Các nghị sĩ Mỹ kêu gọi chiến lược ngăn chặn Trung Quốc bồi đắp ở Biển Đông
Dân trí - Các nghị sĩ hàng đầu của Mỹ ngày 19/3 đã bày tỏ lo ngại về
quy mô và tốc độ cải tạo đất của Trung Quốc ở Biển Đông, nhấn mạnh rằng
một chiến lược chính thức của Mỹ là cần thiết nhằm giảm tốc hoặc chấm
dứt các hành động của Bắc Kinh.
Thượng nghị sĩ John McCain, một trong những ký tên trong lá thư (Ảnh: Guardian)
Trong một lá thư gửi Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Bộ trưởng quốc phòng
Ash Carter, các nghị sĩ Cộng hòa John McCain, Bob Corker và các nghị sĩ
Dân chủ Jack Reed và Bob Menendez cho hay nếu không có một chiến lược
toàn diện, "các lợi ích lâu đời của Mỹ, cũng như các đồng minh và đối
tác của chúng ta bị đe dọa đáng kể".
Các nghị sĩ Mỹ cho biết việc Trung Quốc xây dựng và cải tạo đất ở quần
đảo Trường Sa trên Biển Đông đã khiến Bắc Kinh có khả năng mở rộng tầm
với quân sự và "là một thách thức trực tiếp", không chỉ với các lợi ích
của Mỹ và khu vực, mà cả cộng đồng quốc tế".
Bức thư nói rằng, bãi đá Gaven đã mở rộng lên quy mô 11,3 héc-ta trong
năm qua và Gạc Ma, trước đây là bãi đá ngầm, giờ đây đã trở thành một
hòn đảo rộng 10 héc-ta. Bãi Chữ thập đã mở rộng về kích thước hơn 11 lần
kể từ tháng 8 năm ngoái.
"Trong khi các nước khác xây dựng trên các vùng đất có sẵn, Trung Quốc
lại đang thay đổi quy mô, cấu trúc và các đặc điểm tự nhiên của các thực
thể", bức thư viết. "Đây là một sự thay đổi về chất, dường như là nhằm
để thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông".
Bức thư nói thêm rằng bất kỳ một nỗ lực nào của Trung Quốc nhằm quân sự
hóa các đảo nhân tạo đều có thể "gây ra hậu quả nghiêm trọng" và có thể
khiến Bắc Kinh tuyên bố một vùng nhận dạng phòng không mới ở Biển Đông,
như Bắc Kinh đã làm hồi năm 2013 tại một khu vực tranh chấp với Nhật
Bản ở Hoa Đông.
Bãi đá Gạc Ma, nơi Trung Quốc đã bồi đắp và đang
tiến hành xây dựng trái phép các công trình quy mô lớn, nhìn từ trên
cao. (Ảnh: Sina)
Các nghị sĩ Mỹ, những người đứng đầu Ủy ban quân vụ thượng viện
và Ủy ban đối ngoại thượng viện, cho hay Washington cần đưa ra một chiến
lược trong đó vạch ra "những hành động cụ thể mà Mỹ có thể thực hiện
nhằm giảm tốc hoặc chấm dứt các hành động cải tạo của Trung Quốc".
Bắc Kinh đơn phương đòi chủ quyền 90% diện tích Biển Đông, bao trùm lên vùng biển của các quốc gia khác trong khu vực.
Trung Quốc đã bao biện hành động cải tạo của mình ở Biển Đông, nói rằng nước này không tìm cách thay đổi trật tự thế giới.
Trung Quốc đã đẩy mạnh hoạt động cải tạo đất trên 6 bãi đá ngầm ở
Trường Sa. Các công nhân nước này đang xây dựng các cảng và các điểm dự
trữ nhiên liệu và có thể là 2 đường băng.
Các chuyên gia nói rằng động thái của Trung Quốc sẽ
không chỉ ảnh hưởng tới vị thế ưu việt về quân sự của Mỹ trong khu vực
mà còn cho phép Bắc Kinh tiến sâu hơn vào trung tâm hàng hải của Đông
Nam Á.
HT Thích Quảng Độ trả lời RFA về chuyến thăm của Lãnh sự Mỹ
Ỷ Lan, thông tín viên RFA 2015-03-19
HT Thích Quảng Độ trả lời RFA về chuyến thăm của Lãnh sự Mỹ
Bà Rena Bitter, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TPHCM cùng với phái
đoàn 3 người đến Thanh Minh Thiền Viện thăm Đức Tăng Thống Thích Quảng
Độ chiều ngày 17/3/2015.
Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ đã dành cho Đài Á Châu Tự Do cuộc phỏng
vấn đặc biệt sau chuyến thăm của Bà Rena Bitter, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ
tại TPHCM vào chiều ngày 17/3 vừa qua.
Tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo
Ỷ Lan:Ngưỡng bạch Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ, theo tin
của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, thì Bà Rena Bitter, Tổng lãnh sự
Hoa Kỳ đã có cuộc viếng thăm Đức Tăng Thống. Xin Đức Tăng Thống hoan hỉ
cho thính giả Đài Á châu Tự do biết rõ việc này? HT Thích Quảng Độ: Bà Tổng lãnh sự Hoa Kỳ Rena Bitter cùng với
phái đoàn 3 người đến Thanh Minh Thiền Viện thăm tôi vào lúc 2 giờ
chiều ngày thứ ba vừa qua. Cuộc thăm viếng và trao đổi kéo dài trong
vòng một giờ rưỡi đồng hồ. Theo bà Tổng Lãnh sự thì năm nay kỷ niệm 20
năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Mỹ, nên mới có chuyến viếng thăm
để biết quan điểm tôi đối với hiện tình Việt Nam trong vấn đề nhân quyền
và tự do tôn giáo. Ỷ Lan: Đức Tăng Thống đánh giá cuộc gặp gỡ như thế nào, và sự quan tâm của Phái đoàn Hoa Kỳ ra sao? HT Thích Quảng Độ: Cuộc gặp gỡ rất thân ái, có nhiều thông
cảm. Bà Tổng Lãnh sự xác nhận với tôi chính sách của Hoa Kỳ đặt nặng
trên vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo, là những giá trị bất biến. Cho
nên trong tất cả mọi mối bang giao, nhân quyền và tự do tôn giáo luôn
là khởi điểm cho các cuộc hội đàm. Bà cho biết, không có cuộc gặp gỡ nào
với chính quyền Việt Nam mà Hoa Kỳ không đề cập đến nhân quyền và tự do
tôn giáo. Đặc biệt, trong năm kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại
giao Việt Mỹ, sẽ có nhiều cuộc gặp gỡ, chúng tôi cũng sẽ bảo vệ nguyên
tắc nhân quyền và tự do tôn giáo là sự quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ
trong mọi cuộc thương thảo. Ỷ Lan:Bà Tổng Lãnh sự đã hỏi vấn đề gì và Đức Tăng Thống trình bày như thế nào? HT Thích Quảng Độ: Trong cuộc trao đổi tôi giải thích để bà Tổng Lãnh sự hiểu rõ tình hình Phật giáo Việt Nam.
Dù rằng nhìn chung, xã hội Việt Nam có những bước đi lên, nhưng sự
cách biệt giàu nghèo quá lớn, các đảng viên Cộng sản bây giờ không còn
là vô sản, mà là những nhà tư bản đỏ, tham ô và hối mại quyền thế. Chính
nhóm đặc quyền đặc lợi này đang bán nước, bán tài nguyên của dân tộc
cho ngoại bang. Ngược lại, đại đa số đồng bào lâm tình trạng nghèo khó,
bị cướp đất, cướp nhà, rất khốn khổ, mà người ta thấy qua phong trào Dân
Oan…
Kể từ năm 1975, Cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, chủ trương Đảng muốn
tất cả mọi tôn giáo trở thành công cụ của Đảng, nên áp dụng chính sách
chia để trị, ai theo tôn giáo do Đảng thành lập thì được sống, ai không
theo thì bị khủng bố.
Kể từ đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất của chúng tôi, một
Giáo Hội dân lập, lịch sử và duy nhất tại Việt Nam bị tước đoạt quyền
pháp lý, bị đàn áp, khủng bố suốt 40 năm nay. Mục tiêu đàn áp ngày càng
tinh vi, nhằm đẩy chúng tôi đi vào chỗ tự diệt.
Sự đàn áp cụ thể trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn một, đánh vào thượng
tầng Giáo Hội bằng cách giết chết, giam tù, lưu đày các cấp lãnh đạo để
Giáo Hội lâm tình trạng như rắn mất đầu. Nhưng họ đã thất bại, nên tiến
qua giai đoạn hai, là dùng Sư đánh Sư, dùng Phật tử đánh Phật tử, mà sự
ra đời của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” là minh chứng cụ thể,
Bây giờ, Cộng sản sử dụng cái đói cái nghèo làm cho dân sợ mà phải
nghe theo: ai theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất thì chồng
không có việc làm, vợ không được buôn bán, con không được đến trường học
hành. Tuy nhà cầm quyền thực hiện ngấm ngầm chính sách này, nhưng hậu
quả thì rất khốc liệt cho Giáo hội chúng tôi. Vì sinh kế và miếng cơm
manh áo mà người Phật tử buộc phải rời khỏi Giáo hội.
Cho nên duy trì được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất cho đến ngày hôm nay là vô cùng vất vả. Ỷ Lan:Trước bao khó khăn như thế, lập trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ngày nay như thế nào, bạch ĐứcTăng Thống? HT Thích Quảng Độ: Tôi đã khẳng định với bà Tổng Lãnh sự, là
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất là Giáo Hội có tiếng nói đối lập
duy nhất tại Việt Nam để đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ cho 90 triệu
người dân Việt Nam và chúng tôi sẽ tranh đấu đến cùng dù phải trả với
bất cứ giá nào. Lập trường của Giáo hội, là không chấp nhận chế độ độc
tài toàn trị của Cộng sản.
Tôi cũng nói rõ với bà Rena Bitter vai trò của Hoa Kỳ quan trọng nhất
trong việc chuyển hoá chế độ Cộng sản độc tài thành một chính thể dân
chủ tự do.
Vì vậy tôi yêu cầu bà Tổng Lãnh Sự quan tâm cho sự kiện, nếu nhà cầm
quyền Hà Nội muốn được hưởng ưu đãi của Hoa Kỳ, thì họ phải chịu đánh
đổi bằng sự tôn trọng nhân quyền và tự do dân chủ. Dân tộc chúng tôi
muốn được hưởng nền tự do dân chủ như các nước văn minh trên thế giới.
Đặc biệt, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất cần có tự do dân chủ
thì mới có thể phát triển, hành đạo và tồn tại để đóng góp tái thiết
quốc gia.
Không có tự do dân chủ đa nguyên, thì cái Giáo Hội Phật giáo nhà nước
kia sẽ thực hiện âm mưu Đảng làm biến tướng Phật Giáo. Khi những nhà sư
không còn giữ giới luật Phật chế, mà lại còn được học tập chủ nghĩa Mác
– Lênin thì giáo lý từ bi, khoan dung và cứu khổ chúng sinh còn lại
gì?!
Trong trang nhận xét viết gửi bà Tổng Lãnh sự, tôi đặc biệt cám ơn
Hoa Kỳ thông qua Ngoại trưởng Madeleine Albright, vị Ngoại trưởng đầu
tiên đến Việt Nam. Nhờ lời Ngoại trưởng kêu gọi trả tự do cho tôi tại Hà
Nội mà tôi mới được ân xá năm 1998. Ngoại trưởng Albright là người am
hiểu tình hình Việt Nam khi bà phê phán Hoa Kỳ đã sai lầm tại Việt Nam
do xem nhẹ vai trò tôn giáo. Bà cho rằng: Ngay lúc khởi đầu mục tiêu
chống Cộng đã bị suy yếu vì chính quyền Saigon đàn áp Phật giáo, mà Phật
giáo là cơ sở không cộng sản lớn nhất tại Việt Nam, vì vậy chúng ta
không thu phục được trái tim và lòng người dân Việt. Ỷ Lan:Bà Tổng Lãnh Sự đã phản ứng ra sao về sự trình bày của Đức Tăng Thống? Và bà có hỏi hay nói gì thêm không? HT Thích Quảng Độ: Bà nói rất mừng được gặp tôi và mong trong
tương lai còn dịp gặp lại để nghe thêm ý kiến giúp cho việc nghiên cứu
giải quyết vấn nạn Việt Nam. Bà cũng hỏi tôi có thông điệp gì hay lời
nhắn gì có thể áp dụng trong các cuộc tiếp xúc với Việt Nam.
Tôi đáp bằng một chủ trương đã từng nói với Tổng Bí thư Đỗ Mười, là
Việt Nam nên xây dựng một thể chế dân chủ đa nguyên, đơn giản chỉ cần ba
đảng: một đảng trung lập, một đảng khuynh tả và một đảng khuynh hữu.
Nhưng họ không dám làm vì họ sợ mất quyền độc tài toàn trị, mà tôi nói
hơi thô bạo một chút, là họ sợ buông cái quyền độc tài toàn trị ra là họ
mất đầu liền, vì toàn dân đều ngấm ngầm biết rõ tội ác của họ 54 năm
qua. Ỷ Lan:Xin cám ơn Đức Tăng Thống đã dành cho RFA cuộc phỏng vấn đặc biệt này. Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á Châu Tự Do tại Paris.
Ngày 30 tháng 4, đó là mốc lịch sử đáng nhớ của cả một dân tộc mà có
người, có thể là ngày reo hò chiến thắng, với người khác, đó là ngày
ngậm ngùi bưng mặt giấu nỗi đau. Và thời gian đã trôi qua bốn mươi năm
kể từ 30 tháng Tư năm 1975 đến nay, vừa đủ để một đứa bé chào đời,
trưởng thành và trở thành một trung niên với đầy đủ nhận thức xã hội,
nhận thức thế giới cũng như sự chiêm nghiệm về quãng đời mà mình đã đi
qua. Với những người tuổi bốn mươi, có ăn học và thành đạt nhờ học vấn,
họ nghĩ gì về ngày này?
Một ngày bắt đầu của mất mát, đau khổ
Một người tên Việt, sinh đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975 tại bệnh viên nhân dân Gia Định, chia sẻ những trải nghiệm tuổi thơ: “Vấn
đề là lúc đó hàng hóa thiếu thốn, thực phẩm ôi thiu, giòi rất nhiều.
Luôn phải xếp hàng, xếp hàng từ hai giờ sáng, đến sáu giờ họ mới đến để
xếp sổ (theo thứ tự), thiếu thốn và rất bẩn. Đến 1988 thì mới bắt đầu mở
cửa, cao điểm nhất là từ năm 1979 đến 1983, giai đoạn này cực kỳ khó
khăn, có phiếu cũng không mua được, hàng hóa cực kỳ khan hiếm.”
Theo ông Việt, ông không chứng kiến được đời sống trước ngày 30 tháng
4 năm 1975 bởi khi ông ra đời, thành phố Sài Gòn đã tràn ngập cờ đỏ sao
vàng. Và theo như mẹ ông kể, khi ông ra đời, hoàn cảnh đất nước nói
chung và thành phố Sài Gòn nói riêng rất khó khăn, không có gạo để ăn,
miếng thịt heo trở thành thứ hàng hóa quá xa xỉ bởi ngay cả mạng sống
cũng chưa chắc đã đảm bảo, tài sản cũng chỉ là của tạm trước lúc người
ta đến tịch thu, như vậy, chuyện miếng thịt heo là chuyện rất phù phiếm
đối với Sài Gòn lúc bấy giờ.
Mẹ của ông Việt là người có quan hệ với chế độ Cộng sản, nhờ vậy mà
gia đình ông được ưu tiên nhiều thứ sau khi Sài Gòn thất thủ. Nhưng điều
đó không những làm cho mẹ ông thấy hạnh phúc mà còn khiến cho bà khủng
hoảng tâm lý và hệ lụy của nó kéo dài mãi cho đến bây giờ. Bởi được ưu
tiên nên mẹ ông Việt được chính quyền mới phân công đi theo đội quân kê
biên và trưng thu tài sản.
Mới sinh con chưa đầy một năm, phải đi theo đội quân này để đến đột
kích bất cứ nhà nào cảm thấy họ khá giả, giàu có, để rồi kêu cả nhà
người ta ngồi lại nghe biên bản, sau đó lục lọi từng góc tủ, góc giường,
bất kì nơi nào thấy hoài khi giấu tài sản, cuối cùng là dùng gậy thọc
vào những góc nền nhà để phân biệt tiếng kêu, nơi nào tiếng kêu hơi rỗng
thì ngay lập tức có người dùng xà ben, búa chim để đục nó lên mà tìm
của kín. Hầu như nơi nào bà đi qua cũng để lại tiếng khóc thút thít hoặc
kêu gào, chỉ có nước mắt và nước mắt.
Ảnh chụp tại Sài Gòn ngày 13/05/1975. AFP PHOTO / PRESSENSBILD.
Nhưng khủng hoảng nhất đối với mẹ ông Việt vẫn là một lần cả nhà
người ta đang ăn cơm trưa, đội tịch biên xông vào đọc biên bản và lục
lọi. Cuối cùng chỉ được vỏn vẹn mấy chỉ vàng bỏ trong tủ áo quần, cả nhà
vẫn điềm nhiên ăn cơm. Ông chỉ huy của đội tịch biên tài sản bảo rằng
vô lý, nhà này trước 30 tháng 4 năm 1975 là một nhà tư bản, lẽ nào tài
sản chỉ còn có mấy chỉ vàng? Nói đến đây, ông ta đi lục một vòng, phát
hiện ra chậu cây thiên tuế trên sân thượng có dấu đất mới đào, ông ta
cho nhổ cây thiên tuế ra khỏi chậu và tìm ra hơn 300 lượng vàng thẻ Kim
Thành, viết biên bản tịch biên và phạt chủ nhà đi tù cải tạo bởi tôi
không khai báo thành thật, giấu diếm tài sản. Ông chủ nhà té ngửa ra và
bất tỉnh.
Anh con trai cả và bà vợ lo xức dầu, cạo gió chô ông chủ nhà, những
người còn lại vẫn ngồi ăn cơm và trên mâm cơm chỉ có một chén nước mắm
loãng với một nồi canh rau dền nhưng mọi người chỉ ăn cơm với mắm, không
ai múc canh. Ông đội trưởng tiến lại mâm cơm, lấy chiếc vá thọc vào nồi
canh và khuấy mấy cái, tiếng loảng xoảng của kim loại phát ra từ nồi
canh, ông đội trưởng cho đổ nồi canh và thu thêm ba chục lượng vàng nữ
trang gồm nhẫn, dây chuyền, hoa tai. Lúc này, cả nhà lăn đùng ra té xỉu.
Ông đội trưởng tức giận quát: “Bọn này không thành thật, chết đi là
vừa!”. Sau đó cả đoàn về nghỉ trưa.
Kể từ đó, mẹ ông Việt bị ám ảnh bởi hình ảnh nhiều người ngất xỉu,
đôi khi nằm ngủ, bà mơ thấy người ta đến níu áo kêu khóc. Dần dần, cơn
ám ảnh trở thành một vết thương tâm lý và chuyển sang một loại tâm thần
hoang tưởng, đi đâu bà cũng nghe người ta kêu khóc, làm gì bà cũng có
cảm giác người ta đang níu áo van xin, đòi trả lại tài sản… Và mười năm
sau, bà phải vào viện tâm thần điều trị.
Ngày để tang của tự do
Một người khác tên Thuận, quê gốc Quảng Ngãi, cha mẹ ông tản cư vào
Sài Gòn vào ngày 29 tháng 3 trong lúc mẹ ông mang bầu ông, ông sinh vào
một ngày cuối tháng 5 năm 1975 tại Sài Gòn, chia sẻ: “Đậu, sữa,
đường, gạo… họ phát cho mình một cái phiếu, tem phiếu theo tiêu chuẩn,
nhà hai người khác ba người, bốn người. Thời bao cấp mà, thay đổi lắm,
vì thay đổi giữa hai chế độ mà, rất khổ, khổ lắm. Cán bộ, viên chức còn
dễ thở chứ dân thường thì… Tâm lý hồi đó chẳng ai nghĩ tới chính trị, họ
lo làm ăn, lo cuộc sống thôi, chứ có ai dám bộc lộ…”
Theo ông Thuận, với tư cách là một người thành đạt trong cuộc đời nhờ
vào học vấn, cũng có chút vốn liếng ngoại ngữ và từng đi công tác nước
ngoài nhiều lần, ông thấy rằng Sài Gòn đã hoàn toàn mất đi sức mạnh của
một “hòn ngọc viễn đông” kể từ sau 30 tháng 4 năm 1975.
Ông cho rằng một Sài Gòn khác đã hiện hồn giữa thành phố này mà theo
lời kể của cha ông là mùng mền, áo lót, quần lót, võng dù, than củi… tất
tần tật các thứ xấu xí đều được mang ra phơi đầy các ban công. Một
thành phố mà đi đến đâu cũng thấy chăn mền, áo quần, than củi, các loại
đồ tạp nhạp trưng bày, chỉ cần ngước mắt lên là không thể nhìn lâu quá 5
giây. Có nhiều người không chịu nổi cảnh này đã bỏ nhà trốn lên núi để
sống.
Nhưng đó vẫn chưa phải là vấn đề chính, một Sài Gòn tự do đã hoàn
toàn mất, thay vào đó là một thành phố với cái tên mới lạ và đời sống
cũng mới lạ, người ta phải xếp hàng rồng rắn để nhận từng lạng thịt heo,
từng lít nước mắm hay từng ký gạo. Người Sài Gòn cũ tự bỏ đi tính cách
hào sảng, ăn to nói lớn vả thẳng như ruột ngựa, thay vào đó là tính dè
chừng, sợ chết, sợ tai vách mạch rừng.
Chính vì nguyên nhân này mà có rất nhiều cư dân Sài Gòn đã ngậm ngùi
bán tháo tài sản, bỏ tài sản để lên thuyền vượt biển và cuối cùng gửi
thân giữa biển cả, không ngày trở lại. Một Sài Gòn hoa lệ, thơ mộng và
lộng lẫy mãi mãi chôn theo những linh hồn hào sảng nơi biển sâu. Sài Gòn
sau 30 tháng Tư là một Sài Gòn tan tác chia đàn sẻ nghé, một Sài Gòn
nhuộm nước mắt của tự do và dòng nước mắt ấy chảy mãi cho đến bây giờ,
chưa bao giờ nguôi.
Một Sài Gòn mà ở đó, những giọng nói phân biệt quyền lợi và vị thế xã
hội, giấy hộ khẩu trở thành thứ bùa hộ mệnh và nó nghiễm nhiên trở
thành chân lý khi phân định thứ hạng của công dân. Những người Sài Gòn
xưa như những đứa trẻ mồ côi để tang cho Sài Gòn như để tang một người
mẹ hiền đang dần xanh cỏ trên mộ bia!
Nói đến đây, người đàn ông này hơi nghẹn giọng và không nói được gì
thêm. Chúng tôi buồn cho thế sự nhưng cũng thấy vui bởi ngoài những loại
người tung hô, vẫn có những góc khuất của một Sài Gòn trẻ đầy sâu lắng
và tư lự giữa cuộc đời.
Tư gia của Nguyên Tổng thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền
Việt Nam đang bị cai trị bởi một đảng cộng sản độc, nhưng lý tưởng
cộng sản đã gần như phai mờ trong trái tim người Việt và trên thực tế,
người Việt Nam lại mê tư bản nhất trên thế giới. Tại sao lại có tình trạng như vậy xảy ra ở VN?
Việt nam trên danh nghĩa là một nước vẫn theo đường lối cộng sản,
đảng CSVN là đảng chính trị duy nhất nắm quyền lãnh đạo nhà nước và xã
hội. So sánh cuộc sống
Tuy vậy, trong vài chục năm gần đây, nền kinh tế VN về cơ bản được
tiến hành theo thể chế kinh tế thị trường tự do tư bản chủ nghĩa, cho dù
về hình thức vẫn được gắn cái đuôi định hướng XHCN.
Đánh giá về thực trạng xã hội VN hiện nay, Giáo sư – Tiến sĩ Giáo dục
Mạc Văn Trang cho rằng, xã hội đã chịu tác động rất lớn từ mặt trái của
kinh tế thị trường. Ông nói với chúng tôi: “Theo tôi tình hình xã hội của VN hiện nay, như nhà nghiên cứu văn
hóa Trần Ngọc Thêm cho rằng “Sự xuống cấp của văn hóa xã hội đã đến
đáy”. Nó trở thành một xã hội mà người ta lấy uy quyền để cai trị, lấy
đồng tiền để lung lạc mua bán tất cả các thứ trong xã hội, cái gì cũng
phải dùng đến tiền. Thế thì nó đã đảo lộn tất cả các giá trị và đấy
chính là nguyên nhân dẫn đến mọi sự tha hóa khác. Bây giờ con người với
con người không coi trọng tình nghĩa, các giá trị đạo đức tinh thần hay
tài năng nữa. Mà chỉ coi trọng quyền lực và đồng tiền thôi.”
Theo ký giả Patrick Winn của Global Post mới đây đã nhận định cho rằng "Việt
Nam đang bị cai trị bởi một đảng cộng sản độc tài, đó là sự thật. Nhưng
lý tưởng cộng sản đã gần như phai mờ trong trái tim người Việt. Trên
thực tế, có lẽ Việt Nam là nước mê tư bản nhất trên Trái đất".
Bình luận về nhận định của Global Post, ông Hoàng Dũng, một nhà hoạt
động xã hội ở Sài gòn thấy rằng, với những gì người dân chứng kiến từ
thực tế cuộc sống, từ những kiều bào về thăm thân nhân ở VN… đã khiến đa
số người dân ở VN thích các giá trị của chủ nghĩa tư bản. Ông cho biết: “Từ khi đất nước mở cửa, đặc biệt là kể từ khi internet vào VN thì
người Việt được so sánh cuộc sống hiện tại của người ta với các nước
được cho là theo chủ nghĩa tư bản, thực ra là các nước có nền kinh tế tự
do. Và so với các nước đang là cộng sản, ví dụ như VN, TQ hay Bắc Hàn
thì người ta cũng so sánh được là đấy nếu theo một nền kinh tế tự do còn
được gọi là chủ nghĩa tư bản thì họ được sống sung sướng hơn hiện tại.
Chính vì vậy mà khi cuộc sống của người ta đang khổ và khó khăn như ở VN
thì người ta mơ về một cuộc sống kiểu tư bản thì là điều dễ hiểu và tôi
đồng ý với nhận định này. ”
Đặc biệt là đối với giới trẻ ở VN hiện nay, khi sống trong một xã hội
tiêu thụ thì sự hấp dẫn về vật chất, từ những thiết bị công nghệ hay
lối sống tư bản đã trở nên vô cùng hấp dẫn. Đi du học tại các nước tư
bản và ở lại là một trong những lựa chọn của họ.
Cô Huỳnh Thu Liên, một du học sinh ở Mỹ nói về lý do vì sao cô chọn đi du học ở một nước tư bản. Cô cho biết: “Rất nên sang đây (du học), vì đây là một miền đất cơ hội, nếu bạn
giỏi hoặc hơi giỏi nghĩa là bạn có tiềm năng thì qua đây bạn sẽ có khả
năng ở lại tự kiếm sống nuôi bản thân mình, thậm chí là nuôi cả gia đình
mình. Đấy là điều hết sức bình thường ở bên đây. Còn ở VN, nếu bạn với
hai bàn tay trắng để gầy dựng mà không có ba mẹ bạn giúp đỡ, không có ai
cho tiền cho vốn bạn thì nói thật không biết là có kiếm tiền nhanh bằng
bên đây không nữa?”
Tư gia của nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo hãng tin Reuter, kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew
của Mỹ thực hiện hồi cuối năm 2014, cho thấy có đến 95% người Việt Nam
ủng hộ chủ nghĩa tư bản, tỷ lệ này tại Việt Nam cũng vượt trội so với
mức trung bình 65% trên toàn thế giới. Xã hội tự do và thực tế
Nói về nguyên nhân vì sao lại có tình trạng đa số người VN ủng hộ chủ nghĩa tư bản.
Với một thái độ thận trọng, ông Hoàng Dũng cho biết: “Ở những xã hội tự do thì con người ta được mở hết khả năng của
mình ra và được vươn tới được các ước mơ rất cao, miễn là làm sao khả
năng của anh có thể đạt được. Chứ như ở VN, nếu anh có phát minh ra cái
gì cũng bị tịch thu, chính từ những cái ví dụ rất nhỏ như vậy cũng cho
thấy ở chế độ CS thì người ta không thể phát triển được. Vì ngay giấc mơ
mà họ không dám mơ thì nói gì đến các cái việc khác. Tôi cho rằng đến
năm 2014, 2015 thì quan niệm này đã trở nên rõ nét, nó không chỉ dừng
lại ở những người dân mà còn ở ngay những người được gọi là cộng sản.”
Sự ưu việt hơn hẳn của các nước tư bản có sức hấp dẫn vô cùng lớn,
trên trang VOA Việt ngữ, Tiến sĩ Cao Huy Huân đã so sánh và nói lên suy
nghĩ khi lựa chọn nước Mỹ là nơi định cư của mình:
“Khi còn ở trong nước, nước Mỹ trong tâm trí tôi là một quốc gia
hung hăng và đầy bất ổn. Thế nhưng khi chứng kiến tận mắt, tôi nhìn thấy
sự hiền hòa của người dân Mỹ. Chính phủ chăm lo cho đời sống của người
già, người thất nghiệp, cho những bà mẹ đơn thân. Trẻ em được bảo vệ
hàng đầu, không có chuyện bị bóc lột sức lao động hay lạm dụng. Nước
Việt Nam luôn được khắc họa là một quốc gia hòa bình và không có xung
đột nội bộ. Vậy nhưng xã hội thì ngày càng nguy hiểm. Giao thông nguy
hiểm. Sinh hoạt thường nhật cũng nguy hiểm. Ăn cũng nguy hiểm. Muốn làm
việc với nhà nước phải chuẩn bị phong bì. Người già chẳng được chăm lo,
trẻ em bị bỏ mặc. Đến bệnh viện thì bị đối xử như tôi mọi.”
Đến nay, thích tư bản đã trở thành trào lưu của cả xã hội, không chỉ
đối với những người dân thường, mà kể cả đối với tầng lớp lãnh đạo ở VN.
GS. TS. Mạc Văn Trang nhận định: “Những người cầm quyền bây giờ thích cái đó, trong thực tế thì
người dân cứ nhìn vào những người cán bộ lãnh đạo thì ai cũng cướp bóc,
làm giàu. Con cái họ thì ai cũng vào các vị trí đẹp rồi thì nhà cao của
rộng với những dinh cơ. Các quan chức từ cấp Huyện, đến cấp Tỉnh và cho
đến Trung ương bây giờ đều cho con đi học ở các nước tư bản hết chứ có
ai có con học ở các trường trong nước đâu, đến chữa bệnh họ cũng đến các
bệnh viện nước ngoài để chữa. Tức là họ theo đuổi các giá trị của tư
bản, nhưng mồm thì vẫn cứ nói XHCN.”
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ
trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, cũng chính là khát
vọng của mỗi một con người. Giá trị của chủ nghĩa tư bản là đã đáp ứng
được phần lớn các ước nguyện đó và cũng là lý do vì sao đa số người dân
lại thích tư bản.
TNS Janet Nguyễn đệ trình nghị quyết 'Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen'
SACRAMENTO, California (NV) - Thượng
Nghị Sĩ Tiểu Bang California Janet Nguyễn (Cộng Hòa-Ðịa Hạt 34) vừa đệ
trình Nghị Quyết 29 “Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen” (SCR-29 Black April
Memorial Month) tại Thượng Viện California hôm 10 Tháng Ba, theo Văn
Phòng Thông Tin Quốc Hội California.
Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn và con trai trong ngày diễn hành Tết Ất Mùi. (Hình: Trang web Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn)
Nghị Quyết 29 do Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn là tác
giả chính, cùng một số vị dân cử tại lưỡng viện Quốc Hội làm đồng tác
giả như các thượng nghị sĩ Bob Huff, Pat Bates, Mike Morrell, Jim
Nielsen, và Andy Vidak, và các dân biểu Travis Allen, Kansen Chu,
Matthew Harper, Young Kim, Tom Lackey, Kevin McCarty, và Scott Wilk.
Theo nghị quyết, ngày 30 Tháng Tư, 2015 đánh dấu 40 năm sự kiện 30 Tháng Tư, 1975, ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản.
Theo nghị quyết, ngày này nhắc nhở sự kiện các quân nhân VNCH chiến đấu
tại Việt Nam và những người gốc Việt đã đặt chân đến tại Hoa Kỳ sau
chiến tranh Việt Nam là một bi hùng sử chứa đầy những chịu đựng và mất
mát của người Mỹ và người Việt Nam, trong đó có sinh mạng người lính của
cả Hoa Kỳ và Việt Nam lên đến mức nửa triệu, và với khoảng 800,000
người bị thương tật trên chiến trường. Hàng triệu người dân Việt Nam
cũng phải gánh chịu chết chóc và mất mát trong khi cuộc chiến kéo dài.
Cũng theo nghị quyết, sau khi Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam
Việt Nam, hàng triệu người Việt và gia đình họ phải rời bỏ quê hương đi
tìm tự do tại Hoa Kỳ và các quốc gia khác, trong số này có cựu quân
nhân, công chức chính phủ, những người từng làm việc với Hoa Kỳ trong
cuộc chiến, và nhiều người khác.
Chưa hết, những năm cuối thập niên 1970 đến giữa thập niên 1980, hàng
ngàn người Việt đánh đổi mạng sống mình để trốn khỏi Việt Nam trên những
chiếc thuyền gỗ nhỏ. Nhiều người đến các trại tị nạn ở Thái Lan,
Indonesia, Philippines, Hồng Kông, Singapore, Malaysia trong khi khoảng
một nửa trong số họ bỏ mạng trên biển trên đường tìm tự do và dân chủ,
vẫn theo dự thảo Nghị Quyết 29.
Nghị quyết dựa theo số liệu thống kê dân số của Hoa Kỳ trong năm 2010
cho biết hiện có hơn 580,000 người Việt sống ở California, với Orange
County là nơi có cộng đồng người Việt Nam lớn nhất ở hải ngoại.
Nghị quyết cũng đề cập đến nhân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ, và sự
bảo vệ khỏi những ức hiếp là những quan tâm của cộng đồng người Mỹ gốc
Việt và người Việt Nam khắp nơi đang chống lại các vi phạm nhân quyền
tiếp diễn tại Việt Nam, như lạm dụng sức lao động trẻ em, buôn bán tình
dục, bắt bớ vì lý do tôn giáo và chính trị, giới hạn tự do báo chí,
cưỡng chế đất đai...
Theo báo cáo của Hoa Kỳ về nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2013 ước
tính có khoảng 120 tù nhân chính trị bị giam giữ, và khoảng 4,000 tù
nhân tại các trung tâm cải tạo.
“Chúng ta phải dạy con cháu chúng ta và các thế hệ tương lai về những
bài học quan trọng từ chiến tranh Việt Nam và tình hình hiện tại ở Việt
Nam, bao gồm đợt di tản của người Việt tị nạn sau khi cuộc chiến kết
thúc như là một ví dụ mạnh mẽ cho các giá trị của tự do và dân chủ,” dự
thảo nghị quyết nhấn mạnh.
Dự thảo Nghị Quyết 29 kêu gọi: “Chúng ta, những người dân California,
nên đấu tranh cho các lý tưởng nhân quyền, tự do cá nhân, chủ quyền, và
sự bảo vệ một cách công bằng bởi luật pháp của một thế giới công chính
và dân chủ. Người California nên dành ra một khoảnh khắc mỗi năm trong
ngày 30 Tháng Tư để tưởng nhớ các quân nhân và người dân đã hy sinh
trong chiến tranh Việt Nam cho lý tưởng của tự do và dân chủ. Ngoài ra,
cộng đồng người Mỹ gốc Việt khắp California sẽ tưởng niệm ngày 30 Tháng
Tư, 2015, ngày Tháng Tư Ðen, như một ngày để tưởng nhớ và dành cho các
giá trị của tự do, bao gồm tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do báo
chí, tự do Internet.”
(Người Việt)
Bậc thầy vĩ đại
"Tướng Ngô Quang Trưởng là một bậc thầy vĩ đại của tôi". - Đại Tướng H. Norman Schwarzkopf
Nguyễn Tường Tâm
Trong lịch sử Việt Nam, tôi chưa từng nghe một tướng lãnh cao cấp ngoại
quốc nào tôn một vị tướng Việt Nam làm bậc thầy, mà lại là một trong mấy
bậc thầy vĩ đại nhất (my greatest teachers).
Thế mà Đại Tướng lừng danh Hoa Kỳ, H. Norman Schwarzkopf, người đã đạt
một chiến thắng to lớn (great victory) trong cuộc chiến Trung Đông năm
1991, đẩy lui mấy trăm ngàn quân của Sadam Hussein ra khỏi Kuwait khi
Hussein xâm lăng quốc gia này, đã tôn vinh Tướng Trưởng như vậy.
Đại Tướng Schwarzkopf đã bày tỏ như vậy trong hai lá thư cá nhân chứng tỏ ông không vì ngoại giao, mà hết sức thực lòng.
Có lẽ quân dân Miền Nam chưa ai được thấy hai lá thư riêng của Đại Tướng
H. Norman Schwarzkopf gửi Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Và qua hai
lá thư cá nhân này, người miền Bắc cũng có thể hình dung được một phần
mối quan hệ đồng minh giữa Quân Lực Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
của miền Nam. Không biết mối quan hệ đồng minh này giống hay khác với
quan hệ đồng minh giữa Quân Đội Liên Sô và Quân Đội Trung Hoa với Quân
Đội Nhân Dân Việt Nam của Miền Bắc?
Lá thư thứ nhất
Nguồn: Norman Schwarzkopf
Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Miền Trung Hoa Kỳ Cuộc Hành Quân Bão Sa Mạc (Operation Desert Storm).
Quân Bưu New York 09852
BR> Ngày 26-2-1991
Kính Thưa Tướng Trưởng,
Cám ơn ngài đã gửi tôi một lá thư ngắn. Nó khiến tôi rất hãnh diện rằng
ngài hãnh diện về tôi bởi vì ngài là một trong các bậc thầy vĩ đại của
tôi (my greatest teachers).
Nhiều chiến lược tôi áp dụng hàng ngày trên nặt trận Trung Đông ngày nay
là những điều ngài đã hướng dẫn tường tận cho tôi 25 năm trước, khi tồi
và Ngài cùng chiến đấu bên nhau ở chiến trường Việt Nam. Tôi rất lấy
làm phấn khởi khi biết đươ/c ngàu đã vượt thoát đến nước Mỹ mặc dù trong
đời tôi lúc nào cũng bị ảm ảnh bởi chuỗi ngày đen tối kể từ khi quý
quốc cũng bị dày xéo bởi kẻ thù phương Bắc. Mặc dù vậy, một trong những
niềm kiêu hãnh trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, mà tôi tin chắc là sẽ
còn sống mãi,đó là những ngày mà Ngài và tôi đã cùng sát cánh chiến đấu
bên nhau vì lý tưởng Tự do.
Tôi hy vọng rằng khi cuộc chiến đấu chấm dứt (ghi chú của người dịch:
trận chiến Bão Sa Mạc) có dịp nào chúng ta sẽ gặp lại nhau.
Thân mến,
H. Norman Schwarzkopf Tướng,
Lục Quân Hoa Kỳ
Ghi chú: Cuộc Hành Quân Bão Sa Mạc (Operation Desert Storm) chính là một
tên gọi khác của Cuộc chiến Vùng Vịnh (The Persian Gulf War) và cũng
thường được gọi một cách vắn tắt là chiến tranh Vùng Vịnh (the Gulf
War). Đây là cuộc chiến tranh được Liên Hiệp Quốc cho phép và do lực
lượng liên quân (coalition force) của 34 quốc gia, lãnh đạo bởi Anh và
Hoa Kỳ chống lại cuộc xâm lăng Kuwait của Iraq. Cuộc chiến này khởi bắt
đầu ngày mùng 2/ 8/1990 và kết thúc ngày 28/2/1991 sau khi đầy lui được
toàn bộ Lực Lượng Vệ Binh Cộng Hòa Iraq ra khỏi Kuwait. Đại Tướng Hoa Kỳ
Schwarzkopf là Tư Lệnh toàn thể lực lượng quân sự liên quân này.
Lá thư thứ hai
Ngày 8-11-1994
Kính thưa Tướng Trưởng,
Tôi biết rằng ngày 18-11 ngài dự định về hưu khỏi Công ty RAILINC (1).
Là một trong những người ngưỡng mộ ngài nhiều năm trước, điều đó khiến
tôi hết sức vui và xin gửi tới ngài lời chúc mừng nồng nhiệt.
Khi còn trẻ, ngài đã dậy tôi nhiều điều khi chúng ta cùng chiến đấu
chống lại kẻ thù chung tại quê hương Việt Nam yêu dấu của ngài. Tôi đủ
may mắn để có thể xử dụng những bài học đó vào những năm sau để đạt một
chiến thắng to lớn chống một chế độ bất nhân khác (ruthless regime). Tôi
sẽ mang nợ ngài mãi mãi vì ngài là một tấm gương sáng chói (splendid
example) cho tôi về thế nào là một người quân nhân thực sự đáng-kính
trong sự phục vụ tổ quốc vô vị lợi. Trong ngày đặc biệt này, không chỉ
ngày hôm nay mà tôi sẽ luôn luôn nhớ tới ngài.
Thân mến,
H. Norman Schwarzkopf
Tướng hồi hưu, Quân Lực Hoa Kỳ
Ghi chú: Công ty RAILINC chuyên cung cấp các dịch vụ tin học (IT and
information services) cho kỹ nghệ xe lửa Bắc Mỹ (Mỹ và Canada).
Tướng lĩnh Mỹ kêu gọi kéo quân về Đông Âu bao vây Nga
Đăng Bởi Một Thế Giới - 06:00 18-03-2015
Quân đội Mỹ trong một cuộc diễn tập tại châu Âu.
Giới tướng lĩnh Mỹ cho rằng các căn cứ quân sự hiện tại của quân đội
đồng minh tại châu Âu là chưa đủ sức kiềm chế hoạt động của Moscow.Theo
đó, Washington cần nhiều căn cứ hơn ở Đông Âu để thực hiện kế hoạch bao vây Nga, chặn đường tiến của quân đội nước này.
Đại tướng Jack Keane trong một buổi trả lời phỏng vấn của báo chí cho
biết, lệnh trừng phạt kinh tế và các cuộc tập trận của NATO gần biên
giới Nga, là không đủ để đảm bảo cho sự an toàn của châu Âu. Vì vậy, Mỹ
cần di chuyển các căn cứ không quân và bộ binh của mình vào sâu hơn nữa ở
Đông Âu, cho kế hoạch bao vây toàn diện nước Nga thay vì phá hoại quyền
lực của Tổng thống Nga Putin.
Moscow cũng phản ứng lại các cuộc tập trận của NATO bằng nhiều cuộc
diễn tập tại Baltic, nơi Washington đã gửi hàng ngàn quân cho kế hoạch
của mình. Hơn 38.000 binh sĩ, 110 máy bay, 50 tàu chiến hải quân và tàu
ngầm đã được Mỹ huy động nhằm phô trương sức mạnh với Nga, báo chí địa
phương dẫn lời tướng Keane.
Tuy nhiên, tất cả các biện pháp của phương Tây là không đủ để chứng
minh châu Âu đang được bảo vệ an toàn. Mỹ và NATO cần hành động dứt
khoát hơn, ông Keane cho rằng: “Washington và chính phủ các nước châu Âu
cần nhận thấy mối quan tâm cho vấn đề an ninh của khu vực không còn nằm
ở Trung Âu, nơi các lực lượng của chúng ta đã đồn trú từ sau Chiến
tranh thế giới thứ 2.
Thực tế, các mối nguy tiềm ẩn đã di chuyển dần xuống phía đông, vì vậy
Mỹ và NATO cần xây dựng nhiều hơn các căn cứ tại Đông Âu, cho một kế
hoạch lâu dài. Chặn đứng hướng phát triển của Nga ngay tại khu vực này,
thay vì tiếp tục sử dụng các biện pháp trừng phạt vô tác dụng.”
“Các căn cứ không quân và bộ binh cần được thiết lập sâu hơn về phía
đông châu Âu, di chuyển cơ sở cũ ra khỏi trung tâm Đức. Chi phí cho kế
hoạch này sẽ khá tốn kém, nhưng nó hoàn toàn có giá trị trong chính sách
đối đầu với Tổng thống Putin. Đặc biệt là giảm bớt sức ép của Moscow
đến các quốc gia Baltic, họ là một phần của NATO và chúng ta không chấp
nhận bất kỳ thách thức nào đối với các thành viên,” ông nói thêm.
Trước đó, NATO cùng Mỹ đã lên kế hoạch thành lập 6 căn cứ quân sự tại
Đông Âu cùng lực lượng tinh nhuệ gồm 5.000 binh sĩ để phản ứng với hành
động của điện Kremlin trong cuộc khủng hoảng tại Ukraine. Nhiều cuộc tập
trận sát biên giới Nga cũng được NATO tiến hành, trong khi Mỹ đẩy mạnh
hợp tác quân sự với ba nước 3 nước Baltic: Latvia, Lít-va và Estonia.
Nhà chức trách và Bộ Ngoại giao Nga nhiều lần lên tiếng phản đối các
hoạt của quân đội đồng minh. Moscow cho rằng hành động mở rộng quân sự
về phía đông của NATO nhằm bao vây Nga sẽ khiến tình hình châu Âu thêm phức tạp, dẫn đến nguy cơ leo thang chiến tranh. Hàn Giang ( theo RIA )