Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

NGƯỜI LÍNH GIÀ KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

Những năm tháng không quên và những người lính già không bao giờ chết

Phong Phạm (Danlambao) - Một đêm tối tháng 7, 1987 trong một căn hộ nghèo nàn tại chung cư 727 Trần Hưng Đạo, tôi nằm dài trên nền cement lạnh giá ngủ, chờ đến khuya để xuống chân cầu chữ Y gần đó, lên tàu để vượt biên. Đang ngủ thì có cảm giác như có ai đang nhìn mình, mở mắt ra thì thấy Ba của tôi, đang ngồi nhìn. Thấy tôi thức dậy, ông quay đi, lấy tay áo lau nước mắt rồi nói "đến giờ rồi, thức dậy đi con". Đêm đó là đêm Cha con tôi chia tay. Năm đó tôi mới hơn 20, vẫn còn rất ngây ngô.
Những năm tháng đó không thể nào quên, khi gia đình phải sống lang thang nơi này nơi khác vì nhà cửa đã bị lấy hết, không có tiền, không nhà. Em tôi đói quá phải lượm mót bánh mì dưới đất để mà ăn. Ba tôi phải rất vất vả để nuôi sống gia đình bằng nghề kéo xe ba bánh. Ông nhờ một người bạn tìm cách cho tôi vượt biên, với điều kiện là sau này nếu tôi thành công sẽ kiếm tiền trả nợ sau cho chú ấy.
Ba tôi giờ này đã già rồi, Ông không còn canh cánh chuyện quốc gia, Dân tộc nữa nhưng vẫn luôn nhắc nhở tôi không được quên rằng: Chúng tôi là những người Việt Quốc Gia, phải luôn hãnh diện về quân lực VNCH. Phải luôn hãnh diện về những người lính VNCH luôn coi Danh Dự - Tổ Quốc -Trách nhiệm là châm ngôn để sống. Ba tôi không biết rằng, tôi luôn luôn tự hào là con của một quân nhân luôn cố để hoàn thành trách nhiệm với Dân Tộc, Quốc gia. Và luôn tự hào về nguồn gốc cũng như quá khứ anh hùng của quân lực VNCH mà Ba tôi là một thành phần trong đó.
Tôi biết có rất nhiều người có quá khứ cũng giống như tôi, thậm chí hoàn cảnh của họ còn bi đát hơn tôi rất nhiều. Tôi cũng không có cách nào giúp các bạn có hoàn cảnh sống khá hơn. Tôi chỉ hy vọng rằng các bạn sau khi đọc bài này, dành một phút, nhớ về người Cha thân thương của mình, một người mà tôi tin chắc rằng, nếu Ông là một người lính VNCH, tôi dám chắc tận trong đáy lòng của Ông luôn cố gắng hoàn thành Trách nhiệm của một người Cha, luôn cố gắng giũ gìn Danh Dự, và vì là một người lính VNCH ông luôn xem Tổ Quốc là hệ trọng.
Xin đừng bao giờ tin vào lời lẽ bôi nhọ của cộng sản với Cha Ông của chúng ta. Các bạn cũng đừng bắt chước xã hội CS và những người bàng quang, bịt tai, che mắt lại để sống qua ngày. Hãy sống mạnh, sống hào hùng như Cha Ông chúng ta đã từng sống, chết trong những ngày tháng oanh liệt và vinh quang đó. Các bạn đừng chỉ "tồn tại" mà hãy tập đứng thẳng trên đôi chân của mình. Cha Ông chúng ta là những anh hùng thật sự, họ không phải là "ngụy" như cộng sản vẫn rêu rao. Chính họ phải là những người phải cúi đầu trước chúng ta. Hãy học cách đấu tranh bất bạo động. Hãy phản kháng, khắp nơi, khắp các lĩnh vực. Hãy từ chối hợp tác, không đóng thuế v.v... Thế kỷ này, cộng sản không còn có thể muốn làm gì thì làm như trước kia nữa. Hãy chứng minh cho CSVN họ sẽ không bao giờ tiêu diệt được hết những người yêu chuộng tự do, dân chủ. Rồi sẽ đến ngày, cộng sản sẽ vĩnh viễn biến mất trong bóng tối của địa ngục, vĩnh bất siêu sinh. Và những người Cha Ông, những người lính kiêu hùng của quân lực VNCH sẽ mãi mãi trở thành bất tử trong lòng của Dân Tộc Việt Nam. 
Bài này tôi viết đã mấy hôm nhân ngày Father's Day và ngày quân lực VNCH 19/06 dự định chỉ viết cho bạn bè đọc chơi, nhưng hôm nay sau khi đọc được câu chuyện này, đau đớn quá nên gửi đến Danlambao, xem như một nén hương lòng tưởng niệm đến chú Minh, một người lính oai hùng của quân lực VNCH, sau hơn 40 năm rồi vẩn thà tuẫn tiết chứ không chịu nhục với lũ đầu trâu mặt chó, tay sai của CS:
Tội ác cộng sản (*)
Hôm nay, tại tỉnh Tây Ninh bọn côn đồ đã giết chú Minh, một cựu quân nhân VNCH, chú và cậu con trai ra đi bỏ lại người vợ người mẹ bại liệt đáng thương trong túp lều vách đất rách nát.

Sáng sớm, chú Minh vừa tiễn cậu con trai về cõi hư vô, vừa về đến nhà thì bị côn an đến giải về phường nơi chú ở và sau đó chúng chở chú về ngang qua dòng sông chú đòi dừng lại, và hô to ĐÃ ĐẢO CS và chú nhảy xuống và dòng nước cuốn đi bà con đi đường hô toán lên, nhưng không cứu chú kịp cho đến 15h thì mọi người vớt xác chú cách nơi nhảy xuống không xa.

* Nguồn tin Facebook Linh Kiều Hoàng
 
Nguồn:  http://danlambaovn.blogspot.com/2016/08/nhung-nam-thang-khong-quen-va-nhung.html#more

Toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà người lính chiến không đầu hàng chỉ duy nhất có một người đầu hàng cộng sản mà thôi.
Thành kính nghiêng mình trước anh linh người chiến sĩ VNCH đã làm tròn bổn phận Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm đối với đất nước Việt Nam và toàn dân.
Cầu mong hương hồn chiến hữu Minh sớm về cỏi niết bàn với Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.
Có bạn nào biết toàn câu chuyện xin hãy post lên diễn đàn để mọi người hiểu thêm. Tôi chưa thật sự hiểu việc gì đã xảy ra.

Anh không chết đâu anh: Thanh Lan
https://youtu.be/yJna0RGhCsQ


Xin một phút cúi đầu mặc niệm người Chiến Hữu đã tuẫn tiết vì không chịu khuất phục trước bạo quyền CS. Anh hãy an nghỉ nơi vùng Trời tự do của riêng mình, nơi không còn chiến tranh, hận thù, phân biệt đối xử và nhất là nơi mà con người thật sự được sống và đối xử đúng như một con người. Cầu mong Chiến Hữu sớm thanh thản và nhẹ nhàng nơi miền cực lạc. Anh cũng như tôi, chúng ta đã làm hết sức có thể, đã làm xong bổn phận của người trai thời loạn, nhưng ước muốn chỉ là ước muốn "Lực bất tòng tâm" nên vận nước đành phải ngậm ngùi buông súng, chịu nhục trước cái đám đang lẽ ra phải nhục gấp ngàn lần chúng ta hiện nay, nhưng thôi đã gọi là vận nước tới lúc mạt rồi thì chấp nhận số phận mà thôi. Lần cuối xin ngả mũ chào Chiến Hữu. CDlg.
Cảm nghĩ của cộng đồng Việt Nam về đại nhạc hội Cám Ơn Anh kỳ 10.
Ngày 31/07 vừa qua, đại nhạc hội Cám Ơn Anh kỳ 10 đã được tổ chức rất thành công tại miền Nam California. Tất cả là nhờ vào sự nhiệt tình đóng góp, công tác thiện nguyện của ban tổ chức và rất nhiều đồng hương. Mời quý vị cùng lắng nghe mottj vài chia sẻ của một số đồng hương trong phóng sự sau đây.
https://youtu.be/0Oxr1cCniDU

 

Trung Quốc áp đặt trật tự pháp lý mới?

Trung Quốc áp đặt trật tự pháp lý mới?

  • 5 giờ trước
Image copyright AFP Hoang Dinh Nam 
 
Image caption Ngoại trưởng Trung Quốc có mặt tại hội nghị ASEAN
Hội nghị Ngoại trưởng của các nước ASEAN được tổ chức ở Vientiane (Lào), bế mạc hôm 25/7 với một bản Tuyên bố chung được công bố, trong đó nội dung phán quyết ngày 12/7 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã không được nhắc đến.
Theo tin tức báo chí, nguyên nhân đến từ việc cản trở của thành viên Campuchia.
Nhân họp báo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chum Sounry của nước này cho biết: "Tranh chấp Biển Đông là tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc chứ không phải giữa ASEAN và Trung Quốc. Vì vậy, không nên đưa cả khối ASEAN vào vấn đề này, Campuchia không muốn dính dáng đến vấn đề này".
Trước đây không lâu, báo chí cũng đăng tải tin tức về ông Hun Sen, Thủ tướng Campuchia. Ông này cho rằng sẽ không ủng hộ phán quyết sắp tới của Tòa PCA tại La Haye, Hà Lan. Theo ông Hun Sen, vụ Philippines kiện Trung Quốc về việc diễn giải và áp dụng sai Công ước 1982 về Luật Biển, là "một âm mưu chính trị". Ông cũng cho rằng vấn đề này là chuyện riêng của hai nước, không liên quan đến ASEAN.
Vấn đề là Philippines là một thành viên sáng lập khối ASEAN. Tranh chấp Biển Đông liên quan trực tiếp đến nhiều nước ở Biển Đông, như Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei. Tức tranh chấp Biển Đông cũng là một vấn đề trọng tâm của ASEAN. (Và cả thế giới, do quyền tự do hàng hải, vì Biển Đông là hải lộ quan trọng, luân lưu trên 50% hàng hóa thế giới).
Phán quyết của tòa PCA hôm 12/7 thực ra là việc "diễn giải và áp dụng các điều trong bộ Luật Quốc tế về Biển 1982". Tức nhằm giải thích cách áp dụng luật. Trong chừng mực, phán quyết cũng là "luật".

'Quyền lịch sử'

Trung Quốc tự tiện diễn giải và áp dụng bộ Luật Biển 1982 theo cách của họ, chỉ có lợi cho họ, bất chấp những thiệt thòi của các nước chung quanh.
Trung Quốc áp dụng "quyền lịch sử", yêu sách 80% vùng Biển Đông. Tòa cho rằng việc áp dụng "quyền lịch sử" đã không còn phù hợp với Luật biển 1982. Tức là, ngay cả khi Trung Quốc chứng minh được rằng họ có "quyền lịch sử", thì khi Trung Quốc ký nhận công ước Luật Quốc Tế về Biển 1982, quyền này cũng bị mất đi.
Hơn thế, Trung Quốc chưa hề có cái gọi là "quyền lịch sử" ở Biển Đông. Tòa đã chứng minh rằng Trung Quốc qua bao thời đại, chưa hề kiểm soát trên thực tế vùng biển này.
Từ vấn đề "quyền lịch sử" ta mới hiểu lý do khác, (ngoài lý do viện trợ tiền bạc của Trung Quốc), vì sao Campuchia không ủng hộ phán quyết của Tòa PCA.
Đến nay một số đông chính trị gia Campuchia vẫn còn ủng hộ lập trường của ông Hoàng Sihanouk, là đòi "quyền lịch sử" của Campuchia ở Việt Nam (như đòi quyền sử dụng cảng Sài Gòn, sử dụng các thủy lộ Cửu Long... để về Phnom Penh).
Trường hợp Trung Quốc, khi ký vào Công ước Luật Biển 1982, quyền lịch sử (nếu có) của Trung Quốc bị mất đi. Trường hợp Campuchia (và Việt Nam), sau khi độc lập, thoát ách thực dân,"quyền lịch sử" của Campuchia (trên lãnh thổ Nam Kỳ) cũng bị mất đi.
Công pháp quốc tế không nhìn nhận hiệu lực của "quyền lịch sử". "Quyền" bị thay thế bằng khái niệm luật học "uti possidetis". Khái niệm này có nghĩa là: nếu (trước khi độc lập) anh có (kiểm soát) vùng lãnh thổ đó, thì sau khi độc lập anh tiếp tục giữ vùng lãnh thổ này.
Image copyright Hoang Dinh Nam AFP
 
Image caption Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN không nhắc tới phán quyết của Tòa PCA trong thông cáo
Phía Trung Quốc tẩy chay, không tham dự phiên Tòa, điều này không làm cho thẩm quyền của Tòa PCA bị giảm sút. Cũng như các vận động rầm rộ của Trung Quốc nhằm "chính trị hóa" phán quyết, cũng sẽ không giúp cho việc giải thích "Luật" của Trung Quốc có giá trị hơn Tòa PCA.
Nhưng quan điểm của các lãnh đạo Campuchia về phán quyết của Tòa rõ ràng đã phủ nhận nền "quốc tế pháp trị", đã được thiết lập từ hệ quả của hai cuộc Thế chiến. Theo đó mọi tranh chấp giữa các nước sẽ được giải quyết bằng luật lệ, thay vì bằng vũ lực. Điều này có thể sẽ làm tổn hại đến quyền lợi của Vương quốc Campuchia, một nước nhỏ, còn hiện hữu được là nhờ sự bảo vệ của Luật Quốc tế.
Lịch sử chứng minh, đã hai lần Campuchia bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ của mình là nhờ "pháp luật quốc tế".

Tiền lệ trong ASEAN

Khoảng năm 2011, tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia về chủ quyền vùng đất (khoảng 4,5km²) chung quanh ngôi đền Preah Vihear khiến hai nước căng thẳng, ngấp nghé bên bờ chiến tranh. Campuchia đệ đơn lên tòa Công lý Quốc tế (ICJ)ngày 28/4/2011 yêu cầu Tòa "giải thích lại phán quyết 1962".
Tranh chấp ngôi đền này giữa hai nước đã từng được Tòa ICJ phân xử năm 1962, theo đó ngôi đền này thuộc về Campuchia.
Việc phân xử thời đó "đầy kịch tính", vì theo nội dung Công ước phân định Biên giới Thái-Miên do Pháp và Thái lan thực hiện những năm 1897 và 1904, ngôi đền Preah Vihear thuộc về chủ quyền của Thái Lan. Nhưng trên bản đồ (do Pháp thực hiện sau đó vài năm) thì ngôi đền lại thuộc về Campuchia.
Cuối cùng Tòa xử Thái Lan bị "estoppel", vì nước này đã không phản đối (các tấm bản đồ vẽ sai) trong một thời gian dài. Tòa cho rằng, việc không lên tiếng phản đối đồng nghĩa với việc chấp nhận. Dĩ nhiên là quần chúng Thái Lan không đồng tình về phán quyết này.
Image copyright Getty
 
Image caption Tân Ngoại trưởng Campuchia Prak Sokhon tại hội nghị Ngoại trưởng ASEAN
Ngày 11/11/2013 Tòa ICJ nhóm họp lại và ra phán quyết, cho rằng khu đất 4,5km² đất chung quanh ngôi đền cũng thuộc về Campuchia.
Phán quyết cũng hết sức "kịch tính", vì nếu ta xét đến các tấm bản đồ phân định biên giới, thì rõ ràng vùng đất này thuộc về Thái Lan. Và dĩ nhiên, dư luận Thái Lan phản đối, không đồng ý với phán quyết này.
Trong vụ tranh chấp này quan điểm "trọng luật" của ASEAN là rõ rệt.
Thông cáo chung của các nước ASEAN có nội dung: "Tôn trọng phán quyết của Tòa và yêu cầu các bên thi hành án lệnh của Tòa tùy theo luật pháp của mỗi quốc gia".
Thì hôm nay, không có lý do nào để Campuchia ngăn cản khối ASEAN ra một tuyên bố yêu cầu các bên "tôn trọng phán quyết của Tòa PCA". Philippines là một thành viên sáng lập ASEAN và phán quyết của Tòa PCA là giải thích luật, tức là "luật".
Cả hai lần Tòa Công lý Quốc tế đều "xử ép" Thái Lan về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear. Dầu vậy Thái lan không phản đối, ngăn cản ASEAN ra thông cáo chung.
Campuchia là một nước nhỏ, nhờ "luật quốc tế" bảo vệ mà lãnh thổ nước này mới được "toàn vẹn" ngày hôm nay. Bây giờ, lãnh đạo Campuchia, có thể vì được sự trợ giúp (hay hứa hẹn trợ giúp) tiền bạc từ phía Trung Quốc, lại có chủ trương ủng hộ việc bất tuân luật lệ.
Đây là một tiền lệ nguy hiểm cho Campuchia.
Phía Thái Lan, dân chúng vốn từ lâu bất mãn với các phán quyết của ICJ (1962 và 2013), có thể nhân việc Campuchia ủng hộ việc không tôn trọng luật pháp, sẽ đặt lại việc thi hành hai án lệnh này.
Điều tệ hơn nữa là lãnh thổ của Campuchia hiện nay khoảng 50% diện tích đã được Pháp lấy lại từ Thái Lan qua những kết ước quốc tế.
Mà nền tảng của "quốc tế công pháp" là gì nếu không phải là những kết ước quốc tế?
Sẽ không có điều gì cấm cản Thái Lan phủ nhận mọi kết ước có liên quan đến biên giới đã ký kết (dưới áp lực của Pháp) từ đầu thế kỷ 20.
Campuchia lúc đó sẽ không thể phản biện lại Thái Lan. Bởi vì chính Campuchia đã ủng hộ cho việc phủ nhận công lý quốc tế.

Trật tự pháp lý quốc tế đảo lộn

Trật tự pháp lý quốc tế, được dựng lên từ Thế chiến II nếu không được các nước trong khu vực tuân thủ, nó sẽ thay thế bằng trật tự mới do Trung Quốc áp đặt.
Image copyright Getty
 
Image caption Đền Preah Vihear là tâm điểm tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia trong thời gian dài
Trật tự pháp lý cũ đặt nền tảng trên sự "bình đẳng về chủ quyền". Mọi quốc gia, bất kể lớn nhỏ, mạnh yếu, dân đông hay dân ít... đều bình đẳng như nhau về "chủ quyền".
Sự bình đẳng về chủ quyền đã được thể hiện trong bộ Luật Quốc tế về Biển 1982. Theo đó, một nước ven biển, bất kỳ lớn nhỏ, dân đông dân ít, được hưởng như nhau 12 hải lý (tính từ bờ, hay đường cơ bản) hải phận gọi là "lãnh hải" và 200 hải lý hải phận gọi là "kinh tế độc quyền".
Bộ Luật Quốc tế về Biển 1982 là "trật tự về biển" mà các nước trên thế giới đã ký kết và tuân thủ.
Phán quyết của Tòa PCA ngày 12/7 là việc giải thích luật, là "trật tự về biển", áp dụng cho Biển Đông.
Trung Quốc đã ký Công ước này. Bây giờ Trung Quốc tuyên bố không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa (vốn được LHQ chỉ định) và cho biết sẽ không tuân thủ thi hành phán quyết này.
Ta thấy bóng dáng một "trật tự pháp lý mới", do Trung Quốc áp đặt. Theo đó "chủ quyền" không còn là đơn vị tối thượng và bình đẳng trong luật biển, mà "nước lớn" quyết định việc phân chia biển.
Vấn đề là các những "nước lớn" khác, đã khai sinh ra "trật tự pháp lý" cũ, có chấp nhận việc này hay không?
Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của tác giả, nhà nghiên cứu ở Pháp.

Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese/world/2016/08/160801_asean_scs_order

Việt Nam Cộng hòa thực thi chủ quyền Hoàng Sa ra sao?

Việt Nam Cộng hòa thực thi chủ quyền Hoàng Sa ra sao?

Cuối năm 1974, sau khi Trung Quốc đánh chiếm trái phép Hoàng Sa, Đoàn Việt Nam Cộng hòa cũng tham dự Hội nghị Luật biển lần thứ 3 của Liên Hợp Quốc tại Caracas.
Ngày 23/5/2014, tại cuộc họp báo quốc tế của Bộ Ngoại giao về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, trả lời báo chí về việc quản lý Hoàng Sa, Trường Sa những năm 1960-1970 của thế kỷ trước, Bộ Ngoại giao khẳng định “Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa”.
Lý giải vấn đề này, ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói: “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa. Giá trị công thư phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công thư gửi Trung Quốc lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc quản lý của Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc chỉ là một bên tham gia. Không thể cho người khác cái gì mà bạn chưa có được”.
Kế thừa Trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20 đầy biến động, Việt Nam cũng như nhiều nước khác bị thực dân đế quốc đô hộ, nhưng nhà nước phong kiến Việt Nam đã khéo léo trong việc thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là việc kế thừa văn hóa biển lâu đời của người Việt, mà bằng chứng thể hiện trên Trống Đồng Ngọc Lũ hay các di chỉ ven biển Đông cũng như các di tích khảo cổ ven bờ và các hòn đảo.
Triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận sự quản lý đối với Hoàng Sa từ triều Lê với nhiều văn bản cấp quốc gia quản lý Hoàng Sa. Năm 1802 dưới thời vua Gia Long đã thiết lập Đội Hoàng Sa đã kiểm soát và khai khẩn quần đảo.
Mặc dù đất nước chịu họa xâm lăng của người Pháp, nhưng triều đình nhà Nguyễn vẫn là nhà nước nắm giữ chính quyền, đặc biệt là sự kiểm soát chặt chẽ địa lý hành chính khu vực miền Trung nơi có kinh đô Huế.
Biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Ảnh: Tư liệu.
Biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Ảnh: Tư liệu.
Nghị định ra ngày 15/6/1932 toàn quyền Đông Dương đã đặt Hoàng Sa thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, tức là dưới sự quản lý trực tiếp của Triều đình Huế. Binh lính được đưa ra đảo đồn trú. Năm 1938 có chỉ dụ của Đại Nam Hoàng Đế Bảo Đại số 10, ngày 30/3/1938 về Hoàng Sa. 
Việc quản lý vẫn tiếp tục ngay cả khi phát xít Nhật chiếm đóng trái phép (Năm 1939 chính phủ Pháp đã phản đối việc chiếm đóng của phát xít Nhật). Phát xít thua trận, Hội nghị San Francisco được tổ chức với 51 nước tham dự. 
Điều 2 của hòa ước San Francisco năm 1951 có hiệu lực tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia từng bị phát xít Nhật chiếm đóng. Đoàn đại biểu Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và nhận được sự đồng ý của 48/51 đại biểu của các nước tham dự và tiếp tục sự quản lý hoàn toàn hợp pháp của mình với Hoàng Sa và Trường Sa.

Cách Việt Nam Cộng hòa thực thi chủ quyền Hoàng Sa

Năm 1959, Hải quân Việt Nam đã bắt được 40 ghe đánh cá Trung Quốc đưa về Đà Nẵng lưu giữ 6 tháng. Hãng phân bón Việt Nam đã khai thác được 20.000 tấn phốt phát tại Hoàng Sa.
Sau năm 1954, tăng cường luật pháp Hiệp định Geneve lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời, ghi: “Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy”.
Bản Tuyên bố chung, được phổ biến rộng rãi tại miền Nam khi đó cũng ghi rõ: “Đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ”. Việc tổng tuyển cử thống nhất hai miền vì nhiều lý do bị trì hoãn, nhưng việc thực thi chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa luôn được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chú ý.
Tàu Nhật Tảo tham gia bảo vệ Hoàng Sa và bị chìm.
Tàu Nhật Tảo tham gia bảo vệ Hoàng Sa và bị chìm.
Vấn đề hải phận đã được cụ thể hóa bằng Sắc lệnh số 81-NG của Thủ tướng chính phủ VNCH ngày 27/5/1965 ấn định hai khu vực: Một khu vực gọi là Khu vực phòng vệ trong giới hạn 03 Hải lý kể từ bờ. Một khu vực gọi là Khu vực kế cận kể từ ranh giới ngoài hải phận đến giới hạn 12 hải lý kể từ bờ. Trong khu vực kế cận, văn kiện ấn định cho quốc gia những thẩm quyền tương đương với quyền mà thỏa ước Geneve quy định cho một quốc gia ven biển, đối với vùng kế cận hải phận của mình.
Năm 1969, VNCH đã thành lập một Ủy ban Liên bộ soạn thảo dự luật quy định hải phận quốc gia.
Vấn đề thềm lục địa cũng nóng lên cùng với những hoạt động con thoi: Một bản tuyên cáo của Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia ngày 7/9/1967 xác định phần lòng đất và đáy biển thềm lục địa là một phần lãnh thổ quốc gia, và thuộc thẩm quyền của Chính phủ VNCH.
Năm 1968, VNCH thành lập một Ủy ban nghiên cứu thềm lục địa, sau đó giao công việc lại cho Ủy ban Quốc gia dầu hỏa 2/6/1971.
Ngày 13/7/1961 dưới thời Đệ nhất cộng hòa, Tổng thống VNCH đã ban hành sắc lệnh 174NV đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam thay vì tỉnh Thừa Thiên và thành lập lại quần đảo này thành xã Định Hải, quận Hòa Vang.
Dưới thời Đệ nhị cộng hòa, Nghị định số 709-BNV/HC ngày 21/10/1969 của Thủ tướng chính phủ VNCH đã sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam.
Tìm tiếng nói quốc tế Hội nghị Liên Hợp Quốc (LHQ) lần 1 về Luật Biển được tổ chức vào năm 1958 tại Geneve với 86 quốc gia tham dự, trong đó có VNCH. Hội nghị này đã chấp thuận bốn công ước về luật biển.
-Công ước về lãnh hải và vùng tiếp cận
-Công ước về biển cả
-Công ước về đánh cá và bảo toàn tài nguyên sinh vật ở biển cả
-Công ước về thềm lục địa
Tất cả các công ước này có hiệu lực vào các năm khác nhau sau đó, với số quốc gia kết ước trung bình vào khoảng 40 mỗi công ước. Kỹ sư Trần Văn Khởi, Tổng cục trưởng Dầu hỏa và Khoáng sản của VNCH đánh giá rằng: “Hai khuyết điểm vô cùng quan trọng của các công ước này là không định được giới hạn của lãnh hải, và không định nghĩa rõ ràng về thềm lục địa”.
Cuối năm 1974, sau khi Trung Quốc đánh chiếm trái phép Hoàng Sa, Đoàn VNCH cũng tham dự Hội nghị Luật biển lần thứ 3 của LHQ tại Caracas ngày 2/7/1974. Hội nghị này có gần 150 quốc gia được mời tham dự.
Khai hỏa trận Hoàng Sa.
Khai hỏa trận Hoàng Sa.
Hội nghị Luật biển tại Caracas bàn nhiều về quyền khảo cứu và khai thác tài nguyên biển. Một số nước đưa quan điểm mọi quốc gia đều có quyền khảo cứu và khai thác trong khu vực biển quốc tế miễn là tuân hành theo những quy định và điều kiện do cơ quan quốc tế ấn định. Song, người ta tính rằng vào thời điểm đó “chỉ có chưa được 10 quốc gia trên thế giới có khả năng và phương tiện khai thác”.
Đoàn Việt Nam, trưởng phái đoàn VNCH là ngoại trưởng Vương Văn Bắc, ngày 30/7/1974 đã chính thức trình bày lập trường: “Chính phủ VNCH đặc biệt chú trọng đến vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên ở phần phía Nam của thềm lục địa liên hệ. Lập trường của VNCH về ranh giới thềm lục địa là phải áp dụng tiêu chuẩn khoảng cách 200 hải lý kể từ đường căn bản nhưng khi thềm lục địa rộng hơn khoảng cách trên bề rộng của thềm lục địa sẽ được ấn định ra đến cạnh ngoài cùng thấp nhất của bờ lục địa”
.https://youtu.be/_Kfow6Qi6kE
Chính phủ VNCH cũng bày tỏ rằng hoàn toàn ủng hộ lập trường đã được đề nghị, theo đó việc phân tranh thềm lục địa phải được giải quyết bằng những cuộc thương thuyết trực tiếp và song phương theo nguyên tắc công bằng hay mọi tranh chấp nếu có, sẽ được giải quyết bằng mọi phương cách hòa bình bởi những cơ quan tài phán quốc tế.
Cũng trong hội nghị này, ngày 28/8/1974 tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc, Trưởng phái đoàn VNCH đã lên diễn đàn long trọng tuyên bố rằng: “Chính phủ VNCH không chấp nhận mọi xâm phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bất kể trên đất liền hay khoảng biển thuộc quyền tài phán quốc gia. Cũng như đã có thông báo với Tổng thư ký LHQ và Hội đồng An ninh, Phái đoàn VNCH xác nhận một lần nữa rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những thành phần bất khả phân của lãnh thổ VNCH”.
http://www.tienphong.vn/xa-hoi/chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-viet-nam-cong-hoa-thuc-thi-ra-sao-731449.tpo
Theo Trần Nguyễn Anh / Tiền Phong

Công bố lập trường của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa

Việt Nam gửi tập tài liệu lập trường của Việt Nam đề nghị lưu hành tại Liên Hợp Quốc ngày 3/7 về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép.
Ngày 8/7, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố 2 văn bản lập trường chính thức của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tài liệu về lập trường chủ quyền của Việt Nam nêu rõ: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp lý, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là “Tây Sa”) nêu trong các văn bản kèm theo các thư ngày 22/5/2014 và ngày 9/6/2014 của Đại biện Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc lần lượt trong các văn bản A/68/887 và A/68/907.
Việt Nam khẳng định rằng các yêu sách của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và lịch sử.

VTV 4/7: Luận cứ đanh thép trong bức thư thứ 4 VN gửi LHQ

Việt Nam vừa đề nghị LHQ lưu hành văn bản về lập trường của Việt Nam đối với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981.
Các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa
Trong các trao đổi gần đây, Trung Quốc đã dẫn chiếu đến một số tư liệu như là bằng chứng lịch sử nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, các “tư liệu” này của Trung Quốc không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu mà Trung Quốc dẫn chiếu tới không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy Trung Quốc hiểu rằng chủ quyền của họ chưa bao giờ bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa.
Ví dụ như vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 19 khi hai tàu Bellona và Umeji Maru bị đắm ở Hoàng Sa và bị ngư dân Trung Quốc cướp tài sản, nhà cầm quyền Trung Quốc tại Quảng Đông đã lập luận rằng quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc. Về hành chính, các đảo này không thuộc bất kỳ châu nào của Hải Nam, Trung Quốc và không có cơ quan nào của Trung Quốc có trách nhiệm quản lý quần đảo này. Vì những lý do đó, phía Trung Quốc đã tuyên bố không chịu trách nhiệm về vụ ngư dân cướp tài sản.
Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép
Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép
Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Ít nhất từ thế kỷ 17, các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam đã tổ chức các hoạt động khai thác sản vật trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, tổ chức đo đạc hải trình và bảo đảm an toàn cho các tàu thuyền của quốc gia khác qua lại tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Các hoạt động này đều đã được ghi nhận trong các văn bản chính thức do các triều đình Việt Nam ban hành là các châu bản hiện đang được lưu giữ tại Việt Nam.
Sau khi Pháp và Việt Nam ký Hiệp định bảo hộ ngày 15/3/1874 và ngày 6/6/1884, Pháp đã thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và tuyên bố phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc. Pháp đã tiến hành nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như xây dựng và vận hành đèn biển và trạm khí tượng, thiết lập các đại lý hành chính thuộc tỉnh Thừa Thiên (An Nam), cấp giấy khai sinh cho công dân Việt Nam sinh ra tại quần đảo này.
Việc Đô đốc Quảng Đông (Trung Quốc) Lý Chuẩn năm 1909 tiến hành hành động thám hiểm và thăm dò Hoàng Sa là hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa mà Việt Nam đã thiết lập vững chắc và được chính quyền bảo hộ Pháp thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi hữu hiệu. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Pháp đã từng đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế (Công hàm của Pháp gửi Trung Quốc ngày 18/2/1937), nhưng Trung Quốc đã từ chối.
Năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch lợi dụng bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.
Các hội nghị quốc tế không giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc
Trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa ra các hội nghị quốc tế xem xét. Từ ngày 22-26/11/1943, Hội nghị Cairo với sự tham gia của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa Dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ra Tuyên bố Cairo (Cairo Communiqué), đưa ra mục tiêu loại bỏ Nhật Bản ra khỏi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã chiếm đóng từ Chiến tranh thế giới thứ I năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Trung Hoa Dân quốc. Tưởng Giới Thạch - đại diện cho Trung Quốc có mặt tại hội nghị - không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhiều tàu Trung Quốc vây ép tàu cá ngư dân Việt Nam ngay trên vùng biển Việt Nam.
Nhiều tàu Trung Quốc vây ép tàu cá ngư dân Việt Nam ngay trên vùng biển Việt Nam.
Hội nghị Potsdam diễn ra từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 với sự tham gia của lãnh đạo ba nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Quốc đã ra Tuyên ngôn Potsdam tái khẳng định những nội dung của Tuyên bố Cairo. Đại diện của Trung Quốc là Tưởng Giới Thạch có mặt tại hội nghị cũng không hề nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến 8/9/1951 có 51 nước tham dự; Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách là thành viên của Liên hiệp Pháp. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự hội nghị trên cương vị Trưởng phái đoàn Việt Nam. Hội nghị San Francisco đã giải quyết vấn đề quy thuộc một số vùng lãnh thổ ở Châu Á – Thái Bình Dương.
Tại hội nghị này, Trưởng đoàn Liên Xô Andrei A. Gromyko đã thay mặt Trung Quốc đưa ra đề nghị gồm 13 khoản, trong đó có khoản liên quan đến việc Nhật Bản công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với một số đảo ở biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa. Với 46 phiếu chống, 3 phiếu ủng hộ và 2 phiếu trắng, hội nghị đã bác bỏ đề nghị này của Phái đoàn Liên Xô.
Ngay sau đó, ngày 7/9/1951, phát biểu tại Hội nghị, Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.. Cả 51 quốc gia đều không phản đối Tuyên bố xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam.
Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và quốc gia Việt Nam quản lý. Trung Quốc là một trong những nước tham gia Hội nghị quốc tế về Đông Dương tại Geneva 1954 biết rất rõ điều này và Trung Quốc phải tôn trọng các văn kiện quốc tế của hội nghị đó.
Điều 1, Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.
Tháng 1/1974, Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngay lúc đó, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã ra tuyên bố bày tỏ quan điểm và phản đối hành động của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp khẩn cấp về hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, việc sử dụng vũ lực chiếm đóng một vùng lãnh thổ thuộc quốc gia khác không thể tạo ra chủ quyền.
Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa và sử dụng vũ lực nên không thể thiết lập được chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa
Trung Quốc đã hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc thực sự chiếm đóng một phần quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phản đối mạnh mẽ sự chiếm đóng này.
Năm 1959, một nhóm binh lính Trung Quốc giả dạng ngư dân âm mưu đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa, đã bị lực lượng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đập tan. Tám mươi hai (82) “ngư dân” Trung Quốc đã bị bắt. Cả hai hành động xâm chiếm này diễn ra sau khi vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định tại các hội nghị quốc tế như trên mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào.
Năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc.
Bị vong lục ngày 12/5/1988 của Trung Quốc - một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc - cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc
Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Công thư của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Tuyên bố đó liên quan đến các vùng biển, không giải quyết các vấn đề lãnh thổ. Trên thực tế, những kết luận mà Trung Quốc đưa ra hiện nay đang mâu thuẫn với chính các phát biểu của Trung Quốc, trong đó có phát biểu của chính nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình.
Tháng 9/1975, 17 năm sau công thư nói trên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn tại Bắc Kinh rằng “Trung Quốc có đầy đủ tài liệu chứng minh quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) từ xưa đến nay thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng với nguyên tắc thông qua hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng, sau này hai nước sẽ bàn bạc giải quyết”.
Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 12/5/1988 đã ghi nhận rõ ràng nội dung phát biểu này của Đặng Tiểu Bình, thể hiện nhận thức của Trung Quốc rằng vấn đề chủ quyền không được dàn xếp có lợi cho phía Trung Quốc qua các phát biểu hay thỏa thuận trước đây. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa.
http://laodong.com.vn/chinh-tri/lap-truong-chinh-thuc-cua-viet-nam-ve-chu-quyen-hoang-sa-222903.bld
Theo V.A / Lao Động
Nguồn:http://news.zing.vn/viet-nam-cong-hoa-thuc-thi-chu-quyen-hoang-sa-ra-sao-post435287.html

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa


Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa

Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) - "The United States of America is the most powerful nation on Earth. Period.” - President Obama, States of Union Address.
“Hoa Kỳ là một quốc gia mạnh nhất trên thế giới! Khỏi cần bàn cãi!” - Đó là lời khẳng định của Tổng Thống Obama trong bài diễn văn của ông đọc trước Quốc Hội vào ngày 13 tháng Giêng năm nay.
Mười bảy ngày sau đó, ông chứng mình điều này bằng cách cho chiến hạm USS Curtis Wilbur lủi thẳng vào vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi mà Trung Cộng đã cưỡng chiếm từ Việt Nam Cộng Hòa hơn 42 năm mà cộng động thế giới đã lặng im không phản đối.
Quyết định này của Tổng Thống Obama khẳng định Hoa Kỳ không thừa nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Hoàng Sa. 
Ông Obama có lẽ là tổng thống Mỹ đầu tiên chính thức phủ nhận chủ quyền của Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Mọi người dễ dàng nhận thấy rằng quyết định của Tổng Thống Obama báo hiệu cho thấy Hoa Kỳ bắt đầu mở lại hồ sơ mà mọi người tưởng đã đi vào quên lãng. Đó là hồ sơ về Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa.
Trung Cộng bẽ bàng trước hành động này vì Trung Cộng vẫn nghĩ rằng Hoa Kỳ cần phải tôn trọng thỏa ước giữa Chu Ân Lai với Henry Kissinger vào thập niên 1970, mà trong đó có việc nhắm mắt làm ngơ để Trung Công tiến chiếm trái phép quần đảo này. 
Vào 19 tháng Giêng năm 1974, Hải-quân Việt Nam Cộng Hòa theo lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khai hỏa phản công sự lấn hiếp của Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Dù Hải-quân Việt Nam Cộng Hòa thiệt hại nặng nhưng Hải-quân Hoa Kỳ nhắm mắt làm ngơ không can thiệp khi thấy đồng minh của mình bị Cộng Sản tấn công. 
Không những thế, để đưa ra một tín hiệu rõ rệt hơn cho Trung Cộng về việc tuân thủ cam kết thỏa ước giữa Chu ân Lai và Henry Kisinger, Hạm Đội Bảy của Hoa Kỳ được lệnh di dời xa hơn vùng có giao tranh giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và Trung Cộng.
Đơn giản là nếu Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc chiến Hoàng Sa thì coi như mọi cam kết hứa hẹn của Henry Kissinger với Tàu Cộng sẽ bị đổ vỡ hết. 
Tiến xa hơn nữa trong quyết tâm hợp tác với Trung Cộng của Henry Kissinger, Hoa Kỳ đã nhắn nhủ đến phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa là về tài khóa viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa năm 1974-1975 sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng với cái cớ ngụy tạo là tình hình chính trị tại Hoa Thịnh Đốn đang bất lợi.
Nói một cách khác, nếu Tổng Thống Thiệu vẫn tiếp tục tiến hành đối sách phản công với đầy đủ các binh chủng từ Hải-quân đến Không-quân lẫn Thủy-quân Lục-Chiến để đẩy Trung Cộng vào thảm bại hoàn toàn tại Hoàng Sa thì đất nước của ông phải đối đầu với cả vừa lực lượng Cộng Sản Bắc Việt trên bộ lẫn Trung Cộng ngoài hải phận một mình. Mọi thiếu hụt về quân sự sau đó sẽ không được bổ sung viện trợ nếu Tổng thống Thiệu tiếp tục kế hoạch phản công chiếm lại Hoàng Sa.
Cho nên có thể nói sự o ép nặng nề mà Hoa Kỳ dành cho Tổng Thống Thiệu, buộc ông phải bãi bỏ lệnh phản kích chiếm lại quần đảo Hoàng Sa là ngầm ý cho thấy Hoa Kỳ hiểu rõ kể hoạch tính toán của Tổng Thống Thiệu khi ông muốn dùng trận hải chiến Hoàng Sa để cố phá vỡ thỏa ước giữa Chu Ân Lai và Henry Kissinger, vốn chỉ đem đến quá nhiều tang thương thiệt thòi cho Việt Nam Cộng Hòa.
Đó cũng là lý do tại sao mà ngày hôm nay, Trung Cộng nổi giận tột độ trước manh nha "trở mặt" đi ngược lại với cam kết thỏa ước của Henry Kissinger với Tàu Cộng năm xưa.
Trung Cộng dứt khoát không chấp nhận Hoa Kỳ ỷ mạnh muốn nuốt lời, bèn đưa dàn hỏa tiển Địa Đối Không HQ 9 ra đảo Phú Lâm như tỏ thái độ cương quyết chiếm giữ phần lời theo cam kết thỏa ước ngày trước giữa hai nước khi bắt đầu nối lại bang giao.
Đây chỉ là một hành động mang tính tượng trưng bày tỏ quyết tâm phản kháng của Trung Cộng trước manh nha xé bỏ thỏa ước năm xưa bởi dàn hỏa tiển HQ-9, dù có hung hiểm đến đâu nhưng lẻ loi cũng chẳng có thể nào đối phó nổi hỏa lực của cả hai Hạm Đội Bảy và Năm của Hoa Kỳ tại biển Đông.
Mặc dù có nhiều phân tích ồn ào trên truyền thông cho rằng đối sách của Tổng Thống Obama không ngăn cản được sự hung hăng của Trung Cộng tại biển Đông và sự tuần tra quần đảo Hoàng Sa bị phản tác dụng nhưng thật ra, thời điểm mà Hoa Kỳ quyết định tuần tra quần đảo Hoàng Sa rõ ràng có tính toán mà những phân tích gia cố tình vờ đi không đề cập đến.
Căn bản của sự tính toán là mọi hoạt động sức ép quân sự tại biển Đông của Hoa Kỳ phải dựa trên sự phân tích tình báo kỹ lưỡng về tình hình nội bộ của Trung Cộng.
Trên thực tế, Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang phải đối phó với một nguy cơ đang hiện rõ dần: đó là nguy cơ đảo chánh. 
Vụ nổ tại cảng Thiên Tân vào tháng Tám năm ngoái làm trên 158 người bị tử thương cảnh báo cho thấy nguy cơ họ Tập sẽ bị đảo chánh đang ngày càng rõ rệt, không còn là lời đồn đại nữa. 
Chính sách "đã hổ diệt ruồi" nhằm thâu tóm quyền lực của họ Tập đang ngày càng trở nên phản tác dụng và đẩy quân đội đứng giữa những tranh chấp quyền lực khốc liệt tại trung ương Cộng đảng Trung Quốc, dẫn đến những thanh trừng lan tràn sang cả trong hàng ngũ tướng lãnh của quân đội khiến nội bộ quân đội Trung Cộng vì thế cũng đang hết sức lủng củng và rối loạn. 
Cái chết của Phó Chủ Tịch Quân-ủy Trung ương, tướng Từ Tài Hậu vào 16 tháng Ba năm ngoái do bị thanh trừng mà truyền thông Trung Cộng bảo là bị ung thư khi còn trong vòng giam giữ điểu tra tham nhũng chỉ khiến hàng ngũ tướng lãnh quân đội lúc nào cũng phải cảnh giác mạng sống của mình trước họ Tập. 
Hơn mười sáu tướng lãnh khác đồng loạt bị công bố thanh trừng vào tháng Giêng năm ngoái càng cho thấy quân đội bị khủng hoảng nội bộ trầm trọng và sự thanh trừng của họ Tập đối với quân đội không có dấu hiệu sẽ dừng lại ở danh sách mười sáu vị tướng lãnh này. 
Họ Tập cố gia tăng quyền kiểm soát của mình lên quân đội thông qua thanh trừng thì đương nhiên, giới tướng lãnh sớm hay muộn cũng cần phải có đối sách để đảm bảo mạng sống của mình. Trải qua thanh trừng suốt năm 2015, nội bộ tướng lãnh của Trung Cộng trong bộ Quốc Phòng có quá nhiều thay đổi và rối ren vỡ nát. Trong tình huống như thế mà họ Tập lại phải miễn cưỡng gia tăng căng thẳng quân sự tại biển Hoàng Sa với Hoa Kỳ vào đầu năm nay thì chẳng khác nào họ Tập tự lâm vào cảnh thiên la địa võng do bị nội công ngoại kích ?!
Cũng có ý kiến cho rằng việc gây căng thẳng quân sự tại biển Đông sẽ giúp họ Tập đoàn kết quân đội và làm mọi người quên đi nổi sợ bị thanh trừng nhưng đó là khi nào mà hàng ngũ tướng lãnh thật sự nhìn thấy đất nước bị tấn công. Đàng này, Hoa Kỳ chỉ nhấp cờ dí chốt gia tăng áp lực quân sự thì chỉ khiến họ Tập thêm khốn khó khi đối phó với nguy cơ đảo chánh ngày một rõ mà thôi vì chẳng có tướng lãnh nào muốn tận tụy cho vinh quang và tham vọng của riêng họ Tập tại biển Đông cả. 
Hòa hoãn với Hoa Kỳ như thời Giang Trạch Dân và né tránh thanh trừng là hai mục tiêu hàng đầu của các sĩ quan tướng lãnh cao cấp trong quân đội Trung Cộng hiện nay. Cho nên động binh gây căng thẳng với Hoa Kỳ tại Hoàng Sa chỉ khiến nội bộ các tướng lãnh cao cấp thêm bất mãn và lo lắng mà thôi.
Ngoài ra, sang đến năm nay, khủng hoảng kinh tế tại Trung Cộng đã đến hồi nguy hại cho an ninh chính trị của Bắc Kinh khi mà hầu hết các tập đoàn kinh tế quốc doanh điều bị vỡ nợ cũng như nền tài chánh bị chảy máu ngoại tệ quá nghiêm trọng, trên cả ngàn tỷ Mỹ kim vào năm ngoái. Trong bối cảnh như thế, thì sự căng thẳng quân sự với Hoa Kỳ tại Hoàng Sa từ năm nay chỉ khiến sự bất an lo lắng về kinh tế trong xã hội Trung Quốc tăng thêm. Hoa Kỳ dù sao, vẫn là cứu cánh kinh tế cần thiết cho Trung Quốc.
Nếu Việt Nam Cộng Hòa trước đây đã làm cho kinh tế Liên Xô kiệt quệ để rồi lần hồi dẫn đến rối loạn chính trị sụp đổ vào năm 1991 thì Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa ngày hôm nay cũng sẽ thúc đẩy Trung Cộng lâm vào tình thế xáo trộn nội bộ cũng như suy kiệt kinh tế nhanh hơn để rồi chủ nghĩa Cộng Sản tiêu ma tận gốc tận rễ tại châu Á.
 
Nguồn:  http://danlambaovn.blogspot.com/2016/02/hoang-sa-cua-viet-nam-cong-hoa.html

Ý kiến:
  • Bài viết sau đây hơi dài. Xin trích dẫn trứơc 2 đoạn có liên quan tới vụ cái gọi là Hội nghị (?!) về Biển Đông hoành tráng ở Thượng viện xứ Lá Phong:
    Cuối cùng là sự kiện nham nhở bị người khinh khi cách nay cả hơn 30
    năm: Đó là trò “ vận động quốc tế!!!” phục hoạt cái văn kiện chết toi
    là cái Hòa ước Paris 1973 mà Mỹ và việt cộng a tòng bán đứt Miền Nam
    và cả nước cho chệt cộng. Cũng lại là người thượng Hải ta đứng ra mai
    mối dể Thượng viện xứ Lá Phong bảo trợ cho cái mà Vi Anh ( nói là cựu
    dân biểu VNCH ) chạy một bài hoành tráng, giật tít là: “ Thượng Viện
    Canada Mở Hội Nghị Về Dùng Hòa Ước Paris 1973 Giải Quyết Tranh Chấp
    Biển Đông. “ Thực tế chỉ là một phiên điều trần trước thượng viện
    Canada do người thượng Hải lobby và chủ trì.
    Bất cứ việc vận động phục hồi hòa ước Paris do ai khởi xướng, nó vẫn
    cứ là toan tính đối thoại với việt cộng trong hội nghị quốc tế, nghịch
    với lập trường tranh đấu xóa bỏ chế độ toàn trị việt cộng của người
    Quốc gia chống cộng, gây ra bất hòa trong cộng đồng hải ngoại.
    Việt cộng tổng đánh phá Hải Ngoại hay giẫy chết ?
    Mới đây, tác giả Nguyễn Vĩnh Long Hồ đi một bài viết ngắn với cái tựa cảnh báo nghiêm trọng: “ CSVN RA KẾ HOẠCH TỔNG ĐÁNH PHÁ CỘNG ĐỒNG HẢI NGOẠI‏ “ mà nội dung là trích đoạn nghị quyết của an ninh tình báo vc ra lịnh cho cục R tình báo hải ngoại mở chiến dịch tổng đánh phá các cộng đồng người Việt TNCS hải ngoại cùng một lúc việt cộng mở cuộc khủng bố, càn quét các nhà tranh đấu trong nước.
    Để xét nghiệm xem kế hoạch kể trên là thật hay giả, hãy thử lược qua các biến động gần đây về mưu tính vận động hải ngoại trong khuôn khổ nghị quyết 36 vc:
    Đầu tiên là biến động về sự kiện Điếu Cày. Nó gây náo loạn đến mức mà “ nhà văn quân dội “ Chu Tất Tiến phải hô hoán than thở cho người hùng Điếu Cày rằng: “ Theo trình tự này thì tất cả những ai dám bạo gan chống đối CS độc ác, dã man, bán nước, những ai chống Trung cộng xâm lăng, nếu đi sang Mỹ là sẽ gặp xui xẻo vô cùng, vì họ thoát Độc Tài Đỏ lại gặp Độc Tài Vàng, không chết
    cũng bị thương! ”
    Trối thây lời bi ai thống thiết của nhà dzăng nỗi tiếng tru tắt tiếng, mục tiêu quy mã của cựu bộ đội nón cối cụ hồ, cái điếu cày lũng lẳng, minh thị phát biểu gồm hai thứ:
    1/ Đánh đồng cờ đỏ với cờ vàng: “ Trước tiên chúng ta phải thấy rằng lá cờ chỉ là biểu tượng. Chúng ta đấu tranh là vì mục tiêu tự do, dân chủ cho đất nước, không phải vì biểu tượng một lá cờ.”
    “ Lá cờ vàng 3 sọc đỏ đã có từ thời nhà Nguyễn, là cờ của tổ quốc, đại diện cho tự do dân chủ. Lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của một thể chế độc tài, áp bức.”
    “ Không riêng gì cá nhân chúng tôi mà tất cả chúng ta, trong nhu cầu kết nối để tạo sức mạnh tổng hợp, hãy cùng nhau đứng dưới ngọn cờ tự do dân chủ(?) để xoá bỏ độc tài, áp bức và bất công.”
    2/ Rao nam rao bắc về trò Hòa hợp, hòa giải kiểu mới: “ Bây giờ là lúc chúng ta hàn gắn dân tộc Việt Nam. Bây giờ cũng là lúc bắt tay vào hợp tác và phát triển với bạn bè trên cộng đồng quốc tế. Vì vậy chúng ta hãy xếp lại quá khứ, xếp lại sự khác biệt để cùng đấu tranh vì một mục đích vì tương lai của dân tộc. Còn những chính quyền đã đem lại sự đau khổ cho người dân thì giờ mọi người cũng đã nhận rõ và bây giờ chúng ta đấu tranh vì một tương lai Việt Nam đoàn kết, hòa hợp và phát triển.”
    ( Danlambao -Tường thuật Hội luận Truyền Thông - Điếu Cày Nguyễn Văn Hải )
    Kế dến là cái “ Hội nghị Diên Hồng Thời đại “ khai diễn hoành tráng ở Nam Cali mà chủ trì là sử gia Phạm Trần Anh với cựu Thứ trưởng giáo dục Nguyễn Thanh Liêm phò tá. Đây là lần đầu tiên có sự nối kết trong ngoài rầm rộ, với sự tham dự từ xa của 15 “ tổ chức xã hội dân sự “ trong nước. Kịch bản dàn dựng thiệt
    là vĩ đại với chủ tịch danh dự là bô lão Võ Toàn 104 tuổi và người mở đầu hội đại là nữ sĩ Việt nữ Hoan Châu 96 tuổi, học trò của nhà Đại cách mạng Phan Bội châu. Và kết thúc với bản Đại Hiến chương Diên Hồng lẫm liệt.
    Tiếp theo là sự kiện ngài thượng Cà ná đa Ngô Thanh Hải trình ra nghị quyết công nhận ngày 30 tháng tư là ngày “ Hành trình tìm Tự do “ ( Journey for Freedom Day ). Đó là màn trình diễn cũ mèm của bọn hoạt đầu chánh trị lăm le “ xóa bỏ ngày Quốc hận “ truyền thống của người Việt Tị Nạn cộng sản, làm phai lạt tội ác xâm lăng, chiếm đoạt Miền Nam VNCH để dâng cho chệt cộng của bọn việt cộng bán nước Bắc Việt nhằm vuốt ve việt cộng theo đóm ăn tàn
    mệnh danh “ quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù, đoàn kết trong ngoài, xây dựng tương lai!? “
    Cuối cùng là sự kiện nham nhở bị người khinh khi cách nay cả hơn 30 năm: Đó là trò “ vận động quốc tế!!!” phục hoạt cái văn kiện chết toi là cái Hòa ước Paris 1973 mà Mỹvà việt cộng a tòng bán đứt Miền Nam và cả nước cho chệt cộng. Cũng lại là người thượng Hải ta đứng ra mai mối dể Thượng viện xứ Lá Phong
    bảo trợ cho cái mà Vi Anh ( nói là cựu dân biểu VNCH ) chạy một bài hoành tráng, giật tít là: “ Thượng Viện Canada Mở Hội Nghị Về Dùng Hòa Ước Paris 1973 Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đông. “ Thực tế chỉ là một phiên điều trần trước thượng viện Canada do người thượng Hải lobby và chủ trì.
    Vì sao mà nối kết các sự kiện kể trên vào kế hoạch tổng đánh phá cộng đồng hải ngoại của việt cộng?
    Bởi vì:
    Bất kể sự kiện điếu cày do ai đạo diễn, nó vẫn cứ đem lại hậu quả là: Tình trạng chống báng nhau trong cộng đồng hải ngoại đến mức gà nhà bôi mặt đá nhau, như trường hợp ttt chửi người anh em Quốc gia là độc tài vàng ngang bằng việt cộng độc tài đỏ!
    Bất cứ vụ Đại hội Diên Hồng Thời đại do ai đạo diễn, nó vẫn cứ đem lại hậu quả là: Sự bắt tay giữa đoàn thể hải ngoại với các tổ chức xã hội dân sự trong nước mà không ai dám bảo đảm là không phải là cò mồi , thậm chí là do an ninh tình báo việt cộng giật dây?
    Bất cứ việc cải danh ngày Quốc hận thành “ ngày hành trình tìm tự do “ do nguyên nhân nào, nó vẫn cứ khuấy động về vấn đề xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải gây tranh cải trong cộng đồng người Việt TNCS.
    Bất cứ việc vận động phục hồi hòa ước Paris do ai khởi xướng, nó vẫn cứ là toan tính đối thoại với việt cộng trong hội nghị quốc tế, nghịch với lập trường tranh đấu xóa bỏ chế độ toàn trị việt cộng của người Quốc gia chống cộng, gây ra bất hòa trong cộng đồng hải ngoại.
    Như vậy làm sao mà dám nói “ Kế hoạch tổng đánh phá cộng đồng hải ngoại của việt cộng là đang giẫy chết “?
    Bởi vì:
    Cái điếu cày mới ro ro vài phát, cái nõ điếu đã văng mất, tịt ngòi, đến mức mà người lính già NLGO đã ví von sự kiện điếu cày Mỹ du như anh tỉnh lẽ du Hoa Thạnh Đốn ( DC goes to Whashington )!
    Cái Đại hội Diên Hồng nối kết trong ngoài dàn dựng hoành tráng, diễn xuất từ ngày 2 tháng 11 đến nay cả tháng rưởi rồi mà hổng thấy ép phê gì ráo trọi.
    Cái dzụ cải danh ngày Quốc hận thì dù cho Hạ viện Canada có thông qua thì cũng chỉ để trong giới công quyền xứ Lá Phong biết với nhau chớ đối với cộng đồng người Việt TNCS, ngày 30 tháng tư vẫn cứ là NGÀY QUỐC HẬN.
    Cuối cùng sở dĩ gã nhà quê làng Bưng Cầu dám bạo mồm bạo miệng về dzụ việt cộng giẫy chết là do sự thể như vầy:
    Sách các mác nói rằng: Đế quốc là giai đoạn tột cùng của chế độ tư bản mà đặc điểm là chế độ “ tư bản độc quyền nhà nước “ ( Monopole capitaliste d' état ).
    Nay thì chế độ toàn trị việt cộng thực chất là “ Đế quốc đỏ “ với chế độ TƯ BẢN ĐỎ ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC VIỆT CỘNG.
    Khi mà tư bản đỏ cấu kết với độc tài nhà nước bốc lột giới vô sản nghèo khó tới mức không còn chịu đựng được nữa thì những người nô lệ Việt Nam sẽ vùng lên đánh dổ chế độ toàn trị việt cộng đến chỗ tiêu vong.
    Đó là trên lý luận mác xít.
    Thực tế là: Ngày nay, tư bản đỏ là nguồn sống của độc tài, tham nhũng việt cộng. Bây giờ trước tình trạng kinh tế – chánh trị việt cộng bế tắc, tư bản đỏ đang tìm đường tháo chạy. Chế độ toàn trị việt cộng ắt tiêu vong!
    Nguyễn Nhơn
    Trích Bản tin Người Việt:
    Người giàu ở Hà Nội tìm đường sang Mỹ
    Luke Bùi/Người Việt
    HÀ NỘI (NV) - Trong bối cảnh nợ công của Việt Nam sắp vượt trần, phân hóa giàu-nghèo ngày càng cách biệt, đời sống xã hội có nhiều rủi ro, giới giàu có ở Hà Nội đang ráo riết tìm đường định cư ở Mỹ để bảo toàn khối tài sản.

    • Việc phục hồi giá trị công lý của Hiệp Định Paris 1973 không phải để hòa giải với Việt Cộng mà là để Liên Hiệp Quốc chính thức thừa nhận Việt Cộng đã coi thuờng công pháp quốc tế mà sử dụng vũ lực xóa bỏ quyền tự quyết của nhân dân hai miền đã được ghi và cam kết theo Hiệp Định. Và vì thế, Việt Cộng không thể tiếp tục tồn tại trên quyền lực vì đã vi phạm Hiệp Định và quân đội Bảo An LHQ sẽ phải đảm nhiệm vai trò tổng tuyển cử cho nhân dân hai miền cũng như giải giới lực lượng an ninh của Cộng Sản.
      (Post lầm chổ nên xin DLB cho post lại - Cám ơn DLB)
    • Trích: " và quân đội Bảo An LHQ sẽ phải đảm nhiệm vai trò tổng tuyển cử cho nhân dân hai miền cũng như giải giới lực lượng an ninh của Cộng Sản.( ngưng )
      Bao giờ thì có việc nầy?
  • TRẢ LỜI LAM CHAN THO về giải pháp phục hồi HĐ Paris 1973
    Nguyễn-Nhơn | Đã Đến Lúc Toàn Quốc Bất Tuân Dân Sự
    Hơn 30 năm về trước, khi các nhân sĩ Miền Nam vận động quốc tế phục hồi Hiệp định Paris 1973, các nhà chánh trị Âu Mỹ khuyên:
    “ Bà J. W. E Spies, lúc đó Bà là Chủ Tịch Đảng Christian Democratic Appeal và dân biểu Quốc Hội Hòa Lan, và hiện nay Bà là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Khi được hỏi về vấn đề vận động quốc tế cho tự do dân chủ ở Việt Nam, Bà nói rằng người Việt Nam trước tiên phải hy sinh, phải tranh đấu cụ thể cho đất nước của chính mình trước khi mong đợi người ngoài giúp đỡ.” (1)
    Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan khuyến cáo rằng:
    “Sớm muộn gì quý vị cũng phải dùng biện pháp bất tuân dân sự (civil disobedience). Phải có phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc mới hy vọng thay đổi được chế độ cộng sản độc tài.” (2)
    Thời gian nước chảy qua cầu. Câu nói “ sớm muộn gì “ ấy mới đó mà đã hơn 30 năm lững lờ trôi. Và những người trí thức Miền Nam năm ấy, nay đã vào tuổi xế tà trên dưới tám mươi!
    Chỉ thương cho anh em quân cán chính thân phận nhỏ nhoi, không cần ai chỉ biểu, vẫn tự mình biết: Đối với vc mà anh em đã từng cầm súng đánh chúng, thua trận chấp nhận tù binh sòng phẳng thì phải quyết liệt đương đầu bằng sức mạnh. Không có việc vận động quốc tế hoặc xin – cho.
    Cho nên kể từ ngày lưu vong ra hải ngoại vẫn tổ chức nhau cùng với đồng bào tị nạn cọng sản thấy vc léng phéng nơi đâu là rượt đuổi tới đó, kể cả đối với những kẻ hoạt đầu chánh trị lăm le đối thoại, thỏa hiệp với bọn vc.
    Ngày nay, những ai tự thấy còn có trách nhiệm đối với Đất nước, Dân tộc phải có thái độ dứt khoát: Bằng mọi thế cách đánh đổ chế độ vc bạo ngược cứu dân, cứu nước, ngoài ra không có cách gì khác.
    Cách nay năm ba năm, ai nói rằng, không nên cực đoan, quá khích, phải tranh đấu từ từ, cải lương, cải cách trong khuôn khổ ôn hòa, bất bạo động theo học thuyết Gandhi, Mandela thì một là nói cho qua tang lề, hai là cò cưa thỏa hiệp với vc tranh giành quyền lực vì tham vọng cá nhân, phe đảng.
    Hiện tại thì đã đến lúc quí vị thực thi tranh đấu bất bạo động Gandhi nếu như quí vị thật lòng muốn đập tan chế độ toàn trị cọng sản.
    Ở bên Tunisia, anh sinh viên Bouazizi thất nghiệp, bán hàng rong kiếm sống, vì bị cảnh sát đạp đổ gánh hàng rong mà phẩn uất tự thiêu, phản đối cường quyền. Đồng bào của anh thức tỉnh vùng lên đập tan độc tài Ben Ali.
    Năm 2011, bà mẹ Bạc Liêu Đặng thị Kim Liêng, vì uất ức bị cường hào lấn đất mà tự thiêu thân. Chỉ thân hữu tranh đấu của người con Tạ Phong Tần lên tiếng bênh vực một lúc rồi sự kiện trôi qua.
    Ngày 6/12 vừa qua, anh Trịnh Xuân Tình, người gốc Thanh hóa trôi giạt vào Nam bán hàng rong nuôi hai con nhỏ. Từ Bình Dương đạp xe ba gát qua Thủ Đức, tải hàng xuống quận Bình Thạnh, Sài gòn, đường xa mấy chục cây số, bán. Cảnh sát, dân phòng dẹp lề đường tịch thâu hàng hóa. Anh theo năn nỉ xin lại, chúng chẳng cho mà còn còng tay đánh đập, té xỉu bên lề đường. Mãi mới được đưa vào bệnh viện cấp cứu! Không một ai đoái hoài cứu giúp!
    Ngày 10/12/13, cường quyền huyện Nghi Xuân, Hà Tỉnh kéo 300 côn an, dân phòng đến cưởng chế, cướp đất của người dân xã Xuân Thanh cho công ty tư bản đỏ lập sân golf. Chúng đánh đập dã mang khiến 4 người dân bị thương nặng. Đồng bào phải tự đưa các nạn nhân đi cứu chửa.
    Trước tình cảnh xã hội mà con người hầu như vô cảm như vậy, nếu hàng sĩ phu cứ mắt lắp tai ngơ thì họa mất nước sẽ tới trong sớm tối!
    Quí vị nhân sĩ, trí thức, lão thành kách mạng thường khuyên bảo giới trẻ tranh đấu ôn hoa bất bạo động, tôi cũng chìu theo quí vị nói tranh đấu bất bạo động:
    Tranh đấu bất bạo động theo học thuyết Gandhi gồm hai vế:
    Vế thứ nhất là BẤT HỢP TÁC:
    Vậy thì xin quí vị thực thi để nêu gương cho giới trẻ. Vừa rồi, đảng viên Lê Hiếu Đằng tiên bố bỏ đảng. Như vậy là bước khởi đầu. Bây giờ xin bước tới bước
    nữa: Trả lại căn hộ và cái sổ hưu để dứt khoát không dính dáng gì đến đảng nữa. Và từ rày về sau không nói một tiếng nào với đảng và nhà nước cọng sản nữa, nghĩa là chia tay dứt dạt chớ không còn cảnh “ Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.”
    Tôi chỉ nêu một trường hợp điển hình. Nếu đông đảo quí vị theo gương ấy, nhất là quí vị đang tại chức đồng loạt từ chức, từ nhiệm thành phong trào BẤT HỢP TÁC trên toàn quốc thử xem bọn lãnh đạo cọng sản đối phó thế nào?
    Vế thứ hai là BẤT TUÂN DÂN SỰ: Vụ nầy thì chính quí vị không cần làm, bởi vì trong tay quí vị có một lực lượng lớn vô địch: Đó là Sinh viên – thanh niên – học sinh.
    Quí vị chỉ cần đem tất cả nghị lực và tấm lòng thanh khẩn, với tư cách vừa là thầy học vừa là phụ huynh dẫn giải cho em cháu nghe về tình thế ngặt nghèo của Đất nước, nếu tất cả không liều thân hành động thì họa diệt tộc ngày càng tới gần không bề cứu gở và chỉ cách thế cho giới trẻ vận động tổ chức bất tuân dân sự trên toàn quốc. Sinh viên, học sinh bãi khóa, kéo nhau đi vận động:
    Ở các đô thị lớn: Vận động doanh nhân không đóng thuế doanh nghiệp, nghĩa là tuyệt lương bọn cầm quyền trung ương, kể cả côn an, bộ đội.
    Ở vùng nông thôn: Vận động bà con nông dân không đóng thuế ruộng đất, nghĩa là làm tê liệt bộ máy cai trị địa phương, làng xã chỉ biết sống nhờ vào thuế ruộng đất như là địa chủ ngày xưa thu địa tô.
    Phát động phong trào chạy xe hai bánh KHÔNG đội mũ bảo hiểm, nghĩa là tuyệt đường các “ anh hùng núp “,cảnh sát giao thông không còn thu được tiền mãi lộ vừa gây náo loạn trật tự đường phố khắp nơi.
    Tôi ở xa nhìn ngó chỉ nêu lên vài ba trường hợp tiêu biểu, còn như quí vị ở tại chỗ lại thêm kinh nghiệm làm cách mạng đầy mình, chắc chắn còn nhiều chiêu ngoạn mục mà quí vị đem ra thi thố thì các đồng chí cũ của quí vị có khi bó tay.com!
    Chỉ cầu mong quí vị vào lúc tuổi xế chiều vùng lên lần cuối để nhìn thấy Đất nước thoát cơn nguy biến vì đêm trường u minh cọng sản, thấy lại ánh dương quang thì quí vị cũng chuộc lại được phần nào lỗi lầm ngày cũ đã góp phần dựng lên chế độ phản nước, hại dân hiện tại.
    Nguyễn-Nhơn
    Còn như trong hiện tại, Mỹ và Nga đều đang sa lầy ở Syria. Anh và Châu Âu đang gay go trong vụ Liên hiệp Châu Âu.
    Có ai rỗi hơi đâu mà lo cái dzụ phục hồi cái tờ giấy lộn kêu là HĐ Ngưng bắn Paris cho đặng?!
    Ngay cả có nước nào cà ngơ vận động triệu tập, việt cọng chửi vô mặt và đếch dự thì các ông gọi là đại diện VNCH làm gì? Và ai là Đại diện Chánh phủ VNCH?
    Cái dzụ phục hồi hờ đờ Paris nầy coi bộ giống như hồn bướm mơ tiên!
    (1)(2) Trích bài viết “Phục hồi Hiệp Định Paris 1973: Hoang tưởng hay hiện thực? ‏ ” của Nguyễn Quốc Khải.

  • Tôi thấy việc phát triển một Xã-hội Dân-sự Dân-chủ cho sự tiến bộ của đất nước trong tương lai và việc buộc cộng đồng thế giới phải hoàn tất trách nhiệm đã cam kết khi ngồi vào bàn hội nghị Hòa Bình Paris 1973 là hai việc không gây hại gì cho nhau cả.
    Xã-hội Dân-sự Dân-chủ là một tiến trình cải tạo xã hội liên tục thường xuyên không bao giờ dừng để phá vỡ độc tài bất công và kỳ thị.
    Còn đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thực thi trách nhiệm của cam kết pháp lý trên hiệp nghị Paris 1973 vốn bị lờ đi hay chối bỏ khiến một quốc gia phải chịu đựng tị nạn lưu vong và đói khổ suốt bao nhiêu năm và quốc gia khác bị nạn diệt chủng khiến gần 2 triệu nạn nhân bị giết là một trách nhiệm công lý cần phải thực hiện, thúc đẩy cho đến nơi đến chốn.
    Hiệp định Paris 1973 vẫn còn có hiệu lực bất kể VNCH có hay không có đại diện hay chính phủ vì một quốc gia, một chính thể thực hiện đúng những nguyên tắc & cam kết trước cộng đồng quốc tế không thể bị bức tử bằng vũ lực một cách trắng trợn trước công pháp quốc tế.
    VNCH đã thi hành đầy đủ trách nhiệm cam kết của mình trước cộng đồng quốc tế theo các điều khoản của hiệp định Paris 1973 thì đất nước nhỏ bé này, chính thể yếu đuối này cần phải được bảo vệ tới cùng cũng theo đúng những cam kết mà cộng đồng quốc tế ký trong hiệp nghị Paris 1973.
    Điều này đã không xảy ra và công pháp quốc tế đã bị vi phạm trắng trợn. Cho nên Liên Hiệp Quốc phải có quyết định cụ thể cho công bằng, trong đó, cho phép người dân miền Nam tuân theo hiến pháp VNCH mà bầu cử lại người đại diện.
    Cho rằng VNCH không có người đại diện rồi dối trá lờ đi trách nhiêm công lý là trái với nguyên tắc công bằng căn bản mà Liên hiệp Quốc bấy lâu nay dựa vào đó mà hành xử và hoạt động.
    Chỉ có những kẻ dối trá và ngụy biện mới lo sợ sự phục hồi Hiệp Định Paris 1973 và chỉ có những kẻ bội phản mới không dám nhìn nhận Hiệp Định này.
    Còn những ai thiếu hiểu biết về giá trị bất di bất dịch của công lý,, chỉ muốn lấy hòan cảnh thực tế tạm thời trước mắt để bôi nhọ nguyên tắc căn bản của công lý thì thôi không cần bàn đến.
    see more

    • Giá trị bất di bất dịch của công lý?
      Việt cọng xé bỏ HĐ Paris ngay khi chữ ký của chúng còn chưa ráo mực và đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa thì Quốc tế làm gì? Ai thực thi công lý?
      Chị " Phụ nữ Đòi Quyền sống " Ngô Bá Thành ( Tiến sĩ Luật khoa ) thời VNCH, sau khi bị vc gạt ra khỏi Cuốc huội từng ngôn:
      " chxhcn VN có một rừng luật mà toàn xét xử theo luật rừng " thì ai đòi chúng tuân theo " giá trị bấtdi bất dịch của công lý?!
      Lý thiết suông với bọn man ri vc có ích gì? Gần 41 năm toàn trị vc rồi mà còn chưa mở mắt sao?
      Avatar
      Lý thuyết và những giá trị căn bản bất di bất dịch của công lý là hai lãnh vực khác nhau. Chính vì thiếu hiểu biết nên mới nhặp nhằng làm một và dùng hoàn cảnh thực tế trước mặt để biện minh che đậy sự thiếu niềm tin vào sức mạnh của công lý - vì chưa nhận ra sức mạnh thật sự của công lý sẽ tồn tại lâu dài
      Đấu tranh cho chính nghĩa quốc gia mà không tin vào sức mạnh của công lý thì chỉ là mưu mẹo có giá trị trước mặt mà thôi- đó không phải là con đường mà VNCH cưu mang.
      Trân trọng

    • Thưa, đó là "Công lý Tư Do & Quyền Tự Quyết cho dân tộc."
      Công lý phải đi đầu- Không có công lý, VNCH không có lý do để tồn tại và không có ý nghĩa đáng để tranh đấu.

    • Ủa! Tôi là công chức cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa mà sao tôi không bao giờ nghe nói về cái tiêu đề nầy bao giờ vậy cà?
      Xin cho biết văn kiện về chủ trương nầy tìm ở đâu?

    • Thưa, "Công Lý Tư Do & Quyền Tự Quyết của dân tộc" là ba giá trị căn bản mà VNCH cưu mang ngay từ ngày đầu thành lập.
      Bản Hiến Pháp của VNCH vào năm 1967 chẳng hạn, đã thể hiện rõ quyết tâm xây dựng một nền Cộng Hòa với đầy đủ giá trị về Công Lý Tư Do & Quyền Tự Quyết của dân tộc". Xin lấy điều 3 chương I của bản HP năm 1967 để làm thí dụ về giá trị Công Lý Tư Do mà VNCH cưu mang được nêu ở trên :
      "Chương I-điều 3: Ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản TỰ DO, Dân Chủ và CÔNG BẰNG Xã Hội"
      Còn về quyền tự quyết của dân tộc, VNCH được thành lập dựa trên tinh thần tự quyết của dân tộc, điều 13 mục 3 chương II của bản HP 1967 cũng có ghi: " Quốc Gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp" Ngoài ra, phần 2 của điều 1 chương 1 cũng có ghi rõ: "Chủ quyền Quốc Gia thuộc về toàn dân" cho thấy rõ dân tộc VNCH có toàn quyền tự quyết chủ quyền quốc gia của minh.
      Tài liệu để chứng tỏ ba giá trị căn bản "Công Lý Tư Do & Quyền Tự Quyết của dân tộc" mà VNCH cưu mang còn nằm ở trong thư tín trao đổi của tổng thống VNCH với nguyên thủ các quốc gia khác hay công hàm của bộ ngoại giao gởi cho các quốc gia khác.
      Đương nhiên, chỉ là tạm trích bản HP VNCH 1967 cho phản hồi được ngắn gọn, toàn bộ bản HP VNCH 1967 từ đầu đến cuối điều được viết dựa trên ba giá trị căn bản "Công Lý Tư Do & Quyền Tự Quyết của dân tộc". Bản HP của nên đệ I Cộng Hòa cũng được viết ra dựa trên ba giá trị căn bản này.
      Tôi nghĩ rằng sự vắng bóng của chinh phủ VNCH chỉ là tạm thời vì ba giá trị nêu trên mà VNCH cưu mang là những giá trị căn bản lâu bền cho sự trường tốn và phát triển của dân tộc VN. VNCH không hề chết mà thực sự từ từ trở lại bằng chính sức mạnh chính nghĩa của mình- sức mạnh từ "Công Lý Tư Do & Quyền Tự Quyết của dân tộc" - Cám ơn DLB
      see more
    • Theo tôi, câu trả lời đơn giản:
      1/ Công lý: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
      2/ Dân tộc tự quyết: Chủ quyền Quốc gia thuộc về toàn dân.
      Và sau đây là bài viết nhân ngày Quốc Hận năm 2014:
      30 THÁNG TƯ, NÓI VỀ HIẾN PHÁP VNCH
      Chàng trai tuổi 18, đứng trên xe kiệu hoa, mừng ngày thành lập Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, vung mạnh tay chém rắn 3 đầu “ Phong – Thực _ Cọng.”
      Đó là ngày 26 tháng 10 năm 1956.
      Có những người làm chánh trị hoạt đầu, lăm le “ đối
      thoại, thỏa hiệp “ với việt cọng, bị những người Quốc gia chống cọng viết bài công kích, bèn lên giọng cầu cao bảo: Những người Quân, cán, chính VNCH, vì bị
      cọng sản tù đày, sanh ra thù oán, chống cọng cực đoan.
      Các ông chống cọng cho cố dzô, để rồi khi lật đổ cọng sản xong thì không biết làm cái gì!
      Nhân tháng tư buồn, thơ thẩn viết đôi dòng về 2 bản Hiến Pháp VNCH để cho những người có bằng cấp lớn, thông hiểu các học thuyết chánh trị, tự thị về tranh đấu chánh trị có tổ chức, cương lĩnh, sách lược chớ
      không làm tay ngang như những người chống cọng cực đoan, biết điều nầy: Dân – Quân – Chính VNCH tự tay đổ máu xây dựng nên hai nền Cộng Hòa Miền Nam - Soạn thảo Hiến Pháp - Thi hành và đổ núi xương sông máu bảo vệ hai nền cộng hòa non trẻ ấy và Tự do, no ấm cho 18 triệu đồng bào Miền Nam trong 21 năm.
      HIẾ


  • Quote: "Cái chết của Phó Chủ Tịch Quân-ủy Trung ương, tướng Từ Tài Hậu vào 16 tháng Ba năm ngoái do bị thanh trừng mà truyền thông Trung Cộng bảo là bị ung thư khi còn trong vòng giam giữ điểu tra tham nhũng chỉ khiến hàng ngũ tướng lãnh quân đội lúc nào cũng phải cảnh giác mạng sống của mình trước họ Tập."
    Đoạn viết trên rất chí lý. Như vậy, sự hung hăng của Trung Cộng tại biển Đông hiện nay có thể cũng chỉ để cố che giấu sự hổn loạn bên trong nội bộ tướng lãnh. Tôi suy nghiệm được rất nhiều điều từ bài viết này. Cám ơn t/g và DLB.


  • THƯỢNG VIỆN CANADA MỞ HỘI NGHỊ VỀ DÙNG HÒA ƯỚC PARIS 1973 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
    Vi Anh -- CANADA- 8.12.2014 -Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng Hoà, sắp qua năm thứ 40 ngày Việt Nam Cộng Hoà bị CS Bắc Viết đánh chiếm, Canada, một trong mười mấy nước kỳ Hoà Ước Paris 1973, Thượng Viện Canada mở hội nghị về một giải pháp dùng Hoà Ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông, trả lại công bằng cho VNCH, cho dân VN được quyền tự quyết trong cuộc bầu cử tự do có Liên Hiệp Quốc giám sát, đúng tinh thần pháp chế quốc tế và tinh thần cam kết trong hoà ước.
    Sư kiện lịch sử này là do cuộc vận động kiên nhẫn và và điều hợp khéo léo của Thượng Nghị sĩ Ngô thanh Hải, một người Việt tỵ nạn CS ở Canada được công cử làm Thượng Nghị sĩ của Canada. Hội nghị này được Thượng Viện Canada bảo trợ, họp ngay trong toà nhà Thượng Viện của Quốc Hội Lưỡng Viện Canada, khu Parliament Hill, Center Block, Room 160-S, suốt ngày Thứ Năm 5 tháng 12, năm 2014.
    Về phía Thượng Viện Canada có TNS Ngô Thanh Hải, TNS Lang, Chủ Tich Uỷ ban Quốc Phòng và An Ninh, TNS White Chủ Tịch UB Nội Qui, Thủ Tục và Năng Quyền Quốc Hội, TNS Andeychuk, Chủ Tịch UB Ngoại vụ và Ngoại Thương, Ngài Tim Uppal, Bộ Trưởng Bộ Đa Văn hoá của chánh quyền liên bang Canada, Ngài Deepak Obhrai, Bộ Trưởng Ngoại Vụ và Nhân quyền, Ngài David W. Kilgour, Cựu Chủ Tich Viện Dân biểu và Bộ Trưởng đặc trách Á châu và Thái bình dương của chánh quyền Canada.
    Phía Việt Nam Cộng hoà có phái đoàn quân dân cán chính VNCH đến từ các cộng đồng người Canada gốc Việt trong nước Canada, các miền lớn Montreal, Toronto, Ottawa trên 20 người, trong đó có chủ tich cộng động, nhân sĩ trí thức, chuyên gia sáu bảy luật sư đang hành nghề và luật gia Canada chánh tông và Canada gốc Việt, tiêu biểu như Luật sư Lâm chấn Thọ, Ls Trịnh quốc Toàn, luật gia Benoit Bénéteau, David Lamenti, Tiến sĩ Bá ngọc Đào và Ts Nguyễn thế Bình.
    Phái đoàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà đến từ Mỹ có 8 người Giáo sư Nguyễn ngoc Bích, Ts Binh thế Nguyễn đến từ Miển Đông Mỹ, nhà báo Vi Anh, Cựu dân biểu VNCH, Nhạc sĩ Hồ văn Sinh, thường vụ của VNCF Foundation dến từ Miền Tây Mỹ.
    a. Hình thứ làm việc có tính liên họp giữa điều trần và chất vấn. Phái đoàn VNCH Người Việt hải ngoại điều trần, đề nghị quí vị nghị sĩ và viên chức chất vấn và giải thích liên quan đến viêc dùng Hoà Ước Paris để đem lại công bằng, chân lý cho VNCH bị TC đánh lấy đảo năm 1974 và CS Bắc Việt dành lấy VNCH ở Miển Nam và giải quyết những tranh chấp biển đảo đang xảy ra ở Á châu Thái bình dương. Trường hợp này đã có tiền lệ, thành viên Hoà Ước Paris 1973 đã triệu tập lại lên án CS Bắc Việt đã đánh chiếm Campuchia, bị các nước ký hiệp ươc này trừng phạt cấm vận và buộc phải rút quân về VN.
    Những diễn giả chánh có Gs Nguyễn ngọc Bích, Ls Lâm chấn Thọ, Nữ Ts Bình thế Nguyễn đọc bức thư của Ô Lê trọng Quát, Cựu Bộ Trưởng VNCH, Cưu Chủ Tich Uỷ ban Nội vụ và Quốc Phòng Hạ Viện, VNCH. Trong điều trần, chất vấn và hội luận có hai vấn đề chánh bàn luận rất gay go, sâu sắc nhưng đa số quí vị thượng nghi sĩ chuyên trách về ngoại giao Canada, qui vị luật gia và luật sư gốc Việt có mặt có chung nhận định đều về những điểm cốt lõi sau. Chiếu hiến chương Liên hiệp Quốc, VNCH còn tồn tại trên phương diện pháp lý. Hiệp ước Paris 1973 vẫn còn giá trị, chưa có nước nào chánh thức rút ra. Các nước đã ký hãy còn trách nhiệm vói8 chánh quyền và nhân dân VNCH. TC và CS Bắc Việt tiền thân của chế dộ CSVN bây giờ đã vi phạm thô bạo hiễp ước Hoà Bình Paris 1973: TC đánh chiếm Hoàng sa của VNCH năm 1974, CS Bắc Việt đánh chiếm VNCH năm 1975.
    Nhà báo Vi Anh, Cựu Dân biểu VNCH đúc kết, nói suốt gần hai một buổi thảo luận nhưng vị có thẫm quyền của Canada và những viên chức VNCH và đại diện cộng đồng, đoàn thế dân chính, chánh đảng và nhân sĩ, trí thức có mặt đã trình bày: rõ ràng TC, CS Bắc Việt đã vi phạm Hiệp ước và Đinh Ước Hoà Đàm 1973, dùng lực lương võ trang đánh chiếm lấy Hoàng sa của VNCH, chiếm lãnh thổ VNCH một cách thô bạo. Canada là một nước có ký trong hiệp ước. Vì tinh thần thượng tôn quốc tế công pháp, vì trách nhiệm và nghĩa vụ cam kết ngoại giao, vì công lý cho nhân dân VN, vì chủ quyền chánh đáng của quốc gia dân tộc VN, xin chủ toạ đoàn cho biểu quyết. Để có một văn kiện quan trọng, và long trọng trên phương diện luật pháp và thực tế để tạo một tiến trình. Hầu chánh quyển Canada có chứng cớ đặt vấn đề với các nước đã ký trong hiệp ước năm 1973. Và để người Việt hải ngoại chứng lý tiếp tục vận động các nước khác đã ký trong Hiệp ước.
    TNS Hải chủ toạ cho ngưng thảo luận và biểu quyết đồng ý hay không đồng ý trên nguyên tắc dự thảo Nghị Quyết do Ls Thọ và một số luật gia của Canada đúc kết nguyện vọng của hội nghi đã trình bày. Cả trăm vị trong chánh quyền Canada, VNCH, và quí vị có mặt trong hội nghị đồng ý chấp thuận dự thảo trên nguyên tắc, với đa số tuyệt tuyệt đối. Chủ Toạ TNS Hải còn thận trọng cho biểu quyết ngược lại, ai không đồng ý xin giơ tay: không ai giơ tay cả. Coi như tuyệt đối đồng thuận thông qua dự thảo Nghị Quyết.
    Càng thận trong hơn, TNS Hải đề nghị hội trường cử ra 5 vị nhuận sách bản văn dự thảo. Hội nghi đề cử TNS Hải, Gs Bích, Ls Thọ, DB Vi Anh, Nữ Ts Bình nhuận sắc dư thảo Nghị Quyết của hội nghị để TNS Hải với tư cách là một người Việt hải ngoại và thương nghị sĩ của Canada trình bày với Thương Viện, chuyển trình Hạ Viên và những chức trách liên quan trong chánh quyền Canada- càng sớm càng tốt.
    Sau đây là dự thảo đã dược 100% hội nghị biểu quyết thông qua, bản gốc bằng tiếng Anh, xin tạm dịch ra tiếng Việt như sau: “Nên những thành phần tham dự yêu cầu và kêu gọi chánh quyền Canada, thông qua Bộ Trưởng Ngoại Giao, tham khảo với các nước đã ký Định ước của Hoà Ước Paris để tìm một giải pháp để nhân dân Việt Nam Cộng hoà ở Miền Nam VN có thể thực hiện quyền tự quyết qua bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên hiệp Quốc; hay một giải pháp khác mà chánh quyền các nước đã ký xem là cần thiết, để triệu tập một hội nghị quốc tế về VN trong đó có mặt của các đại diện của các nước đã ký Đinh Ước, thể theo Điều VII (b) của Định Ước, để giải quyết nhưng tranh chấp Biển Nam Trung Hoa, bằng cách mời thêm một số nước có liên quan tham dư hội nghị này.”
    Ngày làm việc được chấm dứt bằng một cuộc viếng thăm Quốc Hội lưỡng viện của Canada, do các phu tá và công cán uỷ viên của văn phòng TNS Ngô thanh Hải hướng dẫn. Và khoảng 8 giờ tất cả tế tựu dến Việt Nam Restaurant của Ottawa dự bữa cơm thân mật do TNS Hải khoản đãi. Còn bữa ăn trưa làm việc khi hôi nghị do Thượng Viện mời. Và đêm trước phái đoàn VN từ các công đồng Việt ở Canada và Mỹ đến thì Tiến sĩ Lê duy Cấn của Cộng đồng Ottawa khoản đãi và một số văn nghệ sĩ giúp vui chào mừng VNCH và đồng bào các nơi đến lo việc nước, chuyện dân VNCH.
    Vi Anh - Việt Báo .
    see more