Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

KẾ HOẠCH TÂM LÝ CHIẾN 34- A

Chia sẻ bài viết của Vương Thơ Nguyễn Trần
KẾ HOẠCH TÂM LÝ CHIẾN 34- A    
Chiến-tranh tâm-lý, mật hiệu Forae được chấp thuận ngày 14 tháng Ba năm 1968. Tướng Westmoreland cho phép bằng lời nói chứ không có trên giấy tờ. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì đường lối hoạt động của đơn-vị SOG và những kế-hoạch bí mật.
Forae bắt đầu với sáu kế-hoạch, ba trong số đó được giao cho đơn-vị Đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) để áp-dụng trong chương trình Chiến-Tranh Tâm-Lý. Ba kế-hoạch còn lại nằm trong kế-hoạch 34-A và trở nên rường cột trong chương trình ‘Trở mặt’. Chương trình Forae nhằm mục đích làm cho địch bối rối về mặt tâm-lý. Bob Kingston quyết định ‘Đặt máy phát thanh trên miền Bắc Việt-Nam’, một số máy do các toán biệt-kích đem theo gài, số khác thả bằng dù. Những máy phát thanh đó đã được điều chỉnh trước để phát đi hai đài phát thanh ‘đen’, đài Gươm-Thiêng Ái-Quốc và đài Cờ-Đỏ. Điều này sẽ làm địch phải xử dụng lực lượng an-ninh biên-phòng đi lùng những toán quân biệt-kích mà thực ra chỉ là những máy phát thanh. Ngoài ra những đài phát thanh đen này còn gửi những mật điện cho những toán biệt-kích đang hoạt động ngoài Bắc hoặc những mật điện giả làm bối rối địch quân.
Năm 1968, vị đảm trách kế-hoạch 34-A là Bob McKnight, ông ta có một tổ nhỏ gồm những sĩ quan lo việc điều nghiên, tìm hiểu hệ thống an-ninh nội bộ trong hàng ngũ địch quân. Họ cấu tạo một hệ thống ‘trở mặt tay ba’ rất phức tạp. Kế-hoạch này gồm ba chương trình.
Chương trình Borden do Đại-Úy Bert Spivy đảm nhiệm, tuyển mộ tù binh Bắc Việt làm gián điệp cho đơn vị SOG. Họ đến những ttrại giam tù binh Bắc Việt do quân đội Hoa-Kỳ bắt được, chiêu dụ những tù binh ‘biết-điều’ mời hợp tác (Họ không dùng những tù binh do QLVNCH bắt được). Một điều các tù binh được chọn lựa không biết rằng người Hoa-Kỳ có thật lòng hay không? Thực ra, trong hồ sơ của chương trình Borden, họ hy vọng phần lớn những tù binh này sẽ ra trình diện và báo cáo cho cấp chỉ huy trong quân đội Bắc Việt về nhiệm vụ của họ. Những nhiệm vụ này đều giả tạo cũng như những tin tức tình báo mà người Hoa-Kỳ đã trao cho những điệp viên ‘đi hàng ba’ này.
Khi được thả dù trở ra ngoài Bắc, những cựu tù binh sẽ hoạt-động cho kế-hoạch 34-A một cách mù-quáng mà họ không biết. Trùm đơn vị MACV-SOG, Đại Tá Steve Cavanaugh thay thế Jack Singlaub trong tháng Chín năm 1968 cắt nghiã ‘Trong thời gian huấn luyện, chúng tôi cho người điệp viên biết về nhiệm vụ liên lạc với các toán biệt-kích đang hoạt động ngoài Bắc và trao cho họ những tin tức, lệnh lạc... Lẽ dĩ nhiên là không có toán biệt-kích nào ở toạ độ đó cả. Tất cả đều giả tạo, cúng tôi mong họ ra trình diện hoặc bị bắt để họ báo cáo cho các sĩ quan trong quân đội Bắc Việt về những toán quân ‘biệt-kích ma’ đang hoạt động trong hậu phương của họ.
Trong chương trình huấn luyện, những quân nhân thuộc Nha-Kỹ-Thuật VNCH được gài vào để thỉnh thoảng ‘rỉ-tai’ cho tù binh Bắc Việt về những toán đã ra hoạt động ngoài miền Bắc “phe ta đang làm ăn khấm-khá” và tin đồn về những tổ chức kháng chiến đang được xây dựng ở ngoài Bắc. Họ cũng cung cấp cho tù binh những tin tức sai-lầm hoặc báo cáo giả do điệp viên hay những toán biệt-kích gửi về. Lúc thả dù xuống miền Bắc, tù binh ‘hàng ba’ cũng được trao cho vinh dự nhẩy ra trước vì đâu thủ khoa trong khoá huấn luyện. Những người trong toán sẽ nhẩy theo anh ta. Điều người cựu tù binh không được biết là khi anh ta đã rơi vào màn đêm, toán biệt-kích thứ thiệt sẽ tháo dây móc dù ra và ngồi xuống ghế. Mọi chuyện đều xắp đặt trước, đến khi quân Bắc Việt tìm thấy dù vướng trên ngọn cây, toán biệt-kích đã biến mất... Thực ra đó là những tảng nước đá đã tan ra nước.
Cũng theo Spivy, lúc bắt đầu chương trình Borden, họ dự trù thả xuống miền Bắc hàng trăm điệp-viên ‘tù-binh’ mỗi năm. Trong năm 1968, lúc chương trình bắt tiến hành, hồ-sơ có ghi rõ là 98 tù-binh được tuyển mộ, năm mươi người bị loại và 44 người được thả xuống những khu vực do quân-đội Bắc Việt hoặc Việt-Cộng kiểm soát... Bốn người khác sẽ được thả dù xuống vào tháng Giêng năm 1969. Năm 1968 được coi như thành công, rồi đến cuối năm Washington ra lệnh chấm dứt tất cả những kế hoạch vượt biên ra ngoài miền Bắc.
Chương-trình Urgency gồm hai lãnh vực. Lãnh vực một đối với lính Bắc Việt, đảng viên cộng-sản không chịu hợp tác. Thành phần tin tưởng vào Bác và Đảng. Kế-hoạch 34-A có hai cách giải quyết, cách thứ nhất tìm họ trong những trại giam tù binh hoặc bắt cóc trong chương trình Plowman, hành-quân biển bắt cóc dân sống ngoài miền Bắc của đơn vị SOG. Những người này sẽ được đem ra đảo Paradise (Hải-đảo Thần-Tiên) hay cù-lao Chàm ngoài khơi Đà-Nẵng. Họ bị nhồi sọ về những tổ chức kháng chiến ngoài Bắc, đài phát thanh Gươm-Thiêng Ái-Quốc do khối Chiến-Tranh Tâm-Lý của đơn vị SOG điều hành. Theo Bob McKnight, những tay cứng đầu này bị dàn cảnh chụp mũ làm điệp viên cho người Hoa-Kỳ rồi thả ra trở lại miền Bắc... Chúng tôi hy vọng rằng họ sẽ bị bắt, bị tra tấn và bị giết... bởi chính bàn tay của họ.
Cách thứ hai dành cho những tù binh ngoài cù-lao Chàm muốn hợp tác, họ được huấn luyện để trở thành điệp viên, được gửi ra miền Bắc nằm chờ lệnh, sẽ liên lạc sau. Thực ra kế hoạch 34-A đã bắt đầu chương trình này từ năm 1967, hai điệp viên bí danh Goldfish và Pergola đã trở ra ngoài Bắc trong tháng Chín năm 1967. Cả hai đều biệt tăm.
Chương-trình Oodles dùng hệ thống phát thanh, truyền tin đánh lạc hướng quân Bắc Việt. Trong hồ-sơ của đơn-vị SOG, chương trình Oodles nguỵ tạo ra một màng lưới điệp viên đang hoạt động rất hữu hiệu trong một số vùng chọn lưạ ngoài Bắc. Cho đến khi chương trình chấm dứt, có 14 toán biệt-kích ma hoạt động trong lòng địch. Để làm như thật, nhiều điện văn giả được gửi đi những toán biệt-kích ma. Những điện văn giả bao gồm, lệnh hành quân lấy tin tình báo cho những mục tiêu, báo cáo về những hoạt động của các toán biệt-kích khác, những chuyến thả dù tiếp tế sắp tới, và tăng cường thêm nhân lực. Họ cũng làm những chuyến thả dù tiếp tế, nhưng khi quân biên-phòng Bắc Việt đến chỉ thấy những kiện hàng trống rỗng còn đồ tiếp liệu đã biến mất, điều này làm cho địch quân càng tin là những toán quân biệt-kích là có thật. Cũng như Borden và Urgency, tất cả đều chấm dứt vào cuối năm 1968.
Chương trình Strata là những toán biệt-kích hoạt động ngắn hạn. Những toán Strata cũng được thả ra ngoài Bắc với nhiệm vụ dò-thám đường xá, và tìm mục tiêu chiến lược. Chương trình này bắt đầu từ tháng Năm năm 1967. Hai toán Strata đầu tiên xâm nhập miền Bắc vào cuối năm đó. Vùng hoạt động của những toán biệt-kích Strata nằm dưới vĩ tuyến 20, khoảng 150 dặm phiá bắc vùng phi-quân-sự. Toán xâm nhập lấy tin tức về hệ thống đường mòn dẫn đến ba ngọn đèo để cuối cùng sẽ nhập vào đường mòn Hồ-Chí-Minh trên đất Lào. Những toán biệt-kích Strata chỉ hoạt động trong thời gian ngắn do đó họ có cơ-hội sống-sót nhiều hơn những toán biệt kích thả sâu ngoài miền bắc trước đây.
Những toán Strata thường gồm từ 5 đến 15 biệt-kích quân Việt-Nam hoặc người thiểu số xâm nhập miền Bắc bằng trực thăng Hoa-Kỳ hoặc Việt-Nam... Thời gian hoạt-động trong lòng địch khoảng 15 cho tới 30 ngày. Hai mươi bốn toán như vậy đã xâm nhập miền Bắc trong năm 1968. Ngoài nhiệm vụ dò thám đường, các toán Strata còn thêm nhiệm vụ gài mìn bẫy, bắt tù binh và rải truyền đơn trên những lộ trình có dân hoặc quân đội Bắc Việt di chuyển qua. Đến năm 1969, các toán biệt-kích Strata chuyển hướng hoạt động qua đất Lào và Kampuchia.
Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=422532648145557&id=100011664762642

Huynh Duc Tất cả các tin tức tình báo cảu CIA ,cỦA SOG và nhiều đơn vị khác chỉ để phục vụ cho chính sách đã được hoạch định sẵn của người Mỹ.....Đáng tiếc cho tất cả nỗ lực và sự hy sinh của các quân nhân thực hiện và và tìm kiếm tin tức tình báo..............hông tin hỏi Sếp Ngoan Phan của tui.

Huỳnh Mai St.8872- Người sưu tầm " Nhảy toán 34.A "- Nha Kỹ thuật B.TTM/QL.VNCH

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Hội thảo khôi phục VNCH theo Hiệp Ðịnh Paris 1973

Hội thảo khôi phục VNCH theo Hiệp Ðịnh Paris 1973

Hội thảo khôi phục VNCH theo Hiệp Ðịnh Paris 1973
Posted on February 23, 2012 by hoangkybactien

Luật Sư Lâm Chấn Thọ thuyết trình về “Giải pháp VNCH.” (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

FOUNTAIN VALLEY (NV) -“Trên mặt pháp lý, Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại.” Ðó là lời phát biểu của cựu Thẩm Phán Phạm Ðình Hưng trong cuộc hội thảo về tình hình đất nước do Việt Nam Cộng Hòa Foundation tổ chức tại dài truyền hình VHN, Fountai Valley, vào chiều Thứ Bẩy tuần trước. Cuộc hội thảo này được trực tiếp truyền khắp Hoa Kỳ.
Bốn diễn giả là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, cựu Thẩm Phán Phạm Ðình Hưng, Hòa Thượng Thích Giác Minh và Luật Sư Lâm Chấn Thọ đã thay nhau phân tích khía cạnh pháp lý của Hiệp Ðịnh Paris 1973 để khẳng định rằng quốc gia Việt Nam trong thể chế Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại cho dù Cộng Sản Việt Nam đã xé bỏ hiệp ước mà họ đã ký kết và được 12 quốc gia cả tự do lẫn cộng sản cùng ký.

Luật Sư Lâm Chấn Thọ đã nêu ra điều khoản trong Bản Ðịnh Ước được 12 quốc gia ký kết rằng “chỉ cần sáu trong 12 quốc gia ấy đồng thuận tổ chức tái họp Hiệp Ðịnh Paris là hiệp định này sẽ được xem xét lại việc thi hành có đúng đắn hay không.”

Do đó, Luật Sư Thọ xin đề nghị một phương cách gọi là “Giải Pháp Việt Nam Cộng Hòa” để vận động thêm năm nước thành viên đã ký kết bảo lãnh Hiệp Ðịnh Paris thì VNCH sẽ tiếp nối được công việc của chính phủ VNCH mà đặt vấn đề với quốc tế (Liên Hiệp Quốc) đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm đoạt bằng vũ lực.

Diễn giả Phạm Ðình Hưng cho rằng “vấn đề hôm nay là ý dân và thực tế hiện hữu của VNCH. Ðó là vẫn có một VNCH với hơn 3 triệu người Việt tị nạn cộng sản định cư ở nước ngoài, không kể còn biết bao người ở trong nước thời VNCH nay bị áp đặt phải sống trong chế độ cộng sản. Khối người Việt hải ngoại là những người Việt Nam không chấp nhận chế độ cộng sản. Họ đã có những sinh hoạt chính trị, vẫn giữ được lá cờ của quốc gia Việt Nam và được hơn 100 thành phố, quận hạt và tiểu bang Hoa Kỳ và nhiều quốc gia tự do khác công nhận là biểu tượng cho người Việt tự do. Họ cũng có một nền văn hóa khác biệt với trong nước dưới chế độ cộng sản. Họ cũng có một nền kinh tế, xã hội của VNCH trước đây và đã thực hiện những công tác cứu trợ cho đồng bào của họ ở trong nước mà không qua các cơ cấu của nhà nước cộng sản.”

Hòa Thượng Thích Giác Minh có mặt trong buổi hội luận này vì, theo lời ông, là “được gặp những người cùng chí hướng để nói lên một nguyện vọng.” Hòa thượng nói: “Chúng ta tranh đấu không phải là để giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam mà chúng ta tranh đấu để giải thoát cho dân tộc Việt Nam và giải thể chế độ cộng sản.”

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích cũng đưa ra nhận định về những thuận lợi cho VNCH hiện nay trước thực tại nhân quyền Việt Nam và phong trào nhân quyền tự do đang bùng nổ khắp thế giới.

Trở lại vấn đề “Giải Pháp VNCH” của Luật Sư Lâm Chấn Thọ, theo ông, “ai và tổ chức nào sẽ đứng ra làm công việc vận động 5 nước thành viên trong 12 nước đã ký vào Bản Ðịnh Ước Quốc Tế về Hiệp Ðịnh Paris 1973? Ðó là những thành phần của chính phủ sau cùng của VNCH là cơ quan lập pháp của VNCH để có sự liên tục.”

Tiếp đó Luật Sư Lâm Chấn Thọ kêu gọi các cựu dân biểu và nghị sĩ trong Quốc Hội VNCH, khóa sau cùng, hãy đứng ra làm công việc vận động tái họp lại Hiệp Ðịnh Paris 1973, phục hồi lại nước Việt Nam trong thể chế VNCH để căn cứ trên quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam và sự vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam mà giành lại chủ quyền của VNCH từ sự cướp bóc của cộng sản Bắc Việt khi trắng trợn xóa bỏ Hiệp Ðịnh Paris xua quân cưỡng chiếm VNCH.



Cuộc hội thảo khôi phục đất nước do VNCH Foundation tổ chức. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Ðược biết Luật Sư Lâm Chấn Thọ là một luật sư công pháp đang làm việc tại Canada. Ông vốn là một du học sinh trước năm 1975 và nay định cư tại đất nước này. Từ 10 năm nay, Luật Sư Lâm Chấn Thọ đã miệt mài đi tìm một giải pháp cho VNCH sau khi bị cộng sản lật đổ bằng vũ lực. Ông cũng là một thành viên trong tổ chức nộp hồ sơ xác định chủ quyền của VNCH trên thềm lục địa do thủ tướng sau cùng của VNCH Nguyễn Bá Cẩn nộp Liên Hiệp Quốc vào năm 2009.

Cuộc hội luận nhằm khôi phục lại đất nước do VNCH Foundation tổ chức được khoảng trên 200 đại diện các tổ chức đấu tranh của người Việt hải ngoại và đồng hương đến tham dự. Chủ tịch hội, cựu Tướng Lý Tòng Bá, trong dịp này phát biểu: “Dù đã 80 tuổi, nhưng đã từng là người lính VNCH đeo trên vai ba chữ Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm không thể nào im lặng trước nguy cơ của đất nước. Chúng tôi nguyện đấu tranh dưới bất cứ hình thức nào để cứu lấy sơn hà, lật đổ chế độ cộng sản vô thần đang ngự trị trên quê hương của chúng ta.”

Cuộc hội thảo sau đó đã đi vào phần bầu một ủy ban đại diện tạm thời cho dân quân cán chính VNCH để tiến hành công việc vận động.

Sau cùng ban tổ chức phổ biến một bản tuyên cáo cho biết Ban Ðại Diện Tạm Thời sẽ gửi tới Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và một số các nước thành viên đã ký trong Ðịnh Ước Quốc Tế về Hiệp Ðịnh Paris 1973 để xác định tính pháp lý của VNCH, đòi hỏi tái họp cuộc họp ở Paris để thẩm định lại sự thi hành hiệp định này.

www.nguoi-viet.com/
  1. ý hay

    đã lâu rồi tôi cũng có cái suy nghĩ này bây giờ được đọc cái ý này thì quá hay quá tuyệt vời , hy vọng trong năm nay sẽ lấy lại được những gì thuộc về VNCH

    Hội thảo khôi phục VNCH theo Hiệp Ðịnh Paris 1973

    Thỉnh cầu chính phủ Hoa Kỳ cùng Liên Hiệp Quốc triệu tập các nước có tham dự và đã ký kết Hiệp Định Paris 1973 . Đồng thời mở lại hồ sơ HĐ còn chưa kết thúc và trả lại sự công bình và danh dự cho chính phủ VNCH .
    Tổng tuyển cử (bầu cử tự do , trưng cầu dân ý) dưới sự giám sát của LHQ . Đã 37 năm đồng bào VN bị nhà cầm quyền csBV tước đoạt mọi thứ Tự do và chà đạp quyền làm người một cách thậm tệ .
    TND
  2. phục hồi lại nước Việt Nam trong thể chế VNCH

    Tôi ủng hộ kế hoạch này.

    ... phục hồi lại nước Việt Nam trong thể chế VNCH để căn cứ trên quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam và sự vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam mà giành lại chủ quyền của VNCH từ sự cướp bóc của cộng sản Bắc Việt khi trắng trợn xóa bỏ Hiệp Ðịnh Paris xua quân cưỡng chiếm VNCH..
    Nguồn: http://ydan.org/showthread.php?t=18468

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Người Việt Nam đổ ra đường ăn mừng khi biết tin này - Quá bất ngờ || Hồ Sơ Mật

Người Việt Nam đổ ra đường ăn mừng khi biết tin này - Quá bất ngờ || Hồ Sơ Mật

Xuất bản 10 thg 4, 2017
 
https://youtu.be/-Mh3Uwkj0gc
Người Việt Nam đổ ra đường ăn mừng khi biết tin này - Quá bất ngờ || Hồ Sơ Mật
Trump nói thời đại bành trướng của Trung Quốc đã kết thúc. Đưa là lời thách thức ngàn cân đối với trung quốc.
Hồ Sơ Mật - kênh thông tin chính thức , mang đến cho các bạn những thông tin bí mật cập nhật trong và ngoài nước .
Mong được sự ủng hộ của các bạn để chúng tôi ngày càng hoàn thiện và cố gắng hơn. Đề nghị các bạn tuyệt đối không bình luận, không dùng từ ngữ gây mất đoàn kết, chia rẽ. Đặc biệt lưu ý không dùng từ có nội dung phản động, đả kích, chống đối Đảng và nhà nước Việt Nam. Xin chân thành cảm ơn !

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Tháng 4: Tháng Tang

Trung Quốc sắp nổ mìn khơi dòng Mekong, hạ lưu Việt Nam bị thiệt hại?

 Trung Quốc sắp nổ mìn khơi dòng Mekong, hạ lưu Việt Nam bị thiệt hại?

Bất chấp sự phản đối của người dân Thái Lan và giới môi trường, Trung Quốc đã bắt đầu khảo sát chuẩn bị việc đặt thuốc nổ phá các thác ghềnh, cồn lớn nhỏ nhằm thông dòng cho các tàu hàng lớn của Bắc Kinh xuôi xuống Đông Nam Á.
1448685662-4-copy
Theo Bangkok Post, phía Trung Quốc hôm 19-4 chính thức bắt đầu dự án khảo sát sông Mekong từ Chiang Rai, bắc Thái Lan.
Sở hàng hải địa phương thông báo Công ty tư vấn Trung Quốc CCC Second Habor đã chính thức bắt tay vào dự án và dự kiến hoàn thành trong 55 ngày. Tờ The Nation cho biết ba tàu lớn của Bắc Kinh đã cập cảng Chiang Saen ở Chiang Rai và 60 thành viên đội khảo sát đã đi qua trạm kiểm soát biên giới.
Trưởng nhóm Liu Jian cho biết họ sẽ khảo sát 15 điểm ghềnh thác dọc một đoạn sông dài 96km từ khu tam giác vàng, tiếp nối giữa Lào, Thái Lan và Myanmar, đến Kaeng Pha Dai ở Chiang Rai. Giai đoạn đầu của dự án khảo sát từ phía Trung Quốc đến khu tam giác vàng đã hoàn tất từ trước đó.
Tổn hại môi trường
Trung Quốc đã bắt đầu kế hoạch nạo vét nhằm thông luồng cho các tàu hàng trên tuyến đường thủy từ Vân Nam xuống Thái Lan và Lào từ năm 2001 dù kế hoạch từng bị Bộ Quốc phòng Thái Lan phản đối vì lo ngại vấn đề biên giới với Lào.
Sau khi hoàn tất khảo sát, kế hoạch dự kiến bước vào giai đoạn 2 vào năm 2020 với việc cải thiện đường thủy và xây dựng các cảng tàu chở hàng và chở khách. Bắc Kinh cũng đã cho các nước trong khu vực vay hơn 10 tỉ USD để xây dựng hạ tầng và cải thiện mạng lưới vận chuyển trên sông Mekong.
Chính quyền Thái Lan hồi cuối tháng 12-2016 đã bật đèn xanh cho “Kế hoạch phát triển đường thủy quốc tế trên sông Mekong – Lan Thương 2015-2025” này, trong đó bao gồm kế hoạch sử dụng thuốc nổ để mở rộng dòng sông cho các tàu hàng trên 500 tấn. Trước năm 2015, các tàu thương mại chở hàng từ Trung Quốc đến Thái Lan chỉ có tải trọng từ 100-300 tấn.
Thủ tướng Prayut Chan-o-cha khi đó đã bác bỏ các lo ngại về môi trường, cho rằng cần phải cân bằng giữa môi trường và phát triển kinh tế. Các quan chức Thái Lan cũng cho rằng kế hoạch giúp việc vận chuyển hàng hóa và hành khách an toàn hơn, rẻ hơn.
Lãnh đạo Phòng thương mại Chiang Rai Anurat Inthorn thậm chí tham vọng tỉnh này sẽ trở thành một trung tâm vận chuyển đường thủy nhờ kế hoạch này.
Suranart Sirichok, quyền lãnh đạo Sở Hàng hải Chiang Rai, tuần trước khẳng định cuộc khảo sát chỉ là một phần của kế hoạch phát triển sông Mekong và không có kế hoạch nào liên quan đến việc đặt thuốc nổ trên sông.
Tuy nhiên, cơ quan này không tiết lộ bất cứ chi tiết nào về cuộc khảo sát cho người dân. Jirasak Inthayot, điều phối của Mạng lưới Rak Chiang Khong, khẳng định cuộc khảo sát này nhằm chuẩn bị cho việc phá các ghềnh thác trên sông Mekong để các tàu hàng lớn của Trung Quốc xuôi xuống hạ nguồn.
Phần nổi của tảng băng
Các nhóm bảo vệ môi trường Thái Lan cho biết họ sẽ cùng người dân biểu tình phản đối. “Chúng tôi muốn chính phủ Trung Quốc lẫn Thái Lan biết rằng chúng tôi sẽ bảo vệ những thác ghềnh này khỏi các vụ nổ có thể dẫn đến thảm họa cho hệ sinh thái và các cộng đồng địa phương” – ông Jirasak tuyên bố.
Trong khi đó, nhà hoạt động Niwat Roikeaw khẳng định: “Trung Quốc nếu muốn cùng chung sống tại khu vực Mekong, họ phải hiểu rằng còn có những người khác cùng sống chung. Nếu không, đó là sự xâm phạm kinh tế vì lợi ích của riêng họ”.
Giới phân tích cũng cho rằng Trung Quốc là nước hưởng lợi nhiều nhất từ dự án nhằm biến dòng Mekong thành cửa sau cho việc vận chuyển hàng hóa xuống Đông Nam Á. Theo báo The Nation, sông Mekong không phải đường tắt để vận chuyển hàng hóa giữa Trung Quốc, Lào và Thái Lan.
Đoạn sông từ cảng Tư Mao ở Vân Nam xuống Chiang Kong của Thái Lan dài 590km trong khi đường bộ chỉ 450km, đường thủy Tư Mao đến Luang Phrabang cũng dài đến 890km trong khi đường bộ chỉ 510km.
Về ý nghĩa kinh tế, thương mại từ dòng Mekong của Thái Lan với Trung Quốc, Lào, Myanmar vào khoảng 4,5 tỉ USD trong năm 2016 nhưng cũng chỉ là phụ so với đường bộ.
Lượng thương mại của Bangkok từ tuyến cao tốc R3A với Trung Quốc và Lào trong năm ngoái vào khoảng 5,4 tỉ USD. Một điều đáng quan ngại khác là vấn đề biên giới. Cũng như Bộ Quốc phòng Thái Lan, nhiều quan chức của Bangkok lo việc thông dòng Mekong, ranh giới tự nhiên với Lào, có thể làm thay đổi đường biên giới.
Thảm họa
Kế hoạch của Trung Quốc vấp phải sự phản đối kịch liệt của người dân Thái Lan và các nhà hoạt động môi trường. Họ cho rằng nó sẽ gây ra vô số thảm họa cho môi trường vốn đã chịu nhiều tổn thương từ các đập thủy điện dọc sông Mekong.
Theo Bangkok Post, 20 tổ chức bảo vệ sông Mekong đã ra thông cáo chung nhằm ngăn chặn việc phá các cồn trên sông có thể đe dọa đến các loài thủy sản, nguồn lương thực của hàng triệu người trong khu vực.
“Nếu con sông này bị kéo thẳng ra, tốc độ dòng sẽ tăng mạnh dẫn đến khô hạn ở thượng nguồn và lũ lụt ở hạ nguồn” – Tổ chức River Rhine cảnh báo.
MINH ANH
Nguồn: http://vntb.org/trung-quoc-sap-no-min-khoi-dong-mekong-ha-luu-viet-nam-bi-thiet-hai.html

Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2017

Những sự thật cần phải biết (phần 7): Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.

Những sự thật cần phải biết (phần 7): Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.


Đặng Chí Hùng (Danlambao) – Quá khứ đã trôi qua gần 40 năm , tuy nhiên quá khứ đó vẫn là nỗi đau với nhân dân Việt Nam nói chung và quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa nói riêng. Vết thương không thể lành lặn nếu đảng cộng sản vẫn tiếp tục xúc phạm danh dự của quân dân Việt Nam Cộng Hòa và đàn áp nhân dân Việt Nam. Tôi viết bài này chỉ xin góp một tiếng nói chân thật của lịch sử nhằm phanh phui tội ác của Lê Duẩn và cộng sản Việt Nam, để như một nén hương với người đã khuất trong lao tù cộng sản hay tri ân những ai đã vì tự do mà phải chịu đọa đày trong ngục tù cộng sản.
Như trong “Những sự thật cần phải biết 6”, bài Lê Duẩn: Kẻ đồng mưu với Hồ Chí Minh tàn sát nhân dân Mậu Thân 1968, tôi đã trình bày với bạn đọc tội ác của Lê Duẩn trong việc đồng mưu cùng Hồ Chí Minh tàn sát hàng nghìn người dân Huế vô tội tết mậu thân 68. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin trình bày về tội ác tiếp theo của Lê Duẩn trong việc trả thù tàn bạo đối với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975. Đây là một trong những tội ác không thể bỏ qua vì nó là một trong bốn nhóm tội ác được dự liệu tại Đạo Luật Rome (The Rome Statute) và thuộc quyền xét xử của Toà Án Hình Sự Quốc Tế (The International Criminal Court, viết tắt là ICC).
Trên thực tế , những ai là quân dân, cán chính Việt Nam cộng hòa sau khi bị bị cộng sản đưa vào tù đều thấy điều này. Ngoài ra, gia đình họ bị cộng sản bức hại đi lên vùng kinh tế mới, con em bị ghi lý lịch xấu, nhà của bị tịch thu là những nỗi thống khổ của những quân dân cán chính VNCH. Trong khuôn khổ bài viết này, tội ác của Lê Duẩn và đảng cộng sản đối với quân dân, cán chính Việt Nam cộng hòa trong lao tù của cộng sản.
I. Cả nước Việt Nam là một trại tù khổng lồ : 
Thứ nhất, ngày Thứ Hai, 23/7/2007, Website của The Wall Street Journal, nhà báo James Taranto đã trích dẫn cuộc điều tra quy mô của nhật báo Orange County Register được phổ biến trong năm 2001 về “học tập cải tạo” tại Việt Nam và đã kết luận rằng: “Ngay sau khi xâm chiếm VNCH, cộng sản đã đưa một triệu quân dân cán chính VNCH vào tù vô thời hạn – dưới cái nguỵ danh học tập cải tạo – trong ít nhất là 150 trại tù được thiết lập trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam kể cả những nơi rừng thiêng nước độc với khí hậu khắc nghiệt. Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại đa số những người này đã bị giam cầm từ 3 tới 10 năm và có một số người đã bị giam giữ tới 17 năm. Nếu lấy con số trung bình là bẩy năm tù cho mỗi người, số năm tù của một triệu người là 7,000,000 năm.”
Đây là một tội ác hình sự mang tính lịch sử của đảng cộng sản cộng sản và những người đứng đầu đảng cộng sản. Nó xứng đáng được được đưa vào cáo trạng mà chúng tôi đang thực hiện nhằm đưa tội ác của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản ra trước ánh sáng công lý.
Cũng theo cuộc điều tra nói trên cho biết: “Cứ mỗi ba gia đình tại Miền Nam, có một gia đình có người phải đi tù cải tạo. Và trong số một triệu người tù kể trên, đã có 165,000 người chết vì bị hành hạ, tra tấn, đánh đập, bỏ đói, lao động kiệt sức, chết vì bệnh không được chữa trị, bị hành quyết… Cho tới nay, hài cốt của 165,000 nạn nhân này vẫn còn bị Việt Cộng chôn giấu trong rừng núi, không trả lại cho gia đình họ. Hiện nay chỉ có Việt Cộng mới biết rõ tên tuổi các nạn nhân cùng nơi chôn giấu hài cốt của họ. Đây là tội ác thủ tiêu mất tích người, một tội ác chống loài người đã và đang diễn ra tại Việt Nam suốt 35 năm nay mà thủ phạm là Lê Duẩn…”.
Thứ hai, trong tập tài liệu ghi bí số TN/QP-14 được lưu chiểu ngày 14/02/1977 tại cục lưu trữ Bộ Quốc Phòng Cộng sản ghi rõ như sau tại trang số 6: “Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình , bộ quốc phòng giao lại cho bộ nội vụ quản lý là 1.236.569 người”.
Qua tài liệu nói trên của nhà nước cộng sản nói lên điều gì? Đó là họ đã coi những quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa là những “Tù nhân”. Trên thực tế, họ không phải là tù nhân vì theo như cộng sản tuyên truyền họ chỉ đi học tập chủ trương đường lối của “cách mạng”. Nhưng chính tài liệu của cộng sản đã coi họ là tù nhân.
Ngoài ra con số người mà đảng cộng sản cho biết chính là con số nói lên thực tế về trại tù khổng lồ mà cộng sản cùng Lê Duẩn bày ra nhằm trả thù quân dân cán chính VNCH.
Thứ ba, theo tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo thực sự đều là tù chính trị như sau: “Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ . Binh sĩ VNCH bị bắt đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4, 1975.AFP/Getty Images – Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam. – Ðại tá có 600, bị tù 366. – Trung tá có 2.500, bị tù 1.700. – Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500. – Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền. Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm”.
Như vậy, mặc dù do thất lạc khi rút bỏ Miền Nam, cộng với những thống kê những người chết do cộng sản đạo đày trong tù thì những con số mà Viện Bảo tàng cũng cho thấy cộng sản đã biến cả nước Việt Nam thành một địa ngục tù ngục trong chính sách trả thù man rợ của mình đối với những ai liên quan đến VNCH.
Thứ tư, để thừa nhận thêm về chính sách bỏ tù quân dân cán chính VNCH, cũng cần phải nhắc lại đảng cộng sản Việt Nam chủ trương theo chủ nghĩa cộng sản độc tài của Liên Xô và Trung Cộng. Hồ Chí Minh khi đem chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam chủ trương làm tay sai cho quốc tế thứ 3 (Xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ” phần 4,10,11,12) và làm con tốt thí trong tay sai Liên Xô. Những tư tưởng của Lê Nin đã được Hồ Chí Minh truyền thụ cho đàn em của mình trong việc trả thù những ai bất đồng chính kiến, trong trường hợp này là quân dân quán chính VNCH. Vì vậy nhìn lại Việt Nam sau năm 1975 như một trại tù khổng lồ của cộng sản không có gì là điều lạ lùng . Hãy đọc cuốn “Lê Nin và Xã hội chủ nghĩa” xuất bản tại Liên Xô dày 820 trang, tại trang 233 có viết:
“Chiếm được một tỉnh, giải phóng được một nước thì dễ nhưng giữ yên được đất nước, địa phương ấy mới là khó. Muốn vậy sau khi chiếm được lãnh thổ, trước hết phải tập trung giam giữ lâu dài bọn phản động, thành phần làm việc cho chế độ cũ, chỉ khi nào ổn định được xã hội, nắm vững tình hình an ninh nội chính mới thả chúng về”.
Và cũng là sư phụ của Hồ Chí Minh cũng như Lê Duẩn sau này không quên nói thêm: “Bọn này gồm những tên đầu đường xó chợ, đói khát rách rưới, Vô sản lưu manh rất nguy hiểm, chúng là kẻ thù số một của chuyên chính vô sản vì dễ bị bọn phản động mua chuộc, chúng cần bị giam giữ, loại trừ”(Trích cuốn “Lê Nin tuyển tập và Bản tuyên ngôn đảng cộng sản” có nói về Vô sản lưu manh.).
Qua đây chúng ta có thể thấy, việc cộng sản Việt Nam học tập tư tưởng của Lê Nin nhằm trả thù man rợ quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa cũng là điều hết sức thường tình đối với bản chất của cộng sản.
Thứ năm, trong cuốn sách có tên “Đối nghịch” của tác giả J. Leroy – một nhà hoạt động xã hội người Pháp và cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp (giới thiệu ở bài “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 14 – Ai làm cho Huế đau thương?”). Cuốn sách của ông đi sâu phân tích về tính chất đối lập của đảng cộng sản và các đảng phái khác và dẫn chứng về cuộc chiến Việt nam như là một sự đối nghịch đỉnh điểm về ý thức hệ. Trong trang 202 của cuốn sách in năm 2000 tại Pháp có nội dung trích như sau: “Sau ngày 30/4/1975, tư tưởng của Mác, Lê Nin đã hoàn toàn làm chủ cả Việt Nam. Hàng triệu người theo chế độ cũ do người Mỹ giúp đỡ đã phải vào tù theo lệnh cải tạo của nhà nước Việt Nam”. 
Cuốn sách này cho thấy người cộng sản Pháp đã phải công nhận có hàng triệu người quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa bị cộng sản đẩy vào tù để phục vụ cho mục đích trả thù những ai không theo cộng sản độc tài.
II. Trả thù man rợ :
Từ sau năm 1975 đến nay, nhà nước cộng sản Việt Nam, đã thi hành chính sách bắt những người là quân dân cán chính đi cải tại các trại tập trung. Thực chất là đi tù. Khi ra khỏi trại thành kẻ tứ cố vô thân. Rồi chính sách cải tạo công thương nghiệp làm cho nhiều người điêu đứng phải vượt biên… Rồi trấn áp, bắt bớ người vượt biên. Một số địa phương ven biển còn lợi dụng “bắt vượt biên” để trấn vàng, trấn của… Những thương phế binh VNCH thì bị đẩy ra lề đường.
Để nói lên thực tế này, ngay một tờ báo cộng sản đã phải thừa nhận sự thật này . Xin trích dẫn đến bạn đọc đoạn viết trên Tuần Vietnamnet: “Anh tên Ngô Công Vò, quê xã Thủy Phù, Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế, đi lính cho chế độ Sài Gòn năm 1970… So với nhiều anh em lính chế độ cũ, tôi còn may mắn hơn nhiều. Nhưng cuộc sống vẫn vất vả lắm. Anh em thương binh phía Bắc còn có chế độ, chứ chúng tôi chẳng có gì, làm việc quần quật mà chẳng đủ nuôi vợ con. Công việc của gia đình anh Vò chủ yếu làm ruộng, và ai thuê gì làm nấy. Công việc khá thường xuyên của anh là lấy đất thải san ủi nền nhà, và cả tháo gỡ những quả bom mìn còn sót lại trong vùng đem bán. Công việc vất vả, mạo hiểm đủ để tùng tiệm cuộc sống”. (Links của bài báo : http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-04-27-hoa-hop-dan-toc-va-su-hoi-sinh-tu-noi-dau).
Còn đối với những người bị giam trong tù thì ra sao? Xin điểm lại một số chứng cứ để thấy cộng sản đã đối xử với quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa như thế nào.
Trên thực tế,quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa được thông báo: “Công chức trung ương từ Chánh sở, địa phương từ trưởng ty, phó quận cho tới Tổng thống; sĩ quan cảnh sát từ thiếu tá trở lên; các thành phần đảng phái, nhân viên tình báo ra trình diện học tập tại trường Gia Long…, mang theo quần áo, lương thực.. đủ dùng trong một tháng”.
Khoảng hơn một năm sau ngày nhập trại, bộ nội vụ bèn gom tù lại, ra Chính sách 12 điểm, tất cả học viên thành tù hết, án phạt ba năm… do Công an quản lý, đối xử hà khắc, bắt lao động cực nhọc, giai đoạn này cho ăn đói, mỗi bữa chỉ có vài củ khoai và một hai bát bo bo… rồi nhiều người bị đẩy ra những trại tù ở miền Bắc như: Hoàng Liên Sơn, Cổng Trời, Thanh Hóa, Hà Nam Ninh…
Những người bị giam ở trong nam thì còn đỡ khổ vì có gia đình thăm nuôi vả lại miền nam khá hơn miền Bắc, những người bị đưa ra Bắc vô cùng thê thảm, đói khát, lạnh lẽo, bệnh tật, làm việc quá sức.. nhiều người chết bỏ xác miền Bắc hoặc hóa ra thân tàn ma dại. Sĩ quan cấp thiếu úy, những người quá trình nhẹ hoặc có thân nhân là cán bộ bảo lãnh phần nhiều được về trong vòng ba năm, cấp trung úy hoặc ty sở trưởng, những người có liên hệ an ninh tình báo thường là được về sau 5 hay 6 năm… Trong thời gian đó, cộng sản hành hạ quân dân cán chính VNCH hết sức tàn tệ:
Thứ nhất, sau ngày 30/04/75, mọi người đều e ngại về một cuộc tàn sát trả thù đẫm máu vì đã có những lời đồn đại về hành động này. Nhưng cộng sản đã nghĩ ra một giải pháp thâm độc và tránh được sự lên án của Quốc tế đó là giam cầm và hành hạ quân dân cán chính VNCH. Quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã được khuyến dụ trình diện để “học tập” ngắn hạn. Gọi là “tìm hiểu đường lối, chính sách của nhà nước và để gột bỏ tàn tích chống phá cách mạng khi xưa”. Chính quyền mới hứa là thời gian học tập chỉ vài tháng rồi ai nấy trở về với gia đình, phục vụ đất nước.
Nhưng thực ra đây là một sự tù đầy, tẩy não, hành xác. Có người vài ba năm. Rất nhiều người mươi năm. Và số người triền miên tù đầy gần hai chục năm cũng không ít. Lại còn một số đáng kể chết mất xác trong tù đầy hành hạ. Người sống sót trở về đã kể lại nhiều thảm cảnh mà họ phải gánh chịu trong thời gian đau khổ ấy. Những thảm cảnh mà nghe lại ai cũng rùng mình.
“Rồi mai đây, nếu vì may mắn nào đó, tôi được sống trong môi trường khác, tôi có bổn phận phải nhớ và nhớ thật kỹ tất cả những gì đã xẩy ra, đã khắc xâu vào tâm khảm tôi những chứng tích khổ đau, hờn hận!”, (Tạ Tỵ – Đáy Địa Ngục, trang 152.).
Người tù bất khuất Tạ Tỵ đã mô tả cảnh đói khát trong nhà tù cộng sản hết sức kinh khủng vì có lẽ bỏ cho đói khát là chính sách để kiềm chế, kiểm soát người tù. Nên bất cứ tù nhân nào cũng nói rất nhiều về sự hành xác này.
“Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có, mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và một nửa chiếc bánh buổi sáng 50gram, như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 gram chất bột với muối, không có chất béo, chất rau và chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy rộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc theo giấy tờ chúng tôi được ăn 18 kí lô chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng, nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13 kí 500 chất bột”, (Đáy Địa Ngục -Tạ Tỵ trang 378- 379.).
Thứ hai, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ là một trong những người đã chứng kiến cảnh tượng đó. Và ông đã mô tả chân thực cuộc sống của nhà tù cộng sản giành cho quân dân cán chính VNCH. Chật chội, ngột ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước, nhiều khi có chuột bọ chết thối trong giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Đi cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất…
“Cả trại nhốn nháo về bệnh kiết lỵ. Hầu như không khu nào thoát. Chưa bao giờ buổi sáng lại đông người chờ đi cầu như vậy. Mặt mũi người nào cũng nhăn nhó, mệt mỏi trông thật thảm hại… Thật đau khổ, lúc nào bụng cũng quặn đau, mỗi lần đi cầu són ra một chút, phân ít, mũi máu nhiều. Từ nơi tôi ở ra nhà cầu khá xa. Để tiện việc, tôi không về nhà, ngồi ngay ở căn nhà chiếu Tivi sẵn sàng chạy ra hố cầu khi cần. Không phải mình tôi như vậy mà hàng chục người tay cầm lon nước, ngồi bệt xuống mặt cát. Bệnh của tôi kéo dài cả tuần sau khi uống cả lọ tetracycline do Lan cho. Trong thời gian kỷ luật chúng tôi được xuống sông tắm mỗi hai tuần một lần. Tuy nhiên nhiều khi cán bộ bận hay có việc gì bất thường thì phải chờ lâu tới ba tuần”, (Tầng Ðầu Địa Ngục – Linh Mục (LM) Nguyễn Hữu Lễ.).
Và cùng đó là cảnh thiếu thốn: “Điều quan trọng đối với tôi là cái đống rác! Mỗi lần đi ngang đống rác trước cổng trại là mỗi lần đời tôi lên hương. Hai con mắt hoạt động tích cực để tìm nhặt những thứ cần thiết cho cuộc sống trong buồng như vải rách dùng đại tiện, bọc nylon làm nhiên liệu chất đốt, hoặc may mắn hơn thì cái bàn chải đánh răng cũ hoặc ít giấy bao xi măng làm vở viết chữ Tầu, thứ ngôn ngữ tôi đang cố học”, (Tầng Ðầu Ðịa Ngục – LM Nguyễn Hữu Lễ.).
Cùng đó là những hành động bị hành hạ cơ thể:
“Tùy theo mức độ nặng nhẹ khác nhau của các hình thức vi phạm nguyên tắc mà tù nhân bị “đại ca” ra hình phạt tương xứng theo luật giang hồ tù. Nếu chỉ để cảnh cáo và áp đảo tinh thần những lính mới để bắt phải đi vào khuôn phép thì chỉ cần sử dụng “chưởng” tức là đánh bằng hòn đá bọc trong cái vớ hoặc “bẻ ngà” là dùng đá cà hoặc đập gẫy hết cả hai hàm răng. Trường hợp nặng hơn thì “lấy cấp pha” tức là móc đôi mắt, hoặc “ xin cặp nạng” nghĩa là cắt gân gót chân. Trường hợp nghiêm trọng thì đối phương sẽ được “cất” có nghĩa là giết chết”, (Tầng Ðầu Ðịa Ngục – LM Nguyễn hữu Lễ.)
Thứ ba, cũng cần nhắc qua cuốn Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh để thấy sự tàn tệ của nhà tù cộng sản đối với quân dân cán chính VNCH như thế nào. Hình ảnh cánh binh cộng sản bắt phạt tù nhân “ngụy” được mô tả như sau: “Nói đến sùi bọt mép mà thấy nét mặt của mười thằng “ngụy” vẫn trơ thổ địa ra, thằng quản giáo cáu quá hét: Tao phạt chúng mày quỳ hai tiếng. Quỳ xuống! Bọn tù chỉ liếc nhìn nhau chẳng ai chịu quỳ. Thằng quản giáo đâu có chịu thua. Hắn móc súng bắn đến đùng một phát. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, anh em lần lượt êm ái quỳ. Thằng quản giáo đứng chửi rủa một lúc rồi mới chịu bỏ đi…”, (Đại Học Máu – Hà Thúc Sinh, trang 116).
Tác giả Hà Thúc Sinh cũng không quên mô tả tình trạng thiếu thuốc men và y tế của cộng sản đối xử với quân dân cán chính VNCH: “Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm vì bị phù do thiếu chất, cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…”, (Đại Học Máu – Hà Thúc Sinh, tr. 251.).
Thứ tư, cũng có rất nhiều tác giả khác đã từng ngồi tù cộng sản bằng mỹ từ “học tập cải tạo” đã viết lên những khốn khổ trong tù cộng sản mà trong khuôn khổ bài này tôi không thể kể xiết. Xin điểm lại một số điểm chính để bạn đọc thấy rõ bản chất tàn bạo của cộng sản.
Ông Nguyễn Cao Quyền từng là một viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH. Tốt nghiệp khóa 1 Trừ Bị Nam Định và khoá 51-53 trường Saint Cyr (Pháp), đỗ cử nhân luật và cao học tiến sĩ kinh tế Đại học Luật khoa Sài Gòn (1963), thẩm phán Tòa Án Quân Sự, Đại tá Chánh thẩm Tòa Án Đặc Biệt (1966-1968), Cố vấn ngoại giao tại Paris (1968-1974), Nha Thông Tin Báo Chí Bộ Ngoại Giao (1974-1975), Sau năm 1975, ông bị đưa đi tù cải tạo (1975-1985), rồi sau đó sang định cư tại Maryland, Hoa Kỳ từ năm 1990. Ông từng là Chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị vùng Hoa Thịnh Đốn, nguyên Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng VN vùng Hoa Thịnh Đốn (1996-1998). Ông còn viết nhiều bài khảo luận về kinh tế, chính trị được phổ biến rộng rãi có viết:
“Tại trại Thanh Cẩm, chế độ lao động còn khắt khe và nặng nhọc hơn ở trại Quảng Ninh. Dưới mũi súng canh gác của công an gốc dân tộc Mường, chúng tôi phải đi rất xa để lấy cát làm nhà. Mỗi chuyến vừa đi vừa về vào khoảng 3 cây số. Mỗi ngày phải đi ba chuyến mà chỉ đươc ăn có 4 chén cơm với vài cọng rau muống luộc thì sức nào chiụ nổi. Nếu đội nào không đi xe cát thì phải xe đá hoặc vào rừng đẵn luồng vác về cho cán bộ làm nhà. Những người lao động ở trại cưa, trại mộc cũng không sung sướng gì hơn. Cả ngày quần nhau với những cây gỗ lớn, cưa sẻ liên hồi hoặc đục đẽo luôn tay thi lấy năng lượng đâu mà bù đắp. Cuốc đất trồng khoai ngô mới là mệt vì đất núi bạt ngàn mà nhân công thì thưa thớt. Ấy là chưa kể nhũng vụ gánh phân đi bón nặng gẫy sương sườn và chốc lở sương vai.Sức người có hạn còn nhu cầu của trại thì mỗi ngày môt tăng thêm. Bên cạnh những cái chết vì tại nạn lao động như bị đá núi đè, lợp nhà té xuống đất hay bị cây luồng đâm thủng bụng, dần dần người ta thấy xuất hiện những cái chết vì đói, vì thiểu lực. Sau hơn ba năm bị lưu đầy ra Bắc anh em tù nhân chôn nhau, vì chết đói, đã chật cả một phần đồi sắn. Có một thời gian, trong tâm tư và trước mắt mọi người cái chết đã trở thành quen thuộc, không gây sợ hãi và cũng không gây súc động. Tù nhân chờ đợi Thần Chết đến thăm như chờ đợi một sự giải thoát”.
(Links:
Tác giả Nguyễn Chí Thiệp trong cuốn “trại kiên giam “ nổi tiếng của mình thì viết: “Tiêu chuẩn ngừoi phạm kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu . Cơm mới bỏ vào miệng chưa kịp nhai cái lưỡi đã đưa cơm vào cổ. Đến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó”. (Nguyễn Chí Thiện – Trại Tù Kiên Giam, trang 35).
Hoặc: “Hai chân tôi bị còng chéo để bức cung. Còng chéo hai chân bị đóng cứng chặt giữa hai cái còng hình chữ U và thanh sắt xuyên. Vì độ cao của thanh sắt giở hổng hai chân lên thành ra không thể nằm thẳng lưng, vì nằm như vậy thân mình căng ra hai chân bị siết chặt vào sắt đau buốt tận tủy óc. Người bị còng phải dùng hai khuỷu tay để chống hoặc cởi hết quần áo ra chêm ngang thắt lưng mới chịu được một thời gian. Chờ một vài ngày hai cổ chân gầy đi xoay được lật úp thì hai chân sẽ thẳng ra nhưng phải nằm sấp. Nhưng chỉ vài ngày chân đã sưng húp vì ban đêm bị lắc còng điểm danh”, (Trại Tù Kiên Giam – Nguyễn Chí Thiện, tr 473).
Thứ năm, trên thực tế còn rất nhiều bằng chứng từ chính những người bị cộng sản trả thù man rợ. Nhưng còn phe cộng sản nói gì về điều này? Xin giới thiệu cuốn sách “365 ngày ở Việt Nam” của nhóm công tác do Liên Xô chỉ đạo trong năm 1975 tại Việt Nam đã được giải mật năm 2008 (Đã giới thiệu ở “Những sự thật cần phải biết” phần 5) cho biết tại trang 75 như sau: “Những hình phạt của đảng cộng sản Việt Nam giành cho tù nhân chế độ Sài Gòn đã cho thấy những người anh em của chúng ta đã không quên phương pháp mà Xtalin áp dụng…”.
Cuốn sách này còn nói thêm tại trang 82: “Trong một điều kiện khó khăn và kỷ luật hà khắc, chính quyền mới tại nước Việt Nam thống nhất đã thanh lọc rất tốt tư tưởng của những người đi theo Mỹ…”.
Như vậy, ở đây ta có thể thấy, cuốn sách đã chỉ rõ cộng sản Việt Nam học tập phương pháp tàn bạo của kẻ giết người hàng loạt đó Xtalin. Và cuốn sách nhắc đến cum từ “Kỷ luật hà khắc” cho thấy bản chất bạo tàn của cộng sản trong đó có cộng sản Việt Nam áp dụng đối với quân dân cán chính VNCH.
III. Lê Duẩn là đầu xỏ :
Việc trả thù quân dân cán chính VNCH do chủ trương của đảng cộng sản gây ra. Những người trực tiếp thực hiện đó là Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà, Cao Đăng Chiếm… Nhưng chủ trương và phương án này chính là do Lê Duẩn cầm đầu.
Thứ nhất, Lê Duẩn chính là một người tuy thích thân Liên Xô hơn Tầu nhưng Duẩn cũng học tập chính sách của Hồ Chí Minh trong cải cách ruộng đất. Và chính đảng cộng sản Việt Nam đã thừa nhận điều này: “Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là “người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, người cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội…” (Trích: Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 11/7/1986).
Và tại thời điểm sau năm 1975, Duẩn với cương vị đứng đầu của nhà nước cũng như đảng cộng sản (Lúc đó có tên là đảng lao động) chính là kẻ đã chỉ đạo và quyết định việc đối xử tàn tệ với quân dân cán chính VNCH.Là kẻ đứng đầu đảng và nhà nước, đương nhiên Duẩn biết điều này và không thể đổ lỗi cho bất kỳ ai: “Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, nước Việt Nam thống nhất. Ngày 16 tháng 5 năm 1975, Bí thư thứ Nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đã trực tiếp vào miền Nam nắm tình hình, gồm cả tình hình kinh tế.”
Và: “Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại và Ban Chấp hành Trung ương vào Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.Tại Đại hội lần thứ IV Đảng (năm 1976) và lần thứ V của Đảng (năm 1982), đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.(Trích bài phát biểu của Nông Đức Mạnh: Báo Điện tử đảng cộng sản Việt Nam 6/4/2007 )
Thứ hai, trong cuốn “Lê Duẩn, Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, xuất bản lần 1 tại trang 482 có viết: “Sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam được tích luỹ qua gần nửa thế kỷ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, kết tinh cả truyền thống chiến đấu và tài thao lược của tổ tiên ta. Bằng ý chí của chúng ta, những kẻ một thời lầm đường lạc lối theo Mỹ – Ngụy đã được lao động cải tạo để trở thành những công dân có ích cho xã hội mới..”.
Bỏ qua những từ ngữ huyênh hoang quen thuộc của cộng sản để tự lăng xê chính mình. Bỏ qua những mỹ từ “Cải tạo, lao động” thì chúng ta thấy Lê Duẩn đã rất tâm đắc với chủ trương của mình trong việc hành hạ những người là quân dân cán chính VNCH.
Thứ ba, cũng vẫn cuốn sách: “365 ngày ở Việt Nam” của nhóm công tác do Liên Xô chỉ đạo trong năm 1975 tại Việt Nam đã giới thiệu ở phần trên cũng viết tại trang 83: “Đồng Chí Tổng bí thư đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn cùng ban chấp hành trung ương đảng đã tiến hành ổn định nhanh chóng tình hình sau ngày 30/4/1975. Chính sách kỷ luật hà khắc mà nhà nước áp đặt cho những người lính chế độ Sài Gòn đã được chính đồng chí Tổng bí Thư Lê Duẩn đề ra trong một cuộc họp của bộ chính trị…”.
Qua đây có thể thấy, đảng cộng sản mà đứng đầu là Lê Duẩn đã vạch ra kế hoạch “hà khắc” đối với quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa. Những hành động đầy tội ác mà tôi đã nêu ra ở phần hai chính là do Lê Duẩn – một đồ tể tay chân của Hồ Chí Minh gây ra.
Thứ tư, ngày 1-11-1978, Lê Duẩn và Phạm Văn Ðồng dẫn đầu một phái đoàn đảng và chính phủ sang Mạc Tư Khoa để cùng Brezhnev ký bản hiệp ước “hợp tác và hữu nghị”, theo đó hai nước sẽ liên minh với nhau cả về chính trị, kinh tế lẫn quân sự. Ðiều 6 của hiệp ước này nói rõ là nếu một trong hai nước bị tấn công, cả hai nước sẽ dùng những biện pháp thích hợp đối phó. Từ đó, Liên Xô đã hết lòng viện trợ cho Việt Nam. Số tiền viện trợ và cho vay lên tới nhiều tỷ Mỹ kim. Bù lại, Việt Nam sẽ để cho Liên Xô sử dụng hải cảng Cam Ranh và có thể Ðà Nẵng làm đầu cầu quân sự để kiềm chế Trung Hoa và đối đầu với hạm đội thứ 7 của Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương. Trong cuộc găp với Brezhnev, ngoài báo cáo tình hính quan hệ với Trung cộng, CamPuchia thì Lê Duẩn đã báo cáo: “Cơ bản tình hình trong nước chúng tôi đã ổn định do tôi và các đồng chí trong bộ chính trị không để cho ngụy quân, ngụy quyền có thể nổi lên bằng việc áp dụng mô hình nhà tù như thời đồng chí Xtalin. Chúng tôi chỉ lo lắng là Campuchia đang leo thang khủng bố…”( Trích: “Văn thư lưu trữ của đảng cộng sản Liên Xô trang 422”).
Vậy không ai khác mà chính Lê Duẩn cùng cộng sản Việt Nam đã đẩy quân dân cán chính VNCH vào lao tù khắc nghiệt.

Advertisements
Nguồn: http://chauxuannguyen.org/2013/06/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-7-le-duan-va-su-tan-ac-voi-quan-dan-can-chinh-viet-nam-cong-hoa/

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Cơ hội sống cuối cùng cho những người cộng sản cầm quyền Việt Nam.

Cơ hội sống cuối cùng cho những người cộng sản cầm quyền Việt Nam.

Nhóm Bà Đầm Xòe.

Các ông Cộng sản cầm quyền Việt Nam muốn sống, các ông phải thay đổi ngay và thay đổi tức thì từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ hạn chế trong vòng từ 3 đến 5 tháng tới. Đây là cơ hội sống cuối của các ông. Nếu sau từ 3 đến 5 tháng các ông không chuyển thế chế, cơ hội bảo vệ mạng sống, tiền của các ông sẽ không còn.
Vì tội to lớn nhất của các ông là tội bán nước hại dân bên cạnh tội tham lam vô độ, vơ vét, la liếm không từ một thứ gì của dân. Đất nước trong tay các ông chỉ có từ thua thiệt đến bại liệt.
Vì lòng tham, vì sự hèn hạ của các ông, mà các ông đã bỏ qua nhiều thời cơ thay đổi thể chế, như thời cơ của những năm 1990 hay năm 2006. Dân Việt Nam đã óan hận các ông ngút ngất trời cao, đầm đìa mặt đất rồi. Sự tha thứ cho tội ác của các ông hiện là vô cùng mong manh.


Nay thời cơ thay đổi thế chế cho các ông lại một lần nữa mở ra. Nước Mỹ và thế giới văn minh đã bắt đầu sát cánh bên nhau, quyết tâm tiêu diệt hết các chế độ độc tài, trong đó chế độ cộng sản, còn rơi rớt lại trên thế giới này, đó là Tàu Cộng, Việt Cộng và Triều Cộng.
Việc Tổng thống Mỹ Donad Trump vừa trò truyện với lãnh tụ cộng sản thế giới Tâp Cận Bình vừa ra lệnh cho Quân đội Mỹ bắn 59 qủa tên lửa tomahawk vào chế độ độc tài tàn ác Syria là một thông điệp hiện hữu  rất rõ ràng về quyết tâm tiêu diệt hết chế độ độc tài trên quy mô toàn thế giới. Thông điệp quan trọng bậc nhất là sự tiêu diệt hết chế độ độc tài lại được lãnh tụ thành trì nhóm cộng sản độc tài đương đại Tập Cận Bình đồng ý, tán thành. Bằng chứng, cuộc gặp bên “bàn trà lửa” đã kết thúc hơn một tuần mà lãnh tụ cộng sản thế giới đương đại Tập Cận Binh không đưa ra một tuyên bố phản đối, hay hé răng phàn nàn gì về cách chơi ngông, đã nói là làm, mang thương hiệu Mỹ mà tổng thống Donad Trump là một đại diện xuất sắc.
Cộng sản Việt Nam, Cộng sản Triều Tiên, lâu nay họ dựa vào bàn tay lông lá, dựa vào sự hà hơi tiếp sức của thành trì cộng sản Tàu Cộng mà còn. Nay Tàu Cộng chính thức buông bỏ, sự sụp đổ của chế độ cộng sản Việt Nam chỉ còn tính bằng giây bằng phút của lịch sử. Rõ ràng đó thôi. Tàu sân bay Carl Vinson của Mỹ và đoàn tàu hộ tống ngày, 08/04/2017, đã lên đường tiến về phía bán đảo Triều Tiên. Triều Tiên không thể tránh khỏi bị ăn tên lửa tomahawk, vì Triều Tiên có vũ khí hạt nhân mà nước Mỹ đồng tình đánh giá là mối nguy hiểm bậc nhất cho an ninh toàn cầu hiện nay. Triều Tiên không thể thoát được đòn trừng phạt này. Và nhất định, khi tên lửa tomahawk nổ tung trên đất Triều Tiên sẽ làm vỡ toác cái bọc thối nước Triều Tiên ra làm trăm mảnh và đó là cơ hội để nhân dân Triều Tiên vùng lên tiêu diệt chế độc tài cộng sản mang họ Kim đã cai trị, đày đọa dân Triều Tiên trong 70 năm qua, và đó cũng là cơ hội để nhân dân hai miền Triều Tiên thống nhất đất nước.
Ở Việt Nam, Mỹ không có chủ trương bắn tên lửa vào Ba Bình. Vì Mỹ biết mỗi người dân Việt Nam đối với cộng sản cầm quyền đã là một quả tên lửa. Quả tên lửa này đã nộp đủ nhiện liệu và chỉ còn chờ thời cơ để phát nổ. Ngày đó đã đến rất gần. Đó là hàng loạt các chế tài, trong đó có cả chế tài cấm vận Việt Nam ( CPP), sẽ là thòng lòng xiết chặt vào cổ thể chế độc tài cộng sản Việt Nam. Khi Tàu Cộng buông bỏ, cộng sản Việt Nam cầm quyền chỉ còn có con đường chết. Mà trên “bàn tiệc lửa” giữa Tập và Trump cũng đã thống nhất rằng, Tàu Cộng cũng phải thay đổi thể chế, từ độc tài sang đa nguyên dân chủ. Việt Cộng có bám vào Tàu Cộng cũng chỉ như bám vào vỏ dừa (tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa) mà thôi.
Rõ ràng, ý chí xóa sổ chế độ độc tài của nước Mỹ đã, đang diễn ra cấp tập, nóng bỏng hiện nay, Cộng sản cầm quyền Việt Nam chỉ còn có lựa chọn duy nhất, đó là: Thay đổi thể chế hay là chết.
Sự thay đối thế chế đã là quá muộn quá trễ làm cho hồ sợ tội ác của cộng sản cầm quyền Việt Nam thêm chất chồng. Tuy vậy, với bản tính vị tha của người Việt Nam, những người cộng sản cầm quyền Việt Nam vẫn còn cửa để thay đổi thể chế vì những người ngu trung, bám đít các ông, ủng hộ các ông vẫn còn. Tôi chủ quan mà nhận định rằng, khi các ông quyết đình chấm dứt chế độ độc tài chuyển qua chế độ đa nguyên, dân chủ hạn chế, kiểu như Myanma, các ông vẫn còn cửa để bảo toàn mạng sống và của cải của các ông kiếm được.
Xưa nay, cơ hội thường chỉ xảy ra có một lần. Nay cộng sản đã đối mặt vơí cơ hội thay đổi thể chế lần thứ ba.
Những người cộng sản cần bỏ ngu, bỏ tham, nhanh tay, nhanh chân, chớp lấy cơ hội vàng này, trong vòng từ 3- 5 tháng tới đây phải tuyên bố thay đổi thế chế, thì cơ hội sống, bảo toàn tài sản của các ông vẫn còn. Sau 3 đến 5 tháng tới đây, các ông không tự chuyển biến để thay đổi thể chế thì cơ hội sống, bảo vệ tài sản của các ông mới chấm hết. Điều này có nghĩa là các ông chấp nhận án tử hình cho chính các ông cùng đảng cộng sản của các ông cùng với những của cải của các ông đã cướp được.
Ai cũng chỉ có một lần sống. Chỉ có những kẻ ngu mới từ bỏ cuộc sống và của cải của mình. Chẳng lẽ bọn cộng sản cầm quyền Việt Nam ngu đến mức tự tử hình và vứt của cải của chính minh đi?
Chưa biết được. Chưa biết được và hồi sau sẽ rõ.
Advertisements

Nguồn:https://badamxoevietnam2.wordpress.com/2017/04/11/co-hoi-song-cuoi-cung-cho-nhung-nguoi-cong-san-cam-quyen-viet-nam/

Một phản hồi to “Cơ hội sống cuối cùng cho những người cộng sản cầm quyền Việt Nam.”

  1. manhhung Says:
    Cả ngày hôm qua trời nóng bức khó ngủ ! lại nghe một thằng điên cợm cán của bộ TNMT phát biểu ” NẾU KHÔNG TĂNG THUẾ TNMT ĐÓNG TRONG XĂNG SẺ LÀM CHO ĐẤT NƯỚC BỊ THIỆT THÒI ” TỔ CÁI MÀ CHA NÓ ! CHÚNG NÓ ĂN VÉT XÂY BIỆT THỰ NUÔI CHÂN DÀI MUA XẾ KHŨNG ,CON HỌC NƯỚC NGOÀI .CẠN KIỆT NGÂN SÁCH NUÔI CÔNG AN QUÂN ĐỘI ĐÀN ÁP DÂN VỪA ĂN VỪA PHÁ NÁT HỎI SAO KHÔNG CẠN NGÂN SÁCH VỚI CÁI BỌN CHA CHUNG KHÔNG AI KHÓC ! chúng nó so sánh VN giá xăng rẻ hơn Kampuchea ,Lào Thái Lan Phillipine ! chúng nó có xem thu nhập bình quân của các quốc gia nầy là bao nhiêu không ? Thailand hiện nay là 3-4000usd/tháng .ngay cả Phillipine củng 2-3000 tromg khi đất nước họ không có mỏ dầu để khai thác ! VN bao nhiêu mõ dầu ! từ ngay khai thác đem bán đến nay dân có hưởng được đồng bạc nào mà cứ đóng thuế TNMT ngày càng tăng ! trong khi chúng báo lổ thì PVN gửi hàng tỉ dollar vào các ngân hàng lấy lải !( trong khi chính phủ phải phát hành công trái và đi vay nợ nước ngoài ) ngày nào dân VN còn ngu muội ,cam chịu thì ngày đó chúng sẻ siết cho đến khi không còn ngóc đầu lên mà sống ! ĐẤT NƯỚC ĐANG TAN HOANG ,THƯỢNG BẤT CHÍNH HẠ TẤT LOẠN ” SỨ QUÂN NỔI LÊN KHẮP MỌI MIỀN .MẠNH AI NẤY THAM NHŨNG .CÓ GÌ BÁN ĐÓ .BÁN ĐẤT .BÁN CÁT ,BÁN CẢ MÔI TRƯỜNG SỐNG .BÂY GIỜ ĐANG ĐỊNH BÁN CẢ SÔNG HỔ ,BIỀN CẢ ! CHÚNG QUYẾT TÂM THỰC HIỆN MẬT ƯỚC THÀNH ĐÔ BIẾN VN THÀNH BẢI RÁC CỦA CHƯ HẦU TRUNG HÁN
    NHÂN DÂN VN HẢY SUY NGHĨ VÀ NHÌN CHO KỶ ” AI ĐANG TÀN PHÁ VÀ BÁN RẺ TỔ QUỐC ” MIỆNG THÌ CẢ THIẾU TƯỚNG C.A RÊU RAO TRUNG QUỐC LÀ NGUY HIỂM NHƯNG CHÚNG NÓI 1 ĐÀNG LÀM 1 NẼO THEO KỊCH BẢN CỦA TRUNG CHỆT ! VẪN CỨ HỢP TÁC TOÀN DIỆN 4 TỐT 16 CHỬ THÌ DÂN VN SẺ ĐI VỀ ĐÂU ?
    KHÔNG PHẢI NGẨU NHIÊN MÀ PHILLIPINE TỔNG THỐNG DUERTER RA LỊNH THỊ SÁT CÁC ĐẢO CỦA VN VÀ ĐƯA QUÂN RA CHIẾM NHỮNG ĐẢO CHƯA CÓ AI ĐỒN TRÚ Ở HOÀNG SA ? VN THÌ CHỈ CÓ CÁI MIỆNG LÀ không thể chối cải là của VN là chủ quyền của nhân dân VN ! NHƯNG ANH KHÔNG CÓ MẶT LÀ CỦA TÔI ( TẠI SAO NGÀY HÔM NAY pHILLIPINE DÁM LÀM ĐIỀU ĐÓ NHÀ CẦM QUYỀN CSVN ĐẢ LÀM GÌ ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC VỚI 6 TÀU NGẦM .VỚI TÊN LỬA S 400 VỚI HẠM TRẦN KHÁNH DƯ HAY CHỈ LÀ ĐỒ HÀNG MẢ mua để lừa dân VN
    dả tâm thôn tính VN của tàu chệt là không thay đổi nếu đồng bào VN còn ngu muội u mê còn tin vào cái đảng ” đánh Mỷ cho liên xô trung cộng ” thì hảy chuẩn bị 1000 năm đô hộ tiếp theo của trung quốc ,cứ lo ăn nhậu karaoke đi ,chân dài .đỉ điếm sike hàng đá đi ! cứ vợ đẹp mà ôm .con thi nhau khoe trên mạng ! đít to vú dài eo thon mà like ,cứ chìm trong nhửng đống rác của bọn tuyên truyền cs , cứ mặc cho xả hội nhà nước lo ! xem nước mấ nhà tan thì còn cái gì của cá nhân mà lo ! thân phận mất tổ quốc như dân Do thái mấy mươi năm trước đang hiện về với đồng bàn VN !

    Người đưa tin
    Hy2nh Mai St.8872