Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Tập Cận Bình đến VN để chuẩn bị bàn giao chủ quyền?

Cuộc kinh lý là bước chuẩn bị cho sự bàn giao chủ quyền?


Tùy Nghi Tiến (Danlambao) - Ngày mai (05/11/2015), chủ tịch Tập Cận Bình và phái đoàn Trung cộng sẽ chính thức bắt đầu một cuộc kinh lý Việt Nam trong hai ngày.


Chuyến đi này của họ Tập đã và đang được rất nhiều dư luận trong và ngoài nước, lề dân cũng như lề đảng quan tâm. Đã có các cuộc biểu tình của người dân nhằm phản đối Tập Cận Bình ở Hà Nội, Sài Gòn và ở hải ngoại.



Theo tôi sở dĩ họ Tập phải đích thân đi kinh lý Việt Nam lần này là vì trong thời gian khoảng một năm qua nhà cầm quyền cs Việt Nam đã có một vài biểu hiện ra vẻ muốn tìm các cường quốc khác để đối trọng với nhà cầm quyền Trung quốc, chẳng hạn như Mỹ và Nhật, mặc dù trước khi đặt chân tới hai quốc gia đó thì Tổng Bí thư đảng cũng như giới chức lãnh đạo tối cao cs VN đã sang triều kiến nhà cầm quyền Bắc Kinh để xin chỉ đạo. Thái độ và hành động này của chế độ Hà Nội có thể đe dọa đến tham vọng độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh và, gián tiếp đe dọa tới tiến trình bàn giao toàn bộ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải VN cho Trung cộng vào năm 2020.


Tại Hà Nội, họ Tập chắc chắn sẽ được đón tiếp bằng một nghi thức long trọng nhất dành cho một nguyên thủ quốc gia. Đây là một điều vô cùng bi hài trong nhãn quan của người dân bởi vì nguyên thủ của một quốc gia xâm lược, hiếu chiến lại được tiếp đãi một cách ân cần và vinh dự.


Trong bối cảnh, Mỹ thực hiện đường lối xoay trục sang Á châu bằng những chính sách kinh tế và quân sự mới, với sự trợ sức của các nước đồng minh truyền thống là Úc, Nhật và đồng minh tương đối mới là Ấn Độ và Miến Điện; và các quốc gia trong khối Asean, đặc biệt là Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương tìm cách liên kết mật thiết với nhau hơn để chống lại hành động kẻ cả và bá đạo của Trung quốc; thì Bắc Kinh bằng mọi cách phải tăng cường mối quan hệ với các nước như Việt Nam, Campuchia và Lào để tìm các đồng minh cho họ trong khu vực. Là một trong mấy nước cs còn sót lại trên thế giới, Bắc Kinh hiểu rõ nhà cầm quyền Hà Nội hơn một chính phủ nào khác. Tình trạng vi phạm nhân quyền ở hai quốc gia tương đối tệ hại như nhau, nếu không muốn nói là còn tồi tệ hơn ở Hoa Lục. Do có cùng bản chất ghê tởm mà lại có quan hệ địa chính gần gũi nhau nên Bắc Kinh bằng mọi cách phải ngăn chặn mọi thay đổi sai lệch của nhà cầm quyền Hà Nội.


Ngõ hầu có thể độc chiếm Biển Đông để làm bàn đạp cho mộng bá đồ vương, Trung quốc cần Việt Nam hơn một quốc gia nào khác trong nhóm các nước tuyên bố có chủ quyền ở Biển Đông bởi vì Việt Nam là nước thực sự có chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và đa số các đảo ở Trường Sa. Vì thế Biển Đông chắc chắn sẽ là một đề tài ưu tiên trong chương trình nghị sự của họ Tập. Chắc chắn họ Tập sẽ đưa ra những đề nghị có tính chất cây gậy và củ cà rốt nhằm giữ nhà cầm quyền cs VN trong gọng kiềm của mình.


Ngoài ra, tháp tùng trong chuyến kinh lý lần này với họ Tập cũng có đại diện các doanh nghiệp Trung quốc. Như chúng ta đã biết nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm qua đã bị thao túng và lũng đoạn bởi các chính sách ngoại thương của Trung cộng. Bắc Kinh chắc chắn sẽ muốn lôi kéo Việt Nam đi theo các định chế kinh tế và tài chánh do họ lập ra, hơn là gia nhập các định chế kinh tế và tài chánh do Mỹ hay Nhật chủ xướng. Để thực hiện điều này, các doanh gia Trung quốc sẽ đề nghị những giao kèo, kế hoạch kinh doanh đầy béo bở với các doanh nghiệp nhà nước cs VN, nhưng lại phương hại đến quyền lợi của đất nước và dân tộc Việt Nam trong giai đoạn trước mắt và lâu dài.


Một yếu tố khác không kém phần quan trọng nếu không muốn nói là quan trọng nhất vì nó có thể quyết định sự thành bại của các yếu tố nêu trên, đó là Đại hội Đảng cs VN lần thứ 12 sắp diễn ra. Trong chuyến kinh lý này, họ Tập chắc chắn sẽ trực tiếp thể hiện ảnh hưởng của mình lên việc bầu bán thành phần nhân sự lãnh đạo tối cao. Họ Tập sẽ đích thân nói tiếng quyết định. Công việc chuẩn bị nhân sự lãnh đạo ở 61 tỉnh thành trên toàn lãnh thổ VN đã hoàn tất ngoại trừ các vị trí lãnh đạo tối cao của cả nước và của Hà Nội và Sài Gòn, và chúng chắc chắn sẽ được chung quyết sau chuyến đi của họ Tập.


Sau chuyến kinh lý này của họ Tập và bầu đoàn, nhà cầm quyền cs VN chắc chắn sẽ tiếp tục thể hiện đường lối, lập trường ngoại giao lệ thuộc, triều cống Trung cộng. Vì sự sinh tồn của chế độ độc tài, độc đảng và vì quyền lợi của tập đoàn tư bản đỏ nhà cầm quyền cs VN chắc chắn sẽ tiếp tục thái độ và hành động hèn hạ với Trung quốc; và tàn ác với người dân trong nước, đặc biệt là đối với các thành phần bất đồng chính kiến. Còn họ Tập nhân cơ hội này sẽ chấn chỉnh được các sự sai lệch trong công việc chuẩn bị một cuộc bàn giao toàn bộ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam cho Bắc Kinh vào năm 2020, thể theo mật ước Thành Đô mà hai nhà cầm quyền đã thỏa thuận với nhau hồi đầu thập niên 1990 của thế ký trước.


04/11/2015


Tùy Nghi Tiến
danlambaovn.blogspot.com
Reply With Quote
  #2  
Chưa đọc hôm nay, 11:56 AM
M&M M&M is offline
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 1,369
Thanks: 75
Được cảm ơn 699 lần trong 443 bài
Default

Điều quan trọng là tiếp Chủ tịch Tập Cận Bình như thế nào

BĐLB VOA
Trần Phan
4-11-2015
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Photo: AP

Theo các thông tin chưa được xác nhận, nửa đầu tháng 11 năm 2015 ông Tập Cận Bình sẽ thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang và Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng. Tin về chuyến đi gây cảm xúc mạnh trên các trang mạng.
Ngày 10/10/2015, trang AnhBaSam đăng bài “Có Nên Trải Thảm Đỏ Mời Giặc Vào Nhà?” của Đinh Tấn Lực. Bài này liệt kê một số việc tai hại mà vợ chồng Tập Cận Bình đã gây cho Việt Nam để rồi đặt câu hỏi: Có nên trải thảm đỏ mời giặc vào nhà?
Ngày 15/10/2015, ông Phạm Minh Hoàng thay mặt 127 nhà hoạt động công bố Bản lên tiếng “Chúng Tôi Phản Đối Tập Cận Bình Tới Việt Nam”.
Ngày 28/10/2015, trang AnhBaSam đăng bài “Ts Trần Công Trục: Nguyện được làm người trải thảm đỏ chào đón khách quý!” giới thiệu bài viết của Trần Công Trục có tựa đề “Nguyện được làm người trải thảm đỏ chào đón khách quý”, do báo điện tử Giáo Dục Việt Nam đăng. Phần giới thiệu, dưới tiêu đề “Đôi Lời”, cho thấy sự không đồng ý với quan điểm của Ts. Trần Công Trục.
Người viết bài này xin được trình bày vài suy nghĩ nhân đọc bài của ông Trần Công Trục do trang AnhBaSam giới thiệu.

A) TÔI ĐỒNG Ý NHIỀU ĐIỀU VỚI ÔNG TRẦN CÔNG TRỤC
Thí dụ như các dòng sau đây của ông:
“Bởi lẽ dù mâu thuẫn đến đâu, nhưng chỉ cần còn ngồi được với nhau cũng là cơ hội mà hai bên cần trân quý để nỗ lực tìm cách giải quyết vấn đề bằng con đường hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế một cách thiện chí và cầu thị”
“Bài học quý mang tầm vóc khu vực và quốc tế trong tiến trình đàm phán giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ có thể được đúc kết thành 3 nhân tố vô giá…. Đó là: THIỆN CHÍ – PHÁP LÝ – CẦU THỊ”
“Không nên để những phản ứng mang nặng cảm xúc tồn tại dai dẳng trong dư luận ở trong và ngoài nước như hiện nay khiến công chúng hoài nghi” và “Giữa Việt Nam và Trung Quốc, muốn có niềm tin bắt buộc hai phía phải bước qua được hàng rào tâm lý ‘nhạy cảm’, sòng phẳng với lịch sử”

B) NHƯNG KHI ĐỐI CHIẾU VỚI THỰC TẾ, TÔI THẮC MẮC…

1) Thiện chí – Cầu thị – Pháp lý phải là tinh thần của cả hai bên khi ngồi lại với nhau. Ta không ép được người khi người ta không có tinh thần Thiện chí – Cầu thị – Pháp lý, nhưng ít nhất, phần ta, ta phải thể hiện điều này một cách sòng phẳng và minh bạch tại cuộc gặp mặt.

Chuyện tàu Trung Cộng bắn giết ngư dân ta, húc chìm tàu cá dân ta, đi sâu vào vùng biển thuộc lãnh hải của ta… ta cần phải nêu ra rõ ràng.

Chuyện Trung Cộng đánh vào lãnh thổ Việt Nam và tàn sát trăm ngàn quân dân biên giới phía Bắc, ta phải nêu rõ ràng. Chuyện Trung Cộng đánh chiếm đảo và tàn sát quân lính ta năm 1988, ta phải nêu rõ ràng. Chuyện Trung Cộng đánh chiếm đảo và tàn sát quân lính Việt Nam Cộng Hòa năm 1973 ta phải nêu rõ ràng…

Những chuyện chiếm đảo Việt Nam, giết lính Việt Nam còn tươi rói trong
lòng nhiều người dân Việt. Nếu muốn nói chuyện trong tinh thần Thiện chí và Cầu thị, có nên trả lại hiện trạng trước khi chiếm, giết rồi mới bàn luận, thương thuyết hay không? Câu hỏi này ta cũng nên nói ra…

Ta cần nêu những vấn đề này để xem đối tác có quan điểm thế nào, tại sao hành động như vậy… Như thế mới thực sự là ta có Thiện chí đối thoại và có tinh thần Cầu thị. Nếu không, e rằng cảm nhận của dân chúng là chính quyền nhu nhược, hèn kém và thông đồng với Trung Cộng.

2) Vì sao “những phản ứng mang nặng cảm xúc tồn tại dai dẳng trong dư luận ở trong và ngoài nước”?
Đời nhà Trần cách nay gần 700 năm, quân Nguyên đe dọa xâm lấn. Trong nước triều đình sát cánh với dân chúng, họp đại hội toàn dân, cùng với dân thề lời “sát Thát”. Quan Tiết chế viết Hịch Tướng Sĩ khích lệ tinh thần chống ngoại xâm, và mộ quân chính qui, tổ chức các đội dân quân địa phương sẵn sàng chống xâm lược.

Lòng triều đình minh bạch như vậy nên dân chúng dốc lòng cùng triều đình chống giặc. Nên Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải mới có thể cùng sứ giặc Sài Thung vui cười xướng họa, cầm tay hẹn câu tái ngộ… mà lòng dân vẫn tin tưởng rằng đó chỉ là chiến lược ngoại giao nằm trong kế hoạch tổng thể là vì dân và cùng dân đánh giặc.

Ý triều đình trung ương và lòng dân cùng một hướng là sức mạnh vô địch đập tan thế lực 50 vạn quân và ý chí xâm lược nước Việt của đế quốc Nguyên-Mông. Nên nhớ, thế và lực của nước Việt so với nước Nguyên lúc đó thực là nhỏ bé, nhỏ hơn tương quan giữa Việt Nam với Trung Cộng hiện nay nhiều!

Hiện nay, ý đảng và lòng dân khác xa nhau. Thực ra nên nói thêm rằng ý Ban Chấp hành trung ương đảng CSVN cũng khác xa với lòng của đa số đảng viên. Dân muốn dân chủ, đảng muốn độc tài! Dân muốn có các quyền tự do căn bản (tự do ứng cử bầu cử, tự do lập hội lập đảng, tự do ngôn luận, báo chí…) đảng dùng bạo lực tước bỏ tất cả các quyền đó! Dân muốn chính thể tự do đa đảng, đảng dùng trăm phương ngàn cách bá đạo duy trị sự thống trị cộng sản độc tài!

Trong mối quan hệ với Trung Quốc, dân chúng cảm nhận ý đảng cũng 180 độ ngược lòng dân! Đảng CSVN luôn xem đảng CS Trung Quốc là người anh thân thiết, là chỗ dựa sống chết.

Công hàm Phạm Văn Đồng nhìn nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Cộng, được dân chúng xem là công hàm bán nước. Đảng cứ mãi tôn vinh ông Đồng, đem tên ông đặt cho những con đường dài và rộng nhất các tỉnh thành của đất nước! Còn sự thách thức nào ngang ngược và đau đớn hơn đối với lòng dân yêu quí mảnh đất cha ông?


Toàn bộ ban lãnh đạo cao cấp nhất đảng CSVN sang Thành Đô họp với ban lãnh đạo đảng CSTQ. Sau cuộc họp, bộ trưởng ngoai giao Việt Nam, ủy viên bộ chính trị đảng CSVN kết luận: một thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu! Nhân chứng cao cấp thời đó, thứ trưởng bộ ngoại giao, viết Hồi Ức ghi lại rằng trong hội nghị Thành Đô, ban lãnh đạo cao cấp nhất đảng CSVN đã nhượng cho đảng CSTQ rất nhiều quyền lợi quốc gia, có thể coi là bán đứng tổ quốc, chỉ vì theo cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh Trung Cộng có bành trướng thì cũng là CS. Cho tới bây giờ, hai mươi lăm năm trôi qua, đảng CSVN vẫn im tiếng không trả lời dân chúng, và các sự thật vẫn bị giấu kín!
Quân Trung Cộng tiến đánh Việt Nam giết trên 100 ngàn dân quân Việt Nam, đảng CSVN xóa tan các di tích tưởng niệm liệt sĩ, di tích ghi công chống xâm lược, cấm dân chúng nhắc lại tội ác quân xâm lăng! Dân chúng biểu tình ôn hòa chống Trung Cộng chiếm biển đảo, đảng CSVN đàn áp dân chúng và bỏ tù những người ưu tú nhất! Trong quân đội Việt Nam, tướng lãnh tố cáo lãnh đạo cao cấp nhất quân đội lúc đó ra lịnh hải quân không được nổ súng kháng địch và toàn bộ toán quân bị quân Trung Cộng giết sạch! Người bị tố cáo, ông Lê Đức Anh, không một lời đính chính!

Hơn nữa, ông Phùng Quang Thanh, đại tướng ủy viên Bộ Chính trị kiêm bộ trưởng bộ Quốc Phòng, trong khi Trung Cộng giết dân chiếm đất Việt Nam, luôn miệng nói tốt cho Trung Cộng, sợ dân Việt ghét Trung Cộng, và xem mối bang giao với Trung Cộng là tốt và tích cực!

Trong hoàn cảnh như vậy, làm sao mà “những phản ứng mang nặng cảm xúc” không “tồn tại dai dẳng trong dư luận ở trong và ngoài nước” cho được?

Phải thấy rằng những cảm xúc đó là rất không tốt đẹp về chính quyền, không tin cậy chính quyền, và chúng “tồn tại dai dẳng trong dư luận ở trong và ngoài nước” là đương nhiên! Cho nên chắc chắn đa số dân chúng sẽ cho rằng, trong cuộc gặp phái đoàn họ Tập sắp tới, thay vì tranh đấu cho sự toàn vẹn lãnh thổ, sự tự chủ của dân tộc, thì lãnh đạo đảng CSVN lại tiếp nối truyền thống Thành Đô, nhượng cho Trung Cộng thêm nhiều quyền lợi của tổ quốc và nhờ họ ủng hộ đảng CSVN đàn áp dân chúng Việt Nam yêu tự do và yêu tổ quốc.

Lòng dân đã không tin tưởng, ý đảng và lòng dân đã 180 độ ngược chiều nhau, thì có buổi “ngồi lại làm việc với nhau giữa hai đảng Cộng sản của hai nước” có thể thu được kết quả ích lợi gì cho dân tộc đây?

Vậy, điểm chính yếu trước nhất là phải hóa giải những ngờ vực của dân đối với chính quyền, để từ đó làm dân tin tưởng chính quyền.

C) LÀM SAO HÓA GIẢI SỰ KHÔNG TIN CẬY CỦA DÂN CHÚNG?
Điều này cũng đơn giản nếu thực tâm muốn phát triển đất nước, muốn xây nền tự chủ quốc gia. Nhiều đề nghị, gợi ý của các nhà trí thức Việt Nam về cách làm và các việc cần làm, có các điểm đồng qui như sau:
1) Công bố cho dân chúng biết một số điều họ muốn biết:
a) Nội dung hội nghị Thành Đô
b) Cuộc chiến biên giới phía Bắc năm 1979: nguyên nhân, diễn tiến, thiệt hại phía Việt Nam, phía Trung Quốc (thương vong, lãnh thổ…)
2) Công bố cho dân biết đảng đang làm việc cho một lộ trình dân chủ hóa đất nước, trong đó trước hết là tự do ngôn luận và tự do báo chí…
3) Cho thấy đảng sẽ không đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa biểu thị lòng yêu nước, ý muốn giữ gìn lãnh thổ, biển đảo của tổ tiên…

Chỉ còn khoảng 10 ngày, hai tuần nữa ông Tập sẽ sang Việt Nam. Thời gian thực cập rập để tiến hành các việc nêu trên. Cho nên chỉ cần đảng phát ra tín hiệu, một cách chân thành, về ý hướng đi tới việc thực hiện những điều trên.

Chỉ cần như thế thôi, chuyến thăm Việt Nam sắp tới của Tập Cận Bình sẽ không còn gây tâm lý nặng nề nơi dân chúng như hiện nay. Các nhà lãnh đạo Việt Nam, quay mặt về dân chúng, sẽ nhận được ánh mắt thông cảm, hợp tác, gởi gắm hy vọng… Đối diện với Tập Cận Bình bằng thái độ ung dung, tự tin, chủ động… của người chủ nhân được sự nể trọng của khách mời.

Chỉ trong tư thế đó, hai bên mới có thể nói chuyện với nhau trong tinh thần Thiện chí – Cầu thị – Pháp lý một cách sòng phẳng, minh bạch. Và sau cuộc gặp mặt đó, mới có nhiều “diễn biến” đầy sáng tạo, ngoạn mục mang lại nhiều lợi ích cho đất nước theo hướng dân chủ và phát triển.
 
Nguồn:http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=36570 
Reply With Quote

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Phải chọn thái độ về một phóng sự truyền hình Hoa Kỳ


Chúng ta phải chọn thái độ về một phóng sự truyền hình Hoa Kỳ

Khẳng định lập trường: tranh đấu cho các giá trị nhân bản, chứ không vì thắng-thua

Nguyễn Đình Thắng
Ngày 3 tháng 11 tới đây, phim “Terror in Little Saigon” – Nỗi Kinh Hoàng ở Little Sàigòn – sẽ được trình chiếu trên hệ thống truyền hình PBS trên toàn quốc Hoa Kỳ lúc 10pm theo giờ Hoa Thịnh Đốn. Ở ngoài Hoa Kỳ có thể xem qua internet. Ngày Thứ Bảy 7 tháng 11, phim sẽ ra mắt tại Newseum, tức Bảo Tàng Viện Báo Chí ở thủ đô Hoa Kỳ, trong loạt sinh hoạt đánh dấu 40 năm chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Theo thông cáo báo chí của nhà sản xuất, phim thì đây là một phóng sự điều tra “mở lại một hồ sơ khủng bố nội địa đã không được giải quyết trong nhiều thập niên” ngay trên đất Mỹ, trong lòng cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Chủ đề của phim xoáy vào các vụ sát hại 5 nhà báo Mỹ gốc Việt và các hành vi hăm doạ và tấn công nhắm vào nhiều thành viên trong cộng đồng Việt tị nạn trong khoảng thời gian từ 1981đến 1990. Các hành vi này liên quan đến một tổ chức chính trị có hoạt động vũ trang ở vùng biên thuỳ Thái Lan-Lào trong khoảng thời gian ấy.


Phim “Terror in Little Saigon” do hai tổ chức nặng ký của ngành truyền thông Hoa Kỳ đồng thực hiện: Chương trình Frontline với 75 giải Emmy và 17 giải Peabody, và ProPublica với 2 giải Pulitzer và 1 giải MacArthur. Do đó chắc chắn dư luận ở Hoa Kỳ, và ở nhiều quốc gia có người Việt sinh sống, sẽ chú ý đến
Chúng ta cần theo dõi để có cách hồi đáp thích hợp.


Câu hỏi không thể tránh né
Cho dù cuốn phim không công khai đánh đồng mọi người Việt tị nạn với các hành vi mà nhóm thực hiện cho là khủng bố, người xem vẫn được dẫn đến nhận định rằng một thành phần “bên thua cuộc” vì cay cú nên muốn dở ngược lại trang sử chiến tranh Việt Nam và sẵn sàng dùng các biện pháp thanh trừng, ám sát, hăm doạ... đối với những ai trong cộng đồng người Việt mà trái ý với họ.


Qua lời giới thiệu về phim, chúng ta có thể đọc được một thông điệp ngầm lồng trong phim về thái độ im lặng của cộng đồng Việt tị nạn trong hơn 30 năm qua. Sự im lặng ấy có thể được diễn giải là đồng loã, là dung túng, là chấp nhận, là bất cần hay là sợ hãi. Cách nào cũng đều chẳng tốt.


Thái độ của chúng ta
Chúng ta đã bỏ quê hương ra đi là vì tự do, nhân phẩm, công lý, quyền mưu cầu hạnh phúc... Đó là những giá trị nhân bản – nghĩa là những giá trị tự thân của con người vì là con người. Chúng ta sẵn sàng đánh đổi cả mạng sống cho những giá trị ấy. Và chính những giá trị nhân bản ấy đã thôi thúc chúng ta tranh đấu không mệt mỏi trong suốt 40 năm qua cho sự tử tế trên quê hương.


Trong xã hội ấy mọi người dân sẽ được hưởng tự do và công lý, có cơ hội thăng tiến, được bảo vệ trong mưu cầu hạnh phúc riêng tư, và có quyền dự phần quyết định vận mạng của chính mình và tương lai của dân tộc. Lịch sử nhân loại cho thấy xã hội nhân bản là tiền đề cho phát triển, thịnh vượng, hoà bình và ổn định.


Khi khẳng định thái độ không nhân nhượng, không thoả hiệp về các giá trị nhân bản, chúng ta vạch lằn ranh phân định chiến tuyến cho cuộc tranh đấu của ngày hôm nay. Bên kia lằn ranh là những ai bất chấp đạo đức, sẵn sàng dẫm đạp lên đồng loại, xem nhẹ mối an nguy và sinh mạng của người khác, không từ một thủ đoạn hay xảo thuật nào miễn là đạt mục đích cá nhân hay tập đoàn. Hoặc đang phục vụ chế độ đương quyền hoặc đang chống lại nó, họ đều ở phía bên kia của lằn ranh này.

Kết luận
Trong cuộc chiến Việt Nam, dòng sông Bến Hải không là lằn ranh phân định phe thắng, phía thua. Chính thái độ về các giá trị nhân bản mới là lằn ranh. Ngày 30 tháng 4, 1975, cái ác đã thắng, sự tử tế đã thua; một tập đoàn thành công và toàn thể dân tộc đã thảm bại.

Bốn mươi năm đã qua và chúng ta vẫn tiếp tục tranh đấu, không phải vì hận thù, không phải vì muốn tranh thắng-thua, không phải để đẩy lùi bánh xe lịch sử. Chúng ta tranh đấu cho những giá trị nhân bản, mà nếu thiếu thì không thể nào xây dựng một xã hội tử tế và lành mạnh cho quê hương. Chúng ta tranh đấu cho tương lai, cho dân tộc tiến lên, cho con người hạnh phúc, cho đất nước hoà bình và phát triển.

Phim Terror in Little Saigon có tác dụng nhắc nhở chúng ta về lằn ranh phân định chỗ đứng trong cuộc tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ hiện nay; là phép thử để chúng ta tái khẳng định thái độ về đạo đức con người; là cơ hội để chúng ta ở trong và ngoài nước, trong Nam và ngoài Bắc đến với nhau trên căn bản của những giá trị nhân bản chung mà chúng ta đang cùng mưu cầu cho dân tộc.
Đó là thông điệp chúng ta cần gởi đến dư luận Hoa Kỳ và quốc tế, một cách thật tinh khiết và rõ ràng.

Thông tin liên quan:
Phim Terror in Little Saigon, chiếu ngày 3 tháng 11, lúc 10:00 pm giờ Hoa Thịnh Đốn, trên hệ thống PBS:
http://www.pbs.org/wgbh/pages/frontline/pressroom/on-nov-3-frontline-and-propublica-investigate-terror-in-little-saigon-press-release-trailer/

Xem qua internet vào cùng ngày giờ: http://pbs.org/frontline
Lịch trình chiếu phim Terror in Little Saigon tại Newseum, ngày 7 tháng 11:
http://www.newseum.org/event/inside-media-terror-in-little-saigon/


Nguồn: Mạch Sống
 
 Theo: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=36560
 

HIỆP ĐỊNH PARIS VẪN CÒN HIÊỤ LỰC!

 Chia sẻ bài viết với Tiger`s King Trinh

Tiger's King Trinh

HIỆP ĐỊNH PARIS VẪN CÒN HIÊỤ LỰC!
https://lh3.googleusercontent.com/…/w506-h434/HD%2BPARIS.jpg
Thượng Viện Canada VÀ VIỆC Dùng Hòa Ước Paris 1973 Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đông
Thượng Viện Canada Mở Hội Nghị Về Dùng Hòa Ước Paris 1973 Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đông
“CANADA (Vi Anh) -- Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng Hoà, sắp qua năm thứ 40 ngày Việt Nam Cộng Hoà bị CS Bắc Viết đánh chiếm, Canada, một trong mười mấy nước kỳ Hoà Ước Paris 1973, Thượng Viện Canada mở hội nghị về một giải pháp dùng Hoà Ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông, trả lại công bằng cho VNCH, cho dân VN được quyền tự quyết trong cuộc bầu cử tự do có Liên Hiệp Quốc giám sát, đúng tinh thần pháp chế quốc tế và tinh thần cam kết trong hoà ước.” (“CANADA (Vi Anh)


TRÍCH DẪN TOÀN VĂN: (Việt Báo)
Thượng Viện Canada Mở Hội Nghị Về Dùng Hòa Ước Paris 1973 Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đông
CANADA (Vi Anh) -- Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng Hoà, sắp qua năm thứ 40 ngày Việt Nam Cộng Hoà bị CS Bắc Viết đánh chiếm, Canada, một trong mười mấy nước kỳ Hoà Ước Paris 1973, Thượng Viện Canada mở hội nghị về một giải pháp dùng Hoà Ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông, trả lại công bằng cho VNCH, cho dân VN được quyền tự quyết trong cuộc bầu cử tự do có Liên Hiệp Quốc giám sát, đúng tinh thần pháp chế quốc tế và tinh thần cam kết trong hoà ước.
Sư kiện lịch sử này là do cuộc vận động kiên nhẫn và và điều hợp khéo léo của Thượng Nghị sĩ Ngô thanh Hải, một người Việt tỵ nạn CS ở Canada được công cử làm Thượng Nghị sĩ của Canada. Hội nghị này được Thượng Viện Canada bảo trợ, họp ngay trong toà nhà Thượng Viện của Quốc Hội Lưỡng Viện Canada, khu Parliament Hill, Center Block, Room 160-S, suốt ngày Thứ Năm 5 tháng 12, năm 2014.
Về phía Thượng Viện Canada có TNS Ngô Thanh Hải, TNS Lang, Chủ Tich Uỷ ban Quốc Phòng và An Ninh, TNS White Chủ Tịch UB Nội Qui, Thủ Tục và Năng Quyền Quốc Hội, TNS Andeychuk, Chủ Tịch UB Ngoại vụ và Ngoại Thương, Ngài Tim Uppal, Bộ Trưởng Bộ Đa Văn hoá của chánh quyền liên bang Canada, Ngài Deepak Obhrai, Bộ Trưởng Ngoại Vụ và Nhân quyền, Ngài David W. Kilgour, Cựu Chủ Tich Viện Dân biểu và Bộ Trưởng đặc trách Á châu và Thái bình dương của chánh quyền Canada.
Phía Việt Nam Cộng hoà có phái đoàn quân dân cán chính VNCH đến từ các cộng đồng người Canada gốc Việt trong nước Canada, các miền lớn Montreal, Toronto, Ottawa trên 20 người, trong đó có chủ tich cộng động, nhân sĩ trí thức, chuyên gia sáu bảy luật sư đang hành nghề và luật gia Canada chánh tông và Canada gốc Việt, tiêu biểu như Luật sư Lâm chấn Thọ, Ls Trịnh quốc Toàn, luật gia Benoit Bénéteau, David Lamenti, Tiến sĩ Bá ngọc Đào và Ts Nguyễn thế Bình.

Hình ảnh trong Hội nghị.

Phái đoàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà đến từ Mỹ có 8 người Giáo sư Nguyễn ngoc Bích, Ts Binh thế Nguyễn đến từ Miển Đông Mỹ, nhà báo Vi Anh, Cựu dân biểu VNCH, Nhạc sĩ Hồ văn Sinh, thường vụ của VNCF Foundation dến từ Miền Tây Mỹ.
Chương trình làm việc, sau phần nghi thức, giới thiệu bắt đầu hội nghi với phát biểu của TNS Ngô thanh Hải của Thương Viện Canada. Hình thức làm việc có tính liên họp giữa điều trần và chất vấn. Phái đoàn VNCH Người Việt hải ngoại điều trần, đề nghị quí vị nghị sĩ và viên chức chất vấn và giải thích liên quan đến viêc dùng Hoà Ước Paris để đem lại công bằng, chân lý cho VNCH bị TC đánh lấy đảo năm 1974 và CS Bắc Việt dành lấy VNCH ở Miển Nam và giải quyết những tranh chấp biển đảo đang xảy ra ở Á châu Thái bình dương. Trường hợp này đã có tiền lệ, thành viên Hoà Ước Paris 1973 đã triệu tập lại lên án CS Bắc Việt đã đánh chiếm Campuchia, bị các nước ký hiệp ươc này trừng phạt cấm vận và buộc phải rút quân về VN.
Những diễn giả chánh có Gs Nguyễn ngọc Bích, Ls Lâm chấn Thọ, Nữ Ts Bình thế Nguyễn đọc bức thư của Ô Lê trọng Quát, Cựu Bộ Trưởng VNCH, Cưu Chủ Tich Uỷ ban Nội vụ và Quốc Phòng Hạ Viện, VNCH. Trong điều trần, chất vấn và hội luận có hai vấn đề chánh bàn luận rất gay go, sâu sắc nhưng đa số quí vị thượng nghi sĩ chuyên trách về ngoại giao Canada, qui vị luật gia và luật sư gốc Việt có mặt có chung nhận định đều về những điểm cốt lõi sau. Chiếu hiến chương Liên hiệp Quốc, VNCH còn tồn tại trên phương diện pháp lý. Hiệp ước Paris 1973 vẫn còn giá trị, chưa có nước nào chánh thức rút ra. Các nước đã ký hãy còn trách nhiệm vói8 chánh quyền và nhân dân VNCH. TC và CS Bắc Việt tiền thân của chế dộ CSVN bây giờ đã vi phạm thô bạo hiễp ước Hoà Bình Paris 1973: TC đánh chiếm Hoàng sa của VNCH năm 1974, CS Bắc Việt đánh chiếm VNCH năm 1975.
Nhà báo Vi Anh, Cựu Dân biểu VNCH đúc kết, nói suốt gần hai một buổi thảo luận nhưng vị có thẫm quyền của Canada và những viên chức VNCH và đại diện cộng đồng, đoàn thế dân chính, chánh đảng và nhân sĩ, trí thức có mặt đã trình bày: rõ ràng TC, CS Bắc Việt đã vi phạm Hiệp ước và Đinh Ước Hoà Đàm 1973, dùng lực lương võ trang đánh chiếm lấy Hoàng sa của VNCH, chiếm lãnh thổ VNCH một cách thô bạo. Canada là một nước có ký trong hiệp ước. Vì tinh thần thượng tôn quốc tế công pháp, vì trách nhiệm và nghĩa vụ cam kết ngoại giao, vì công lý cho nhân dân VN, vì chủ quyền chánh đáng của quốc gia dân tộc VN, xin chủ toạ đoàn cho biểu quyết. Để có một văn kiện quan trọng, và long trọng trên phương diện luật pháp và thực tế để tạo một tiến trình. Hầu chánh quyển Canada có chứng cớ đặt vấn đề với các nước đã ký trong hiệp ước năm 1973. Và để người Việt hải ngoại chứng lý tiếp tục vận động các nước khác đã ký trong Hiệp ước.
TNS Hải chủ toạ cho ngưng thảo luận và biểu quyết đồng ý hay không đồng ý trên nguyên tắc dự thảo Nghị Quyết do Ls Thọ và một số luật gia của Canada đúc kết nguyện vọng của hội nghi đã trình bày. Cả trăm vị trong chánh quyền Canada, VNCH, và quí vị có mặt trong hội nghị đồng ý chấp thuận dự thảo trên nguyên tắc, với đa số tuyệt tuyệt đối. Chủ Toạ TNS Hải còn thận trọng cho biểu quyết ngược lại, ai không đồng ý xin giơ tay: không ai giơ tay cả. Coi như tuyệt đối đồng thuận thông qua dự thảo Nghị Quyết.
Càng thận trong hơn, TNS Hải đề nghị hội trường cử ra 5 vị nhuận sách bản văn dự thảo. Hội nghi đề cử TNS Hải, Gs Bích, Ls Thọ, DB Vi Anh, Nữ Ts Bình nhuận sắc dư thảo Nghị Quyết của hội nghị để TNS Hải với tư cách là một người Việt hải ngoại và thương nghị sĩ của Canada trình bày với Thương Viện, chuyển trình Hạ Viên và những chức trách liên quan trong chánh quyền Canada- càng sớm càng tốt.
Sau đây là dự thảo đã dược 100% hội nghị biểu quyết thông qua, bản gốc bằng tiếng Anh, xin tạm dịch ra tiếng Việt như sau: “Nên những thành phần tham dự yêu cầu và kêu gọi chánh quyền Canada, thông qua Bộ Trưởng Ngoại Giao, tham khảo với các nước đã ký Định ước của Hoà Ước Paris để tìm một giải pháp để nhân dân Việt Nam Cộng hoà ở Miền Nam VN có thể thực hiện quyền tự quyết qua bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên hiệp Quốc; hay một giải pháp khác mà chánh quyền các nước đã ký xem là cần thiết, để triệu tập một hội nghị quốc tế về VN trong đó có mặt của các đại diện của các nước đã ký Đinh Ước, thể theo Điều VII (b) của Định Ước, để giải quyết nhưng tranh chấp Biển Nam Trung Hoa, bằng cách mời thêm một số nước có liên quan tham dư hội nghị này.”
Ngày làm việc được chấm dứt bằng một cuộc viếng thăm Quốc Hội lưỡng viện của Canada, do các phu tá và công cán uỷ viên của văn phòng TNS Ngô thanh Hải hướng dẫn. Và khoảng 8 giờ tất cả tế tựu dến Việt Nam Restaurant của Ottawa dự bữa cơm thân mật do TNS Hải khoản đãi. Còn bữa ăn trưa làm việc khi hôi nghị do Thượng Viện mời. Và đêm trước phái đoàn VN từ các công đồng Việt ở Canada và Mỹ đến thì Tiến sĩ Lê duy Cấn của Cộng đồng Ottawa khoản đãi và một số văn nghệ sĩ giúp vui chào mừng VNCH và đồng bào các nơi đến lo việc nước, chuyện dân VNCH.
(Việt Báo)
HD+PARIS.jpg

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2015

Lễ Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm


Lễ Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
  
https://www.youtube.com/watch?v=auOeScxU67U&feature=player_embedded

(BaoCalitoday)

Tướng 2 sao
 

Bí ẩn mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu

https://www.facebook.com/hueac/posts/151793421833014

TP.HCM tại thời điểm những năm 80 của thế kỷ trước có hàng trăm nghìn ngôi mộ tại các nghĩa trang chính sau: Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi nằm ở đường Điện Biên Phủ cắt với Hai Bà Trưng (địa danh sau giải phóng) tại quận 1, rộng khoảng 7,5ha. Nghĩa trang quân đội Sài Gòn chạy dọc đường Quang Trung ở phường 12, quận Gò Vấp, giáp chợ Cầu. Nghĩa trang Chí Hòa rộng khoảng 25ha, trước là nghĩa trang (Đô Thành), nằm ở phường 15, quận 10. Nghĩa trang Bình Thới rộng khoảng 30ha nằm ở đường Lãnh Binh Thăng, quận 11. Nghĩa trang Phú Thọ khoảng 40ha, nằm ở đường Lạc Long Quân, phường 5, quận 1. Nghĩa trang quân đội Pháp nằm ở đường Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình. Các nghĩa trang này được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, dưới chế độ Pháp thuộc, khi quy mô của Sài Gòn - Gia Định còn rất nhỏ. Những năm sau đó, dân cư thành phố nhanh chóng trở nên đông đúc. Và chính quyền đã phải di dời nghĩa trang để "lấy đất xây dựng các công trình phúc lợi, giữ vệ sinh môi trường". Việc di dời được thông báo trước ba tháng. Trước hết là các gia đình tự lo. Nếu gia đình quá nghèo, không thể di dời, thì chính quyền đứng ra thực hiện. Nhân Rằm tháng bảy, ngày hướng tới vong linh mọi người đã khuất, xin gửi tới bạn đọc những chuyện kể xung quanh việc di dời các nghĩa trang ở Sài gòn trong thế kỷ trước. Trong đó có nhiều chi tiết ít ai biết tới và ngờ tới. ------------

Sau khi bị lực lượng đảo chính giết vào tháng 11/1963, hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Áo quan của ông Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của ông Ngô Đình Nhu có nắp tròn.

Một nhân chứng thời kỳ này giải thích, người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Nhu. Mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu khá đặc biệt: không có nấm mộ, bia, chỉ có tấm đan (bê - tông) đặt bên trên cao hơn mặt đất vài chục phân. Suốt từng ấy năm trước giải phóng, hai ngôi mộ nằm lọt thỏm, đìu hiu giữa nghĩa trang bộn bề mộ kiên cố. Những kẻ cơ hội xưa vụt quay lưng với gia đình họ Ngô đã đành, những người thân tín cũng ngại đến thăm viếng vì sợ chính quyền Sài Gòn cũ dòm ngó. Năm 1964, bà Phạm Thị Thân, thân mẫu của hai ông mất, đám tang không người đưa tang.

Một nhân chứng trong Ban di dời sau này kể: Hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được chôn trong kim tĩnh (hộp bê tông dày và kín) rất khô ráo. Khi cải lên, thi thể của cả hai ông chỉ khô lại chứ không tan rữa, vẫn có thể nhận ra từng người. Đầu hai người đều quấn băng trắng in dấu máu đen từ những vết thương trước khi chết. Khi băng được mở, vết máu vẫn còn cứng. Sau gáy ông Nhu có một vết thương khá lớn, có thể do va đập.

Trong thời gian di dời, có một người phụ nữ tên là Hạnh từ Huế vào, xưng là cháu, nhận thi hài hai ông. Bà Hạnh quá khó khăn nên chính quyền thành phố phải lo toàn bộ chi phí ăn, ở, chi phí cải táng và xây mộ mới. Thi hài ông Diệm, ông Nhu được chôn lại tại nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương), với áo quan loại tốt và kim tĩnh.

Mộ ông Ngô Đình Cẩn được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị xử bắn vào năm 1965, và mộ bà thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về đây. Trong khu đất rộng hàng nghìn hecta với những rặng cây lớn xanh và mát, mộ gia đình họ Ngô nằm cùng một dãy. Mộ bà Phạm Thị Thân nằm ở giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên. Cách mộ ông Nhu một quãng là mộ ông Cẩn.

Trước đây, theo yêu cầu của gia đình, mộ không đề tên, mà chỉ đề "mẫu", "huynh", "đệ". Sau, theo đề nghị của một số người, trong đó có Việt kiều về thăm, mộ được đề đích danh. Anh Mâm, anh Chẩy - hai trong số hàng chục người trông coi mướn mộ phần tại đây, cho hay: Thời gian đầu, mộ gia đình họ Ngô không có người chăm nom, trong khi đa số ngôi mộ khác có thân nhân thường xuyên lui tới và thuê người chăm nom. Thấy những ngôi mộ đó cỏ mọc tốt, nhiều rêu phong, anh em bảo nhau dọn cỏ, dùng bàn chải chà rêu như những ngôi mộ khác. "Lẽ nào mình quanh quẩn ở đây cả ngày mà lỡ để cho ngôi mộ ngay gần mình lạnh lẽo!"Mâm nói, sau khi chia đều nắm hương ngút khói, cắm vào từng bát nhang trước bốn ngôi mộ gia đình họ Ngô.
   
Chưa đọc hôm nay, 02:15 AM
Tướng 2 sao



Tưởng nhớ công ơn Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Thứ Tư, 28 tháng Mười năm 2015 04:01 Tác Giả: LS.Lê Duy San



“Tôi tiến, hãy tiến theo tôi.
Tôi lùi, hãy giết tôi.
Tôi chết, hãy nối chí tôi”
Ngô Đình Diệm

Ngày 7/5/1954 Diện Biên Phủ thất thủ. Hoàng Đế Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng. Biết tình hình khó khăn, ông đã từ chối mấy lần nhưng Hoàng Đế Bảo Đại vẫn năn nỉ. Sau cùng, ông đã đòi phải được tòan quyền về dân sự cũng như quân sự ông mới nhận lời.

Ngày 7/7/1954, cụ Ngô Đình Diệm về nước chấp chính. Chưa đầy hai tuần sau, ngày 20/7/1954, Hiệp Định Jenève được ký kết phân chia nước Việt Nam thành hai miền Nam Bắc.

Về nước đúng lúc đất nước bị chia đôi, miền Nam lại chia năm xẻ bẩy: nào Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, nào phe thân Pháp, phe thân Cộng. Quốc gia thì chậm tiến, xã hội thì đầy dẫy tệ đoan, dân trí thì thấp kém. Ruộng vườn thì bị bỏ hoang, đường xá, cầu cống thì bị Việt Cộng phá hoại. Ðó là chưa kể đến sự phá hoại ngấm ngầm của thực dân Pháp và Việt Cộng. Ngay cả người Mỹ cũng chưa hoàn toàn tin tưởng cụ Ngô Đình Diệm. Các chính trị gia thì mỗi người một ý. Không những thế, ông còn phải lo cho cả triệu người Bắc di cư vào Nam để tránh nạn Cộng Sản.

Trong bài này, chúng tôi xin trình bầy 2 vấn đề: Thiết lập nền Đệ I Công Hoà và những thành quả của chính phủ Ngô Đình Diện trong 9 năm cầm quyền.

I/ Thiết lập nền đệ Nhất Cộng Hoà.

Noí tới vấn đề thiết lập nền Đệ I Cộng Hoà Việt Nam, chúng ta không thể không nói tới vấn đề truất phế Hoàng Đế Bảo Đại tức cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/10/1955.

Tuy Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã được Hoàng Đế Bảo Đại trao toàn quyền về dân sự cũng như về quân sự. Nhưng thực tế về quân sự, tướng Nguyễn Văn Hinh là Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội. Tướng Hinh lại là người thân Pháp, luôn luôn chống đối Ông Ngô Đình Diệm và có âm mưu đảo chánh lật đổ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Nhưng âm mưu đảo chánh bất thành và tướng Hinh bị trục xuất khỏi Việt Nam.

Ngày 28/3/1955, Bình Xuyên nổi loạn, pháo kích vào dinh Độc Lập rồi mấy ngày sau đó tấn công vào thành Cộng Hoà.

Trước tình thế khó khăn như vậy, vậy mà Hoàng Đế Bảo Đại lại gây khó khăn cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bằng cách từ Cannes (Pháp Quốc) gửi ngay một công điện vào ngày 28/4/1955, triệu hồi Thủ Tướng Diệm qua Pháp nói là để “tham khảo ý kiến”,

Theo luật sư Lâm Lễ Trinh thì "ý đồ của Hoàng Đế Bảo Đại là để cất chức Thủ Tướng Diệm vì ông Diệm đã khai trừ tướng Nguyễn Văn Hinh và đã đóng cửa sòng bài Đại Thế Giới của Bẩy Viễn là nơi cung cấp tiền bạc cho Bảo Đại và muốn thay thể bằng Lê Văn Viễn tức Bẩy Viễn, xếp sòng Bình Xuyên, lúc đó đang nắm giữ guồng máy cảnh sát, công an..."

Bị đẩy vào chân tường, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã tham khảo ý kiến hội đồng nội các rồi phúc đáp: “Hội đồng Nội Các không đồng ý để ông xuất ngọai giữa tình thế rối ren của xứ sở và một Hội nghị các chánh đảng và nhân sĩ quốc gia sẽ được triệu tập ngày 29/4/55 tại dinh Độc Lập để cho biết ý kiến “Thủ Tướng có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Quốc Trưởng hay không?” Hội nghị này gồm có 18 chính đảng, đòan thể và 29 nhân sĩ miền Nam trong đó có ba tổ chức nổi bật và có thực lực là: VN Dân Xã Đảng (Hòa Hảo) mà bí thơ là Nguyễn Bảo Tòan, VN Phục Quốc Hội (Cao Đài) do Hồ Hán Sơn thay mặt và Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến VN của Trịnh Minh Thế do Nhị Lang đại diện.

Ông Nhị Lang, tác giả cuốn sách Phong Trào kháng chiến Trịnh Minh Thế cho biết:
“Đúng 10 giờ sáng ngày 29/4/55 Hội nghị khai mạc, Thủ Tướng Diệm tiến vào phòng họp với vẻ mặt ưu tư, sau khi ngỏ lời chào mừng Hội Nghị, ông tuyên bố: “Để qúy ngài được tự do thảo luận” rồi ông kiếu từ đi ngay…”

Trong khi các hội viên yên lặng chăm chú đọc chương trình nghị sự, thì ông Nhi Lang đứng lên tuyên bố: “Thưa quí vị, tôi được chỉ thị của đòan thể chúng tôi là Mặt trận Quôc gia Kháng chiến Việt Nam đến đây gặp quí vị không phải đề nói chuyện về việc Thủ Tuớng Ngô Đìng Diệm có bổn phận hay không bổn phận thi hành lệnh của Bảo Đại. Mà trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề, là đã đến lúc chúng ta cần trút bỏ quyền hành của ông Quốc trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi, thành phố Sài Gòn đang có biến, dân chúng đang xôn xao lo sợ, tại sao ông Bảo Đại lại chọn ngay lúc này để bắt buộc Thú tướng phải bỏ nước sang bên Pháp xa xôi kia, để ‘’tham khảo ý kiến?’’ Tham khảo cái gỉ? Phải chăng đây là mưu kế để nhắm lật đổ Chánh phủ này? Vậy tôi xin tuyên bố dứt khoát, nếu quí vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo đại ngay bây giờ, thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng hội này ngay!’’.

Trong khi cử toạ còn đang bang hoàng và sửng sốt thì đại tá Hồ hán Sơn, đại diện tướng Cao đài Nguyễn thành Phương đứng lên và tuyên bố tiếp: “Nhân danh Việt Nam Phục Quốc hội, chúng tôi đồng ý với mặt trận Quốc gia kháng chiến, yêu cầu quí vị đừng bận tâm tới lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc cách mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc trưởng Bảo Đại kia đi cho xong. Nếu ý kiến nầy không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc!’’

Phiên họp kéo dài 7 tiếng. Đúng 5 giờ chiều, Chủ Tịch Nguyễn Bảo Tòan mời Thủ Tướng Ngô Đình Diệm xuống phòng họp để nghe kết qủa. Kết qủa gồm có 3 điểm sau:
* Truất phế Bảo Đại.
* Giải tán chính phủ Diệm và ủy nhiệm chí sĩ Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời.
* Tổ chức tổng tuyển cử, thành lập chế độ Cộng Hòa.

Ông Nhị Lang viết: “Khi Thủ tướng nghe xong, tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngờ Hội nghị này lại quay sang một chiều hướng khác và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy. Thủ Tướng Diệm lộ vẻ đăm chiêu và nói bằng một giọng trầm mặc: “Xin qúy ngài cho tôi được có thì giờ suy nghĩ kỹ về vấn đề quan trọng này”.

Ngay ngày hôm sau, 30/4/55, cụ Ngô Đình Diệm lại nhận được thêm một công điện thứ 2 triệu hồi Ông sang Pháp. Đây có thể nói là giọt nước cuối cùng đã buộc ông Diệm phải đi tới quyết định truất phế ông Bảo Đại.

Như vậy, việc truất phế Hoàng Đế Bảo Đại không phải hoàn toàn do Thủ Tướng Diệm quyết định mà là do cả một Hội nghị gồm có 18 chính đảng, đòan thể và 29 nhân sĩ miền Nam quyết định. Ông chỉ là người quyết định sau cùng và quyết định của ông cũng đứng trên quyền lợi của quốc gia dân tộc chứ không phải quyền lợi của cá nhân hay phe phái.

Với cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/10/1955, Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế và ông Ngô Đình Diệm trở thành Tổng Thống. Tổng Thống Diệm đã cho bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để sọan thảo bản Hiến Pháp cho nước Cộng Hòa Việt Nam và bản Hiến Pháp này đã được Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành ngày 26/10/1956.

Sau đây là:

II/ Những thành qủa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau 9 năm cầm quyền.

1/ Về Hành Chánh: Cải biến Trương Quốc Gia Hành thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt thành lập từ năm 1952 thời Quốc gia Việt Nam. Chương trình học là 1 năm. Đến năm 1955 thì trường được chuyển về Sài Gòn và đổi tên là Học viện Quốc gia Hành chánh ở đường Alexandre de Rhodes gần Dinh Độc lập sau dời về trụ sở mới ở số 10 đường Trần Quốc Toản, Quận 3. Đây là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng hòa nhằm đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chương trình học là 3 năm.

2/ Về Quân đội: Cải biến Trường Võ Bị Liên Quân ĐàLạt thành Trường Võ Bị Quốc Gia ĐàLạt và nâng cao trình độ các TT Huấn Luyện Hải Quân và Không Quân Nha Trang.

Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (tiếng Pháp: École militaire Inter-armes) thành lập năm 1950, nhằm đào tạo sĩ quan cho quân đội quốc gia Việt Nam, thời gian thụ huấn là 1 năm. Sang thời Đệ I Cộng hòa Việt Nam, chính phủ TT Ngô Đình Diệm cải tổ lại và kể từ ngày 29 tháng 7 năm 1959 theo nghị định của Bộ Quốc phòng đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ huấn luyện sĩ quan hiện dịch cho ba binh chủng: hải quân, lục quân, và không quân cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chương trình thụ huần là 2 năm, sau tăng lên 3 năm.

Ngòai ra các Trung Tâm Huyấn Luyện Không Quân Nha Trang, Trung Tâm Huấn Luyên Hải Quân Nha Trang …, cũng được nâng cao trình độ kiến thức để đào tạo các sĩ quan có khả năng cho hai ngành Không Quân và Hải Quân cho quân lực VNCH. Ai muốn vào 2 binh chủng này phải có bằng Tú Tài và phải qua một kỳ thi tuyển.

3/ Về Giáo Dục: Việt Hóa Trung Học và Đại Học, Thành lập thêm Đại Học Huế
Trước khi ông Ngô Đình Diệm về nước, chỉ có mỗi một Viện Đại Học đó là Viện Đại Học Hà Nội. Sau năm 1954 được di chuyển vào Nam. Không những trường Đại Học mà hầu hết các trường Trung Học ở miền Nam lúc bấy giờ vẫn còn giảng dậy bằng Pháp Ngữ. Tới khi Thủ Tướng Diệm về nước chấp chính, nền giáo dục được cải tổ và Việt Ngữ được dùng để giảng dậy không những ở cấp Tiểu Học mà cả ở cấp Trung Học. Riêng cấp Đại Học thì vì vấn để thiếu giảng viên Việt Ngữ nên được Việt hóa dần dần.

Chỉ 2 năm sau ngày nền Đệ I Cộng Hoà được thành lập, nhiều trường trung và tiểu học đã được thành lập thêm. Số học sinh trung học đã tăng lên 40% và số học sinh tiểu học đã tăng lên 60%. Trường Quốc Gia Nông Lâm Súc thành lập năm 1955, sau đổi thành trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc. Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, sau đổ thành Đai Học Kỹ Thuật Phú Thọ và Viện Đại Học Huế cũng được thàng lập vào năm 1957.

4/ Về Nông nghiệp: Thành lập Khu Trù Mật, Hữu Sản Hóa Nông Dân.

Phong trào "Cải Cách Ruộng Đất" ở miền Bắc của Cộng Sản dùng biện pháp đấu tố, tra tấn dã man và chém giết địa chủ để cướp đất của họ, nhằm tiêu diệt giới điền chủ và bần cùng hóa người dân, khiến cả trăm ngàn người dân vô tội bị chết chỉ vì họ có vài ba mẫu ruộng. Trái lại, chương trình Cải Cách Điền Địa ở miền Nam do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện nhằm hữu sản hóa nông dân. Đối với điền chủ, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các viên chức địa phương trả tiền mua số đất vượt quá giới hạn một cách thỏa đáng, chứ không tịch thu, đấu tố như miền Bắc. Chương trình này bị gián đoạn vì biến cố 1/11/63 và được tiếp tục vào những năm 1971, 1972, 1973 (6).

5/ Về Kinh Tế và kỹ nghệ.

“Kế hoạch 5 năm” đầu tiên từ 57-61 được thực hiện để kỹ nghệ hoá đất nước đã làm gia tăng sự sản xuất lúa gạo và cao su. Khu Kỹ Nghệ Biên Hoà được thành lập. Nhiều nhà máy dệt, nhà máy giấy, nhà máy ván ép được xây cất và các viện bào chế dược phẩm được thành lập. Đường xe lửa xuyên Việt được tái lập.
6/ Tái thiết xã hội: Bãi bỏ chế độ đa thê, Bài trừ tệ đoan xã hội.
Năm 1961 luật Gia Đình được bàn hành, chế độ đa thê bị bãi bỏ. Các tệ đoan xã hội như cờ bạc, hút sách … bị bài trừ khiến xã hội trở nên lành mạnh. Đời sống kinh tế của người dân miền Nam ổn định và sung túc không như người dân miền Bắc phải sống dưới chế độ tem phiếu.

7/ Về Tài Chánh: Thành lập Ngân Hàng Quốc Gia và Viện Hối Đóai.
Ngày 3/12/1954, Thủ Tướng Diệm ký sắc lệnh thành lập Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam một cách gấp rút để có thể hoạt động từ 1/1/1955, khi Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho Việt Nam và Viện Hối Đoái để phụ trách các giao dịch về ngoại tệ.

Ngòai những thành qủa trên, Tổng Thống Ngô Đình Diệm còn cho thành lập khu Trù Mật, khu Dinh Điền, thi hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược và phát động Phong Trào Tố Cộng, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã ra bản Tuyên Cáo vào ngày 17 tháng 4 năm 1963 mở đầu chiến dịch Chiêu Hồi khiến cho Cộng Sản miền Bắc lo sợ.

III/ Kết luận.

Về nước trong trong tình thế nhiễu nhương, đầy khó khăn, vậy mà ông đã ổn định được miền Nam, thu hồi được chủ quyền từ tay người Pháp và lập lên nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam. Với một thể chế dân chủ tuy không được hoàn hảo như các nước tân tiến tây phương nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã đem lại cho người dân được hưởng một cuộc sống tự do dân chủ, no ấm và một nền giáo dục tốt đẹp, đầy tính cách nhân bản và khai phóng. Trong khi đó, miền Bắc, cho tới năm 1975 người dân vẫn còn phải sống dưới chế độ ngu dân, độc tài và đói khổ.

Có thể nói, kể từ khi Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho Việt Nam cho tới bây giờ, chưa có một vị Tổng thống, Quốc Trưởng hay Chủ Tịch nước nào đạo đức, liêm khiết và hết lòng vì nước, vì dân bằng Tổng thống Ngô Đình Diệm. Và cũng kể từ khi Việt Nam được độc lập tới nay, cũng chưa có chính phủ nào thực hiện được những thành quả tốt đẹp cho quốc gia dân tộc như chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Có thể nói: Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đã tái thiết miền Nam sau chiến tranh Việt Pháp 1946-1954, đã đưa miền Nam Việt Nam trở thành một quốc gia có một nền kinh tế tốt đẹp và một quân đội hùng mạnh. Còn ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam chì lo phá hoại, lo chiến tranh và lo khủng bố, giết hại đồng bào miền Nam vô tội.

Không phải chỉ có người Việt Nam chúng ta mới mới kính trọng Tổng Thống Diệm mà nhiều người ngọai quốc trong đó có Giáo Sư Sử Gia Edward Miller và Sử Gia Henry Fairbanks cũng phải cộng nhận ông là một người có hoài bão thực hiện một nhà nước được xây dựng trên những giá trị tốt đẹp nhất của Tây Phương và khôi phục những giá trị cổ truyền tốt đẹp (của Đông Phương) làm nền tảng cho phương thức canh tân xứ sở. Tổng Thống Tưởng Giới Thạch thì nói: “Một trăm năm nữa thì Việt Nam cũng không thể tìm được một người như Tổng Thố
ng Ngô Đình Diệm” và Tổng Thống Eisenhower cũng phải công nhận ông là : Một người phi thường “He’s a miracle man”. Phó TT Hoa Kỳ Johnson cũng đã ca ngợi rằng: “Tổng Thống Diệm là một Churchill của Á Châu…Lịch sử xếp ông ta như là một trong những vĩ nhân của thế kỷ 20”.

Từ ngày miền Nam xụp đổ người dân miền Nam đã nhận thức được ông Ngô Đình Diệm là người thế nào và đâu là nguyên do thực sự đưa đến sự xụp đổ của miền Nam, thì hầu như khắp nơi trên thế giới, nơi nào có đông người Việt tỵ nạn Cộng Sản cũng đều tổ chức Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách trang nghiêm và long trọng vào tháng 11 hàng năm để tưởng nhớ công ơn của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Những việc làm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm không phải là không có khuyết điểm và thiếu sót. Nhưng với những thành quả mà ông đã đạt được, dân tộc Việt Nam sẽ đời đời nhớ ơn ông. Rồi đây, khi đất nước Việt Nam thanh bình và chế độ Cộng Sản không còn, chắc chắn sẽ có những kỳ đài, những quảng trường, những trường học, những đại lộ mang tên NGÔ ĐÌNH DIỆM, để tưởng nhớ vị Tổng Thổng đầu tiên của Việt Nam đã Vị Quốc Vong Thân.

LS.Lê Duy San

(Saigon Echo) 
 
nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=36535


Hướng về những thương phế binh bị lãng quên

Hướng về những thương phế binh bị lãng quên

Poster quảng cáo cho Đại nhạc hội Tri Ân Thương Phế Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại thành phố Sydney, Australia.
Nếu có những người thương binh liệt sĩ bị lãng quên và thậm chí còn bị gạt ra bên lề xã hội thì đó chính là những cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa, những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ miền Nam Việt Nam trước sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.

40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, hai nước cựu thù Việt-Mỹ đã giao hảo thân thiết và hàn gắn mọi vết thương chiến tranh, nhưng những người thương phế binh nghèo khó của quân lực miền Nam vẫn hằng ngày phải ‘chiến đấu’ để sống còn trên chính quê hương xứ sở của mình vì sự phân biệt đối xử từ chế độ cầm quyền của ‘bên thắng cuộc.’
Đó cũng là lý do của chương trình Đại nhạc hội Tri ân của cộng đồng người Việt ở Sydney (Úc) trong hai ngày 18/12 và 19/12 tại Whitlam Leisure Center, Liverpool, nhằm gây quỹ hỗ trợ các thương phế binh Việt Nam Cộng hòa còn kẹt lại trong nước.
Sự kiện quy tụ sự góp mặt của các ca nhạc sĩ tên tuổi ở hải ngoại trong đó có một số người đến từ Mỹ, nhưng có lẽ đặc biệt hơn cả là sự góp sức của các bạn trẻ gốc Việt sinh ra sau cuộc chiến và lớn lên tại hải ngoại.

Trà Mi có dịp trò chuyện với 3 người trong số đó và thật ngạc nhiên khi biết rằng đây không phải là chương trình đầu tiên mà họ tham gia. Trong suốt 4 năm qua, những người trẻ này đã âm thầm tự đứng ra tổ chức các buổi ca nhạc từ thiện như thế này đều đặn 3-4 lần/ mỗi năm, cống hiến thời gian, công sức, và lời ca tiếng hát của mình để quyên quỹ giúp đỡ những cựu chiến binh bị bỏ rơi tại Việt Nam.
Trong chương trình Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, Trà Mi mời quý vị và các bạn cùng gặp gỡ ca-nhạc sĩ Lê Đá, ca sĩ Quỳnh Xuân, và Minh Thư, một thiện nguyện viên rất tích cực trong các chương trình gây quỹ này. 
Quỳnh Xuân: Mỗi lần giúp cho chương trình vì thương phế binh như thế này, em cảm thấy mình được đóng góp được điều gì đó rất có ý nghĩa. Em sẵn sàng.
Trà Mi: Chị Xuân góp mặt trong các chương trình này được bao lâu rồi?

Quỳnh Xuân: Gần 4 năm.
Trà Mi: Chị Minh Thư tìm hiểu về những khó khăn của các thương binh còn ở Việt Nam qua gia đình, bạn bè, hay qua truyền thông xã hội?

Minh Thư: Em xuất thân từ một gia đình Việt Nam Cộng hòa. Em lớn lên ở nước ngoài, có cơ hội học hiểu thêm về Việt Nam thời quá khứ. Em hiểu thêm về hoàn cảnh khó khăn của những thương phế binh Việt Nam Cộng hòa, một thành phần bị gạt qua bên lề xã hội Việt Nam sau 1975. Em cảm thấy có trách nhiệm phải giúp họ, nên muốn góp một tay trong Đại nhạc hội Tri ân Úc Châu để an ủi các bác, tiếp nối bước ba em và các chú bác trong Hội Cựu Quân nhân đứng lên nhận lãnh trách nhiệm mà các vị giao phó. Thứ ba, trên quan điểm con người không ai nên bị phân biệt mà nước Úc đã dạy cho em. Là thế hệ thứ hai, em cũng như các bạn trẻ tham dự, cảm nhận được sự khổ tâm của các chú bác trong Hội Cựu Quân nhân hay Hội Thương phế binh. Họ rất ưu tư khi thấy đồng đội vẫn còn khổ sở, vất vả tại quê nhà. Từ đó, chúng em tình nguyện tham gia giúp các chú, các bác. Qua Úc từ 1990, em chưa bao giờ về Việt Nam nhưng từ các trang mạng xã hội, từ các chú bác trong gia đình, em hiểu được sự khốn khổ của các thương phế binh ở Việt Nam.
Trà Mi: Làm thế nào để nhân rộng nghĩa cử cao đẹp này, để thế hệ trẻ Việt Nam khắp nơi nhìn về nguồn cội, nhìn về những người có hoàn cảnh khốn khó trong sự chia sẻ?
Quỳnh Xuân: Muốn kêu gọi mọi người thì mình phải dấn thân làm một ví dụ trước. Em chưa bao giờ được về Việt Nam tận mắt chứng kiến những khổ cực của những người thương phế binh Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, coi qua những video clip, em đã rơi lệ, cảm thấy rất đau lòng. Bản thân em sẽ cố gắng kêu gọi các anh chị em trẻ ở đây đóng góp giúp đỡ phần nào cho các chú.
Minh Thư: Em cũng xin thêm rằng các bác, các chú xuất thân từ gia đình Việt Nam Cộng hòa cũng nên chia sẻ với con cái vì muốn giới trẻ bên ngoài tham dự hoặc giúp đỡ các công việc như thế này thì ít nhất con của mình cũng phải dấn thân. Em muốn nhờ các bác kêu gọi con cái mình giúp một bàn tay, từ đó mới lan truyền rộng rãi ra giới trẻ.
Lê Đá: Trong phạm vi các buổi văn nghệ chúng tôi tổ chức mỗi 3 tháng một lần gây quỹ cho thương phế binh Việt Nam Cộng hòa, giới trẻ tham dự rất ít. Một số bạn trẻ thích ca hát thì tham gia vào thôi, chứ giới trẻ quan tâm và đi nghe chương trình này thì rất ít.  Cơ hội để chúng tôi quảng bá chương trình này ra cho giới trẻ hiểu biết cũng không nhiều.
Trà Mi: Với những oán trách rằng thương phế binh Việt Nam Cộng hòa bị bạc đãi, bị gạt ra bên lề xã hội, có người cho đó là hậu quả phải nhận lãnh vì anh là bên ‘thua cuộc’. Các anh chị nghĩ thế nào?
Lê Đá: Với chủ thuyết của người cộng sản, họ không có lương tâm. Nhìn lại cuộc chiến giữa Bắc và Nam Mỹ, phía Bắc cũng thắng cuộc, nhưng họ cư xử rất đàng hoàng. Họ không trả thù những người ‘thua trận’ như vậy. Chỉ có người cộng sản Việt Nam đối với chính dân tộc của họ như vậy mà thôi. Họ khuyến khích tuổi trẻ Việt Nam như vậy thì làm sao có tình thương dành cho các anh thương phế binh. Sau 40 năm tàn cuộc chiến, lẽ ra tàn cuộc chiến để xây dựng lại tình người. Nhưng ở đây, tàn cuộc chiến rồi dân tộc lại càng lầm than vì một chế độ cộng sản bạo tàn, hận thù gieo rắc. Cho nên, các anh thương phế binh sống lây lất, âm thầm đau khổ như vậy 40 năm qua. Người nào có một chút tình thương đồng loại nhìn hình ảnh của những người thương binh này cũng đều rơi nước mắt. Người cộng sản coi những người lính Việt Nam Cộng hòa là kẻ thù của họ dù cùng chủng tộc. Đó là sự bạo tàn của người cộng sản.
Minh Thư: Là người Việt Nam, mình nên giúp đỡ nhau, không phân biệt tôn giáo hay bất cứ điều gì.
Quỳnh Xuân: Nếu em gặp người trẻ ở Việt Nam, em sẽ khuyến khích họ dùng tình người với nhau, lá lành đùm lá rách, giúp đỡ những thương phế binh Việt Nam Cộng hòa.
Minh Thư: Em mong sự góp mặt của giới trẻ năm nay trong Đại nhạc hội Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng hòa như một lời kêu gọi các bạn trẻ cùng với mình đóng góp vì những việc này rất nên làm, rất có ích cho mọi người.
Hướng về những thương phế binh bị lãng quên
 
Ông Nguyễn Văn Hiếu, một thương binh ở Củ Chi bị bại liệt 100%, cách đây 2 tháng vừa nhận được ‘Mái ấm tri ân’ từ các chương trình gây quỹ của cộng đồng người Việt ở New South Wales, Úc, xúc động ngỏ lời tri ân những những tấm lòng nhân ái từ phương xa:
"Tôi mừng lắm, phải nói là muốn rơi nước mắt. Chiến tranh kết thúc, tôi tưởng là tôi không còn hy vọng gì nữa. Nhưng thật tình cờ và bất ngờ, tôi được các hội đoàn ở ngoài giúp đỡ nên tôi quá mừng. Không còn mong ước gì hơn. Tôi hết sức chân thành cảm ơn vì cuộc sống khó khăn lắm.
Con tôi đi bán bánh tét mỗi ngày chỉ lời 100 ngàn đồng. Trừ chi phí xe cộ và cơm nước, nhín lắm thì chỉ còn 50 ngàn thôi. Các anh em bên ngoài biết chúng tôi còn ở lại Việt Nam trong cảnh nghèo khổ, họ giúp đỡ thì dù ít hay nhiều, tôi coi đó cũng rất là quý vì cái tình của người ta. Dù ở phương xa nhưng họ vẫn còn có tình cảm giữa con người đối với con người. Tôi hết sức trân trọng và quý mến."
Hội Thương Phế binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở New South Wales, một trong hai đoàn thể chính tổ chức Đại nhạc hội Tri ân vào tháng 12 sắp tới, cho biết hiện có gần 1700 thương binh tại Việt Nam nằm trong danh sách hỗ trợ của Hội và số tiền quyên được từ Đại hội Tri ân tháng 12 sẽ được phân phối tới những người lính đã hy sinh vì nền cộng hòa của miền Nam Việt Nam trước đây.

Nguồn:http://www.voatiengviet.com/content/huong-ve-cac-thuong-phe-binh-bi-lang-quen/3031153.html
Ý kiến     
bởi: Tiêu Cà Mau từ: Hoa Kỳ
01.11.2015 22:44
Lê Đá Nói rất hay : Với chủ thuyết của người cộng sản, họ không có lương tâm. Nhìn lại cuộc chiến giữa Bắc và Nam Mỹ, phía Bắc cũng thắng cuộc, nhưng họ cư xử rất đàng hoàng. Họ không trả thù những người ‘thua trận’ như vậy. Chỉ có người cộng sản Việt Nam đối với chính dân tộc của họ như vậy mà thôi.
Một chế độ như vậy mà kêu gọi hoà hợp hoà giải với ai ?

bởi: Dương chí Dũng
01.11.2015 22:00
Tàn cuộc chiến tranh tương tàn để áp đặt chủ nghĩa Cộng-sản lên VNCH miền Nam như trên đất Bắc. Sau 40 năm, lẽ ra tàn cuộc chiến để xây dựng lại tình người như đảng vẹm tuyên truyền dụ dỗ. Nhưng ở đây, tàn cuộc chiến rồi dân tộc lại càng lầm than đói khổ rách rưới vì một chế độ cộng sản tập thể lãnh đạo bạo tàn, gieo oán hận thù. Chính sách, chủ trưởng đảng đối xử phân biệt VNCH, thương phế binh đã phải chết dần mòn lây lất, âm thầm chịu đựng muôn ngàn cay đắng, đau khổ sỉ nhục như vậy suốt 40 năm qua. Đảng không có tình đồng loại đã tiếp tục duy trì hình ảnh lê lết của những người thương binh. Người cộng sản coi những người lính Việt Nam Cộng hòa là kẻ thù của họ dù cùng là người Việt-Nam, nhưng không là khúc ruột nghìn dặm. Đó là sự bạo tàn của người cộng sản như tội ác của Trung Quốc hủy diệt phụ nữ tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, khi quyết định chính sách «Một con», làm cho hàng triệu triệu thai nhi gái bị bóp mũi, bỏ vào thùng nước cho chết ngạt.

bởi: Listener
01.11.2015 21:38
Một chương trình đầy ý nghĩa và cần được thực hiện trên khắp thế giới, bất cứ nơi nào có người dân của VNCH đang tỵ nạn cọng sản. Việc thực hiện các chương trình này cần đựơc thực hiện liên tục cho đến khi chế độ cộng sản không còn trên đất nước Việt nam và các thương binh, cựu quân nhân VNCH đựơc một nhà nước thực sự dân chủ, tự do của Việt Nam phục hồi lại cái quyền lợi chính đáng của các chiến sĩ đã từng chiến đấu cho nền tự do chân chính của dân tộc và quốc gia Việt Nam.

bởi: Nguyễn Văn Đương
01.11.2015 21:28
Với những món tiền nhỏ nhoi, ít ỏi trong một xã hội lạm phát theo tốc độ ngựa phi đường xa, đảng độc quyền in tiền hồ. Chính sách trả thù, báo oán của đảng cộng-sản vẹm luôn phân biệt đối xử, dựng nên sự cách biệt để đảng tham nhũng giầu sụ với thảm cảnh nghèo khó, đói rách, bạc đãi của người dân càng sâu, thì những Thương phế Binh VNCH miền Nam, suốt 40 năm bị đảng loại ra, vất bỏ bên lề Xã Hội Chủ Nghĩa thì thê thảm trong địa ngục trần gian ... thì với nghĩa cử này một phần nào đó đã an ủi, cảm thông, chia xẻ, giảm bớt gánh nặng trong tâm tư, tình cảm. Xin Cảm ơn mọi người không có tính đảng, không mang hạt giống đỏ đã nhớ đến Thương phế Binh VNCH.

bởi: Trung Quân từ: USA
01.11.2015 21:22
Cảm động với các chương trình gây quỹ như thế này. Cảm động nữa với các cháu, những người trẻ vẫn biết về những thương binh, những người lính VNCH đã một thời hy sinh vì Tự Do.

Chúng tôi là những người bạn cùng chiến đấu với những người thương binh này, chúng tôi may mắn qua được bến bờ tự do. Các bạn còn ở lại, lại bị "quê hương ruồng bỏ"... Nhưng tinh thần của người lính VNCH vẫn sáng ngời trong bạn, trong tôi, trong thế hệ con cháu.

Mong là những món quà nhỏ của "Nhớ Ơn Anh" sẽ là sự chia sẻ với các bạn. Chúng tôi và con cháu chúng tôi vẫn luôn bên các bạn, người thương binh VNCH.

@ Hoàng Kỳ, nhớ người lính bộ nơi vùng hỏa tuyến năm xưa.