Những năm tháng không quên và những người lính già không bao giờ chết
Phong Phạm (Danlambao)
- Một đêm tối tháng 7, 1987 trong một căn hộ nghèo nàn tại chung cư 727
Trần Hưng Đạo, tôi nằm dài trên nền cement lạnh giá ngủ, chờ đến khuya
để xuống chân cầu chữ Y gần đó, lên tàu để vượt biên. Đang ngủ thì có
cảm giác như có ai đang nhìn mình, mở mắt ra thì thấy Ba của tôi, đang
ngồi nhìn. Thấy tôi thức dậy, ông quay đi, lấy tay áo lau nước mắt rồi
nói "đến giờ rồi, thức dậy đi con". Đêm đó là đêm Cha con tôi chia tay.
Năm đó tôi mới hơn 20, vẫn còn rất ngây ngô.
Những năm tháng đó không thể nào quên, khi gia đình phải sống lang thang
nơi này nơi khác vì nhà cửa đã bị lấy hết, không có tiền, không nhà. Em
tôi đói quá phải lượm mót bánh mì dưới đất để mà ăn. Ba tôi phải rất
vất vả để nuôi sống gia đình bằng nghề kéo xe ba bánh. Ông nhờ một người
bạn tìm cách cho tôi vượt biên, với điều kiện là sau này nếu tôi thành
công sẽ kiếm tiền trả nợ sau cho chú ấy.
Ba tôi giờ này đã già rồi, Ông không còn canh cánh chuyện quốc gia, Dân
tộc nữa nhưng vẫn luôn nhắc nhở tôi không được quên rằng: Chúng tôi là
những người Việt Quốc Gia, phải luôn hãnh diện về quân lực VNCH. Phải
luôn hãnh diện về những người lính VNCH luôn coi Danh Dự - Tổ Quốc
-Trách nhiệm là châm ngôn để sống. Ba tôi không biết rằng, tôi luôn luôn
tự hào là con của một quân nhân luôn cố để hoàn thành trách nhiệm với
Dân Tộc, Quốc gia. Và luôn tự hào về nguồn gốc cũng như quá khứ anh hùng
của quân lực VNCH mà Ba tôi là một thành phần trong đó.
Tôi biết có rất nhiều người có quá khứ cũng giống như tôi, thậm chí hoàn
cảnh của họ còn bi đát hơn tôi rất nhiều. Tôi cũng không có cách nào
giúp các bạn có hoàn cảnh sống khá hơn. Tôi chỉ hy vọng rằng các bạn sau
khi đọc bài này, dành một phút, nhớ về người Cha thân thương của mình,
một người mà tôi tin chắc rằng, nếu Ông là một người lính VNCH, tôi dám
chắc tận trong đáy lòng của Ông luôn cố gắng hoàn thành Trách nhiệm của
một người Cha, luôn cố gắng giũ gìn Danh Dự, và vì là một người lính
VNCH ông luôn xem Tổ Quốc là hệ trọng.
Xin đừng bao giờ tin vào lời lẽ bôi nhọ của cộng sản với Cha Ông của
chúng ta. Các bạn cũng đừng bắt chước xã hội CS và những người bàng
quang, bịt tai, che mắt lại để sống qua ngày. Hãy sống mạnh, sống hào
hùng như Cha Ông chúng ta đã từng sống, chết trong những ngày tháng oanh
liệt và vinh quang đó. Các bạn đừng chỉ "tồn tại" mà hãy tập đứng thẳng
trên đôi chân của mình. Cha Ông chúng ta là những anh hùng thật sự, họ
không phải là "ngụy" như cộng sản vẫn rêu rao. Chính họ phải là những
người phải cúi đầu trước chúng ta. Hãy học cách đấu tranh bất bạo động.
Hãy phản kháng, khắp nơi, khắp các lĩnh vực. Hãy từ chối hợp tác, không
đóng thuế v.v... Thế kỷ này, cộng sản không còn có thể muốn làm gì thì
làm như trước kia nữa. Hãy chứng minh cho CSVN họ sẽ không bao giờ tiêu
diệt được hết những người yêu chuộng tự do, dân chủ. Rồi sẽ đến ngày,
cộng sản sẽ vĩnh viễn biến mất trong bóng tối của địa ngục, vĩnh bất
siêu sinh. Và những người Cha Ông, những người lính kiêu hùng của quân
lực VNCH sẽ mãi mãi trở thành bất tử trong lòng của Dân Tộc Việt Nam.
Bài này tôi viết đã mấy hôm nhân ngày Father's Day và ngày quân lực VNCH
19/06 dự định chỉ viết cho bạn bè đọc chơi, nhưng hôm nay sau khi đọc
được câu chuyện này, đau đớn quá nên gửi đến Danlambao, xem như một nén
hương lòng tưởng niệm đến chú Minh, một người lính oai hùng của quân lực
VNCH, sau hơn 40 năm rồi vẩn thà tuẫn tiết chứ không chịu nhục với lũ
đầu trâu mặt chó, tay sai của CS:
Tội ác cộng sản (*)
Hôm nay, tại tỉnh Tây Ninh bọn côn đồ đã giết chú Minh, một cựu
quân nhân VNCH, chú và cậu con trai ra đi bỏ lại người vợ người mẹ
bại liệt đáng thương trong túp lều vách đất rách nát.
Sáng sớm, chú Minh vừa tiễn cậu con trai về cõi hư vô, vừa về đến
nhà thì bị côn an đến giải về phường nơi chú ở và sau đó chúng
chở chú về ngang qua dòng sông chú đòi dừng lại, và hô to ĐÃ ĐẢO
CS và chú nhảy xuống và dòng nước cuốn đi bà con đi đường hô
toán lên, nhưng không cứu chú kịp cho đến 15h thì mọi người vớt
xác chú cách nơi nhảy xuống không xa.
Toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà người lính chiến không đầu hàng chỉ duy nhất có một người đầu hàng cộng sản mà thôi.
Thành
kính nghiêng mình trước anh linh người chiến sĩ VNCH đã làm tròn bổn
phận Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm đối với đất nước Việt Nam và toàn
dân.
Cầu mong hương hồn chiến hữu Minh sớm về cỏi niết bàn với Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. dantoc•một giờ trước
Có bạn nào biết toàn câu chuyện xin hãy post lên diễn đàn để mọi người hiểu thêm. Tôi chưa thật sự hiểu việc gì đã xảy ra.
Xin một phút cúi đầu mặc niệm người Chiến Hữu đã tuẫn tiết vì không
chịu khuất phục trước bạo quyền CS. Anh hãy an nghỉ nơi vùng Trời tự do
của riêng mình, nơi không còn chiến tranh, hận thù, phân biệt đối xử và
nhất là nơi mà con người thật sự được sống và đối xử đúng như một con
người. Cầu mong Chiến Hữu sớm thanh thản và nhẹ nhàng nơi miền cực lạc.
Anh cũng như tôi, chúng ta đã làm hết sức có thể, đã làm xong bổn phận
của người trai thời loạn, nhưng ước muốn chỉ là ước muốn "Lực bất tòng
tâm" nên vận nước đành phải ngậm ngùi buông súng, chịu nhục trước cái
đám đang lẽ ra phải nhục gấp ngàn lần chúng ta hiện nay, nhưng thôi đã
gọi là vận nước tới lúc mạt rồi thì chấp nhận số phận mà thôi. Lần cuối
xin ngả mũ chào Chiến Hữu. CDlg.
Quỷ Đỏ Bán Nước•4 giờ trước
Cảm nghĩ của cộng đồng Việt Nam về đại nhạc hội Cám Ơn Anh kỳ 10.
Ngày
31/07 vừa qua, đại nhạc hội Cám Ơn Anh kỳ 10 đã được tổ chức rất thành
công tại miền Nam California. Tất cả là nhờ vào sự nhiệt tình đóng góp,
công tác thiện nguyện của ban tổ chức và rất nhiều đồng hương. Mời quý
vị cùng lắng nghe mottj vài chia sẻ của một số đồng hương trong phóng sự
sau đây.
Image copyrightAFP Hoang Dinh Nam Image caption
Ngoại trưởng Trung Quốc có mặt tại hội nghị ASEAN
Hội nghị Ngoại
trưởng của các nước ASEAN được tổ chức ở Vientiane (Lào), bế mạc hôm
25/7 với một bản Tuyên bố chung được công bố, trong đó nội dung phán
quyết ngày 12/7 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã không được nhắc
đến.
Theo tin tức báo chí, nguyên nhân đến từ việc cản trở của thành viên Campuchia.
Nhân
họp báo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chum Sounry của nước này cho
biết: "Tranh chấp Biển Đông là tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc
chứ không phải giữa ASEAN và Trung Quốc. Vì vậy, không nên đưa cả khối
ASEAN vào vấn đề này, Campuchia không muốn dính dáng đến vấn đề này".
Trước
đây không lâu, báo chí cũng đăng tải tin tức về ông Hun Sen, Thủ tướng
Campuchia. Ông này cho rằng sẽ không ủng hộ phán quyết sắp tới của Tòa
PCA tại La Haye, Hà Lan. Theo ông Hun Sen, vụ Philippines kiện Trung
Quốc về việc diễn giải và áp dụng sai Công ước 1982 về Luật Biển, là
"một âm mưu chính trị". Ông cũng cho rằng vấn đề này là chuyện riêng của
hai nước, không liên quan đến ASEAN.
Vấn đề là Philippines là một
thành viên sáng lập khối ASEAN. Tranh chấp Biển Đông liên quan trực
tiếp đến nhiều nước ở Biển Đông, như Philippines, Việt Nam, Malaysia,
Brunei. Tức tranh chấp Biển Đông cũng là một vấn đề trọng tâm của ASEAN.
(Và cả thế giới, do quyền tự do hàng hải, vì Biển Đông là hải lộ quan
trọng, luân lưu trên 50% hàng hóa thế giới).
Phán quyết của tòa PCA hôm 12/7 thực ra
là việc "diễn giải và áp dụng các điều trong bộ Luật Quốc tế về Biển
1982". Tức nhằm giải thích cách áp dụng luật. Trong chừng mực, phán
quyết cũng là "luật".
'Quyền lịch sử'
Trung
Quốc tự tiện diễn giải và áp dụng bộ Luật Biển 1982 theo cách của họ,
chỉ có lợi cho họ, bất chấp những thiệt thòi của các nước chung quanh.
Trung
Quốc áp dụng "quyền lịch sử", yêu sách 80% vùng Biển Đông. Tòa cho rằng
việc áp dụng "quyền lịch sử" đã không còn phù hợp với Luật biển 1982.
Tức là, ngay cả khi Trung Quốc chứng minh được rằng họ có "quyền lịch
sử", thì khi Trung Quốc ký nhận công ước Luật Quốc Tế về Biển 1982,
quyền này cũng bị mất đi.
Hơn thế, Trung Quốc chưa hề có cái gọi
là "quyền lịch sử" ở Biển Đông. Tòa đã chứng minh rằng Trung Quốc qua
bao thời đại, chưa hề kiểm soát trên thực tế vùng biển này.
Từ vấn
đề "quyền lịch sử" ta mới hiểu lý do khác, (ngoài lý do viện trợ tiền
bạc của Trung Quốc), vì sao Campuchia không ủng hộ phán quyết của Tòa
PCA.
Đến nay một số đông chính trị gia Campuchia vẫn còn ủng hộ
lập trường của ông Hoàng Sihanouk, là đòi "quyền lịch sử" của Campuchia ở
Việt Nam (như đòi quyền sử dụng cảng Sài Gòn, sử dụng các thủy lộ Cửu
Long... để về Phnom Penh).
Trường hợp Trung Quốc, khi ký vào Công
ước Luật Biển 1982, quyền lịch sử (nếu có) của Trung Quốc bị mất đi.
Trường hợp Campuchia (và Việt Nam), sau khi độc lập, thoát ách thực
dân,"quyền lịch sử" của Campuchia (trên lãnh thổ Nam Kỳ) cũng bị mất đi.
Công
pháp quốc tế không nhìn nhận hiệu lực của "quyền lịch sử". "Quyền" bị
thay thế bằng khái niệm luật học "uti possidetis". Khái niệm này có
nghĩa là: nếu (trước khi độc lập) anh có (kiểm soát) vùng lãnh thổ đó,
thì sau khi độc lập anh tiếp tục giữ vùng lãnh thổ này. Image copyrightHoang Dinh Nam AFPImage caption
Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN không nhắc tới phán quyết của Tòa PCA trong thông cáo
Phía Trung Quốc tẩy chay, không tham dự phiên Tòa,
điều này không làm cho thẩm quyền của Tòa PCA bị giảm sút. Cũng như các
vận động rầm rộ của Trung Quốc nhằm "chính trị hóa" phán quyết, cũng sẽ
không giúp cho việc giải thích "Luật" của Trung Quốc có giá trị hơn Tòa
PCA.
Nhưng quan điểm của các lãnh đạo Campuchia về phán quyết của
Tòa rõ ràng đã phủ nhận nền "quốc tế pháp trị", đã được thiết lập từ hệ
quả của hai cuộc Thế chiến. Theo đó mọi tranh chấp giữa các nước sẽ được
giải quyết bằng luật lệ, thay vì bằng vũ lực. Điều này có thể sẽ làm
tổn hại đến quyền lợi của Vương quốc Campuchia, một nước nhỏ, còn hiện
hữu được là nhờ sự bảo vệ của Luật Quốc tế.
Lịch sử chứng minh, đã hai lần Campuchia bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ của mình là nhờ "pháp luật quốc tế".
Tiền lệ trong ASEAN
Khoảng
năm 2011, tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia về chủ quyền vùng đất
(khoảng 4,5km²) chung quanh ngôi đền Preah Vihear khiến hai nước căng
thẳng, ngấp nghé bên bờ chiến tranh. Campuchia đệ đơn lên tòa Công lý
Quốc tế (ICJ)ngày 28/4/2011 yêu cầu Tòa "giải thích lại phán quyết
1962".
Tranh chấp ngôi đền này giữa hai nước đã từng được Tòa ICJ phân xử năm 1962, theo đó ngôi đền này thuộc về Campuchia.
Việc
phân xử thời đó "đầy kịch tính", vì theo nội dung Công ước phân định
Biên giới Thái-Miên do Pháp và Thái lan thực hiện những năm 1897 và
1904, ngôi đền Preah Vihear thuộc về chủ quyền của Thái Lan. Nhưng trên
bản đồ (do Pháp thực hiện sau đó vài năm) thì ngôi đền lại thuộc về
Campuchia.
Cuối cùng Tòa xử Thái Lan bị "estoppel", vì nước này đã
không phản đối (các tấm bản đồ vẽ sai) trong một thời gian dài. Tòa cho
rằng, việc không lên tiếng phản đối đồng nghĩa với việc chấp nhận. Dĩ
nhiên là quần chúng Thái Lan không đồng tình về phán quyết này. Image copyrightGettyImage caption
Tân Ngoại trưởng Campuchia Prak Sokhon tại hội nghị Ngoại trưởng ASEAN
Ngày 11/11/2013 Tòa ICJ nhóm họp lại và ra phán quyết, cho rằng khu đất 4,5km² đất chung quanh ngôi đền cũng thuộc về Campuchia.
Phán
quyết cũng hết sức "kịch tính", vì nếu ta xét đến các tấm bản đồ phân
định biên giới, thì rõ ràng vùng đất này thuộc về Thái Lan. Và dĩ nhiên,
dư luận Thái Lan phản đối, không đồng ý với phán quyết này.
Trong vụ tranh chấp này quan điểm "trọng luật" của ASEAN là rõ rệt.
Thông
cáo chung của các nước ASEAN có nội dung: "Tôn trọng phán quyết của Tòa
và yêu cầu các bên thi hành án lệnh của Tòa tùy theo luật pháp của mỗi
quốc gia".
Thì hôm nay, không có lý do nào để Campuchia ngăn cản
khối ASEAN ra một tuyên bố yêu cầu các bên "tôn trọng phán quyết của Tòa
PCA". Philippines là một thành viên sáng lập ASEAN và phán quyết của
Tòa PCA là giải thích luật, tức là "luật".
Cả hai lần Tòa Công lý
Quốc tế đều "xử ép" Thái Lan về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear. Dầu vậy
Thái lan không phản đối, ngăn cản ASEAN ra thông cáo chung.
Campuchia là một nước nhỏ, nhờ "luật quốc
tế" bảo vệ mà lãnh thổ nước này mới được "toàn vẹn" ngày hôm nay. Bây
giờ, lãnh đạo Campuchia, có thể vì được sự trợ giúp (hay hứa hẹn trợ
giúp) tiền bạc từ phía Trung Quốc, lại có chủ trương ủng hộ việc bất
tuân luật lệ.
Đây là một tiền lệ nguy hiểm cho Campuchia.
Phía
Thái Lan, dân chúng vốn từ lâu bất mãn với các phán quyết của ICJ (1962
và 2013), có thể nhân việc Campuchia ủng hộ việc không tôn trọng luật
pháp, sẽ đặt lại việc thi hành hai án lệnh này.
Điều tệ hơn nữa là
lãnh thổ của Campuchia hiện nay khoảng 50% diện tích đã được Pháp lấy
lại từ Thái Lan qua những kết ước quốc tế.
Mà nền tảng của "quốc tế công pháp" là gì nếu không phải là những kết ước quốc tế?
Sẽ
không có điều gì cấm cản Thái Lan phủ nhận mọi kết ước có liên quan đến
biên giới đã ký kết (dưới áp lực của Pháp) từ đầu thế kỷ 20.
Campuchia lúc đó sẽ không thể phản biện lại Thái Lan. Bởi vì chính Campuchia đã ủng hộ cho việc phủ nhận công lý quốc tế.
Trật tự pháp lý quốc tế đảo lộn
Trật
tự pháp lý quốc tế, được dựng lên từ Thế chiến II nếu không được các
nước trong khu vực tuân thủ, nó sẽ thay thế bằng trật tự mới do Trung
Quốc áp đặt.
Image copyrightGettyImage caption
Đền Preah Vihear là tâm điểm tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia trong thời gian dài
Trật tự pháp lý cũ đặt nền tảng trên sự "bình đẳng
về chủ quyền". Mọi quốc gia, bất kể lớn nhỏ, mạnh yếu, dân đông hay dân
ít... đều bình đẳng như nhau về "chủ quyền".
Sự bình đẳng về chủ
quyền đã được thể hiện trong bộ Luật Quốc tế về Biển 1982. Theo đó, một
nước ven biển, bất kỳ lớn nhỏ, dân đông dân ít, được hưởng như nhau 12
hải lý (tính từ bờ, hay đường cơ bản) hải phận gọi là "lãnh hải" và 200
hải lý hải phận gọi là "kinh tế độc quyền".
Bộ Luật Quốc tế về Biển 1982 là "trật tự về biển" mà các nước trên thế giới đã ký kết và tuân thủ.
Phán quyết của Tòa PCA ngày 12/7 là việc giải thích luật, là "trật tự về biển", áp dụng cho Biển Đông.
Trung
Quốc đã ký Công ước này. Bây giờ Trung Quốc tuyên bố không nhìn nhận
thẩm quyền của Tòa (vốn được LHQ chỉ định) và cho biết sẽ không tuân thủ
thi hành phán quyết này.
Ta thấy bóng dáng một "trật tự pháp lý
mới", do Trung Quốc áp đặt. Theo đó "chủ quyền" không còn là đơn vị tối
thượng và bình đẳng trong luật biển, mà "nước lớn" quyết định việc phân
chia biển.
Vấn đề là các những "nước lớn" khác, đã khai sinh ra "trật tự pháp lý" cũ, có chấp nhận việc này hay không? Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của tác giả, nhà nghiên cứu ở Pháp.
Việt Nam Cộng hòa thực thi chủ quyền Hoàng Sa ra sao?
17:54 10/07/2014
Cuối năm 1974, sau khi Trung Quốc đánh chiếm trái phép Hoàng Sa, Đoàn
Việt Nam Cộng hòa cũng tham dự Hội nghị Luật biển lần thứ 3 của Liên Hợp
Quốc tại Caracas.
Ngày 23/5/2014, tại cuộc họp báo quốc tế của Bộ Ngoại giao về chủ
quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, trả lời báo chí về việc
quản lý Hoàng Sa, Trường Sa những năm 1960-1970 của thế kỷ trước, Bộ
Ngoại giao khẳng định “Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có
giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa”.
Lý giải vấn đề này, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới,
Bộ Ngoại giao Việt Nam nói: “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu
trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa vì thế đương
nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa. Giá trị công
thư phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công thư gửi Trung Quốc lúc đó Hoàng
Sa và Trường Sa đang thuộc quản lý của Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc
chỉ là một bên tham gia. Không thể cho người khác cái gì mà bạn chưa có
được”.
Kế thừa
Trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20 đầy biến động, Việt Nam cũng như nhiều
nước khác bị thực dân đế quốc đô hộ, nhưng nhà nước phong kiến Việt Nam
đã khéo léo trong việc thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Đây là việc kế thừa văn hóa biển lâu đời của người Việt, mà bằng chứng
thể hiện trên Trống Đồng Ngọc Lũ hay các di chỉ ven biển Đông cũng như
các di tích khảo cổ ven bờ và các hòn đảo.
Triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận sự quản lý đối với Hoàng Sa từ triều
Lê với nhiều văn bản cấp quốc gia quản lý Hoàng Sa. Năm 1802 dưới thời
vua Gia Long đã thiết lập Đội Hoàng Sa đã kiểm soát và khai khẩn quần
đảo.
Mặc dù đất nước chịu họa xâm lăng của người Pháp, nhưng triều đình
nhà Nguyễn vẫn là nhà nước nắm giữ chính quyền, đặc biệt là sự kiểm soát
chặt chẽ địa lý hành chính khu vực miền Trung nơi có kinh đô Huế.
Biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Ảnh: Tư liệu.
Nghị định ra ngày 15/6/1932 toàn quyền Đông Dương đã đặt Hoàng
Sa thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, tức là dưới sự
quản lý trực tiếp của Triều đình Huế. Binh lính được đưa ra đảo đồn trú.
Năm 1938 có chỉ dụ của Đại Nam Hoàng Đế Bảo Đại số 10, ngày 30/3/1938
về Hoàng Sa. Việc quản lý vẫn tiếp tục ngay cả khi phát xít Nhật chiếm đóng
trái phép (Năm 1939 chính phủ Pháp đã phản đối việc chiếm đóng của phát
xít Nhật). Phát xít thua trận, Hội nghị San Francisco được tổ chức với
51 nước tham dự.
Điều 2 của hòa ước San Francisco năm 1951 có hiệu lực tái lập sự toàn
vẹn lãnh thổ cho những quốc gia từng bị phát xít Nhật chiếm đóng. Đoàn
đại biểu Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và nhận được sự
đồng ý của 48/51 đại biểu của các nước tham dự và tiếp tục sự quản lý
hoàn toàn hợp pháp của mình với Hoàng Sa và Trường Sa.
Sau năm 1954, tăng cường luật pháp
Hiệp định Geneve lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời, ghi:
“Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội
của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy
sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy”.
Bản Tuyên bố chung, được phổ biến rộng rãi tại miền Nam khi đó cũng
ghi rõ: “Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng
bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh
thổ”. Việc tổng tuyển cử thống nhất hai miền vì nhiều lý do bị trì
hoãn, nhưng việc thực thi chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa luôn được
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chú ý.
Tàu Nhật Tảo tham gia bảo vệ Hoàng Sa và bị chìm.
Vấn đề hải phận đã được cụ thể hóa bằng Sắc lệnh số 81-NG của Thủ
tướng chính phủ VNCH ngày 27/5/1965 ấn định hai khu vực: Một khu vực gọi
là Khu vực phòng vệ trong giới hạn 03 Hải lý kể từ bờ. Một khu vực gọi
là Khu vực kế cận kể từ ranh giới ngoài hải phận đến giới hạn 12 hải lý
kể từ bờ. Trong khu vực kế cận, văn kiện ấn định cho quốc gia những thẩm
quyền tương đương với quyền mà thỏa ước Geneve quy định cho một quốc
gia ven biển, đối với vùng kế cận hải phận của mình.
Năm 1969, VNCH đã thành lập một Ủy ban Liên bộ soạn thảo dự luật quy định hải phận quốc gia.
Vấn đề thềm lục địa cũng nóng lên cùng với những hoạt động con thoi:
Một bản tuyên cáo của Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia ngày 7/9/1967
xác định phần lòng đất và đáy biển thềm lục địa là một phần lãnh thổ
quốc gia, và thuộc thẩm quyền của Chính phủ VNCH.
Năm 1968, VNCH thành lập một Ủy ban nghiên cứu thềm lục địa, sau đó giao công việc lại cho Ủy ban Quốc gia dầu hỏa 2/6/1971.
Ngày 13/7/1961 dưới thời Đệ nhất cộng hòa, Tổng thống VNCH đã ban
hành sắc lệnh 174NV đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam thay vì
tỉnh Thừa Thiên và thành lập lại quần đảo này thành xã Định Hải, quận
Hòa Vang.
Dưới thời Đệ nhị cộng hòa, Nghị định số 709-BNV/HC ngày 21/10/1969
của Thủ tướng chính phủ VNCH đã sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long
cũng thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Tìm tiếng nói quốc tế
Hội nghị Liên Hợp Quốc (LHQ) lần 1 về Luật Biển được tổ chức vào năm
1958 tại Geneve với 86 quốc gia tham dự, trong đó có VNCH. Hội nghị này
đã chấp thuận bốn công ước về luật biển.
-Công ước về lãnh hải và vùng tiếp cận
-Công ước về biển cả
-Công ước về đánh cá và bảo toàn tài nguyên sinh vật ở biển cả
-Công ước về thềm lục địa
Tất cả các công ước này có hiệu lực vào các năm khác nhau sau đó,
với số quốc gia kết ước trung bình vào khoảng 40 mỗi công ước. Kỹ sư
Trần Văn Khởi, Tổng cục trưởng Dầu hỏa và Khoáng sản của VNCH đánh giá
rằng: “Hai khuyết điểm vô cùng quan trọng của các công ước này là không
định được giới hạn của lãnh hải, và không định nghĩa rõ ràng về thềm lục
địa”.
Cuối năm 1974, sau khi Trung Quốc đánh chiếm trái phép Hoàng Sa,
Đoàn VNCH cũng tham dự Hội nghị Luật biển lần thứ 3 của LHQ tại Caracas
ngày 2/7/1974. Hội nghị này có gần 150 quốc gia được mời tham dự.
Khai hỏa trận Hoàng Sa.
Hội nghị Luật biển tại Caracas bàn nhiều về quyền khảo cứu và khai
thác tài nguyên biển. Một số nước đưa quan điểm mọi quốc gia đều có
quyền khảo cứu và khai thác trong khu vực biển quốc tế miễn là tuân hành
theo những quy định và điều kiện do cơ quan quốc tế ấn định. Song,
người ta tính rằng vào thời điểm đó “chỉ có chưa được 10 quốc gia trên
thế giới có khả năng và phương tiện khai thác”.
Đoàn Việt Nam, trưởng phái đoàn VNCH là ngoại trưởng Vương Văn Bắc,
ngày 30/7/1974 đã chính thức trình bày lập trường: “Chính phủ VNCH đặc
biệt chú trọng đến vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên ở phần phía
Nam của thềm lục địa liên hệ. Lập trường của VNCH về ranh giới thềm lục
địa là phải áp dụng tiêu chuẩn khoảng cách 200 hải lý kể từ đường căn
bản nhưng khi thềm lục địa rộng hơn khoảng cách trên bề rộng của thềm
lục địa sẽ được ấn định ra đến cạnh ngoài cùng thấp nhất của bờ lục
địa” .https://youtu.be/_Kfow6Qi6kE
Chính phủ VNCH cũng bày tỏ rằng hoàn toàn ủng hộ lập trường đã được
đề nghị, theo đó việc phân tranh thềm lục địa phải được giải quyết bằng
những cuộc thương thuyết trực tiếp và song phương theo nguyên tắc công
bằng hay mọi tranh chấp nếu có, sẽ được giải quyết bằng mọi phương cách
hòa bình bởi những cơ quan tài phán quốc tế.
Cũng trong hội nghị này, ngày 28/8/1974 tổng trưởng Ngoại giao Vương
Văn Bắc, Trưởng phái đoàn VNCH đã lên diễn đàn long trọng tuyên bố
rằng: “Chính phủ VNCH không chấp nhận mọi xâm phạm đến sự toàn vẹn lãnh
thổ quốc gia bất kể trên đất liền hay khoảng biển thuộc quyền tài phán
quốc gia. Cũng như đã có thông báo với Tổng thư ký LHQ và Hội đồng An
ninh, Phái đoàn VNCH xác nhận một lần nữa rằng quần đảo Hoàng Sa và quần
đảo Trường Sa là những thành phần bất khả phân của lãnh thổ VNCH”.
Việt Nam gửi tập tài liệu lập trường của Việt Nam đề nghị lưu hành tại
Liên Hợp Quốc ngày 3/7 về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và việc
Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép.
Ngày 8/7, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố 2 văn bản lập trường chính
thức của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và về việc Trung Quốc hạ đặt
trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh
tế của Việt Nam.
Tài liệu về lập trường chủ quyền của Việt Nam nêu rõ: Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp
lý, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà
Trung Quốc gọi là “Tây Sa”) nêu trong các văn bản kèm theo các thư ngày
22/5/2014 và ngày 9/6/2014 của Đại biện Phái đoàn đại diện thường trực
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc lần lượt
trong các văn bản A/68/887 và A/68/907.
Việt Nam khẳng định rằng các yêu sách của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và lịch sử.
Các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa
Trong các trao đổi gần đây, Trung Quốc đã dẫn chiếu đến một số tư
liệu như là bằng chứng lịch sử nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ
quyền” của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên,
các “tư liệu” này của Trung Quốc không có nguồn gốc rõ ràng, không
chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu
mà Trung Quốc dẫn chiếu tới không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập
chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ.
Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy Trung Quốc hiểu rằng chủ quyền
của họ chưa bao giờ bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa.
Ví dụ như vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 19 khi hai tàu Bellona và
Umeji Maru bị đắm ở Hoàng Sa và bị ngư dân Trung Quốc cướp tài sản, nhà
cầm quyền Trung Quốc tại Quảng Đông đã lập luận rằng quần đảo Hoàng Sa
là lãnh thổ bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc. Về hành chính, các đảo
này không thuộc bất kỳ châu nào của Hải Nam, Trung Quốc và không có cơ
quan nào của Trung Quốc có trách nhiệm quản lý quần đảo này. Vì những lý
do đó, phía Trung Quốc đã tuyên bố không chịu trách nhiệm về vụ ngư dân
cướp tài sản.
Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép
Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác
thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa
từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Ít nhất từ thế kỷ 17, các triều đại
nhà Nguyễn của Việt Nam đã tổ chức các hoạt động khai thác sản vật trên
các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, tổ chức đo đạc hải trình và bảo đảm an
toàn cho các tàu thuyền của quốc gia khác qua lại tại khu vực quần đảo
Hoàng Sa. Các hoạt động này đều đã được ghi nhận trong các văn bản chính
thức do các triều đình Việt Nam ban hành là các châu bản hiện đang được
lưu giữ tại Việt Nam.
Sau khi Pháp và Việt Nam ký Hiệp định bảo hộ ngày 15/3/1874 và ngày
6/6/1884, Pháp đã thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền với quần
đảo Hoàng Sa và tuyên bố phản đối các hành động xâm phạm của Trung
Quốc. Pháp đã tiến hành nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với quần
đảo Hoàng Sa như xây dựng và vận hành đèn biển và trạm khí tượng, thiết
lập các đại lý hành chính thuộc tỉnh Thừa Thiên (An Nam), cấp giấy khai
sinh cho công dân Việt Nam sinh ra tại quần đảo này.
Việc Đô đốc Quảng Đông (Trung Quốc) Lý Chuẩn năm 1909 tiến hành hành
động thám hiểm và thăm dò Hoàng Sa là hành động vi phạm chủ quyền của
Việt Nam đối với Hoàng Sa mà Việt Nam đã thiết lập vững chắc và được
chính quyền bảo hộ Pháp thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi hữu hiệu.
Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc
đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác
lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Pháp
đã từng đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế
(Công hàm của Pháp gửi Trung Quốc ngày 18/2/1937), nhưng Trung Quốc đã
từ chối.
Năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch lợi
dụng bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc đã xâm nhập trái phép
đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản
đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết
tại cơ quan tài phán quốc tế nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại
một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo
Phú Lâm. Các hội nghị quốc tế không giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc
Trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề chủ
quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa
ra các hội nghị quốc tế xem xét. Từ ngày 22-26/11/1943, Hội nghị Cairo
với sự tham gia của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng
Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân quốc Tưởng Giới Thạch
đã ra Tuyên bố Cairo (Cairo Communiqué), đưa ra mục tiêu loại bỏ Nhật
Bản ra khỏi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã chiếm
đóng từ Chiến tranh thế giới thứ I năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật
Bản đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được
trả lại cho Trung Hoa Dân quốc. Tưởng Giới Thạch - đại diện cho Trung
Quốc có mặt tại hội nghị - không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Nhiều tàu Trung Quốc vây ép tàu cá ngư dân Việt Nam ngay trên vùng biển Việt Nam.
Hội nghị Potsdam diễn ra từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 với sự tham
gia của lãnh đạo ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Quốc đã ra Tuyên ngôn
Potsdam tái khẳng định những nội dung của Tuyên bố Cairo. Đại diện của
Trung Quốc là Tưởng Giới Thạch có mặt tại hội nghị cũng không hề nhắc
đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến 8/9/1951 có 51 nước
tham dự; Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách là thành viên của Liên
hiệp Pháp. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự hội nghị
trên cương vị Trưởng phái đoàn Việt Nam. Hội nghị San Francisco đã giải
quyết vấn đề quy thuộc một số vùng lãnh thổ ở Châu Á – Thái Bình Dương.
Tại hội nghị này, Trưởng đoàn Liên Xô Andrei A. Gromyko đã thay mặt
Trung Quốc đưa ra đề nghị gồm 13 khoản, trong đó có khoản liên quan đến
việc Nhật Bản công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
đối với một số đảo ở biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa. Với 46 phiếu
chống, 3 phiếu ủng hộ và 2 phiếu trắng, hội nghị đã bác bỏ đề nghị này
của Phái đoàn Liên Xô.
Ngay sau đó, ngày 7/9/1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn
Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của
Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều
không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.
Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương
khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của
Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng
của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những
nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ
điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị
đó.
Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng
độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh
thổ không thể tách rời của Việt Nam.
Tháng 1/1974, Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng toàn bộ quần đảo
Hoàng Sa của Việt Nam. Ngay lúc đó, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính
phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã ra tuyên bố
bày tỏ quan điểm và phản đối hành động của Trung Quốc. Chính phủ Việt
Nam Cộng hòa đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp khẩn cấp về
hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế về thụ
đắc lãnh thổ, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng một vùng lãnh thổ thuộc
quốc gia khác không thể tạo ra chủ quyền. Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa và sử dụng vũ lực nên không thể thiết lập được chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa
Trung Quốc đã hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Năm 1956, lợi
dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía
Đông của Hoàng Sa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc thực sự chiếm đóng một
phần quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phản đối mạnh
mẽ sự chiếm đóng này.
Năm 1959, một nhóm binh lính Trung Quốc giả dạng ngư dân âm mưu đổ bộ
lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa, đã bị lực lượng của chính
quyền Việt Nam Cộng hòa đập tan. Tám mươi hai (82) “ngư dân” Trung Quốc
đã bị bắt. Cả hai hành động xâm chiếm này diễn ra sau khi vấn đề chủ
quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định tại
các hội nghị quốc tế như trên mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào.
Năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã
tấn công và chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng
hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần
đảo Hoàng Sa.
Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của
một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở
cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo
Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ
lực của Trung Quốc.
Bị vong lục ngày 12/5/1988 của Trung Quốc - một văn bản chính thức
của Bộ Ngoại giao Trung Quốc - cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản
của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với
một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ
quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc
Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi
viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài
liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu
sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Công thư của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến
chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Tuyên bố đó liên quan
đến các vùng biển, không giải quyết các vấn đề lãnh thổ. Trên thực tế,
những kết luận mà Trung Quốc đưa ra hiện nay đang mâu thuẫn với chính
các phát biểu của Trung Quốc, trong đó có phát biểu của chính nhà lãnh
đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình.
Tháng 9/1975, 17 năm sau công thư nói trên của cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với nhà lãnh đạo
Việt Nam Lê Duẩn tại Bắc Kinh rằng “Trung Quốc có đầy đủ tài liệu chứng
minh quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) từ xưa đến nay
thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng với nguyên tắc thông qua hiệp thương
hữu nghị để giải quyết bất đồng, sau này hai nước sẽ bàn bạc giải
quyết”.
Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 12/5/1988 đã ghi nhận
rõ ràng nội dung phát biểu này của Đặng Tiểu Bình, thể hiện nhận thức
của Trung Quốc rằng vấn đề chủ quyền không được dàn xếp có lợi cho phía
Trung Quốc qua các phát biểu hay thỏa thuận trước đây. Việt Nam yêu cầu
Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt
Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa.
Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) - "The United States of America is the most powerful nation on Earth. Period.” - President Obama, States of Union Address.
“Hoa Kỳ là một quốc gia mạnh nhất trên thế giới! Khỏi cần bàn cãi!” - Đó là lời khẳng định của Tổng Thống Obama trong bài diễn văn của ông đọc trước Quốc Hội vào ngày 13 tháng Giêng năm nay.
Mười bảy ngày sau đó, ông chứng mình điều này bằng cách cho chiến hạm
USS Curtis Wilbur lủi thẳng vào vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi
mà Trung Cộng đã cưỡng chiếm từ Việt Nam Cộng Hòa hơn 42 năm mà cộng
động thế giới đã lặng im không phản đối.
Quyết định này của Tổng Thống Obama khẳng định Hoa Kỳ không thừa nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Hoàng Sa.
Ông Obama có lẽ là tổng thống Mỹ đầu tiên chính thức phủ nhận chủ quyền
của Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Mọi người dễ dàng nhận thấy rằng
quyết định của Tổng Thống Obama báo hiệu cho thấy Hoa Kỳ bắt đầu mở lại
hồ sơ mà mọi người tưởng đã đi vào quên lãng. Đó là hồ sơ về Hoàng Sa
của Việt Nam Cộng Hòa.
Trung Cộng bẽ bàng trước hành động này vì Trung Cộng vẫn nghĩ rằng Hoa
Kỳ cần phải tôn trọng thỏa ước giữa Chu Ân Lai với Henry Kissinger vào
thập niên 1970, mà trong đó có việc nhắm mắt làm ngơ để Trung Công tiến
chiếm trái phép quần đảo này.
Vào 19 tháng Giêng năm 1974, Hải-quân Việt Nam Cộng Hòa theo lệnh của
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khai hỏa phản công sự lấn hiếp của Trung
Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Dù Hải-quân Việt Nam Cộng Hòa thiệt hại nặng
nhưng Hải-quân Hoa Kỳ nhắm mắt làm ngơ không can thiệp khi thấy đồng
minh của mình bị Cộng Sản tấn công.
Không những thế, để đưa ra một tín hiệu rõ rệt hơn cho Trung Cộng về
việc tuân thủ cam kết thỏa ước giữa Chu ân Lai và Henry Kisinger, Hạm
Đội Bảy của Hoa Kỳ được lệnh di dời xa hơn vùng có giao tranh giữa Hải
quân Việt Nam Cộng Hòa và Trung Cộng.
Đơn giản là nếu Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc chiến Hoàng Sa thì coi như mọi
cam kết hứa hẹn của Henry Kissinger với Tàu Cộng sẽ bị đổ vỡ hết.
Tiến xa hơn nữa trong quyết tâm hợp tác với Trung Cộng của Henry
Kissinger, Hoa Kỳ đã nhắn nhủ đến phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa là về
tài khóa viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa năm
1974-1975 sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng với cái cớ ngụy tạo là tình hình
chính trị tại Hoa Thịnh Đốn đang bất lợi.
Nói một cách khác, nếu Tổng Thống Thiệu vẫn tiếp tục tiến hành đối sách
phản công với đầy đủ các binh chủng từ Hải-quân đến Không-quân lẫn
Thủy-quân Lục-Chiến để đẩy Trung Cộng vào thảm bại hoàn toàn tại Hoàng
Sa thì đất nước của ông phải đối đầu với cả vừa lực lượng Cộng Sản Bắc
Việt trên bộ lẫn Trung Cộng ngoài hải phận một mình. Mọi thiếu hụt về
quân sự sau đó sẽ không được bổ sung viện trợ nếu Tổng thống Thiệu tiếp
tục kế hoạch phản công chiếm lại Hoàng Sa.
Cho nên có thể nói sự o ép nặng nề mà Hoa Kỳ dành cho Tổng Thống Thiệu,
buộc ông phải bãi bỏ lệnh phản kích chiếm lại quần đảo Hoàng Sa là ngầm ý
cho thấy Hoa Kỳ hiểu rõ kể hoạch tính toán của Tổng Thống Thiệu khi ông
muốn dùng trận hải chiến Hoàng Sa để cố phá vỡ thỏa ước giữa Chu Ân Lai
và Henry Kissinger, vốn chỉ đem đến quá nhiều tang thương thiệt thòi
cho Việt Nam Cộng Hòa.
Đó cũng là lý do tại sao mà ngày hôm nay, Trung Cộng nổi giận tột độ
trước manh nha "trở mặt" đi ngược lại với cam kết thỏa ước của Henry
Kissinger với Tàu Cộng năm xưa.
Trung Cộng dứt khoát không chấp nhận Hoa Kỳ ỷ mạnh muốn nuốt lời, bèn
đưa dàn hỏa tiển Địa Đối Không HQ 9 ra đảo Phú Lâm như tỏ thái độ cương
quyết chiếm giữ phần lời theo cam kết thỏa ước ngày trước giữa hai nước
khi bắt đầu nối lại bang giao.
Đây chỉ là một hành động mang tính tượng trưng bày tỏ quyết tâm phản
kháng của Trung Cộng trước manh nha xé bỏ thỏa ước năm xưa bởi dàn hỏa
tiển HQ-9, dù có hung hiểm đến đâu nhưng lẻ loi cũng chẳng có thể nào
đối phó nổi hỏa lực của cả hai Hạm Đội Bảy và Năm của Hoa Kỳ tại biển
Đông.
Mặc dù có nhiều phân tích ồn ào trên truyền thông cho rằng đối sách của
Tổng Thống Obama không ngăn cản được sự hung hăng của Trung Cộng tại
biển Đông và sự tuần tra quần đảo Hoàng Sa bị phản tác dụng nhưng thật
ra, thời điểm mà Hoa Kỳ quyết định tuần tra quần đảo Hoàng Sa rõ ràng có
tính toán mà những phân tích gia cố tình vờ đi không đề cập đến.
Căn bản của sự tính toán là mọi hoạt động sức ép quân sự tại biển Đông
của Hoa Kỳ phải dựa trên sự phân tích tình báo kỹ lưỡng về tình hình nội
bộ của Trung Cộng.
Trên thực tế, Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang phải đối phó với một nguy cơ đang hiện rõ dần: đó là nguy cơ đảo chánh.
Vụ nổ tại cảng Thiên Tân vào tháng Tám năm ngoái làm trên 158 người bị
tử thương cảnh báo cho thấy nguy cơ họ Tập sẽ bị đảo chánh đang ngày
càng rõ rệt, không còn là lời đồn đại nữa.
Chính sách "đã hổ diệt ruồi" nhằm thâu tóm quyền lực của họ Tập đang
ngày càng trở nên phản tác dụng và đẩy quân đội đứng giữa những tranh
chấp quyền lực khốc liệt tại trung ương Cộng đảng Trung Quốc, dẫn đến
những thanh trừng lan tràn sang cả trong hàng ngũ tướng lãnh của quân
đội khiến nội bộ quân đội Trung Cộng vì thế cũng đang hết sức lủng củng
và rối loạn.
Cái chết của Phó Chủ Tịch Quân-ủy Trung ương, tướng Từ Tài Hậu vào 16
tháng Ba năm ngoái do bị thanh trừng mà truyền thông Trung Cộng bảo là
bị ung thư khi còn trong vòng giam giữ điểu tra tham nhũng chỉ khiến
hàng ngũ tướng lãnh quân đội lúc nào cũng phải cảnh giác mạng sống của
mình trước họ Tập.
Hơn mười sáu tướng lãnh khác đồng loạt bị công bố thanh trừng vào tháng
Giêng năm ngoái càng cho thấy quân đội bị khủng hoảng nội bộ trầm trọng
và sự thanh trừng của họ Tập đối với quân đội không có dấu hiệu sẽ dừng
lại ở danh sách mười sáu vị tướng lãnh này.
Họ Tập cố gia tăng quyền kiểm soát của mình lên quân đội thông qua thanh
trừng thì đương nhiên, giới tướng lãnh sớm hay muộn cũng cần phải có
đối sách để đảm bảo mạng sống của mình. Trải qua thanh trừng suốt năm
2015, nội bộ tướng lãnh của Trung Cộng trong bộ Quốc Phòng có quá nhiều
thay đổi và rối ren vỡ nát. Trong tình huống như thế mà họ Tập lại phải
miễn cưỡng gia tăng căng thẳng quân sự tại biển Hoàng Sa với Hoa Kỳ vào
đầu năm nay thì chẳng khác nào họ Tập tự lâm vào cảnh thiên la địa võng
do bị nội công ngoại kích ?!
Cũng có ý kiến cho rằng việc gây căng thẳng quân sự tại biển Đông sẽ
giúp họ Tập đoàn kết quân đội và làm mọi người quên đi nổi sợ bị thanh
trừng nhưng đó là khi nào mà hàng ngũ tướng lãnh thật sự nhìn thấy đất
nước bị tấn công. Đàng này, Hoa Kỳ chỉ nhấp cờ dí chốt gia tăng áp lực
quân sự thì chỉ khiến họ Tập thêm khốn khó khi đối phó với nguy cơ đảo
chánh ngày một rõ mà thôi vì chẳng có tướng lãnh nào muốn tận tụy cho
vinh quang và tham vọng của riêng họ Tập tại biển Đông cả.
Hòa hoãn với Hoa Kỳ như thời Giang Trạch Dân và né tránh thanh trừng là
hai mục tiêu hàng đầu của các sĩ quan tướng lãnh cao cấp trong quân đội
Trung Cộng hiện nay. Cho nên động binh gây căng thẳng với Hoa Kỳ tại
Hoàng Sa chỉ khiến nội bộ các tướng lãnh cao cấp thêm bất mãn và lo lắng
mà thôi.
Ngoài ra, sang đến năm nay, khủng hoảng kinh tế tại Trung Cộng đã đến
hồi nguy hại cho an ninh chính trị của Bắc Kinh khi mà hầu hết các tập
đoàn kinh tế quốc doanh điều bị vỡ nợ cũng như nền tài chánh bị chảy máu
ngoại tệ quá nghiêm trọng, trên cả ngàn tỷ Mỹ kim vào năm ngoái. Trong
bối cảnh như thế, thì sự căng thẳng quân sự với Hoa Kỳ tại Hoàng Sa từ
năm nay chỉ khiến sự bất an lo lắng về kinh tế trong xã hội Trung Quốc
tăng thêm. Hoa Kỳ dù sao, vẫn là cứu cánh kinh tế cần thiết cho Trung
Quốc.
Nếu Việt Nam Cộng Hòa trước đây đã làm cho kinh tế Liên Xô kiệt quệ để
rồi lần hồi dẫn đến rối loạn chính trị sụp đổ vào năm 1991 thì Hoàng Sa
của Việt Nam Cộng Hòa ngày hôm nay cũng sẽ thúc đẩy Trung Cộng lâm vào
tình thế xáo trộn nội bộ cũng như suy kiệt kinh tế nhanh hơn để rồi chủ
nghĩa Cộng Sản tiêu ma tận gốc tận rễ tại châu Á.