Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Đã Dân chủ thì Không cộng sản



Đã Dân chủ thì Không cộng sản

 
Đã Dân chủ thì Không cộng sản
Tác giả Đặng Chí Hùng - Giọng đọc Cát Bụi

Đã Dân chủ thì Không cộng sản
Trong thời gian qua chúng ta có thể thấy hàng loạt các vụ bắt bớ các blogger như nhà văn Nguyễn Quang Lập (nick name : Bọ Lập), Blogger Người lót gạch Nguyễn Hồng Thọ…Điều oái oăm thay là những người bị băt này đã từng một thời theo đảng, ủng hộ đảng. Cho đến bây giờ, họ cũng không chống đảng mà chỉ đòi đảng cho dân chủ tự do và bảo vệ tổ quốc trước nạn Hán tộc. Nhưng đảng cộng sản vẫn bắt họ vì đủ lý do như 258, 88 hay 79 của mớ luật rừng do đảng đẻ ra. Và nó cũng cho thấy một điều đó là đảng đã ra tăng bắt bớ những người blogger để bù lại việc đảng thả Minh Hạnh và Điếu Cày. Rõ ràng, những người đấu tranh cho dân chủ tự do tại Việt Nam đã được đảng coi như món hàng trao đổi với Hoa Kỳ. Cộng sản Việt Nam thi hành chính sách: Thả một, bắt thêm mười để lấy cớ trao đổi với Hoa Kỳ. Cụ thể ở đây chính là cái ghế trong hiệp định TPP sắp đến gần mà đảng đang muốn đem những “vật tế thần “ ra trao đổi.

Biếm họa của họa sỹ PHO đã nói rất đúng thực tế ở Việt Nam

Nếu chúng ta chịu khó nhìn lại cả một quá trình bắt bớ của cộng sản Việt Nam thì họ sử dụng rất “linh hoạt” các điều luật trong bộ luật hình sự để bắt giữ các blogger hoặc các nhà đấu tranh cho dân chủ. Với luật sư Lê Quốc Quân là trốn thuế, với luật sư Cù Huy Hà Vũ là “hai bao cao su” rồi dẫn đến vô vàn lý dó khác. Và mới đây Bọ Lập, Người Lót Gạch là 258. Như vậy chúng ta nếu chỉ đấu tranh đòi dân chủ khi giới hạn bỏ các điều luật rừng của cộng sản là chưa đủ. Cộng sản Việt nam có thể bỏ điều 258, có thể bỏ 79 hoặc 88 thì lại đẻ ra điều khác và vận dụng ngay cả côn đồ để đánh lén như cách đánh nhà báo tự do Trương Minh Đức trong thời gian gần đây. Lý do này cho thấy, một nền dân chủ cho Việt Nam không thể có cộng sản được. Cộng sản không chấp nhận có tự do và dân chủ !

Với cộng sản thì Dân chủ là : BỊT MIỆNG .

Nếu chúng ta nhìn ra thế giới, nền dân chủ tại Nga hay Campuchia hiện nay là bài học lớn mà mọi người đã thấy đó là chế độ tân độc tài với cái đuôi tàn dư cộng sản. Nói cách khác nó là sản phẩm của dân chủ cuội mà ra. Ngoài ra, bài học Miến Điện năm 1990 còn đó. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà Aung San Suu Kyi đã thắng 392 trong tổng số 485 ghế, chiếm hơn 60% số phiếu và 80% ghế trong quốc hội trong cuộc bầu cử, nhưng các kết quả của cuộc bầu cử đã bị SLORC (Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang) huỷ bỏ và họ từ chối giao lại quyền lực.. Bà Aung San Suu Kyi và đảng viên của bà đã phải vào tù, bị đánh đập tàn bạo, hành hạ tơi bời. Hiện nay dù Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà Aung San Suu Kyi đã trở lại chính trường nhưng với số ghế dành sẵn cho đám quân phiệt Miến, thì suốt đời bà Aung San Suu Kyi và đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ cũng chỉ làm cộng cụ phục vụ cho đám quân phiệt Miến đội lốt dân chủ cuội để biến thành thực dân nội địa Miến Điện mà thôi. Chúng ta cũng đừng quên báo chí nhà cầm quyền cộng sản đang loan tin về cái gọi là “trốn chạy” của con cái, gia đình cộng sản Việt Nam trước nguy cơ sụp đổ của chúng đang đến gần. Nếu chúng ta để tình trạng Việt Nam diễn ra theo kiểu Miến Điện, Nga…thì những tài sản là của dân tộc Việt Nam sẽ mãi được những tên tham quan cộng sản và gia đình chúng “bảo lưu”. Chính vì vậy đây cũng là một lý do cho chúng ta phải dứt khoát đã là dân chủ không thể tồn tại cộng sản.
Một tình huống khác, nếu con đường dân chủ song hành với cộng sản, được nhà nước cộng sản cho phép hoạt động, cũng sẽ làm công cụ phục vụ cho chế độ dân chủ cuội như Nga, Campuchia, Miến Điện mà nạn nhân chính là nhân dân Việt Nam sau này. Do đó, muốn có dân chủ, tự do thật sự thì phải thật sự ly khai hoàn toàn với cộng sản, với Hồ Chí Minh. Muốn làm được điều đó chúng ta phải làm từng bước một thật chắc chắn và động viên toàn dân đứng lên lật đổ chế độ cộng sản tại Việt Nam. Chính chúng ta đã từng khẳng định lời cựu tổng thống Thiệu: “đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” nên chúng ta cũng chẳng có lý do gì phải sống chung với một băng đảng chỉ biết lọc lừa. Nếu chúng ta muốn tránh những việc làm bắt bớ những người đấu tranh cho dân chủ cho tự do tại Việt Nam thì chúng ta nên:
  1. Đề nghị các vị nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước cùng nhau làm 1 bản phản đối chính quyền độc tài cộng sảnViệt Nam bắt bớ blogger trái phép như Phạm Viết Đào, Nguyễn Quang Lập, Hồng Lê Thọ… hay những người yêu nước như Nguyên Kha, Tạ Phong Tần, Đỗ Minh Hạnh vv…rồi kêu gọi tất cả những người dân Việt Nam yêu nước cùng ký vào.Sau đó gửi ngay bản phản đối này cho Hội đồng nhân quyền LHQ, đại diện EU về nhân quyền, thượng và hạ nghị viện Mỹ, EU…Đây là một việc làm thiết thực và sẽ có tác dụng nhãn tiền trong một ngày gần đây, khi Hội đồng nhân quyền đã chấp nhận đơn xin gia nhập Hội đồng nhân quyền của đảng cộng sản Việt Nam. Nó thiết thực hơn nhiều với việc xin đảng cộng sản cho làm một việc gì đó. Đó là một cách tố cáo bộ mặt thật của cộng sản Việt Nam khi cái tròng cổ đã được tròng vào cổ đảng.
  1. Hãy quên đi việc ký tên xin cộng sản ban phát cho dân chủ, tự do trong đó có mong muốn cộng sản sửa đổi. Hãy làm ngay những việc cần thiết đó là :
  2. Kể rõ và đầy đủ mọi sai lầm và tội ác tày đình của Hồ Chí Minh và cộng sản đời từ trước đến nay để nhân dân thấy rõ ràng sự thật.b.Kêu gọi toàn dân hợp cùng nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước đứng lên vứt bỏ Hồ Chí Minh – một tội đồ dân tộc, phải dứt khoát đoạn tuyệt với cộng sản.
Nhân sĩ trí thức thực chất cũng biết rõ đảng cộng sản và Hồ Chí Minh đã bán nước , nhưng không dám nói thẳng sự thật mà chỉ dám nói bóng nói gió. Ngay cả lúc Hồ Chí Minh và cộng sản cướp chính quyền của thủ tướng Trần Trọng Kim chỉ có rất ít thấy vị nhân sĩ trí thức báo động cho dân tộc như cụ Tô Hải, Hữu Loan. Rõ ràng để đáp ứng với lòng mong mỏi của người dân và tổ quốc thì những trí thức phải thật sự dấn thân. Xin đừng ngồi và van xin đảng cộng sản nữa. Hãy dũng cảm vứt bỏ đảng cộng sản, vứt bỏ Hồ Chí Minh. Không thể có chuyện chống đảng cướp mà lại tôn thờ chủ soái của đảng cướp đó được !
Bây giờ giặc đã vào nhà của chúng ta, chúng sẽ bắt con cháu chúng ta làm nô lệ cho chúng, chúng phá nhà chúng ta, chúng đang tung hoành khắp nước ta, đất ta đã mất một phần, biển ta đã mất gần hết và đất nước sắp rơi vào tay giặc, nòi giống sắp bị tuyệt chủng thế mà vẫn còn có các vị trí thức nhân sĩ không chịu đứng ra nói lên lời hiệu triệu tòan dân xuống đường tiêu diệt bè lũ bán nước đảng cộng sản và tiêu diệt bè lũ bán nước mà chỉ kêu gọi ký “ôn hòa”, hết cái này đến cái khác đó là một việc làm không thực tế. Nếu ký xin đảng cộng sản một cách “ôn hòa” làm đảng cộng sản sụp đổ thì đã không có dân oan, không có tù nhân lương tâm hay những vụ giặc ngồi ngay tại Tây Nguyên. Cũng chỉ vì “ký” ôn hòa mà cuối cùng giặc vẫn vào Việt Nam, cộng sản vẫn bắt những người yêu nước . Đó là những sai lầm mà chúng ta cần phải tránh.
Khi đảng cộng sản đã ngồi một ghế trong Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc thì biện pháp hữu hiệu nhất để đòi nhân quyền là xuống đường biểu tình đòi nhân quyền để dư luận thế giới thấy rõ cộng sản đàn áp nhân quyền như thế nào. Thế nhưng như chúng ta đã từng thấy các vị nhân sĩ trí thức này để khoảng chục blogger đơn độc lội hết đại sứ quán này sang đại sứ quán khác. Tại sao quí vị không dẫn đầu những đòan blogger này đi các đại sứ quán cho con cháu học tập? Tại sao những vị trí thức không làm việc có ý nghĩa hơn là đem việc cộng sản vi phạm nhân quyền đến Liên Hiệp Quốc mà chỉ biết xin cộng sản cho thực hiện việc này nọ với những chữ ký mà cộng sản không coi vào đâu?.
Trên thực tế chúng ta cũng thấy tại Văn giang, Vụ bản, Mường Nhé, Mỹ Yên…hàng ngàn vụ nhân dân đơn độc chống đảng cướp ngày cũng không thấy nhân sĩ trí thức giúp đỡ cụ thể gì hết, vậy nhân dân có thể trông chờ gì ở quí vị? Các trí thức đã ở đâu khi dân oan mất đất và bị đánh đập? Các vị ở đâu khi biểu tình chống Tàu bị đàn áp. Có những vị tuyên bố về cộng sản vi phạm sai trái trong vụ của Nguyên Kha, của Đoàn Văn Vươn nhưng chỉ có 1 số người yêu nước thực sự đến có mặt tại tòa. Đó là những sai lầm của đấu tranh với cộng sản cần phải thay đổi.
Nên kêu gọi các tổ chức quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài hãy nhìn rõ về vấn đề nhân quyền để họ thôi không hợp tác làm ăn với cộng sản. Đó là con đường ngắn để ngăn không cho cộng sản hút máu của nhân dân.Bằng chứng là mới đây, hãng tư vấn Wealth-X ở Singapore và ngân hàng UBS Thụy Sỹ vừa công bố báo cáo cho biết, Việt Nam đứng thứ hai trong số các nước Đông Nam Á có số người siêu giàu tăng mạnh trong vòng một năm qua. Việt Nam được xếp thứ hai sau Thái Lan với mức tăng 14,7. Theo báo cáo này thì số người Việt gia nhập câu lạc bộ siêu giàu hiện là 225 người, với tổng tài sản trên 25 tỷ USD. Bên cạnh đó, theo Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc , tính đến năm 2010, vẫn có 8,01 triệu dân Việt Nam sống trong cảnh nghèo đói, thiếu thốn trăm bề. Tình trạng không nhà cửa và thất học xảy ra ở nhiều địa phương khắp cả nước. Thậm chí, nghèo đói đến mức nhiều người dân Việt Nam phải tìm đến cái chết để tự giải thoát cho mình. Điển hình là vụ việc của chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân (48 tuổi, ngụ xã An Xuyên, TP Cà Mau – Cà Mau) đã treo cổ tự tử vào đầu tháng 5/2013 để gia đình được cấp sổ hộ nghèo và các con được đi học.
Trong khi số lượng người siêu giàu tăng nhanh, còn lượng người “siêu nghèo” cũng tăng chẳng kém. Cũng theo Báo cáo của Cục thống kê nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cho thấy, khoảng cách thu nhập giữa người giàu và nghèo tại Việt Nam đã tăng từ 8,9 lần trong năm 2008 lên 9,2 lần trong năm 2011. Thu nhập trung bình của khu vực thành thị cao hơn gần gấp 10 lần thu nhập trung bình dao động ở mức 30 usd/tháng của nhóm thu nhập thấp. Những chuyện trẻ em đu dây tới trường, những sự phá sản của các tập đoàn kinh tế nhà nước đã cho thấy kinh tế chính là một tử huyệt của cộng sản mà chúng ta cần phải tấn công mạnh hơn nữa.

Trẻ em “tương lai” của CHXHCNVN là đây !

Có lẽ có rất nhiều nguyên nhân nhưng tựu chung lại chỉ có một nguyên nhân chính duy nhất đó là : Chế độ cộng sản. Tại sao lại có thể kết luận như vậy ? Có lẽ cũng không quá khó để có đáp án đúng đắn cho điều này.
Trong những năm qua, cộng sản thực hiện chế độ độc tài nên mọi người dân muốn tham gia kinh doanh đều phải chịu sự áp đặt của đủ mọi quan chức từ địa phương đến trung ương, từ ngành nọ sang ngành kia. Các quan chức cộng sản do được độc tài bảo hộ nên tha hồ hà hiếp cướp đoạt của dân thông qua “hối lộ “ phí và đủ các thủ tục và lễ phí. Như thế người nghèo càng nghèo hơn còn chỉ có quan chức là giàu sụ.
Đi kèm đó là việc cướp đất đai trắng trợn của người dân để thực hiện các dự án đã làm cho tiền tài đổ vào các quan chức cộng sản và tư bản đỏ đứng sau. Đơn cử như tại rất nhiều địa phương người ta có thể thu hồi đất của dân với giá chỉ vài chục nghìn đồng chưa mua nổi một bát phở trên một mét vuông để sau khi cướp được đất lại thổi phồng lên giá hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng. Do có sự hậu thuẩn của quan chức tư trung ương nên việc thổi giá được chấp nhận dễ dàng. Người mất đất thì ngậm đắng nuốt cay vì mất đất ở, đât sản xuất còn người mua nhà nếu không phải là quan tham , là tư bản đỏ thì cũng chẳng có nhà mà ở.
Ngoài ra việc vay vốn FDI, ODA của nước ngoài về đầu tư các dự án cũng là những miếng mồi ngon cho quan tham và tư bản đỏ chia chác lợi ích, đục khoét tài chính khiến cho có một bộ phận siêu giàu còn đại bộ phận đất nước vẫn nghèo và mắc nợ. Đồng thời, việc cộng sản tạo cơ hội cho đầu cơ và mua bán vàng kiểu “thằng giàu cứ giàu, thằng nghèo càng chết đói” khiến cho xã hội ngày càng nhiều hố sâu ngăn cách. Những Ngươi nghèo đã nghèo lại khổ hơn. Từ vơ vét tiền của dân và vay tiền nước ngoài cộng sản có thể duy trì chế độ công an trị “còn đảng còn tiền” hiện nay. Vì vậy muốn cộng sản phải sụp đổ thì cần phải bóp chết chúng về mặt kinh tế.
Nhìn lại mọi nguyên nhân khổ đau từ kinh tế, xã hội, dân trí hay xa hơn là biển đảo, đất đai bị mất thì chúng ta thấy rõ ràng nó chỉ có một nguyên nhân của mọi nguyên nhân đó là đảng cộng sản Việt Nam. Nhìn ra Châu Âu người ta đã đặt đảng cộng sản ra khỏi vòng pháp luật. Do đó chẳng có lý do gì chúng ta lại phải chấp nhận những thứ dân chủ giả hiệu được ban phát bởi đảng cộng sản. Mà quá khứ cũng đã chứng minh Hồ Chí Minh từng lập ra vài cái đảng nhưng đều là chân rết của đảng cộng sản thì chúng ta cũng không thể có dân chủ nếu chấp nhận đảng cộng sản đứng chung trong sân chơi đó. Dù thế nào chăng nữa chúng ta cũng phải biết rằng cộng sản là một loài quỷ, con người nếu cho phép con quỷ đứng chung mâm thì chắc chắn có ngày con quỷ sẽ trỗi dậy máu ác độc và ăn thịt con người. Hãy dũng cảm vứt bỏ cộng sản, vứt bỏ Hồ Chí Minh và nhìn tấm gương Campuchia, Miến Điện hay Nga để đứng lên vì một Việt Nam : Dân Chủ KHÔNG có cộng sản !
Đặng Chí Hùng
09/12/2014
(Nguồn: Thời Mới Canada)

 
Tướng 2 sao
http://youtu.be/T1g1xEEO5wA

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Trung Quốc sẽ độc chiếm Biển Đông với 5 đường băng quân sự (?)

Thống soái
 

Trung Quốc xây đường băng sân bay thứ 4 trên Biển Đông

Đăng Bởi Một Thế Giới - 15:19 15-09-2015

Một sĩ quan Mỹ trên máy bay do thám P-8A Poseidon chỉ tay vào hình ảnh sân bay trên đảo Chữ Thập mà Trung Quốc đang xây ngày 21.5.2015

Dư luận quốc tế lại một phen bất ngờ khi Trung Quốc xây đường băng sân bay quân sự thứ 4 trên biển Đông và là thứ 3 tại các hòn đảo Trung Quốc chiếm đóng trái phép trên quần đảo trường Trường Sa của Việt Nam. Đây được xem là hành động Bắc Kinh cố tình thách thức quyền lực của Nhà Trắng.


Với việc xây dựng thêm đường băng quân sự thứ 4 tại biển Đông, Trung Quốc có khả năng không chế toàn bộ vùng biển trong khu vực vì các sân bay này có thể chứa được tất cả các loại máy bay quân sự mà quân đội Trung Quốc đang sử dụng.
Hình ảnh vệ tinh của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quốc tế Washington (CSIS) cho thấy Trung Quốc đang thực hiện các công đoạn đầu tiên của việc xây dựng đường băng trên đá Vành Khăn, một hòn đảo nhân tạo khổng lồ mà nước này vừa xây dựng trên điểm đá chiếm được vào năm 1995.
Công đoạn xây dựng, vừa được tiến hành, cho thấy Trung Quốc sẽ sớm xây dựng một đường băng dài 3.000 mét tương tự như hai đường băng khác mà nước này đang xây trên các hòn đảo mà họ chiếm đóng trái phép là đá Subi và đá Chữ Thập, ông Greg Poling - Giám đốc Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á của CSIS, cho biết.
"Rõ ràng, những gì chúng ta đã thấy là một đường băng dài 3.000 mét, và chúng tôi thấy họ còn làm nhiều hơn khi chuẩn bị xây dựng một cảng nước sâu", ông Greg nói với Reuters.
Cố tình thách thức quyền lực của Nhà Trắng
Việc Trung Quốc xây dựng hàng loạt đường băng quân sự tại các đảo mà họ chiếm đóng trái phép trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam được thực hiện ngay trước chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khiến không ít chuyên gia lo ngại, liệu đây có phải là do Trung Quốc cố tình thách thức quyền lực của Nhà Trắng.
"Đây là một sự thách thức trắng trợn đối với Nhà Trắng", Michael J.Green, một phó chủ tịch cao cấp của CSIS và cựu giám đốc cấp cao về các vấn đề châu Á tại Hội đồng An ninh quốc gia dưới thời Tổng thống George W. Bush, nói với Washington Post.
"Chúng ta có thể đề cập về vấn đề này như thế nào? Khi mà họ (Trung Quốc) nói "ngừng quân sự hóa các hòn đảo", trong khi họ vẫn tiếp tục làm điều đó? Họ nói "không tiếp tục xây dựng" trong khi rõ ràng là họ vẫn đang xây?", ông Michael J.Green lo lắng khi Trung Quốc thường xuyên "hứa lèo" và thách thức dư luận thế giới, cũng như thách thức quyền lực của Nhà Trắng.
Còn nhớ, ngày 5.8 vừa qua, bên lề Hội nghị cấp cao của ASEAN, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho biết Bắc Kinh đã dừng việc xây dựng đảo nhân tạo trên biển Đông, đồng thời kêu gọi các nước trong khu vực tăng tốc đàm phán giải quyết các tranh chấp biển đảo, nói ngay trước mặt Ngoại trưởng Mỹ John Kerry.
Trung Quốc cố tình gia tăng căng thẳng trên biển Đông
Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố chủ quyền phi lý đòi chiếm tới 90% diện tích biển Đông bằng cái gọi là "đường chín đoạn" vô lý, với lập luận duy nhất gọi đó là "vùng nước lịch sử" khó có thể chấp nhận.
Với việc tiếp tục ngang nhiên xây dựng trên quần đảo Trường Sa mà họ chiếm đóng trái phép của Việt Nam, Trung Quốc đã hoàn toàn bỏ ngoài tai dư luận quốc tế cũng như những chỉ trích từ giới tướng lĩnh quân sự của Mỹ.
"Ý định của Trung Quốc là tiếp tục các hành động của họ, tiếp tục xây dựng, hành động này sẽ không làm giảm căng thẳng hoặc tìm cách thực hiện giải pháp ngoại giao", phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Mỹ, ông Bill Urban nói với Reuters.
Thiên Hà
(Theo International Business Times)
****
Việc TQ tiếp tục xây dựng các căn cứ quân sự trên biển Đông chứng tỏ đã chẳng coi các nước chung quanh ra cái giống gì cả. Các nước này ngoài việc đứng nhìn thì chỉ còn biết trông chờ vào Mỹ. Liệu Mỹ có "hết mình" để bảo vệ biển Đông hay không, hay lại "trao đổi" gì đó với Trung Quốc ?
Riêng đảng CSVN thì đã chọn giải pháp đưa Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Quốc vào năm 2020, nên không phải lo lắng gì cả (còn mừng húm)
Với tình trạng Kinh Tế và Chính Trị hiện nay, Việt Nam như một miếng bánh đúc nhão nhoét, đang chờ một chất xúc tác để thay đổi .

====



Trung Quốc sẽ độc chiếm Biển Đông với 5 đường băng quân sự (?)
Theo giới chuyên gia, Bắc Kinh sẽ xây tổng cộng 5 đường băng tại đây nhằm thực hiện giấc mộng bá chủ Biển Đông.




Trung Quốc đang xây đường băng phi pháp trên đảo nhân tạo ở Đá Vành Khăn của Việt Nam
Hiện tại Trung Quốc đang xây dựng đường băng thứ 3 trên các đảo chiếm đóng của Việt Nam ở Biển Đông.
Ngày 14/9, Trung Quốc ngang nhiên xác nhận xây đường băng trên đảo nhân tạo bồi đắp phi pháp ở Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Trước đó, hồi tháng 4/2015, các hình ảnh vệ tinh do tạp chí quốc phòng IHS Jane's (Anh) công bố cho thấy Trung Quốc có thể đang xây dựng một đường băng trên Đá Subi, thuộc quần đảo Trường Sa, Việt Nam.
Năm ngoái, Trung Quốc bắt đầu xây dựng một đường bay trên Bãi Gạc Ma thuộc Trường Sa của Việt Nam.
Tổng kết lại, tờ Diplomat nhận định, Trung Quốc sắp có 4 tới 5 đường băng ở Biển Đông. Một trên đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa, 3 hoặc 4 trên các bãi đá Chữ Thập, Gạc Ma, Vành Khăn và Subi ở quần đảo Trường Sa.
Chữ Thập, Gạc Ma, Vành Khăn, Subi là 4 trong số 7 bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc từng hối hả bồi đắp để biến thành các đảo nhân tạo nhằm thiết lập một chuỗi căn cứ quân sự ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Tất cả các đường băng trên đều có độ dài trên 3.000m. Giới chuyên viên an ninh quốc phòng Mỹ cho rằng một đường băng dài 3.000m đủ để cho tất cả các loại máy bay quân sự của Trung Quốc lên xuống.
Điều đáng nói là lãnh đạo Trung Quốc thời gian gần đây tuyên bố rằng họ đã dừng các công tác bồi đắp ở Biển Đông, nhưng những gì thực tế đang diễn ra cho thấy những lời nói của chính quyền Bắc Kinh là không thể tin được.
Chả thế mà sau khi Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tuyên bố ở Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN diễn ra đầu tháng trước tại Malaysia rằng, Trung Quốc đã chấm dứt hoạt động bồi đắp tại quần đảo Trường Sa, thì phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines đã bốp chát lại liền: Trung Quốc đang lừa gạt cộng đồng quốc tế!
Giờ đến chuyện lý do xây những đường băng trên. Trung Quốc nói dùng chúng cho mục đích hỗ trợ tự do hàng hải, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm và ứng phó khi có thảm họa, thiên tai... Ngoài việc xây dựng những cơ sở này tại vùng biển chiếm của nước khác là điều không thể nghe được, chứ đừng nói tới mục đích thực sự của chúng.
Bộ Quốc Phòng Philippines mới đây nói rằng những tuyên bố của Trung Quốc về việc xây dựng các cơ sở hỗ trợ tự do hàng hải, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm và ứng phó khi có thảm họa, thiên tai chỉ nhằm che đậy dã tâm của Trung Quốc đối với Biển Đông.
Philippines lưu ý cộng đồng quốc tế là Trung Quốc “nói một đằng, làm một nẻo” và không hề tôn trọng những cam kết với ASEAN trong Tuyên bố chung về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC).
Theo Nh.Thạch/AP, BBC, AFP
PetroTimes
Nuồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=35811

Ai đã bắn nát chân Tướng Nguyễn Ngọc Loan?


Ai đã bắn nát chân Tướng Nguyễn Ngọc Loan?
 
Chu Việt
 

  Tướng Nguyễn Ngọc Loan

Sát thủ thi hành bản án tử hình tướng Loan là một hạ sĩ quan TQLC Hoa kỳ làm việc cho CIA Sài Gòn.

Ngẫm hay muôn sự tại Trời

Nguyễn Du

Cho đến nay các sử gia đều tin rằng tấm hình nổi tiếng một thời của Eddie Adams đã kết liễu cuộc đời binh nghiệp của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Không sai, nhưng chỉ đúng một nửa. Chính nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer của AP này đã viết trong tuần báo TIME (1): “Ông tướng giết thằng Việt Cộng; tôi giết ông tướng bằng máy chụp hình của tôi”. Đó là tấm hình chụp tướng Loan thản nhiên hành quyết một tù binh cộng sản bị còng tay sau lưng, mặt mếu máo. Một hành vi sát nhân ghê tởm gây chấn động toàn thế giới. Mặc dù sau đó Adams đã thú nhận: “Người ta tin vào hình ảnh, nhưng hình ảnh cũng nói dối, cho dù không có sửa đổi gì. Chúng chỉ là những nửa sự thật”. Dẫu vậy nhưng nó cũng đã đánh dấu khúc ngoặt quan trọng của cuộc chiến: Dư luận phản chiến nở rộ tại Hoa kỳ đã khiến Tổng thống Johnson mất niềm tin vào một chiến thắng quân sự tại miền Nam Việt Nam. Và cuộc thương thảo với Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam (MTGPMN) đã diễn ra sau đó dưới triều đại Nixon như giải pháp duy nhất đem lại hòa bình.

Đằng sau tất cả những sự kiện lịch sử ấy là chuyển động âm thầm nhưng có ảnh hưởng quyết định của tình báo chiến lược. Cơ quan CIA (Tình Báo Trung Ương) Hoa kỳ và đối tác VNCH ở cấp cao đã phải đối mặt với những tình huống gây ra mâu thuẫn trầm trọng giữa một bên là MACV (Bộ Tư Lệnh Quân Sự Mỹ), CIA, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và bên kia là Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH và Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia khi ấy do Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan nắm giữ. Bối cảnh chung là cuộc tấn công bất ngờ của Việt Cộng – khi ấy vẫn được báo chí Mỹ coi là MTGPMN, tách biệt với Cộng Sản Bắc Việt (CSBV), một huyền tích chỉ được giải ảo sau 1975 – trong dịp hưu chiến Tết Mậu Thân (tháng 1, 1968).
 

Nguyễn Ngọc Loan: Ông là Ai?


Tướng Nguyễn Ngọc Loan, hỗn danh Sáu Lèo, sinh năm 1930 tại Huế. Chị cả của ông, bà Bích Hồng, là phu nhân Đại tá Bác sĩ Văn Văn Của, nguyên Đô trưởng thành phố Sài Gòn (1965-68) (2). Ông học trường Trung học Albert Sarraut và đậu Tú tài Toán toàn phần rồi bị động viên Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị (Nam Định). Thiếu úy Loan theo học Trường Sĩ quan Không quân Pháp Salon de Provence năm 1953 rồi thực tập hoa tiêu khu trục phản lực tại căn cứ Meknes, Maroc, trở thành phi công khu trục phản lực đầu tiên của Không lực VNCH. Về nước, ông được bổ nhiệm Phi đoàn trưởng Phi đoàn 2 Quan sát. Được thuộc cấp nể trọng nhưng ông không được các sĩ quan Cố vấn Hoa kỳ ưa thích vì ông hay đả kích lề lối làm việc máy móc của họ.

Năm 1964, ông Loan thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm “Tư lệnh Phó Không Quân VNCH” dưới quyền Tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1965, vinh thăng Chuẩn tướng, ông tham dự chiến dịch không kích Bắc Việt trong khu vực Đồng hới – Vĩ tuyến 17 (Bến Hải).

Những năm kế tiếp, tướng Loan được đề cử đảm nhiệm 3 chức vụ an ninh, tình báo quan yếu của VNCH:
– Đặc ủy trưởng, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo
– Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, và
– Cục trưởng Cục An Ninh Quân Đội.

Lòng tận tụy với trách nhiệm nặng nề và tính “bất cần đời” của tướng Loan, coi cái chết “như pha” tạo cho ông một cá tính gồ ghề, bề ngoài tưởng như ngổ ngáo, hãnh tiến, nhưng thật ra ông là con người đầy cảm tính và “cận nhân tình”, được cấp dưới nể trọng và bạn hữu chí tình thương mến. Thỉnh thoảng gặp ông tại Phủ Thủ Tướng (Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương – UBHPTƯ), ông cười nói xuề xòa, moa moa, toa toa, miệng không ngớt chửi thề: đ.. cụ, đ.. cụ.
Tuy nhiên, Định Mệnh dường như đã an bài cho ông một số phận khắc nghiệt. Chỉ nội trong ngày 31 tháng 1 năm 1968, sự nghiệp của ông được kể như chấm dứt vì một quyết định làm cho người Mỹ coi ông là kẻ phản bội. Mặt khác, có thật là bức hình của Eddie Adams chụp cảnh ông xử bắn tên đặc công Lém ở đường Ấn Quang ngày 4 tháng 2, 1968 mới là nguyên nhân chính? Sự thực không phải như vậy.
 

Hoa kỳ đi đêm với MTGPMN

Kề từ tháng 2 năm 1967, Tòa Đại sứ Hoa kỳ ở Sài Gòn đã có những tiếp xúc sơ bộ với một số cán bộ cấp thấp thuộc MTGPMN. Sau đó,với sự trợ giúp của Tình báo Hải ngoại Pháp (SDECE, Service de Documentation et de Contre-Espionage), cộng đồng tình báo Mỹ ở Việt Nam đã bắt tay được với những nhân vật trọng yếu của Cục R (Trung Ương Cục miền Nam) và MTGPMN như: Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Dương Quỳnh Hoa, Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống, Trần Bửu Kiếm và Trần Bạch Đằng, Cục trưởng Cục R (3).

Sau việc hộ tống êm thắm vợ con Trần Bửu Kiếm và Trần Bạch Đằng ra vùng “giải phóng” an toàn, Sứ quán Hoa kỳ móc nối với Nguyễn Thị Bình (qua trung gian LS Đinh Trịnh Chính, Bộ trưởng Chiêu Hồi, Dân Vận VNCH) toan tính thành lập chính phủ “liên hiệp hòa giải dân tộc” với 2 thành phần: MTGPMN và chính quyền VNCH.

Tất cả những tiếp xúc “đi đêm” nói trên đều không lọt qua con mắt của tướng Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Tướng Loan ra lệnh cho S-6 (Cảnh Sát Đặc Biệt) tống giam một số nhân vật MTGPMN khi ấy đang được Sứ quán Hoa kỳ bảo vệ tại các “nhà an toàn” (safe house) ở ven đô Sài Gòn và Tây Ninh. Sứ quán Hoa kỳ gây áp lực với tướng Nguyễn Cao Kỳ, chủ tịch UBHPTƯ, phải thả lập tức các sứ giả MTGPMN và yêu cầu các cơ quan an ninh VNCH không được phép xâm nhập các nhà an toàn và những khu vực dành riêng cho nhân viên ngoại giao Hoa kỳ trên khắp lãnh thổ VNCH.

Mặt khác, Tổng thống Lyndon B. Johnson được Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker bảo đảm rằng Sài Gòn là thủ đô an toàn và Tòa Đại sứ Hoa kỳ ở Saigon là khu vực an ninh 100% không bao giờ bị tấn công vì đây sẽ là địa điểm mật đàm đã được thỏa thuận giữa Hoa kỳ và MTGPMN.
 

Tòa Đại sứ Hoa kỳ rơi vào tay Đặc Công CSVN

Trong trận mở màn Chiến dịch Tổng Tấn Công – Tổng Khởi Nghĩa của CSVN, một biến cố ít ai biết đến, kể cả báo chí Mỹ, là Tòa ĐS Hoa kỳ đường Thống Nhất đã rơi vào tay Đặc công CS ngay những phút đầu. Đó là hậu quả của việc tướng Loan đã cho rút 2 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến bảo vệ bên ngoài TĐS Mỹ về tăng cường cho Dinh Độc Lập.

Diễn tiến: Tổ C-10 gồm 18 tên đặc công CS thuộc Tiểu đoàn Đặc công 276 của Đặc Khu Ủy Sài gòn – Chợ Lớn đã xuất phát lúc 1 giờ đêm 31 tháng 1, 1968 từ tiệm Phở Bình đường Yên Đổ, góc Hai Bà Trưng, trên 1 xe van mầu trắng. Hai giờ sáng, xe dừng trước cửa sau Tòa ĐS đường Mạc Đĩnh Chi lúc đó chỉ có một tiểu đội Quân Cảnh Mỹ giữ an ninh phía trong. Bọn đặc công CS chia làm 6 mũi khai hỏa tấn công. Chúng dùng bộc pha, B-40 và AK-47 báng xếp triệt hạ vọng gác của Cảnh sát QG đặt giữa Lãnh sự và tòa nhà chính. Nhưng vọng gác này đã bỏ trống từ chiều hôm trước cùng lúc với hai trung đội Cảnh Sát Dã Chiến, theo lệnh của tướng Loan.

Hai tên đặc công tấn công vào cửa chính Tòa ĐS, tức thì bị QC Mỹ hạ sát. Sau đó QC Mỹ rút vào trong và dùng radio cầu cứu. Hai tên đặc công khác dùng bộc pha phá thủng một lỗ lớn tường rào góc đường Thống Nhất – Mạc Đĩnh Chi, giúp cho toàn bọn C-10 tràn vào vườn hoa rồi tiến chiếm Lầu 1 và Lầu 2 trong khi QC Mỹ rút lên Lầu 3 cố thủ. Lầu 2 Đại Sứ quán Mỹ là Tổng Hành Dinh Tình Báo Chiến Lược của Hoa kỳ ở Đông Nam Á. Toàn bộ tài liệu mật mã “Tuyệt Mật” của CS Bắc Việt mà Mỹ thủ đắc được từ 1961, gồm hồ sơ chính sách, cương lĩnh, nghị quyết tấn công quân sự miền Nam, cùng các tài liệu khác liên quan đến cuộc chiến, đều được lưu trữ trong các tủ và két sắt Diebolt nặng trên 1 tấn (4). Bốn tên đặc công CS cố thủ Lầu 2 ra sức cậy phá, tháo gỡ 6 ổ khóa của 12 két sắt nhưng vô hiệu.

Mười hai giờ khuya (12 giờ trưa Washington, D.C.), tại trụ sở CIA, Giám Đốc Richard Helms đang khoản đãi ông William Colby, tân Giám đốc CORDS (5) Việt Nam. Giữa tiệc, một thiếu tá tùy viên hối hả xin gặp để trình một công điện Hỏa Tốc từ MACV: “Trụ sở CIA và Sứ quán Hoa kỳ Saigon đã lọt vào tay đặc công MTGPMN từ 1 giờ sáng 31 tháng 1, 1968”. Cùng lúc, Tòa Bạch Ốc cũng nhận được công điện hỏa tốc: “Saigon đang bị 5 tiểu đoàn địa phương MTGPMN tấn công ồ ạt. Tòa ĐS ở trung tâm thủ đô thất thủ. Bộ Tư Lệnh MACV và Bộ TTM/QLVNCH tràn ngập khói súng, chống trả yếu ớt vì bị bất ngờ”.

Giám đốc CIA Richard Helms đọc công điện 3 lần vẫn cả quyết với quan khách: “Đây là những ‘điều giả tưởng’ không thể nào có thể xẩy ra được với Hoa kỳ”.

Sáu giờ sáng, một đại đội xung kích thuộc Sư đoàn Không kỵ 101 được trực thăng vận đổ xuống từ nóc Tòa ĐS, đột nhập Lầu 3 rồi Lầu 2, cận chiến với 12 đặc công CS, tiêu diệt toàn bọn và giải tỏa Tòa ĐS — biểu tượng của sức mạnh Hoa kỳ tại Đông Nam Á.
 

Lãnh đạo VNCH, đệ I và II Cộng Hòa, biết gì?

Đầu tháng 2, 1975, tôi đến Washington D.C. nhận nhiệm vụ Tùy Viên Lục Quân tại Tòa Đại sứ VNCH, ưu tiên tìm hiểu và báo cáo về quân viện Mỹ cho VNCH lúc đó đang lửng lơ. Một chị bạn nhà tôi, tên Dung, Đệ Nhị Tham Vụ, mời tôi đi ăn lunch. Tò mò, tôi hỏi chị: “Tòa Đại Sứ mình vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ra sao?” Chị đáp: “Tôi vẫn bỏ tiền túi mời mấy ông dân biểu đi ăn lunch”. Vậy thôi?

Tôi nghĩ, từ Ngô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu, các nhà lãnh đạo VNCH có thể ví như những người đi buôn không vốn, không hiểu rành rọt về tổ chức và vận hành của chính quyền Hoa Kỳ, cho nên không biết đến hiệu quả của “lobby” và không giám hay không biết “chi” cho nỗ lực này vì không vốn (?). Khoảng cuối thập niên 70 bỗng sì căng đan “Koreagate”, bùng nổ. Điệp viên KCIA (Tình Báo Trung Ương Đại Hàn) Tongsun Park đã tung hàng trăm ngàn đô mua chuộc ảnh hưởng của một số nhà lập pháp Hoa kỳ để chống lại nguy cơ Nixon đòi rút quân khỏi Nam Hàn như đã làm ở Nam Việt Nam khiến VNCH rơi vào tay CSBV. Ở đời ai dại, ai khôn? Thành thử, chúng ta luôn luôn cầm dao đằng lưỡi để cho đối phương tuốt dao máu chẩy thành vòi! Lý do: không nắm được những nguyên lý căn bản về Tình Báo Chiến Lược để sử dụng nó hữu hiệu trong chiến tranh.

Có ai ý thức được rằng Hoa kỳ ào ạt đổ quân vào Việt Nam, thật ra, không phải là để bảo vệ nền độc lập và chủ quyền của VNCH?

Có ai ý thức được rằng, với Hoa kỳ, không có quốc gia nào là bạn lâu dài và cũng chẳng có nước nào là kẻ thù vĩnh viễn, mà chỉ có quyền lợi của Hoa kỳ là vĩnh cửu?

Có ai biết rằng: Trong thời gian CSVN làm xiếc đi giây giữa Liên Xô và Trung Cộng, Trung Cộng coi VNCH là bạn và là đối trọng răn đe CS Bắc Việt? Với Trung Cộng, Liên Xô và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) là hai kẻ thù không đội trời chung? Mặc dầu Mao vẫn chi viện cho Hồ để đoạt hai chiến thắng vang dội: Chiến dịch Biên giới 1950 và Điện Biên Phủ, 1954. Nhưng cũng vì vậy mà Trung Cộng phải dè chừng. Cuộc chiến biên giới 1979 đã chứng minh cho điều này khi Đặng Tiểu Bình muốn “dậy” cho Việt Nam một bài học.
 

CIA ra lệnh thủ tiêu Nguyễn Ngọc Loan

Tháng 4 , 1968, Cố vấn trưởng Cảnh sát Quốc gia VNCH, J. Accompura (nguyên đại tá Lục quân Hoa kỳ) được mời đến gặp vị tân Trưởng Trạm CIA (Station Chief) tại VNCH, ông George Weisz đến thay thế ông Jorgensen. Không úp mở, ông Weisz cho Accompura hay: “Chính phủ Hoa kỳ quyết định thủ tiêu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát QGVN, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan”.

Mặc dầu làm cố vấn cho tướng Loan chưa được 2 năm, Accompura lại rất thân tình và cảm mến ông. Accompura dấu kín chuyện CIA sẽ thủ tiêu ông, nhưng yêu cầu tướng Loan không được rời khỏi Dinh Độc Lập và không được tham gia bất cứ trận đánh nào có mục đích tiễu trừ các lực lượng MTGPMN tại trung tâm và ven đô Sài Gòn. Tướng Loan hứa xuông với Accompura cho qua chuyện, nhưng ông không ngồi yên.

Ở đâu có tiếng súng AK-47 là ông nhào tới. Chỉ cần một tấm áo giáp, một khẩu M-16, với 12 băng đạn 5.56 ly vòng quanh bụng, đầu không nón sắt, chân dép cao su, không lon không lá, tướng Sáu Lèo lâm trận… không coi mũi tên hòn đạn của kẻ thù có kí lô nào. Một Don Quixote hay Triệu Tử Long? Có lẽ cả hai gom một. Nhiều người coi ông như “người hùng đơn độc”, một phán xét có phần cảm tính. Tôi quan niệm đơn giản: Ông là người chỉ huy biết lãnh đạo. Lãnh đạo bằng cách làm gương, nghĩa là sát cánh cùng quân sĩ, đồng lao cộng khổ, ngay nơi trận tiền. A true leader. Phải nói như thế. Như người Mỹ thường nói.

Đầu tháng 5, 1968, hay tin VC tràn về khu Tân Cảng, tướng Loan điều động 2 đại đội CS Dã Chiến truy kích Tiểu đoàn Thủ-Biên (6) MTGPMN đang đốt nhà dân để “chém vè” vì bị trực thăng võ trang UH-1B của Sư đoàn 25 BB Mỹ tấn kích từ phía bắc cầu Sài Gòn. Hay tin tướng Loan dẫn CSDC ra Tân Cảng, Accompura vội nhẩy xe Jeep Cảnh sát chặn đoàn xe của ông Sáu Lèo ở ngã tư Dakao – Phan Thanh Giản và yêu cầu ông cùng về Tổng Nha tham dự buổi họp Chương Trình Phượng Hoàng do W. Colby chủ tọa. Tướng Sáu Lèo từ chối.
 

Ai bắn nát chân tướng Loan?

Tướng Nguyễn Ngọc Loan sau khi bị bắn

Tin tức loan tải: 11 giờ 45 ngày 7 tháng 5, 1968, một tên VC núp dưới chân cầu Sài Gòn bắn sẻ viên đạn “dum dum” (7) phá vỡ nát bắp chân trái tướng Nguyễn Ngọc Loan.

Các bác sĩ giải phẫu tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, sau khi khám vết thương, nêu thắc mắc và khẳng định:

– Đầu đạn phá nát bắp chân trái tướng Loan không phải là “dum dum”. Nếu phải thì nó phải để lại những mảnh li ti và dấu vết thuốc nổ khi đầu đạn nổ lần thứ 2.

– Súng xung kích AK-47 của CS Bắc Việt sử dụng ở miển Nam không trang bị loại đạn “dum dum”.
– Súng bắn sẻ CKC của Tiệp Khắc cũng không trang bị đầu đạn “dum dum”.
– Đầu đạn AK-47 và CKC không phải là đạn xuyên phá. Loại đạn này chỉ tạo 1 lỗ nhỏ đường kính không quá 1 cm ở mặt trước vết thương, và mặt sau ít khi có lỗ rộng quá 5 cm.
 
Có lẽ chỉ có cố vấn Accompura biết rõ viên đạn làm tan nát cuộc đời binh nghiệp của tướng Loan là loại đạn gì. Và sát thủ là ai?

2005: Sau rốt, màn bí mật cũng được vén lên, bởi không ai khác là chính Accompura.

Sát thủ thi hành bản án tử hình tướng Loan là một hạ sĩ quan TQLC Hoa kỳ có vợ Việt Nam, làm việc cho CIA Sài Gòn. Khẩu súng bắn lén tướng Loan là M-16 gắn viễn vọng kính. Viên đạn M-16 cỡ 5.56 mm thuộc loại Flechette (8). Chi tiết được biết thêm:

Sát thủ đứng trên sàn trực thăng võ trang UH-1B, qua viễn vọng kính đã lẩy cò khi chiếu môn thập tự [+] nhắm trúng đầu tướng Loan. May thay,“Thiên bất dung gian”, người không thể giết người, chỉ có Trời mới giết được người. Lúc sát thủ lẩy cò cũng vừa là lúc trực thăng gặp “air turbulence” hụt hẫng đưa viên đạn trúng bắp chân trái Sáu Lèo đang gác trên thành cầu thay vì trúng đầu ông. Viên đạn Flechette 5.56mm đã phá nát bấy toàn thể bắp chân trái tướng Loan, cắt đứt gân lòng thòng và động mạch tiếp tế máu cho bàn chân.

Bác sĩ Trưởng Khoa Giải Phẫu Tổng Y Viện Cộng Hòa đề nghị cắt bàn chân bởi vì động mạch đã bị phá nát, nếu không, một thời gian ngắn bàn chân sẽ bị hư thối.

Tướng Loan yêu cầu, bằng mọi cách, giữ lại bàn chân trái cho ông.
 
Ảnh hưởng tiêu cực của tấm hình hay do lệnh CIA?

Bác sĩ cố vấn trưởng Tổng Y Viện đề nghị đưa tướng Loan đến điều trị tại Bệnh viện Quân Y Mỹ tại Long Bình. Giám đốc Bệnh viện từ chối vì không có khả năng nối động mạch vi ti ở bắp chân.

Tướng Kỳ yêu cầu MACV can thiệp với Hạm Đội 7 có tầu bệnh viện đón nhận tướng Loan để chữa trị. Tầu Bệnh Viện Đệ Thất Hạm Đội từ chối.

Chính phủ VNCH yêu cầu Tòa Đại sứ Hoa kỳ giúp đỡ đưa tướng Loan đến Bệnh viện Jama trên đất Nhật. Tòa Đai sứ Hoa kỳ khước từ.

Không thể trông cậy vào Đồng minh Hoa Kỳ giúp đỡ, tướng Kỳ cuối cùng nhờ đến Tòa Đại sứ Úc chấp thuận cho tướng Loan được điều trị tại Canberra. Chính quyền Canberra khước từ lời yêu cầu của VNCH, viện cớ dư luận dân chúng Úc không đồng tình chứa chấp một kẻ giết tù binh chiến tranh không vũ khí trong tay (9).

Tướng Loan giải ngũ, trở lại đời sống dân sự. Tướng Kỳ mất một người vừa là bạn thân, vừa là quân sư lỗi lạc trong cuộc đời tham chính của mình.

Hoa kỳ không giết chết được Loan nhưng vẫn căm tức “Sáu Lèo” một lúc phá hỏng hai giải pháp chính trị và quân sự của Mỹ tại Việt Nam. Họ quả quyết: “Nếu Loan không rút 2 trung đội Cảnh sát Dã chiến bảo vệ Sứ quán ở đường Thống Nhất thì không tài nào tổ đặc công C-10 của MTGPMN có thể xâm nhập thành lũy tối cao và kiên cố nhất của Mỹ, làm ô danh siêu cường số 1 thế giới”.

Rất có lý, nhưng Hoa kỳ vẫn khờ khạo khi tin rằng “nắm được Nguyễn Thị Bình, Trần Bạch Đằng và Trần Văn Trà là chế ngự được thế thượng phong quân sự của đối phương”. Sự thực phũ phàng là [như ngày nay ai cũng biết] Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Nổi Dậy Tết Mậu Thân 1968 của CSVN là thuộc quyền quyết định và được điều khiển bởi Lê Đức Thọ, Bí Thư Trung Ương Cục miền Nam và Võ Văn Kiệt, Bí thư Đặc ủy Khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn.

Lý do tướng Loan rút 2 trung đội CSDC bảo vệ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ trên đường Thống Nhất rất đơn giản và ngay thẳng. Đã là nơi sẽ diễn ra thương thảo giữa MTGPMN và Hoa Kỳ, thì VNCH cần gì phải canh gác? Đó là trách nhiệm của Mỹ.
 
 
Dự tính bắt cóc 6,000 người Mỹ làm con tin
 
Trong cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, TS Nguyễn Tiến Hưng có đề cập đến một tình huống mà ông gọi là “cực kỳ ê chề” (10) khi Tòa Đại sứ Mỹ phải đối diện, nếu và khi QLVNCH hay Cảnh sát “nổi khùng” mà cưỡng chế cuộc di tản 6 ngàn người Mỹ và một số người Việt thân quen hay làm việc cho Mỹ khi thấy những người này cứ kìn kìn ra đi, bỏ mặc họ cho số phận. Nên nhớ là khi ấy, trong nội vi Sài Gòn, lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến hầu như nguyên vẹn cũng như một số đơn vị Nhẩy Dù và TQLC. Nếu có ai xúi dục và thuyết phục được họ đó là biện pháp duy nhất có thể làm để Mỹ phải đem quân tham chiến trở lại thì họ có khả năng quay súng bắn lại người Mỹ. Do đó, Hoa kỳ cũng có kế hoạch phòng hờ (11) đối phó với tình huống này, và Đại sứ Graham Martin cứ phải hành xử “bình chân như vại” cho tới phút chót mới chịu ra đi sáng ngày 30 tháng 4.

Điều này lý giải tại sao Mỹ phải cho ưu tiên di tản những phi công khu trục sang Utapao, Thái Lan, bởi vì QLVNCH chỉ cần vài chiếc F-5 là có thể bắn hạ những trực thăng di tản rơi rụng như sung. Trong tình huống này, TS Hưng lập luận, VNCH sẽ tức khắc trở thành thù địch, và sẽ không thể có Eden Center, Little Saigon hay Cabramatta vì không có người Việt nào được di tản thì làm gì có cộng đồng Người Việt Hải Ngoại như ngày nay?

Ý tưởng “bắt con tin” này có thể đã nhen nhúm trong đầu óc tướng Loan và có thể ông đã bàn bạc với bạn bè hay người thân. Từ ý tưởng sang ý định và đem ra thực hiện thì một người có uy tín và thành tích như ông có thể dễ dàng thuyết phục bạn bè tướng lãnh và thuộc cấp trong Không Quân và Cảnh Sát Quốc Gia. Nhưng ông đã không làm mặc dù Mỹ đã thù hận ông vì làm như thế sẽ có hại cho cả hai bên Việt, Mỹ và CSVN sẽ là kẻ thủ lợi. Ý tưởng này đã được một chuẩn úy KQVN kể lại cho Tòa Đại sứ Mỹ.

Từ cuối 1972, tướng Loan đã được một người bạn chính trị gia làm việc ở Tòa Bạch Ốc gửi thư riêng thông báo đầy đủ về kế hoạch rút quân của Hoa kỳ theo đúng những điều khoản của Hiệp Định Paris ký kết giữa Lê Đức Thọ và H. Kissinger ngày 27 tháng 1, 1973. Cuối thư, người bạn khuyên ông liên lạc với TVQL Anh tại Sài Gòn để thu xếp việc di tản cho chính bản thân ông và gia đình một khi Sài Gòn lọt vào tay các toán tiền tiêu của 6 sư đoàn CSBV. Ông biết là Hoa Kỳ sẽ chẳng bao giờ đem quân trở lại tham chiến tại miền Nam. Trừ phi…

Rốt cuộc, trưa ngày 29 tháng 4, 75, tướng Loan và gia đình đã phải chật vật lắm mới leo lên được một vận tải cơ C-130 và tới Utapao lúc 16:00 giờ chiều.
 
 
Trời kia đã bắt làm người có thân – Nguyễn Du

Để kết thúc câu chuyện, tôi xin nhường lời cho Eddie Adams:
“Ông Loan chạy thoát Việt Nam trong thời gian Sài Gòn xụp đổ và đến Mỹ. Sau cùng ông định cư ở vùng Burke, tiểu bang Virginia. Ông gắng mở một tiệm ăn ở miền Bắc Virginia nhưng khi có người biết ông là chủ thì tiệm ăn đóng cửa. Có những người phản đối đi vòng quanh khu đó hò hét để xả hơi nỗi bất bình của họ một cách thời thượng, an toàn.

“Ông ta rất đau yếu vì bị ung thư một thời gian. Và tôi nói chuyện với ông trên điện thoại tôi muốn làm một cái gì đó. Tôi giải thích mọi điều và kể lại chuyện tấm hình đã hủy hoại đời ông như thế nào thì ông ta chỉ muốn quên chuyện đó. Ông nói thôi bỏ đi. Còn tôi thì không muốn ông bỏ đi như vậy.”

“Thiếu tướng Loan từ gĩa cõi đời cách đây một năm và một tháng (12). Ông để lại vợ và năm đứa con. Phần lớn những bản tóm lược tiểu sử người quá cố cũng giống như tấm ảnh đã hủy hoại đời ông, chỉ có một chiều và cố chấp”.
 
Adams gửi hoa phúng điếu với một tấm thiệp trên viết dòng chữ, “Cho tôi xin lỗi. Lệ đang ứa trong mắt tôi.”
 

Chu Việt
Tháng 5, 2012

Nguồn: http://hon-viet.co.uk/ChuViet_AiDaBanNatChanTuongNguyenNgocLoan.htm

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Những Hiệp Định Quốc Tế Của VNCH Là Căn Bản Pháp Lý Để Kiện Trung Quốc


GS Nguyễn Ngọc Bích - Những Hiệp Định Quốc Tế Của VNCH Là Căn Bản Pháp Lý Để Kiện Trung Quốc



Fountain Valley (VanHoaNBLV) - Sự kiện Trung Cộng trắng trợn xâm lấn qua vụ dàn khoan HD-981 là hành động được xem là khiêu khích và không giúp ích vào việc duy trì hòa bình và ổn định cho khu vực .

Chủ quyền của VN trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thể nào có thể bảo vệ được bẳng công hàm bán nước của ông Phạm Văn Đồng vào năm 1958. Chính vì thế nên ngay từ tháng 11 năm 2011 ông Nguyễn Tấn Dũng đã phải ra ngay trước Quốc Hội của Cộng Sản VN ở Ba Đình và nói rất rõ ràng 3 lần là chủ quyền của hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về chính quyền Saigon tức là VNCH.

Những Hiệp Định Quốc Tế của VNCH là những căn bản pháp lý vững chắc nhất về chủ quyền biển đảo và sự toàn vẹn lãnh thổ của VN để đem kiện Trung Quốc ra trước Tòa Án Quốc Tế về những hành động xâm lăng này.

Trên đây là đề tài mà Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Chủ Tịch Nghị Hội Người Việt Toàn Quốc Tại Hoa Kỳ đã trình bầy và thảo luận với Chương Trình VanHoaNBLV vào chiều ngày 27 tháng 5 năm 2014 tại thành phố Fountain Valley, Miền Nam California, Hoa Kỳ.

Nguồn:  https://www.youtube.com/watch?v=0IUuGCtNqko&feature=youtu.be

Tin quan trọng gửi đến các anh em Thương Phế Binh ở Việt Nam – Văn Quang


Tin quan trọng gửi đến các anh em Thương Phế Binh ở Việt Nam – Văn Quang
Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự
Văn Quang – Viết Từ Sài Gòn
Trong tuần này tôi nhận được lá thư của một anh bạn ở Mỹ thông báo một tin quan trọng về chuyện anh em Thương Phế Binh VNCH đang bị bọn vô lương tâm lừa gạt vì một tin đồn không hề có thật. Đó là cái tin vịt anh em Thương Phế Binh VNCH sẽ được định cư tại Mỹ như kiểu các sĩ quan được đi theo diện H.O. Bọn lừa gạt đã lợi dụng tin này đã và đang lừa anh em để kiếm tiền.
1. Lá thư từ San Jose, Hoa Kỳ
Tôi xin tóm tắt nội dung lá thư đó:
Thưa anh Văn Quang,
“Tôi là cư dân hiện ở San Jose, California, cũng là một thân hữu của cựu Trung Tá Nguyễn Mộng Hùng. Nay xin gửi anh những thông tin về dự luật Thương Phế Binh VNCH do bà nghị sĩ tiểu bang California đệ nạp.
“Dự luật này mới chỉ được quốc hội tiểu bang chấp thuận, còn phải được Quốc Hội Liên Bang cứu xét. Vụ này còn phải chờ rất lâu, rất khó khăn mới được đem ra bàn cãi, thảo luận ở Quốc Hội Liên Bang.
“Nhưng vì, hiện nay ở Việt Nam đã có một số người xấu lợi dụng tin này và làm tiền các thương phế binh khiến cho các anh em Thương Phế Binh ở bên nhà bị lợi dụng và lường gạt.
“Vì vậy , sau khi hội ý với cựu Trung Tá Nguyễn Mộng Hùng, tôi xin gửi đến anh những tin tức rất chính xác ở bên này để anh nếu được xin viết một bài lên tiếng nói rõ sự việc để các Thương Phế Binh biết rõ sự thật.”
Chính vì lá thư này tôi thấy có bổn phận phải có thông báo này đến anh em Thương Phế Binh tại Việt Nam.
Trước hết, xin đọc ý kiến của nhà báo Lê Bình là chủ Tịch Câu Lạc Bộ Báo Chí San Jose và nghe buổi phỏng vấn của nhạc sĩ Nam Lộc để biết rõ sự thật.
2. Thư của nhà báo Lê Bình, chủ Tịch Câu Lạc Bộ Báo Chí San Jose
Gửi bà Janet
“Khi bà Janet đem chuyện này ra công cộng thì hút gió, gõ cây các gia đình Thương Phế Binh bị ngay một quả lừa… mừng hụt, hy vọng ảo… kẻ gian thì cùng trời cuối đất chỗ nào cũng có, chúng ra tay liền. Tội nghiệp cho anh em đã nghèo mà còn gặp cái eo”.
“Tôi không lên án hành động của bà Janet, nhưng tôi trách bà quá nhanh nhẩu đoảng, bà chưa chắc làm được, thế sao chuyện còn trong vòng vận động đã phổ biến ra ngoài. Bà có biết như vậy là quá ác không? Ở Việt Nam không phải ai cũng có Internet, ai cũng nghe được “la-dô” cho nên tin đồn Thương Phế Binh sẽ được Mỹ đưa qua Mỹ… dịch vụ bán đơn, điền đơn, nộp đơn đã có liền phục vụ đồng hương”.
“Mong rằng bà làm cho tới nơi tới chốn. Hoặc nếu bà thấy lỡ lời nói ẩu đề kiếm phiếu thì xin bà nói cho một lời rằng bà sẽ cố gắng và chuyện nầy chưa thành luật để kẻ gian đừng lường gạt”.
“Kẻ nào đeo chuông, kẻ ấy phải gỡ chuông”.
“Cảm ơn
“Lê Bình”
3. Nhạc sĩ Nam Lộc trả lời nhà báo Nguyễn Xuân Nam
Trong một cuộc phỏng vấn, nhà báo Nguyễn Xuân Nam đã hỏi ông Nam Lộc, nguyên văn như sau:
Hỏi:
“Gần đây chúng tôi được biết là có một nghị quyết của Bà Janet Nguyễn, nghị sĩ tiểu bang đề ra tại Thượng Viện về việc Thương Phế Binh VNCH. Nghị quyết này có những điều rất tốt, rất là quý, vì bà Nghị Sĩ Janet Nguyễn đã đứng ra bênh vực Thương Phế Binh VNCH được đi qua Mỹ”.
“Nhưng có những người cho rằng nghị quyết này đang bị lợi dụng ở Việt Nam, để làm khổ các Thương Phế Binh VNCH. Có người còn cho rằng nghị quyết này là hoang tưởng bởi vì không có cơ sở thực tế, về tính cách luật pháp, lập pháp và tài chánh của Hoa Kỳ”.
“Anh có theo dõi cái này không?”
Với kinh nghiệm 40 năm trong ngành di trú và vận động các cơ quan lập pháp, hành pháp Hoa Kỳ, nhạc sĩ Nam Lộc đã đưa tất cả những vấn đề phức tạp, khó khăn trong việc vận động dự thảo luận định cư Thương Phế Binh VNCH này.
Ông Nam Lộc nói nguyên văn như sau:
“Hay nhất là chúng ta, giới truyền thông, các hội đoàn nên tự động thông báo với thân nhân ở bên nhà rõ ràng rằng: Hiện nay chưa có bất cứ một dự luật nào ở Quốc Hội Liên Bang, chưa có một đề nghị nào. Cho nên tất cả những chương trình, những lá đơn hay những tổ chức nào kêu gọi quý vị đóng tiền đều là vấn đề lợi dụng, không đứng đắn hoặc hoàn toàn không có thật. Hiện giờ phút này là không có gì hết, tất cả những gì đưa ra (tức là ở Việt Nam) đều là giả dối hết, đều là lợi dụng”.
“Khi nào ở bên này có tin tức gì, chúng tôi sẽ loan báo về Việt Nam.”


4. Tình hình ở Việt Nam hiện nay
Theo nguồn tin trên là đã quá rõ ràng, cho đến nay đó chỉ là một nguồi tin vô căn cứ, coi như chưa thể thực hiện được. Để tin này nhanh chóng có hiệu quả, tôi gặp mặt một số anh em TPB hoặc gọi điện thoại cho anh em mà tôi quen biết. Trong đó có anh Trần Văn Giáo, thường gọi là trưởng làng Thương Phế Binh Thủ Đức. Bởi trước đây anh đã từng là sĩ quan Quân Đội Viẹt Nam Cộng Hòa tại Sư Đoàn 9 và cũng là thương binh được giải ngũ sớm. Hiện anh đang ở trong làng Thương Phế Binh Thủ Đức. Anh em Thương Phế Binh hay lui tới trò chuyện cùng anh, kể cả những anh em ở các tỉnh thành xa xôi cũng hay gặp anh.
Hiện nay ở VN có khoảng 12,000 Thương Phế Binh VNCH, nếu tính cả gia đình của họ, có thể lên đến gần 40,000 người nếu cho đi định cư. Con số không hề nhỏ.
Tôi đã hỏi anh về những tin tức này. Thật đau lòng khi anh cho biết tin đồn kia là có thật và khiến nhiều anh em hoang mang. Có anh đã bán nhà đi thuê phòng trọ sống để chờ ngày ra đi định cư.
Tôi đã giải thích rõ để anh có thể thông báo ngay đến các anh em khác, đồng thời tôi cũng hỏi anh em mình có nhiều người biết vào internet không. Anh cho biết lúc này đã có một số anh em hoặc con cái có khả năng vào internet, nhưng cũng không biết tin bị lừa. Tôi hứa cuối tuần này vào khoảng ngày Chủ Nhật 13 tháng 9, 2015, tôi sẽ có bài viết về vấn đế này trên các báo hàng ngày tôi thường cộng tác ở Mỹ và báo hàng tuần ở Úc và Gia Nã Đại. Bất cứ khi nào có tin tức chính xác về vấn đề này tôi cũng sẽ thông báo đến các anh em nhanh nhất cùng những gì cần phải làm mà không mất tiền giao dịch cho bất cứ ai.
Tôi cũng mong rằng những bạn ở nước ngoài có bà con thân nhân là Thương Phế Binh VNCH sẽ tiếp tay gửi bài này đến các anh em đó.
5. Tố cáo kẻ lường gạt
Vậy anh em Thương Phế Binh VNCH hãy bình tĩnh, không giao dịch với bất cứ kẻ nào có mưu toan lừa gạt anh em, tất cả những giấy tờ hoặc thông báo của chúng đều là giả mạo. Các anh em đã từng bị lừa đến nỗi phải bán nhà hoặc vay công mượn nợ có thể tố cáo chúng với các nhà chức trách địa phương để tóm cổ những tên vô lương tâm này ra ánh sáng.
Tôi tin rằng nhà chức trách VN sẽ can thiệp, ngăn chặn và trừng trị những tên vô lại lường gạt để bảo vệ cuộc sống của người dân lương thiện.
Văn Quang

  Nguồn: http://www.tvvn.org/tin-quan-trong-gui-den-cac-anh-em-thuong-phe-binh-o-viet-nam-van-quang/

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

VNCH trở lại gây sốc lớn trên mạng Internet


VNCH trở lại gây sốc lớn trên mạng Internet



VNCH trở lại gây sốc lớn trên mạng Internet
Cuộc phỏng vấn với ông Hồ Văn Sinh chủ tịch hội Việt Nam Cộng Hòa trở lại đã bất ngờ gây sốc lớn trên mạng. Trong video ông chủ tịch cho biết nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước ủng hộ làn sóng trở lại VNCH càng ngày càng cao.
Cuộc phỏng vấn đã thu hút hàng trăm ngàn lượt xem cùng với hàng trăm bình luận. Nhiều người đã phấn kích như anh Quang:
Việt Nam Cộng Hòa Trở Lại
   
             
 

“Hoan hô , Việt nam cộng hoà muôn năm !! Việt nam cộng hoà thời đó đứng thứ 2 châu á về kinh tế , có thể nói như vậy ( chỉ sau Nhật , không tính Liên xô) vậy mà sau 40 năm cộng sản nắm quyền , chúng nó đưa đất nước Việt nam tụt dốc kiệt quệ , đứng bét đông nam á.”
Chúng ta phải tự hào về thế hệ Cha Ông ta đã chọn con đường tràn đầy Chính Nghĩa
Chính thể, hay thể chế của VNCH theo là tự do dân chủ, kinh tế thị trường mở rộng.
Nói VNCH thất bại là không đúng. Mà phải nói là VNCH thất trận. Họ thất trận, chứ không thất bại . Vì . Đường lối chủ trương của VNCH là Tự Do Dân Chủ/ kinh tế thị trường.
Còn đường lối chủ trương CS là độc tài đảng trị, vô sản chuyên chính / kinh tế bao cấp

Nếu xét về chủ trương kinh tế thì VNCH đã thắng CS trên mọi lý lẽ, và Cs đã hoàn toàn thảm bại về chủ trương kinh tế bao cấp. Sau hơn 40 năm đảng ta quả quyết chỉ có con đường bao cấp mới có thể đưa ta đến dân giầu nước mạnh, và đảng đã ráo riết áp đặt nền kinh tế bao cấp, nhưng kết quả chỉ đưa đến đói nghèo, lạc hậu, bệnh tật và chết chóc.. cuối cùng CS đã phải tự nguyện xóa bỏ bao cấp vào đầu thập niên 90′, để theo đường lối kinh tế thị trường của VNCH đã đi theo từ những thập niên 40′.
Và con đường Tự Do Dân Chủ mà VNCH đã đi, cũng là con đường mà đại đa phần nhân loại đang theo và đấu tranh để tiến đế Tự do Dân Chủ toàn cầu . Cụ thể là CS đông Âu và Nga đã phải xóa bỏ chủ nghĩa CS để theo Tự Do Dân Chủ. và mới nhất là những quốc gia Trung Đông, bắc Phi cũng như Myanmar/Burma ở Á Châu đã phải xóa bỏ chính phủ độc tài để chuyển theo Tự Do Dân Chủ . Ngay cả trong lòng những quốc gia còn CS như TQ, VN, Cu Ba v. v. Những phong trào đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ ở những nước này cũng đang nở rộ.
Như thế đã minh chứng cho ta thấy là: Chủ trương đường lối của VNCH chưa bao giờ bị thất bại, mà ngược lại. Đường lối của VNCH đã đi, là con đường chính nghĩa, là văn minh tiến bộ. Vì đó chính là con đường mà nhân loại ngày nay đang hướng tới, đang đấu tranh xóa bỏ độc tài đảng trị để tiến đến nền Tự Do Dân Chủ toàn cầu.
Những cụ thể thật tỏ tường đó đã chỉ cho ta thấy con đường mà Cha Ông ta (VNCH) ngày xưa ỡ miền Nam Việt Nam đã chọn, là con đường đầy Chính Nghĩa, là con đường tương lai của toàn thể nhân loại, là đại lộ chính yếu dẫn đưa đất nước dân tộc hiên ngang đồng hành với thế giới văn minh tiến bộ.



CÓ KẺ NÓI LÀ “Đâu có thấy người Việt được chọn cái gì đâu, mà tự hào với lựa chọn”
Thật ra chỉ có CS và những kẻ giả mù với Lịch Sử , hoặc mang mặc cảm tội lỗi với lịch sử, chối bỏ sự thật của lịch sử mới nói “Đâu có thấy người Việt được chọn cái gì đâu” . Vì chính những người CS đã xóa bỏ, ngăn cấm và triệt tiêu quyền TỰ DO LỰA CHỌN của dân tộc.
Từ năm 1945-46 là những năm đầu của thời kì đất nước bị chia đôi, thì Ông Bà ta cũng đã được quyền TỰ DO LỰA CHỌN 1 trong 2 . Độc Tài Cộng Sản ở miền Bắc hay Tự do Dân Chủ ở miền Nam . Sự TỰ DO LỰA CHỌN này được ghi rõ trong hiệp định Geneve 1945. Nhưng những người CS ở miền Bắc đã dùng đủ mọi chiêu bài từ bắn giết, đe dọa đến bắt bớ, giam cầm, cấm cản không cho người dân được QUYỀN LỰA CHỌN. Chỉ riêng 2 thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng là tương đối được tự do vì có sự chứng giám của nước ngoài, ngoài ra những nơi khác người dân đều phải trốn tránh đi trong đêm tối . Thế nhưng CS vẫn không ngăn nổi làn sóng ra đi cũa những người không LỰA CHỌN Cộng Sản. kết quả cũng đã có đến trên 1 triệu người đã may mắn đạt được sự LỰA CHỌN cho mình là thoát khỏi thiên đàng XHCN ở miền Bắc.
Rồi sau tháng 4 năm 1975, thế hệ Cha Anh ta lại một lần nữa phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn, bè bạn, thậm chí có người phải lìa bỏ cả gia đình mà ra đi để khẳng định sự LỰA CHỌN của mình. Nhưng CS cũng vẫn không cho người dân được quyền lựa chọn.. họ bắn giết, bắt bớ bỏ tù, họ chửi rủa, lên án những ai dám lựa chọn. Thế nhưng CS cũng lại chẳng ngăn cản được sự lựa chọn của người dân. Hơn 2 triệu người đã may mắn đến được những bến bờ Tự Do, trong số hằng chục chục triệu người LỰA CHỌN con đường ra đi. Người người tìm đường ra đi, nhà nhà tìm đường ra đi để trốn bỏ ‘ thiên đường XHCN tự do, văn minh tiến bộ gấp vạn lần tư bản’, trốn chạy những vị ‘đỉnh cao trí tuệ đầy lòng khoan hồng’ đến kinh hoàng khiến họ phải trốn chạy ……. Họ đã kinh tởm CS đến phải lựa chọn giữa cái sống và chết để thoát khỏi nanh vuốt của cái chế độ CS.
Nhìn lại Lịch Sử Việt Nam, chưa từng bao giờ người dân phải trốn chạy một chính quyền hay một triều đại nào như trốn chạy cái chủ nghĩa CS cả.
Vài điều cụ thể trên đã nói lên sự lựa chọn của dân tộc, đã vẽ ra cái bộ mặt kinh tởm của CS mà người dân trong bao thế hệ nay vẫn luôn luôn tìm đường xa lánh chúng.
Như thế chẳng có lý do gì để ta không TỰ HÀO về CHÍNH NGHĨA mà Cha Ông chúng ta (VNCH) đã LỰA CHỌN .
Một điều nữa là: Tin chắc rằng, trong ngôn ngữ nhân loại không một ngôn ngữ nào mà không có từ TỊ NẠN CỘNG SẢN và NẠN NHÂN CỘNG SẢN. Nhưng đố ai tìm trong ngôn ngữ dân tộc nào có từ TỊ NẠN TỰ DO DÂN CHỦ hay NẠN NHÂN TỰ DO DÂN CHỦ đấy. Một điều nhỏ tí ti ti này cũng đã đủ cho ta TỰ HÀO VỀ CHA ÔNG TA, TỰ HÀO VỚI CHÍNH BẢN THÂN MÌNH …. TỰ HÀO là mình không phải là Cộng Sản.

Nguồn:  http://vuottuonglua.org/2015/06/vnch-tro-lai-gay-soc-lon-tren-mang-internet/

Người Mỹ gốc Việt có thể làm gì để góp phần dân-chủ-hóa cho VN


NGƯỜI MỸ-GỐC-VIỆT CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC NHỮNG GÌ ĐỂ GÓP PHẦN DÂN-CHỦ-HÓA CHO VIỆTNAM ?
 


GNsP(23.07.2015) – California, USA – Môi trường sinh hoạt dân chủ của người Việt hiện đang định cư và sinh sống trên các vùng đất mới tại nước ngoài đã làm thay đổi tâm sinh lý của hầu hết những con người này. Ảnh hưởng của trên dưới bốn triệu người Việt ở ngoài đất nước ViệtNam, do sự thay đổi tâm thân, là cơ hội lớn và cũng là thách thức không phải nhỏ đối với mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng Việt, cộng đồng và nhà nước địa phương, và nhất là, đối với giới cầm quyền tại ViệtNam. Do đó, giới lãnh đạo Việt-cộng đã phải dùng nhiều mưu thuật qua các chiêu thức dụ-dỗ-dọa-dập dưới hình thức nghị quyết để tận dụng chất xanh (các loại tiền đôla) và chất xám (kiến thức, kỹ thuật hiện đại) của người Việt chạy lánh nạn cộng sản trước đây.

Độc tài cộng sản đang dùng thuật (xảo thuật, tà thuật, không phải là nghệ thuật đắc nhân tâm) và chưa biết xài đến lý (lý luận, lý tưởng) đối với người Việt hải ngoại, vì trong nội tại, cộng sản đã chưa tự chuyển hóa (dù cho ngoài miệng họ đã hô hào thay đổi đợt một, đợt hai). Kết quả cụ thể về sự thành tựu của các nghị quyết, qua cả chục năm thực hiện, vẫn còn hời hợt và yếu kém lắm! Tuy nhiên, đối với nhân dân ViệtNam, trong và ngoài nước, tiến trình dân chủ hóa vẫn còn chậm chạp. Thật sự, độc tài cộng sản không mạnh, chỉ vì chúng ta còn yếu. Vậy, ta yếu chỗ nào?

Bài luận này sẽ phân tích về các sự thay đổi sinh hoạt còn khiếm khuyết của người Việt hải ngoại, một cách nội tại. Hãy thử tìm xem những điểm yếu của chúng ta, để chuyển biến thành mạnh và tốt hơn. Và cố gắng bồi bổ qua hai phạm trù: thứ nhất, về các sinh hoạt tình-tiền-quyền-danh của cá nhân và gia đình, nhìn dưới mặt vi-mô (micro view); và thứ nhì, về các phạm trù sinh hoạt xã hội văn-kinh-chính-giáo trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, nhìn dưới mặt vĩ-mô (macro view).

Tầm quan sát của bài này cũng được giới hạn cho người Việt tại Hoa-Kỳ, thường được gọi là ‘Việt-kiều’ một cách thiển cận, hoặc do chủ mưu của người sử dụng. Người Việt ở Mỹ chiếm gần phân nửa số lượng người Việt tại nước ngoài (1.8 triệu trên 4 triệu, khoảng 45%). Vì số lượng khá đông đảo như vậy, nên thế và lực của người Việt tại Mỹ, sau khi nhập Mỹ-tịch, trở thành khá quan trọng cho Hoa-Kỳ trên hai mặt cử tri và đóng thuế. Và quan trọng hơn nữa cho tình hình thay đổi kinh tế và chính trị ở ViệtNam qua ý thức trong vai trò yểm trợ

Hai đặc điểm của người Việt ở nước ngoài là vẫn nói tiếng Việt và tụ hội lại thành những cộng đồng thiểu số tại địa phương họ cư ngụ (Vũ Quang Việt, 1990). Trong bài này, tôi sẽ bàn về phương cách tổ chức cũng như phong thái sinh hoạt của những cộng đồng người Việt định cư tại Mỹ để có thể thấu đáo được thế lực của họ.

1. NGƯỜI MỸ-VIỆT : Suy Tư Về Mình !
Tôi dùng thuật ngữ người Mỹ-Việt, mang tính văn hóa/chính trị/xã hội, để thay cho cụm từ người Mỹ-gốc-Việt (VietAmerican hay Vietnamese-American) một cách ngắn gọn hơn. Hai tên gọi này có thể được hoán đổi cho nhau. Chữ người Mỹ-Việt được dùng cũng để thế chỗ cho danh từ Việt-kiều mà nhà nước cộng sản thường lạm dụng một cách lập-lờ-đánh-lận-con-đen, hầu bòn rút ruột tượng của người dân tỵ nạn. Đồng-tiền-liền-với-khúc-ruột và Việt-kiều là ‘khúc ruột ngàn dặm’.

Việt-kiều, nghĩa tổng quát chỉ là người sinh trưởng ở ViệtNam, đi ra sống hoặc làm việc bên ngoài đất nước, mang quốc tịch ViệtNam, và là công dân của xứ ViệtNam. Họ gồm có 3 nhóm.

Nhóm thứ nhất: một số ít là nhân viên nhà nước cộng sản đang tùng sự tại đại sứ quán, hoặc đi tu nghiệp (từ 4 năm trở xuống, có khoảng ngàn người). Nhóm thứ hai: một số nhỏ khác là dân Việt được xuất khẩu lao động, gọi là lao động khách, nhưng kỹ năng nhà nghề còn rất non tay. Nhóm thứ ba: đông hơn, là số du học sinh, khoảng trên dưới 19 ngàn người. [Xứ Mỹ cho số lượng (quota) nhập vào là 45 ngàn, nhưng vì tiêu chuẩn tài chính gắt gao, nên số sinh viên xuất ngoại chỉ hơn được 1/3].

Sau khi học ra trường, hơn phân nửa đã tìm đủ mọi cách ở lại, mong có công ăn việc làm thích hợp với học vấn của mình, rồi lập gia đinh, lấy thẻ xanh và nhập quốc tịch, ước tính đem đại gia đình đoàn tụ sang bên Mỹ.

Đây là ước mơ của du sinh vì họ không hài lòng với hiện trạng kinh tế và chính trị của lãnh đạo đương thời. Tóm lại, tư thế của 3 nhóm Việt-kiều chỉ là dân ở tạm. Chất xanh và chất xám của dân ở tạm còn bị nhiều giới hạn.

Tư thế của người Mỹ-Việt thì khác. Người Mỹ-Việt là công dân Mỹ (đóng thuế, đi bầu, ra ứng cử, làm dân biểu, nhập quân đội, … cho xứ Mỹ) nên họ có thể tự chuyển hóa sức mạnh của mình thành lực lượng yểm trợ đáng kể! Xin khẳng định: chuyện thay đổi (hay cách mạng) ViệtNam là phải do giới lãnh đạo cầm quyền, hoặc đồng bào quốc dân trong nước đứng lên làm lịch sử.

● Gọi các công dân người Mỹ-gốc-Việt là Mỹ-Việt để định hình, so sánh và phân loại, theo cách nghiên cứu của xã hội học. Thí dụ: ngay trong xứ Mỹ, Mỹ-Việt (Vietnamese-American) có nguồn gốc chủng tộc và lịch sử di dân khác với Mỹ-Hoa (người Mỹ-gốc-Trung-Hoa, Chinese-American), khác với Mỹ-Nhật (người Mỹ-gốc-Nhật, Japanese-American), khác với Mỹ-Mễ (người Mỹ-gốc-Mễ, Mexican-American), vân vân. Lịch sử Hoa-Kỳ là lịch sử của những người di dân, đến từ tứ xứ, qua những thời thế khác nhau.

Di dân đến từ năm châu bốn biển và có gốc gác khác nhau. Đầu tiên, đây là đất của Mỹ-đỏ (có giòng họ với các tộc Á-Đông, Native American). Kế đến là Mỹ-trắng (gốc tự Châu Âu, Caucasian American), Mỹ-đen (gốc tự Châu Phi, African American) và Mỹ-nâu (gốc tự Châu Mỹ La-tinh, Latin American) kéo vào. Và đến lượt Mỹ-vàng (gốc từ Châu Á, Oriental American) lan qua, tạo thành vườn hoa da màu với muôn vàn sắc thái. Trong các trường học, thầy cô giáo khuyến khích học trò hãy kỹ niệm các ngày truyền thống (Heritage Day Celebration) để nhớ tới cội nguồn của mình. Tổng thống Obama có mẹ Mỹ-trắng, cha là dân ngoại da đen, sống và lớn lên ở nhiều vùng đất khác nhau; thật tuyệt diệu! Nhiều bạn Mỹ-Việt của tôi, không thích màu da đen, lại theo phe Republican nên có ý nghĩ khác. Tôi thì không.

Cứ mỗi 10 năm, cơ quan kiểm tra dân số Census Bureau của nhà nước thường nghiên cứu và đo lường tình trạng kinh tế, giáo dục của mỗi sắc dân hầu thiết lập các chính sách trợ giúp một cách hữu hiệu. Nguồn gốc dân tộc của các sắc tộc được nhà nước Mỹ sưu tra và định giá đúng mức. Trên thực tế, vấn đề kỳ thị vẫn có và còn xảy ra dài dài trong tương lai, nhưng đã có luật lệ phân minh, nghiêm trị. Người Mỹ-Việt đã/sẽ có kinh nghiệm về sự việc này. Nhưng đây là chuyện nhỏ! Vì kỳ thị chủng tộc là phạm pháp. Phe chống Mỹ luôn tìm cách khai thác các đề tài này.

● Gọi các công dân người Mỹ-gốc-Việt tại Mỹ là Mỹ-Việt để phân biệt với người Ca-Việt (người Việt mang quốc tịch Canada), người Pháp-Việt (người Việt mang quốc tịch Pháp), Đức-Việt, Úc-Việt, Hoa-Việt, Nhật-Việt, Hàn-Việt,… Việt-Việt. Trên trái đất có trên cả trăm xứ, nên thế giới có cả trăm loại người Việt với phong thái sinh hoạt khác nhau, tạo nên môi trường sinh động địa-chính-trị (geopolitics) trong thế kỷ thứ 21. Hoàn cảnh trăm Việt trên vùng định mệnh của thời đại hiện nay đang bị Trung-cộng lăm le, nhắc nhớ tới thời kỳ Bách-Việt hiện hữu trước cả thời Châu-Tần-Hán trong lịch sử Tàu nhiều ngàn năm về trước.

2. NGƯỜI MỸ-VIỆT : Có Thể Làm Những Gì ?

Người Mỹ-Việt có thể làm gì và làm thế nào để yểm trợ, đáp ứng cho nhu cầu thời sự của đất nước ViệtNam? ViệtNam là nơi mà chính họ đã được sinh ra. Hay ViệtNam còn là quê hương thân thương của cha mẹ hoặc ông bà của họ đã lớn lên, đã ra sức hết lòng bảo vệ, nhưng vì cả hai giới lãnh đạo bắc-nam còn non tay ấn, dân tộc bị đem chia cắt đôi bờ. Một bên nhận viện trợ của thế giới cộng sản gây nồi da xáo thịt. Còn bên kia chưa chuẩn bị kịp thời, lực-bất-tòng-tâm, rồi bị đồng minh cộng hòa tháo chạy, và cuối cùng tổ tiên phải liều mình tìm đường vượt-biển-vượt- biên, mang con cháu và gia đình chạy lánh nạn cộng sản. Đất nước đã được thống nhất 40 năm qua, nhưng lòng người vẫn còn ly tán và mầm mống tao loạn trong xã hội không thuyên giảm.

Người Mỹ-Việt, vì là công dân của xứ sở Hoa-Kỳ, nên có quyền lợi, bổn phận và trách nhiệm trực tiếp đối với đất nước Hoa-Kỳ. Hai thao thức yểm trợ, mang tính định hướng, mà người Mỹ-Việt thường ưu tư về ViệtNam là: hướng về dân chủ và hướng về dân tộc. Thứ nhất, vì tình trạng phát triển xã hội và nhân quyền tại ViệtNam bị tụt hậu do cơ chế độc đảng dẫn đến sự độc tài và tham nhũng; nên cần phải có một bài giải về tiến trình chuyển hóa dân chủ. Thứ nhì, bản chất bá quyền của giới lãnh đạo Trung-cộng đã/đang đe dọa đến sự sống còn của dân tộc Việt, tạo bất ổn cho chính xã hội của dân Trung Hoa, gây xáo trộn trong vùng biển Đông-Nam-Á, và đem mầm mống thế chiến đến cho toàn cầu; nên cũng cần phải có một bài giải tương xứng theo truyền thống hòa đồng dân tộc.

Xét cho cùng, hai thao thức trên cũng chỉ qui về một mối, bởi vì nguồn gốc lịch sử phát triển của Việt-cộng là từ Nga-cộng và Trung-cộng mà ra, (nhưng Nga-cộng đã được hóa kiếp từ hồi 1899/1990 rồi). Vấn nạn của Trung-cộng hiếp đáp Việt-cộng cũng đang ảnh hưởng đến cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Tàu từ đầu thế kỷ 21 đến giờ, và ngày càng găng thêm.

Lãnh đạo Mỹ bóp trán. Lãnh đạo Tàu tự thanh toán. Lãnh đạo Việt choáng váng, phải co giò chơi đu dây. Do đó, các dây liên hệ trong chính thuật (tactics) Mỹ-Tàu-Việt cũng là mối quan tâm về sách lược (strategies) yểm trợ từ cộng đồng người Mỹ-gốc-Việt đối với ViệtNam tự bấy lâu nay.

Thế đứng pháp lý của cá nhân người Mỹ-Việt đã vững. Tiền bạc tương đối khá ổn định do tính cần kiệm, chịu khó. Muốn thành triệu phú không phải dễ, nhưng đi làm có đồng-ra-đồng-vào là chuyện không khó. Khó khăn là sự vượt thoát ra khỏi tình trạng mãn nguyện với những trình độ lợi ích cá nhân (self-interest) của riêng mình, để ý thức được trách nhiệm xã hội (social responsibility) của người công dân trong một quốc gia tiên tiến và hướng thượng. Đây mới là ý nghĩa và giá trị sống của những người không-cộng-sản bên ngoài ViệtNam.

Một điều cần khẳng định là, những người Việt tại hải ngoại chỉ giữ vai trò yểm trợ, chớ không thể nào là lực lượng để thay đổi thế cuộc cho ViệtNam (Lý Đại Nguyên, 2015). Chuyện trực tiếp thay đổi phải đến từ người dân trong xứ, đứng lên đòi/giành lại những quyền cơ bản thuộc con người (nhân quyền) như: tự do tôn giáo (văn); thực hiện tư doanh cùng thành lập nghiệp đoàn độc lập (kinh); bỏ điều 4 hiến pháp để chuyển hóa cơ chế độc tài thành đa đảng (chính); và trả lại sự tự trị cho nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng (giáo). Vai trò yểm trợ của người bên ngoài là phải tạo ra môi trường xúc tác theo hai hướng về dân chủ và dân tộc, một cách cụ thể và hữu hiệu, để giúp đỡ cho người bên trong. Chớ không thể, đứng bên ngoài vỗ ngực xưng tên, tự phong làm ‘anh hùng hào kiệt’, hầu chỉ/lãnh đạo, dạy khôn cho người bên trong làm cách mạng! Hãy tự xét lại nội lực (cương và nhu): những gì mình có thể và không có thể làm được!

Chất xanh và chất xám từ cá nhân hải ngoại đã có thể, nhưng tại sao thao thức của con người Mỹ-Việt về tiến trình dân chủ và truyền thống dân tộc, một cách ý thức hay vô thức, chưa xuất hiện trong cộng đồng Mỹ-Việt; hay đã xuất hiện mà vẫn chưa được hanh thông và như ý ?

(tinmungchonguoingheo)

Nguồn:http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=35784