tiền 200 ngàn một lần để có tiền nuôi con. Để có 200
ngàn đồng tiền Việt, tụi cò máu nó đã ăn chặn mấy chặng rồi. Cầm 300$ Bố
cho mà con cứ ngỡ trong mơ. Đời con chưa bao giờ cầm số tiền lớn như
thế…
Phải bán 10 lần máu chỉ mới được 150$ …” Bố đọc thư không
khóc! mặc dù Bố biết chị chỉ cân nặng có… 34 Kg! Hic! Gan góc đến thế là
cùng! Rồi việc phải tới! Một ngày mùa đông năm 2006, tức sau gần 8 năm ở
Mỹ. Tự dưng Bố kêu và đưa tôi 8.000$ và một tờ di chúc – nét chữ vẫn
còn rất đẹp dù đã có dấu hiệu nghệch ngoạc biểu hiệu của tuổi già –
trong di chúc có nói rõ:
Khi bố chết đi, bố đã hỏi cô Hoa,
người của hội thiện nguyện, và biết rằng tiền hỏa thiêu không quan tài
chỉ mất có 800$ thôi!. Bố nói bố không cần quan tài, không cần để nhà
quàn làm gì cho tốn dăm ngàn, cứ để người ta đưa thẳng bố đi thiêu, trừ
tiền thiêu ra, còn bao nhiêu con cứ làm theo di chúc gởi về cho người
bên Viet Nam..
Sau đó mấy ngày, Bố đột qụy! Người ta đưa Bố
vào trại Dưỡng lão. Rồi Bố hấp hối. Ba anh em tôi họp nhau và quyết định
làm theo di chúc của Bố. Và chúng tôi phải ký một hợp đồng với nhà
thiêu. Khi Bố tắt thở, sau 1 tiếng người ta đuổi hết anh em tôi ra,
trong phòng người ta bỏ Bố vào 1 cái bao và kéo cái fermeture là xong!
Quá đơn giản cho một kiếp người! Khả năng 3 anh em tôi lúc đó mới đi làm
ăn lương 1 giờ 8$ (lương tối thiểu) chỉ vừa đủ tiền nhà tiền ăn. Vẫn
biết có làm đám tang bỏ Bố vào quan tài bằng vàng với hàng ngàn người
tham dự cũng vậy thôi vì Bố đâu biết gì nữa mà sao tôi vẫn cảm thấy xót
xa vô bờ. Cuối đời của một sĩ quan, từng chỉ huy hàng mấy trăm lính,
từng chỉ huy mấy cung đường sắt, âm thầm, vắng lặng và quạnh hiu. Không
ai biết, không ai đưa tiễn! Y như một chiến sĩ vô danh! Người ta bỏ Bố
lên chiếc xe kéo, đẩy ngang chỗ chúng tôi đang đứng, tất cả con, dâu và
cháu chỉ có 5 người, họ dừng lại và hỏi chúng tôi có muốn nói gì không.
Tôi có cảm tưởng như một luồng điện lạnh chạy xé dọc sống lưng. Tôi chỉ
lắp bắp nói như kẻ không hồn:
- Vĩnh biệt Bố. Từ nay Bố không còn phải hy sinh nữa Bố nhé. Công ơn của Bố cao hơn núi Thái Sơn Bố ạ!
Rồi họ lạnh lùng kéo Bố tôi đẩy lên chiếc xe dài, đi chỗ nào thiêu hay
làm gì, ở đâu, chúng tôi không được biết! Họ làm theo hợp đồng.Tôi không
khóc! Không còn nước mắt để khóc!
Hai tuần sau tôi lấy tro cốt
Bố. Khi cô nhân viên nhà xác đưa hộp tro cốt ở dưới có ghi tên bố tôi,
chỉ đến lúc bấy giờ, nước mắt tôi tự dưng tuôn ra đầm đìa – vô thức!
|Với
tư cách là một nhà quân sự thời VNCH , tôi xin được chia sẻ sự hiểu
biết riêng cuả mình vể CPQGVNLT để chúng ta có thể cùng nhau phân tích
hầu hiểu biết thêm cái mục đích và đường lối chính cuả tổ chức này .
Trước khi vào vấn đề , tôi xin được sơ qua về tình hình Thế giới hiện
nay khi Mỹ đã đưa lực lượng tới vùng Thái Bình Dương mà hầu như đa số
đều đồn đoán Mỹ sẽ đánh Bắc Hàn để các bạn dễ hiểu
hơn về những gì tôi trình bày dưới . Với cái nhìn cuả tôi cái phi đạn
cuả Bắc Hàn kia với Mỹ không ảnh hưởng nặng nề hay nguy hiểm bằng cái
lưỡi bò mà TQ đã vẽ . Vì thế sự triển khai lực lượng quân sự cuả Mỹ vưà
qua , dưới cặp mắt quân sự thì Bắc Hàn chỉ là diện mà TQ mới là điểm .
Mộng bá chủ thế giới cuả TQ không phải ngày hôm nay Mỹ mới nhìn ra ,
mà họ đã biết cách đây vài thập kỷ . Chính vì lẽ đó họ phải chuẩn bị
những điều dự bị khi mà Bill Clinton đã dùng chiến lược giúp TQ kinh tế
phát triển với hy vọng đánh sập CNCS còn lại .... Khi TQ phát
triển nhờ WTO thì chính là lúc Mỹ nhận ra TQ chỉ là tên bất tín trong
những điều cam kết . TT Bill Clinton đã phải dùng đến VNCH để làm con
bài sau này khi cần , vì lẽ Mỹ tư hiểu : Trên pháp lý mình không đủ danh
chính ngôn thuận để can thiệp vào vùng DNA một khi TQ bành trướng .
Phải chăng chính vì lẽ đó mà TT Bill Clinton đã công nhận chính phủ VNCH
lâm thời do Đào Minh Quân được ngươì Việt tỵ nạn bầu lên thời đó . Bằng
chứng là qua những văn kiện cuả các đời TT Mỹ sau này vẫn tiếp tục thưà
nhận mà ông ĐMQ đã đưa ra chứng minh . Như chúng ta đã được chính
ông ĐMQ trình bày qua sách luợc âm thầm bao nhiêu năm để cài CS vào bẫy
cuả tổ chức . Chung quy cũng chỉ là dùng kinh tế và pháp lý để đánh gục
CSVN hầu một khi đất nước dưới sự lãnh đạo cuả chính phủ VNCH thì Mỹ mới
có đủ danh chính ngôn thuận với tư cách là đồng minh để hiện diện trên
mảnh đất chiến lược tối quan trọng này mà Hoàng Sa - Trường Sa là cuả
VNCH trước đây Thế Giới đều biết . Tại sao Mỹ không bắt tay với CSVN ?
Chắc mọi ngươì thưà hiểu bản chất CS chỉ là loài dốt trá , lưà bịp . Mỹ
thưà hiểu CSVN đi hai hàng để hưởng lợi từ Mỹ và cũng sẽ chẳng bao giờ
muốn từ bỏ quyền làm đấy tớ cho quan thày Trung Cộng để giữ vững quyền
cai trị , vả lại HS-TS CSVN đã dâng hiến cho TQ rồi thì làm đồng minh để
được gì ? . Khi ông ĐMQ tuyên bố sẽ cùng Mỹ và Liên Hiệp Quốc về
giải thể CSVN thì phải hiểu rằng bằng giải pháp chính trị mà chúng ta
không thể biết bằng cách nào , thời gian bao lâu ? Khi ông bảo rằng sẽ
cùng quân đội Mỹ đánh TQ thì đó chỉ là câu nói ngầm ám chỉ rằng : Một
khi VN dưới thể chế VNCH , đương nhiên sẽ cùng Mỹ đồng hành đánh đuổi TQ
ra khỏi Biển Đông . Lời nói này , một số ngươì không hiểu sâu rộng ,
cùng thêm CS ngấm ngầm giải thích hiểu theo nghiã khác để hướng dẫn ,
đưa đẩy dư luận lầm lẫn rằng ĐMQ nói sẽ đưa lính Mỹ về giải cứu quê
hương , đồng thời chúng tung binh đoàn DLV và đám Việt gian dưạ vào đó
ráo riết lên án ĐMQ là tên lưà bịp ! Song song vào đó Mặt trận giải
phóng miền Nam lâu nay ẩn mình , nay có cơ hội phục thù DCSVN ,mặc dù
xưa là con đẻ cuả CS miền Bắc , nhưng lại giấu kỹ cờ nưả xanh , nưả đỏ ,
mượn cờ vàng ba sọc đỏ mà dân tộc đang khao khát yêu mến , kêu gọi
ngươì dân vùng lên lật đổ tên bất tín , bất nghiã với mình xưa kia , vì
thế thành phần này chống CS đồng thời cũng chống luôn VNCH lâm thời để
hy vọng quy tụ được toàn dân đoạt ngôi báu . Một khi chúng thắng thế
thì cái chuyện đóng băng tài sản cuả chúng ở nước ngoài sẽ vô hiệu hoá
vì chúng sẽ chẳng bao giờ lên tiếng đòi lại đồng tiền bất chính trong
túi chúng thu vét lâu nay về lại cho dân tộc và đất nước VN .... Không
những thế , ngươì anh em ruột thịt VNCH xưa với những kẻ có chữ tôi quá
lớn , coi thường một cấp bậc Trung uý còn thấp hơn mình nên không xứng
đáng làm Thủ Tướng để rồi thay vì cùng nhau đoàn kết , xây dựng VNCH
thêm vững mạnh thì lại vô tình hiệp thông cùng đám buôn dân bán nước lên
án ĐMQ mà không hiểu rằng người mang cấp bậc thấp không hẳn là ngươì có
cái đầu nhỏ trong cuộc chiến tranh chính trị hiện tại . Họ đang phải
loay hoay bắt đầu tìm kiếm sự đồng hành cuả chính phủ Mỹ nói riêng và
cộng đồng Quốc Tế nói chung khi mà CPGQVNLT đã và đang có sẵn bấy lâu
nay . Phải chăng lòng đố kỵ cuả một số nhỏ đã làm họ quên đi ba chữ Tổ
Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm ? Với 4 mũi giáp công gồm DCSVN , MTGP
miền Nam , người anh em VNCH ruột thịt và những ngươì nhẹ dạ , khờ
khạo dễ tin thì không biết Đào Minh Quân có chống đỡ nổi trong trận
chiến này không ? Có một điều , tuy tôi không phải là ngươì cuả ĐMQ ,
nhưng dám khẳng định một điều rằng : Quân đội Mỹ sẽ đồng hành với dân
tộc VN đánh đuổi Tàu cộng ra khỏi đất nước đúng như lời ĐMQ tuyên bố khi
VNCH trở về . Nếu như DCSVN bị lật đổ mà MTGP miền Nam lên nắm quyền
thì cũng chỉ là thằng cha chết , đưá con lên thay mà thôi ! Trong
tình hình hiện tại TQ ngày càng tỏ ra hiếu chiến , bằng mọi giá phải
chiếm được Biển Đông thì việc Hoa Kỳ muốn đưa VNCH là chủ nhân cuả HS-TS
về , đó không phải là điều không có khả thi , vì Mỹ tự hiểu rằng : Để
mất Biển Đông vào tay TQ là coi như mình đã mất nưả Thế Giới và cái mộng
chiếm ngôi vị siêu cường cuả TQ sẽ đạt mục đích chỉ còn là thơì gian .
Nhận xét:Tôi Yêu Sự ThậtCHUẨN
KHÔNG cần chỉnh LUÔN,bài viết RẤT HAY và nhận định RẤT CHÍNH XÁC với
thực tiễn những gì đã và đang diễn ra.Cảm ơn người đã viết bài , giúp
cho DÂN TỘC một phần hiểu ra, ai vì nợ nước non nhà, ai vì tiền bạc bán
cà NON SÔNG....Và mọi người cũng PHẢI
BIẾT thêm rằng bọn tình báo hoa nam lũ cẩu chệt hán tàu chúng nói và
viết tiếng Việt RẤT RÀNH nên chúng hùa vào với lũ dòi csvn hay các THẾ
LỰC THÙ ĐỊCH đã bị cs mua chuộc để mà đánh phá CHÍNH PHỦ của Bác ĐÀO
MINH QUÂN đấy