Vài bí mật chưa được tiết lộ
Vài bí mật chưa được tiết lộ về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
Hứa Hoành
Đồng bào miền Nam VN, ai cũng biết rằng Cộng Sản chiếm được miền Nam nhờ bịp bợm và khủng bố, "mặt trận giải
phóng miền Nam" không đại diện cho ai cả, chỉ là công cụ do CS dựng lên
để lừa bịp dư luận trong và ngoài nước, lừa bịp ngay các thành viên
của mặt trận này.
Từ "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam"
qua "Liên Minh Dân Chủ", rồi đến "Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam
VN" đều là những màn trình diễn bịp. Thành viên của 3 tổ chức trá hình
đó
đều là những tên múa rối, bị điều khiển bởi những tên cán bộ Cộng Sản núp trong hậu trường. Các tổ chức trá hình trên là
những vở tuồng được soạn sẵn, các đào kép bị phỉnh gạt đưa vào, phải đóng trọn vai của mình, nếu không sẽ bị thủ tiêu.
Tuy là thành viên của
mặt trận, họ luôn luôn bị kìm kẹp (Việt Cộng gọi là bảo vệ), theo dõi,
kiểm soát chặt chẽ. Hàng ngày chúng nhồi nhét chính trị. Chúng tôi xin
tường thuật quá trình
lừa bịp của Cộng Sản qua các tổ chức bịp bợm ấy ở miền Nam do kỹ sư Hồ
Văn Bửu, từng là ủy viên của chính phủ lâm thời (ngang hàng Bộ trưởng),
hồi chánh năm 1970 kể lạị Tập hồi ký
này không xuất bản, chỉ dành cho các bạn thân của ông. Tôi may mắn được
đọc bản chính tập hồi ký đó, và được phép khai thác để cống hiến độc
giả. Hiện ông kỹ sư Bửu vẫn còn trong
trại tỵ nạn Thái Lan. Chúng tôi xin trân trọng biết ơn ông Hồ Văn Bửu
đã kể lại những âm mưu, những thủ đoạn lừa bịp trong hậu trường bọn
Cộng Sản ở miền Nam để độc giả thấy được sự gian trá của chúng.
Ông Hồ Văn Bửu sinh năm 1932 tại
Biên Hòạ Thân phụ là ông Hồ Văn Tam, nhà giáo, sau khi hồi hưu làm chủ
tịch hội đồng chủ tịch tỉnh Biên Hòa 1962-1963. Năm 1948, ông Bửu qua
Pháp du học cùng chuyến tàu với Đỗ Cao Trí, lúc dó qua Pháp học về nhảy
dù. Ông vừa là bà con vừa là bạn học với cố Đại tướng Đỗ Cao Trí. Qua
Pháp, ông Bửu theo học trường Bernard
Palassy ở Monpellier, sau dó lên Paris tiếp tục học và đổ kỹ sư Canh nông năm 1958. Năm sau ông về miền Nam được chính
phủ VNCH bổ nhiệm làm phụ tá cho tiến sĩ Thái Công Tụng đang làm trưởng bang Thổ nhưỡng Trường kỹ thuật nông nghiệp.
Kể từ năm 1964, ông thôi làm công
chức ở Bộ canh nông, qua làm chuyên viên khảo cứu cao su cho các đồn
điền cao su Pháp ở miền Đông Nam phần. Trong những năm còn là sinh
viên ở Pháp, ông Bửu đã có cảm tình với VC vì bị tổ chức Liên hiệp Việt
kiều của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tuyên truyền. Lúc đó ở Pháp, nhiều
trí thức mới tốt nghiệp như ông, còn ngây thơ
chính trị, chưa hiểu Cộng Sản là gì, đến khi có người tuyên truyền về
chủ nghĩa Cộng Sản, họ thấy tốt đẹp, nên theo, rồi bị mắc lừạ Cụ thể có
bác sĩ Trương Công Trung tức Hai Ngọ, kỹ sư Phạm Tám, kỹ sư Trần Văn
Thiện, nghe lời đường mật của
Cộng Sản hồi hương về Bắc. Nguyễn Khắc Viện vẽ ra trước mắt họ một
chương trình "về phục vụ đất nước sau chiến thắng Điện Biên Phủ" với cả
một tương lai rực rỡ. Về đến Hà Nội, các trí thức ấy được bổ nhiệm
dưới quyền những tay CS bần cố
nông, không biết chuyên môn. Hàng ngày, họ bị cán bộ nhồi sọ về chính tri, kiểm thảo thường xuyên. Vì thuộc thành phần
tiểu tư sản, giới trí thức hồi hương này không bao giờ được Đảng Cộng
Sản tin cậy, cũng không bao giờ cho giữ chức vụ chỉ huy nào cả.
Trường hợp ông Bửu có hơi khác. Khi làm chuyên viên cho Viện khảo cứu
cao su cho các đồn điền Pháp, ông có dịp tới lui nhiều lần các đồn điền
cao su nằm trong chỗ khuất vắng của các tỉnh miền Đông Nam phần, là
nơi có du kích, cán bộ Cộng
Sản núp lén hoạt động kể từ sau năm 1963. Thỉnh thoảng ông gặp họ, nói
chuyện, bị họ tuyên truyền rồi ngả theo cái gọi la "mặt trận giải phóng
miền Nam", công cụ của Cộng Sản Bắc Việt mà ông tưởng là tổ chức
củạ..người quốc gia yêu nước, có
khuynh hướng độc lập, chống lại sự can thiệp vào nội bộ nước nhà của
Mỹ. Khi đã lọt vào tay Cộng Sản rồi, thấy mình bị mắc lừa, ông Bửu chỉ
tìm cơ hội vượt thoát khỏi cái tổ chức bịp bợm
đó. Từ căn cứ của "chính phủ lâm thời" nằm sâu trên đất Miên, ông Bửu nhờ một người dẫn đường, tìm cách trốn qua Miên, bị
cầm tù một thời gian, rồi bị trục xuất qua Làọ Ở đây ông bị điều tra
mấy tháng rồi giải giao cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Cuộc vượt thoát khỏi nanh vuốt của bọn cộng sản phải mất sáu tháng. Sau năm 1975, ông bị bắt cầm tù cho đến cuối năm
1980 mới được thả. Về Saigon, ông sống không có hô khẩu suốt mười năm, tìm cách vượt biên nhiều lần nhưng thất bại.
Lần sau cùng, ông đến được trại tỵ nạn Thái Lan năm 1990.
Mới đây, nghe tin ông bị lọt sổ thanh lọc, chúng tôi thấy cách làm việc
của Ban thanh lọc người tỵ nạn ở Thái Lan rất khó hiểu. Ông Bửu là một
nhân viên cao cấp của Cộng Sản, chống
đối chế độ, trở về hồi chánh, rồi trốn thoát, bị tù đày, sau cùng vượt
biên nhiều lần mới tới được bến tự do, nhưng không được nhìn nhận tư
cách tỵ nạn chính trị. Ông có đủ giấy tờ chứng
minh, hình ảnh báo chí ngoại quốc chụp khi ông công du Ấn Độ tố cáo chế
độ cộng sản, thế mà vẫn bị đánh rớt. Không biết Ban thanh lọc đòi tiêu
chuẩn của người tỵ nạn như thế nào mới gọi là hội đủ điều kiện của
người tỵ nạn chính trị ?
Phong Trào Hòa Bình, mở màn cho cuộc đấu tranh chính trị của CS ở miền Nam:
Hiệp định Geneva 1954 có điều khoản
qui định rằng 2 năm sau, sẽ tổ chức một cuộc tổng tuyển cử để thống
nhất đất nước. Tại miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa biết rằng
nếu tổ chức bầu cử, miền Bắc sẽ gian lận, và chiến thắng. Hơn nữa, viện
lẻ chính quyền quốc gia không ký tên vào Hiệp định Geneva, nên chính
phủ miền Nam tự coi mình không bị ràng
buộc bởi những điều kiện trong đó. Năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm
thông báo cho Chủ tịch Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến ở VN, lúc đó
là Đại sứ Ấn độ Christian Menon.
Ông này vốn thiên Cộng, đã tìm cách thuyết phục chính phủ VNCH nhiều
lần nhưng thất bạị Được tin đó, Hồ Chí Minh thất vọng ra mặt, nhưng hắn
đã có chuẩn bị trước, cài nhiều cán bộ
ở lại (từ 3000-5000 người) ngay khi ký Hiệp định Geneva. Bọn Cộng Sản
Bắc Việt phát động một hình thức đấu tranh chính trị mới : Đó là nguyên
nhân chào đời của cái gọi là "phong trào đòi hòa bình và dân tộc tự
quyết" ở miền Nam.
Để phát động phong trào này, trước
hết, bọn cán bộ cộng sản nằm vùng bắt đầu hoạt động bí mật. Họ móc nối
các trí thức ngây thơ, những người kháng chiến cũ đã bỏ họ về thành sau
1954. Cụ thể là Tạ Bá Tòng, cán bộ trí vận cộng sản tự là Năm
Thới, hoạt động bí mật để tạo sự bất ổn trong dân chúng. Để mở đầu, Tạ
Bá Tòng móc nối gia đình bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến, nguyên là Tổng ủy
trưởng Di cư năm 1954, có nhiệm
vụ chuyên chở người tỵ nạn từ Bắc vô Nam ! Gia đình ông Huyến có một
người con gái tên là Phạm Thị Thanh Vân, lại có cảm tình với cộng sản.
Bà ta kết hôn với ông Ngô Bá Thành nên lấy tên chồng để hoạt động trong
hàng ngũ trí thức. Qua
sự trung gian của gia đình bác sĩ Huyến, Tạ Bá Tòng tiếp xúc với nhiều
trí thức bất mãn khác ở miền Nam, nhưng cũng không ưa cộng sản. Tạ Bá
Tòng không bao giờ ra mặt. Từ
trong tối, hắn chỉ thị cho bác sĩ Huyến, bà Ngô Bá Thành đi móc nối các
vị lãnh đạo tôn giáo, các nhà báo, nhà giáo có uy tín để lập "liên
hiệp hành động" chống sự can thiệp của Mỹ.
Giai đoạn này, mục tiêu của cộng
sản là phát động một phong trào của dân chúng đòi "Hòa bình và Tự
quyết", có lúc báo chí miền Nam gọi là "Phong trào Hòa bình". Mục đích
sâu kín bên
trong là yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thi hành Hiệp định Geneva,
tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, để "mọi người dân tự
quyết lấy số phận đất nước và thể chế tương lai của Việt Nam". Phong
trào này còn hô hào tẩy chay
người Mỹ can thiệp vào nội tình miền Nam Việt Nam. Cán bộ cộng sản chỉ
đạo phong trào không bao giờ ra mặt. Chúng núp lén để ra chỉ thị. Chúng
tìm một số gương mặt trí thức được quần chúng biết đến để lôi kéọ
Những người lãnh chỉ thị của
cộng sản mời các bạn bè, thân hữu, vốn chỉ có cảm tình với nhau thôi,
đến nhà hàng Thanh Thế để ăn cơm. Tới nơi, mới biết chúng tổ chức họp
báo và ra tuyên ngôn đòi hỏi, yêu sách
như đã nói trên. Phiên họp vừa mới bắt đầu thì cảnh sát áp vào bắt đủ
mặt (lời ông Bửu). Ông Bửu cũng có dự phiên họp này nhưng đã lanh chân
chạy thoát.
Hôm đó, "Buổi họp báo ngụy trang dưới hình thức buổi tiệc" có những người sau đây:
- Luật sư Nguyễn Long
- Bà Ngô Bá Thành
- Bác sĩ Phạm Văn Huyến
- Kinh lý Đào Văn Nhơn
- Hoạ sĩ Đặng Văn Ký
- Kỹ sư Hồ Gia Lý
- Ký giả Cao Minh Chiếm
- Giáo sư Đại học Văn khoa : Tôn Thất Dương Kỵ...
Sau đó họ bị chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa đưa ra tòa xét xử. Những người trong Ban Chấp hành bị 5 năm
tù, những người bị mời ăn tiệc, chỉ mới ký tên bị 6 tháng tù ở. Luật sư
Nguyễn Long trong Ban chấp hành bị 5 năm tù.
Ít lâu sau, chính phủ Ngô Đình
Diệm nhất định đưa 3 ông : Bác sĩ Phạm Văn Huyến, Giáo sư Tôn Thất
Dương Kỵ và nhà báo Cao Minh Chiếm được gọi là "3 ông hòa bình" trục
xuất ra Bắc qua ngã cầu Hiền Lương.
Khi hay tin "ba ông hòa bình" bị áp giải qua cầu Hiền Lương, Việt Cộng
đã tổ chức một cuộc mít-tinh để đón tiếp và tuyên truyền. Đây cũng là
một cuộc đấu tranh chính trị giữa hai miền
Nam Bắc. Khi "Các ông hòa bình" được cảnh sát miền Nam dẫn độ ra đến
sông Bến Hải, có khuyên các ông một lần chót nên xin ở lại để được
khoan hồng, nhưng các ông đã lở leo lên lưng cọp rồi, khó xuống được.
Cây cầu Hiền Lương lúc đó sơn hai
màu khác nhau: phân nửa phía bên cộng sản sơn màu đỏ, phân nửa bên Việt
Nam Cộng Hòa sơn màu xanh. Khi ba ông hòa bình vừa bước qua ranh giới
phân chia Nam Bắc, công an Việt Cộng chạy tới tiếp dón, giành các túi
xách của ba ông để
ba ông rảnh tay đến dự cuộc mít-tinh do cộng sản tập trung dân chúng ở
huyện Vĩnh Linh đến để tuyên truyền. Cuộc mít-tinh này gọi là dân chúng
tự động họp mít-tinh chào mừng
ba nhà trí thức yêu nước của miền Nam. Về sau, thân nhân của một trong
ba vị ấy (xin giấu tên) nói rằng khi trở lại lấy túi đồ, thì túi đồ đã
bị lục soát, bị mất đi mấy bộ đồ mới.
Sau đó, ba ông hòa
bình được dẫn đi thăm viếng các xí nghiệp, nông trường và hợp tác xã ở
miền Bắc để tuyên truyền cho chính sách đoàn kết chiến đấu của Việt
Cộng. Số phận của ba nhà trí thức miền Nam này ra sao?
Hết gia đoạn tuyên truyền rồi, cả
ba ông được đưa sang Cam-bốt để tiếp tục làm công tác đánh lừa dư luận
dân chúng hải ngoại với đường lối mới, đòi "trung lập hóa miền Nam theo
chủ trương của Tổng Thống De Gaulle là trung lập hóa toàn thể Đông
Dương". Trái lại, lúc này quốc trưởng Sihanouk không đồng ý sự có mặt
của ba ông hòa bình trên xứ Chùa Tháp, nên
ra lịnh cho cảnh sát mời ba ông đến yêu cầu rời khỏi lãnh thổ Cam-bốt
lúc nào thuận tiện nhất. Họ khuyên ba ông làm đơn lên quốc trưởng
Sihanouk, để xin đi bất cứ nơi nào cũng được.
Riêng một mình giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ làm đơn xin ra Bắc, được bố
trí làm Tổng thư ký Mặt Trận Liên Minh Dân Chủ của luật sư Trịnh Đình
Thảo sau này. Đó là chức vụ hữu danh
vô thực, khiến ông chán nản, và bất mãn từ đó. Còn hai ông Phạm Văn
Huyến và Cao Minh Chiếm thì xin qua Pháp, không bị Việt Cộng lợi dụng
nữa.
"Phong trào hòa bình và Tự quyết"
của CS bị thất bại. Nó tạm lắng dịu một thời gian chờ cơ hội khác tái
sinh dưới một tổ chức khác để rù quến những con mồi ngây thơ khác, đó
là Liên Minh Dân Chủ của luật sư Trịnh Đình Thảo.
Liên Minh Dân Chủ của luật sư Trịnh Đình Thảo:
Chế độ Ngô Đình Diệm miền Nam sụp
đổ là một nguy cơ cho đất nước. Thời kỳ sau cuộc đảo chánh 1/11/1963,
miền Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng, khủng
hoảng về đường lối chiến tranh (quốc sách Ấp Chiến Lược đang có hiệu
quả, nhưng vì mặc cảm với chế độ củ, nên bãi bỏ để lập Ấp Đời Mới, Ấp
Tân Sinh, đó chỉ là các hình thức vá víu tạm
bợ). Chế độ mới chỉ lo thỏa mãn tham vọng của mình và lo trả thù những
quân nhân, công chức có liên hệ với chế độ cũ, làm thiệt hại đến tiềm
năng chiến đấu chống cộng sản.
Tất cả những điều đó tạo ra sự bất
ổn chính trị, chia rẽ và CS liền khai thác triệt để. Chúng đưa cán bộ
xâm nhập vào dân chúng miền Nam để tuyên truyền, móc nối với các thành
phần trí thức, tôn giáọ Nhiều trí thức trong "Phong Trào Hoà Bình"
lúc trước đã mãn hạn tù. Họ bất mãn chính phủ VNCH. Khi CS chủ trương
mở ra mặt trận tranh đấu mới thì họ sẵn sàng tham gia, đó là "Liên Minh
Dân Chủ" của luật sư Trịnh Đình Thảọ Lúc này Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam đã chào đời, nhưng chỉ
đóng trong rừng. Cục R và mặt trận này cứ dời đổi địa điểm tới lui 2
bên con sông nhỏ, làm ranh giới giữa Tây Ninh và Kampuchea. MTGPMN ra
đời mấy năm nhưng tỏ ra không hữu hiệu, nên họ mới dựng ra cái gọi là
"Liên Minh Dân Chủ", để lôi
cuốn trí thức tranh đấu ngay trong vùng chính phủ VNCH kiểm soát. Trịnh
Đình Thảo là người miền bắc, sinh trong một gia đình có tiếng tăm, cả
thảy bốn anh em, đều đổ đạt, hay giữ
chức vụ quan trọng trong chính quyền Pháp thuộc. Người anh cả là Trịnh
Đình Huyến, tốt nghiệp Trường Canh nông Hà Nội, là đốc công ở Bạc Liêu,
người anh kế tốt nghiệp Trường Công
chánh, và người em gái út gã cho một luật sư ở Hà Nội. Ông Thảo tốt
nghiệp tiến sĩ Luật khoa bên Pháp, về mở văn phòng luật sư ở Saigon.
Buổi họp đầu tiên của
Liên Minh Dân Chủ vào tháng 1/1964 tổ chức tại nhà ông Kinh lý Đào Văn
Nhơn, đường Hàn Thuyên, thẳng góc với Dinh Độc Lập. Lời ông Bửu:
"Trước ngày họp, tôi được tiếp xúc
với một cán bộ VC tên Tư Đen mời tôi tới làm thư ký cho Liên Minh đó.
Phản ứng đầu tiên của tôi là từ chối, vì lẽ tôi đang ở trong tuổi động
viên, đi lính
VNCH. Tư Đen lý luận rằng, "Trong số thư ký đó, cũng có Lý Chánh Trung
và Nguyễn Văn Trung (giáo sư Đại học Văn khoa) cũng ở lớp tuổi của anh
có sao đâu!" Tôi suy nghĩ một lúc rồi cũng nghe theo lời của anh ta, để
rồi hôm sau tôi đến chỗ họp.
Tại nhà ông kinh lý Đào Văn Nhơn,
vào lúc 16 giờ, có mặt gần như đông đủ hết các trí thức được mời. Kế
tiếp, thẩm phán Trần Thúc Linh, thuyết trình mục đích và yêu cầu việc
thành
lập Liên Minh Dân Chủ. Sau khi Trần Thúc Linh kêu gọi anh em đóng góp ý kiến, thì giáo sư Lý Chánh Trung mới đặt vấn đề:
- Người ta mời tôi vào một tổ chức
quốc gia mà trong chương trình hành động không có đề cập đến vân đề
chống CS, thì vô tình chúng ta sẽ bị chánh quyền chụp mũ rằng chúng ta
hoạt động có lợi cho CS thì sao?
Chỉ một mình Trần Thúc Linh trả lời rằng:
- Chúng ta là những người dân không bị CS cai trị. Chúng ta không có cơ sở nào nêu lên vấn đề chống Cộng.
Cuộc họp gây cấn sắp đổ vỡ. Đến
giai đoạn bầu ban chấp hành, thì ông Kha Văn Dưỡng, dân biểu khóa I của
VNCH được bầu làm chủ tịch.
Các chức vụ khác như sau :
- Phó chủ tịch : Luật sư Trịnh Đình Thảo.
- Tổng thư ký : Trần Thúc Linh.
- Phó Tổng thư ký
- Ủy viên : Bà Ngô Bá Thành, Nhà văn Thanh Nghị, Thiếu Sơn...
Sau cuộc họp, chủ nhà
mới ăn tiệc thì tôi được rỉ tai rằng :"Chỉ làm biên bản đưa về Cục R,
chứ không đứng tên, tức là VC có âm mưu sử dụng tôi (Hồ Văn Bửu) vào
việc khác".
Chừng một tuần sau, tôi đọc báo
được biết rằng con trai của ông Kha Văn Dưỡng là Thiếu tá quân lực VNCH
(1964) viết báo đính chánh : Cha của anh được mời đi ăn tiệc, rồi tên
ông ta
(Kha Văn Dưỡng) được đưa lên làm chủ tịch "Liên Minh Dân Chủ" mà chính
ông không biết. Một vài ông khác cũng viết báo đính chính, cho nên liên
minh này của VC chết ngay sau khi công bố danh sách, và chính phủ VNCH
cũng không bắt bớ ai cả.
Tuy nhiên qua hành động quá lộ liễu
của ông Trần Thúc Linh, hoạt động chống phá VNCH mà chính quyền không
đủ chứng lý để bắt ông ta. Vào một ngày nào đó của năm 1967, con trai
ông đang học năm thứ hai trường Đại học Y khoa Saigon, bị hai thanh
niên lực lưỡng từ bên ngoài, đột nhập vào trường Y khoa, bắt ném qua
balcon từ lầu hai xuống đất. Chú sinh viên y
khoa năm thứ hai này chết ngay tại chỗ. Đó là hành động trả đủa của ông
Thiệu hay ông Kỳ gì đó (lời ông Bửu), cho nên công an VNCH khỏi mất
công đi tìm thủ phạm.
Sau lễ an táng con trai, ông Trần
Thúc Linh có đăng báo cáo phó, cám ơn các bộ trưởng và thân hào nhân sĩ
đã chia buồn với gia đình ông. Vả lại, khi thấy sinh mạng bị đe dọa,
Trần
Thúc Linh không còn dám hoạt động cho CS nữa. Trái lại, hành động ném
lựu đạn giết chết luật sư Dương Trung Tín (anh ruột bà Dương Quỳnh Hoa,
theo CS) tại nhà ở Đà Lạt đã thúc đẩy
bác sĩ Dương Quỳnh Hoa chạy theo VC sau cuộc Tổng công kích Mậu Thân
của CS năm 1968. Luật sư Tín là người đã từng mang thư riêng của Lê
Duẩn gởi cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ để móc nối ông này tham gia MTGPMN
vào năm 1960.
CS sắp đặt cuộc tiếp xúc của trí thức miền Nam và Đặc sứ lưu động Mỹ:
Cuộc tiếp xúc này cũng là một đòn
chính trị của VC, nói thẳng cho Mỹ biết thái độ của trí thức thân Cộng
miền Nam muốn đuổi Mỹ, muốn Mỹ ngưng viện trợ, rút cố vấn, và không can
thiệp vào nội bộ miền Nam. Người Mỹ cũng tò mò, họ muốn biết quan điểm
ra sao của một số trí thức không ủng hộ chính phủ VNCH hiện hữu, mà
cũng chưa ra mặt hoạt động cho CS.
Liên Minh Dân Chủ thất bại, CS xoay qua một hình thức tranh đấu khác,
lợi dụng các nhà trí thức ngây thơ về CS. Đây không phải là một phong
trào, mà chỉ là một cuộc trực diện đấu khẩu
với Mỹ, do CS chủ mưu từ trong bóng tốị Họ đâu có người trí thức. Họ
chỉ lợi dụng trí thức làm công cụ để họ đạt được mục đích mà thôị Phần
này chúng tôi ghi lại lời thuật của ông Bửu.
Vào năm 1965, qua sự sắp xếp của
CS, chúng tôi một số trí thức có cảm tình với CS được đưa đến một nhà
hàng để gặp gỡ với Đặc sứ lưu động của TT Johnson. Buổi tiệc này dược
tổ
chức bí mật tại một phòng trên lầu 3 nhà hàng Á đông trong Chợ Lớn.
Đúng giờ hẹn, chúng tôi đến thì ông Yamato đã có mặt một mình trong
phòng khách, đang xem báo. Qua lời giới thiệu của bà Ngô Bá Thành,
chúng tôi chào hỏi xã giao bằng
tiếng Pháp. Ông Yamato mời chúng tôi vào phòng ăn. Bửa cơm Tàu thịnh
soạn được lần lượt dọn lên, không có ai uống rượu cả, và đàm thoại tự
do, không có máy ghi âm. Mục đích của
ông đại sứ này là đi nhiều nước, tiếp xúc với giới trí thức và chính
quyền sở tại để thăm dò ý kiến về việc Mỹ trực tiếp tham chiến ở VN.
Ông trò chuyện với người ngồi kế bên. Rồi ông tự động xin đổi chỗ ngồi
để tiếp chuyện với từng người một. Ông hỏi tôi :
- Ông nghĩ gì về cuộc chiến tranh hiện naỵ
Tôi đáp :
- Thưa ngài đại sứ, cuộc chiến
tranh này không thấy chiến thắng quân sự. Người Mỹ có phương tiện hiện
đại và vũ khí tối tân, nhưng không tiêu diệt được người du kích CS.
Chúng tôi
đề nghị người Mỹ đình chiến để thương thuyết và rút quân Mỹ đi thì sẽ
có hòa bình. Bởi chiến tranh lâu dài chỉ gây chết chóc cho "người dân
vô tội".
Ông ta (Yamato) nói thêm :
- Các anh có tiếp xúc với bên kia (CS) không ?
Tôi (Bửu) trả lời không .
Ông Yamato nói :
- Hãy chờ đợi vài năm nữa sẽ chấm dứt chiến tranh.
Kế đó, ông chuyển ghế để ngồi gần người khác và tôi không nghe ông hỏi gì thêm.
Chúng tôi gồm có luật sư Trịnh
Đình Thảo, bà Ngô Bá Thành, thẩm phán Đỗ Quang Huệ, thẩm phán Trần Thúc
Linh, kỹ sư Trương Như Tảng, kỹ sư Hồ Gia Lý, kỹ sư Tô Văn Cang (KN :
một cán bộ cao cấp của VC; người sau này chứng nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh trong Dinh Độc Lập), bác sĩ Trần Văn Du, Kinh lý Đào Văn Nhơn, hoạ sĩ Đặng Văn Ký và kỹ sư Hồ Văn Bửu.
Cuối cùng, ông đại sứ
Yamato mới lên tiếng cho cả bàn tiệc nghe rằng trước đây ông đã từng
di Âu Châu, sang Đông Nam Á, tiếp xúc với các chính quyên địa phương,
rồi trạm chót là VN, để gặp gỡ các trí thức VN, trước khi ông về Mỹ báo
cáo
cho TT Mỹ... Tiếp đó, ông đưa ra một quyển sổ yêu cầu mỗi người ghi tên
họ, tuổi tác và nghề nghiệp của mình. Cuôi cùng ông vui vẻ đứng dậy
chia tay từng người, và chúc sức khoẻ.
Ông yêu cầu mọi người kiên trì chờ đợi ngày hoà bình sẽ đến VN không xa lắm đâu.
Cũng theo lời ông Bửu, lúc đó Mỹ chưa trực tiếp tham chiến tại VN. Vài tháng sau, Mỹ đổ quân ào ạt vào Saigon và Đà Nẵng.
Sau cuộc gặp gỡ đại sứ Yamato thì
vài tháng sau, có một số người Mỹ tìm gặp một số trí thức VN đối lập
với chính quyền VNCH. Một dịp tình cờ, tôi đến nhà ông Trịnh Đình Thảo ở
Hạnh
Thông Tây, Gò vấp, lời ông Bửu, đây là một vườn xoài rộng 6 mẫu, ông
Thảo cho xây một nhà đúc kiên cố, theo kiểu nhà khách ở bịnh viện Cộng
Hòa.
Chúng tôi ngồi uống trà dưới bóng
mát của 3 cây xoài, trên những ghế đá màị Tôi được ông Thảo giới thiệu
với một người Mỹ nói tiếng Pháp, còn tôi được gọi là kỹ sư không xưng
tên.
Sau lời chào hỏi lịch sự theo xã giao Tây phương, chúng tôi nói chuyện thoải mái với ông Mỹ này. Tôi nói :
- Nguyện vọng của chúng tôi là yêu cầu Mỹ rút quân để vấn đề chiến tranh này cho người VN giải quyết với nhau.
Người Mỹ đáp :
- Nếu quân đội Mỹ rút đi, thì CS sẽ chiếm miền Nam.
Tôi nói tiếp :
- Nếu CS có thắng thì chúng tôi hợp
tác với họ trong hòa bình, không còn bắn giết nhau nữa, người dân Việt
Nam mới sống yên ổn, sinh hoạt bình thường, không còn lo sợ chiến
tranh.
Người Mỹ này đứng dậy, lấy khăn lau mồ hôi trán, rồi chậm rãi đáp :
- Nếu CS vào Saigon, thì sẽ bắn giết lực lượng VNCH. Saigon sẽ thành biển máu lửa. VC sẽ bỏ tù hết các ông.
Tôi đáp ngày :
- Chúng tôi là dân sự, không chống
đối họ thì họ sẽ trọng dụng chúng tôi, nhất là chúng tôi là những
chuyên viên về kinh tế, kỹ thuật, có thể phục vụ cho đất nước bất cứ
lúc nào cũng được.
Ông Mỹ nói:
- Ông còn ảo tưởng lắm! Người CS có đường lối độc tài của họ, không sử dụng người trí thức đâụ Họ sẽ tiêu diệt giai cấp bằng
cách quốc hữu hóa tài sản của người dân, biến con người thành công cụ
sản xuất, nhằm bảo vệ giai cấp lãnh đạo của họ, được gọi là giai cấp
công nhân thất học đó.
Tôi có cảm tưởng khinh thường ông Mỹ này, vì tôi cho rằng ông đi tuyên truyền chống cộng như con vẹt. Tôi đáp:
- Xin lỗi ông, tôi không tin!
Trong khi đó, trước sự chú ý của
nhà văn Thanh Nghị, Hoàng Trọng Quỳ, ký giả Hoàng Trọng Miên, bà Ngô Bá
Thành, kỹ sư Trần Văn Quyến, ký giả Thiếu Sơn, kỹ sư Hồ Gia Lý...thì
ông Thảo cắt ngang lời nói của tôi. Ông nói:
- Cháu còn trẻ nên còn hăng đấy.
Ông Mỹ cười và quay sang bà Ngô Bá Thành ngồi kế bên nói chuyện một lúc. Rồi ông nói rõ lập trường của Mỹ như sau :
- Người Mỹ sang VN chiến đấu vì lý
tưởng tự do và bảo vệ tự do cho dân tộc VN. Với tư cách một người trí
thức Mỹ, tôi tin rằng số đông trí thức VN đều có du học ở phương Tây,
sẽ hiểu
biết được thực tâm của chính phủ Mỹ, để không chống đối Mỹ tiến hành
chiến tranh ở VN, nhằm ngăn chặn làn sóng sẽ do Trung quốc đang muốn
bành trướng sang VN và Đông Nam Á.
Trong dịp này, CS núp dưới chiêu bài "giải phong miền Nam", để rồi sau
khi chiếm được VNCH, họ sẽ thôn tính luôn cả Lào và Kampuchea.
Qua cuộc tiếp xúc này, tôi được
biết ý định của Mỹ, nhưng tôi vẫn xem Mỹ là kẻ xâm lược VNCH, vì lẽ
"người dân có kêu Mỹ tham chiến đâu"! Tự nhiên người Mỹ vào thay thế
người Pháp
sau Hiệp định Geneva 1954 và cai trị chế dộ VNCH xuyên qua các chính
quyền do Mỹ dựng lên. Sự có mặt của người Mỹ như chủ nhân ông, không có
chính nghĩạ Đối với lương tri con
người, mặc dù chính quyền Mỹ đã tốn rất nhiều tiền, và thanh niên Mỹ
phải bỏ mạng ở chiến trường VN. Bởi vì nếu CS xâm lược thì nhân dân miền
Nam có quyền tự vệ và đánh đuổi CS ra
Bắc Việt Cũng bởi vì quốc sách Ấp Chiến Lược của VNCH đang tỏ ra hữu hiệu thì Mỹ lại thay đổi chính sách chống Cộng!
Hoạt động của "Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam":
Sau khi MTGPMN không còn hữu hiệu
nữa, CS giải tán để lập thành "Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam
VN". Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa từ Ban Y tế qua làm Bộ trưởng Y tế. Các ông
trong Ban tuyên huấn mặt trận thì trở thành Bộ trưởng Thông tin hay
Giáo dục. Các ông già như ông Trịnh Đình Thảo, Lê Văn Giáp, Lâm Văn Tết
ra Bắc lánh nạn. Vợ chồng Thiên Giang,
Trần Kim Bảng ra Bắc để qua Đông Đức chữa bệnh. Lâm Văn Tết là kỹ sư, có
chân trong Thượng hội đồng quốc gia, thành lập sau khi lật đổ chính
phủ Ngô Đình Diệm. Tết được Trần Bạch Đằng móc nối theo CS.
Sau khi chính phủ ma này được dựng lên thì nó được lệnh của CS Bắc Việt
tổ chức đi thăm hữu nghị chính phủ Hoàng gia Kampucheạ Trong buổi họp,
đại diện chi bộ đảng là Huỳnh Tấn Phát tiết lộ cấp trên chỉ định "chị
Bảy Hồng", tức bác sĩ Dương
Quỳnh Hoa, tham gia phái đoàn của chính phủ do Huỳnh Tấn Phát cầm đầụ
Trên thực tế, phái đoàn này gồm toàn thể cán bộ cao cấp của Đảng CSVN,
chỉ có 2 người của "chính phủ cách mạng lâm thời" như kể trên. Phái
đoàn được dự trù tự động
đến thị xã Swayriêng thì xe chính quyền Kampuchea đón rước đưa về Phủ
Thủ tướng cho Lon Nol tiếp đón. Sau nghi lễ tiếp đón ở Dinh thủ tướng,
Lon Nol, thủ tướng chính phủ hướng dẫn phái đoàn "chính phủ cách mạng
lâm thời" đến hoàng cung ra
mắt thái tử Sihanouk và hoàng hậu Monique. Tối lại, phái đoàn được mời dự tiệc và nghỉ đêm tại nhà khách của hoàng cung.
Qua hôm sau, Huỳnh Tấn Phát, Dương Quỳnh Hoa, Hoàng Bích Sơn và Nguyễn
Văn Hiếu được Sihanouk hướng dẫn đi tham quan các cơ sở văn hóa của
kampuchea như Chùa Vàng, Chùa
Bạc và vài cơ sở kinh tế trong thành phố Nam Vang. Trong khi đó, phái
đoàn chuyên viên kinh tế giữa 2 chính phủ làm việc với nhau.
Cụ thể như VC cần mua 90,000 tấn gạo, nhưng VC ký hiệp định mua của
Kampuchea 60,000 tấn thôi, vì lẽ VC cảnh giác rằng chính phủ Kampuchea
có thể lật lọng thì CS sẽ ở vào thế bí. Còn 30,000 tấn gạo kia thì sẽ
giữ bí mật để mua gạo chợ
đen của dân chúng Miên tự động chở xuống biên giới Việt-Miên bán cho cơ
quan hậu cần của VC. Qua 3 ngày viếng thăm chính thức Kampuchea,
"chính phủ cách mạng lâm thời" muốn mua lòng Sihanouk, nên biếu cho
Kampuchea năm hòn đảo của VN
đối diện với thành phố Kép của Kampuchea . Năm hòn đảo này nguyên là
chủ quyền của VNCH, có dân cư VN đang sinh sống và VC biếu không cho
Kampuchea để lấy lòng Sihanouk, nhờ y cho phép chỡ vũ khí từ Kompongsom
lên biên giới Việt-Miên theo giá biểu 4000-5000 riel một tấn.
Nói về sự lãnh đạo
của đảng CS, thì trong phái đoàn này có Hoàng Bích Sơn của Bắc Việt là
người trực tiếp đưa ra đường lối và chủ trương của đảng, vì lẽ Sơn là
người với danh nghĩa thư ký của MTGPMN, nhưng lại lãnh đạo trực tiếp
Nguyễn Hữu Thọ
trong thời kỳ chiến tranh VN. Còn tại "Phủ chủ tịch" của "Chính phủ
Cách mạng Lâm thời" thì tên Tư Dũng là Bí thư đảng đoàn của Phủ chủ
tịch, tức là lãnh dạo luôn cả Huỳnh Tấn Phát trong mọi sinh hoạt. Còn ở
Tòa Đại sứ VC ở nam Vang, thì tên Ba
Dũng là Đệ nhất bí thư Toà Đại sứ, lãnh đạo Đại sứ Nguyễn Văn Hiếu, măc
dù Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát và Nguyễn Văn Hiếu đều là đảng viên,
nhưng không thuộc thành phần công nhân và bần cố nông vô sản, nên
không được
quyền lãnh đạo theo chủ trương của Đảng CSVN. Tôi nói rõ như vậy để
chứng minh rằng CSVN không bao giờ sử dụng khả năng của người trí thức.
Nếu người trí thức đó do chế độ tư
bản đào tạo mà đứng được trong hàng ngũ CS thì có 2 lẽ : một là đảng
viên kỳ cựu cở Nguyễn Khắc Viện và Huỳnh Tấn Phát, đã lỡ phóng lao thì
phải theo laọ Nhưng sau này, Nguyễn Khắc
Viện cũng bị thất sủng rồi; thứ hai là các trí thức cơ hội, chế độ nào
cũng hùa theo để kiếm ăn cở Nguyễn Xuân Oánh, Nguyễn Ngọc Hà, Ngô Bá
Thành, Lý Chánh Trung,...
Sau khi kết thúc việc viếng thăm
chính thức Kampuchea, Lon Nol đích thân đưa phái đoàn "chính phủ cách
mạng lâm thời" của VC từ Nam Vang về biên giới Việt-Miên. Tại biên giới
này,
nhờ con sông Saigon chia dôi 2 nước, VC chuẩn bị sẵn xuồng để băng qua
sông. (chỗ hẹp nhất phía trên đó như 1 dòng suối) ở đoạn hẹp nhất để
trở lại căn cứ VC trên đất
Kampuchea. Trong dịp này, Hoàng thân Sihanouk có biếu cho "chính phủ
cách mạng lâm thời" 16 tấn khô cá, gọi là món quà hữu nghị Khmer-VN.
Từ đất Miên băng qua
sông, tưởng là qua lãnh thổ VN cũng rất thực tế. Có lần, ký giả
Burchette, 2 giáo sư y khoa người Pháp tên là Can và Crévin và Đại sứ
Raoul Castro của Cuba từ Nam Vang đến vùng VC có nhiệm vụ gì đó, cũng
bị VC đánh lừa
bằng cách cho xuống xuồng băng ngang qua sông, đi một đổi thật xa, lên
tới nguồn sông Saigon, rồi băng trở lại chỗ hẹp nhất như băng qua suối
để đi về căn cứ VC trên đất Miên mà
họ tưởng rằng căn cứ đó ở miền Nam VN. Nhờ những thủ đoạn vặt như vậy
mà CS mới tuyên truyền bịp dư luận ở ngoại quốc, và căn cứ trên đất
Miên không bị tiêu diệt bởi lực lượng VNCH.
Điều đó chứng tỏ VC không thành thật ngay với cán bộ của mình, lẫn đồng minh.
Trong một dịp trò chuyện với bác sĩ
Nguyễn Văn Thủ và bác sĩ Trần Hữu Nghiệp năm 1969 tại "phủ chủ tịch
Chính phủ cách mạng lâm thời", hai anh này nói với tôi rằng hai anh có
nhiệm
vụ đi rước khách nước ngoài kể trên tại bờ sông biên giớị hai anh hướng dẫn khách nước ngoài lên bờ bên này, đi rất xa
nhưng khi lên ngọn suối băng trở lại thì giáo sư Crévin nói rằng, "Tôi
có cảm tưởng là tôi trở lại đất Kampuchea". Anh bác sĩ Thủ liền đáp :
- Xa đất Kampuchea lắm rồi.
Tất cả đều cười hả hê vì đi quá xa, qua trảng thì sợ máy bay xạ kích tự do nên cũng thắm mệt, không nhớ phương hướng gì
cả. Trên thực tế, căn cứ của Ban Dân Y chỉ nằm cách chỗ xuồng đậu 500m
trên đất Kampuchea, tức là khỏi cần qua sông cũng đi tới rất mau lẹ
thôi!
Tôi và anh Trương Như Tảng có đến căn cứ này dự lễ mãn khóa đào tạo 200
bác sĩ y khoa do bác sĩ Trần Hữu Nghiệp mờị Trong số sinh viên y khoa,
tôi để ý một nhóm nữ sinh người
Hoa, không thạo tiếng Việt mà cũng đi học. Đó cũng là đường lối chính
trị lừa bịp của CS, khích lệ người Hoa tham gia mặt trận chống Mỹ. Đó
là lời tiết lộ của cô Phùng Ngọc Anh, 21
tuổi, bị nhốt tại Tổng nha Cảnh sát VNCH sau khi bắn lính Mỹ bằng cả hai tay cầm hai cây súng nhỏ, giữa thành phố Saigon.
Cô là người Hoa Chợ Lớn, bị quân cảnh bắt tại hiện trường, nhưng đưa qua Cảnh sát Quốc gia điều tra không ra manh mốị.
Đêm đầu tiên của trận Mậu Thân 1968, cô bị đem thủ tiêu mà không chết.
Cô được xe cứu thương đem về Nhà thương Chợ Rẫy thì công an phát hiện,
đem biệt giam bỏ luôn không chữa
và không cho ăn uống. Nhưng có một sinh viên người Việt ở lứa tuổi của
cô, vận động anh em tù gởi thuốc trụ sinh vào cho cô uống và đem cơm
cho cô ăn. 2 tháng sau, cô lành bệnh vì bị một lằn đạn xuyên qua mông
đít.
Sau này tôi xem báo
biết cô ta bị kêu án 20 năm tù và bị đày ra Côn Đảọ Đến năm 1973 khi
được trao đổi tù binh, cô được đưa về Hà Nội. Lần cô bị đem thủ tiêu
năm 1968 có 2 người khác nữa là Lê Thị Riêng và Trần Văn Kiểu. Cả 3
người bị bắn ở
đường Hồng Bàng, trước Trường Cây Mai. Riêng cô Phùng Ngọc Anh đã may
mắn bị đạn nhưng không chết. Trong hội nghị Paris chấm dứt chiến tranh
VN, VC tố cáo hành động này
của VNCH, rồi qua lời trình bày của Đỗ Thị Duy Liên (vợ Trần Bạch
Đằng), là người đồng cảnh với Phùng Ngọc Anh, hội nghị Paris bị VC tẩy
chay một tuần lễ để phản đối VNCH. Đó là năm 1969.
Hứa Hoành
Bình Luận:
Bài này được giáo sư
Hứa Hoành viết theo trí nhớ nên có thể có một số chi tiết không đúng.
Chẳng hạn vụ ba ông hòa bình được đưa ra Bắc xảy ra sau khi chế độ Ngô
Đình Diệm đã chấm dứt chứ không phải do chế độ Ngô Đình Diệm đưa ra
Bắc.
Về tổng quát, bài này nói về một số
trí thức miền Nam thời đó được đảng Cộng Sản Việt Nam lôi kéo để lập
ra các tổ chức độc lập với chính quyền miền Nam, không chủ trương chống
Cộng như chính quyền miền Nam với mục đích là để phân hóa nội bộ
miền Nam, không để cho miền Nam trở thành một khối đoàn kết nhất trí
chống Cộng Sản. Vì chỉ dùng những trí thức đó với mục đích tạm thời là
phân hóa nội bộ miền Nam nên các trí thức đó có cảm tình với đảng Cộng
Sản Việt Nam đến mức nào
thì không quan trọng, miễn sao họ làm đúng theo quĩ đạo của đảng Cộng
Sản Việt Nam vạch ra, là lên tiếng đòi hòa bình, không dùng vũ lực
chống Cộng. Trong khi đó thì đảng Cộng Sản Việt Nam ra sức dùng lực
lượng vũ trang để tấn công miền Nam với mục đích đánh chiếm miền Nam.
Vì chỉ dùng tạm thời nên các trí
thức đó chỉ được sử dụng khi chế độ miền Nam chưa bị Cộng Sản chiếm.
Sau 1975, nhiều trí thức trong các phong trào này sống trong im lặng vì
chế độ không cần đến họ nữa và họ cũng chẳng có quyền lực gì trong
thời gian hoạt động.
Người miền Nam cho rằng các trí
thức này bị đảng Cộng Sản Việt Nam đánh lừa, lợi dụng. Nhưng trong số
tên tuổi xuất hiện trong các phong trào đó ai là người bị đánh lừa và
ai là người đi lừa thì đến ngày nay cũng không thật sự rõ ràng vì nhiều
người
vào thời đó là đảng viên, nhận chỉ thị của đảng Cộng Sản Việt Nam để
lôi kéo trí thức nhưng họ dấu tung tích của họ. Nên có khi kẻ tưởng là
bị lừa thật sự lại là kẻ đi lừa. Một số người mà dân miền Nam thời đó
tưởng chỉ là thân cộng, nghĩa là có cảm
tình với Cộng Sản, thì thật sự là đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam.
Chẳng hạn, trong số ba ông hòa bình bị chính quyền miền Nam đưa ra Bắc
vào thời sau 1963 có giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ đã là đảng viên từ năm
1947 nhưng ông ta đâu có
dại gì nói ra mình là đảng viên vào thời đó mà chỉ nói mình là trí thức
chống chiến tranh, muốn hòa bình. Cũng như bà Nguyễn Thị Bình trả lời
với nhà báo ngoại quốc năm 1965 là mình không phải là đảng viên như
thật ra là bà đã gia nhập
đảng Cộng Sản từ năm 1948. Ông Tôn Thất Dương Kỵ kêu gọi dân miền Nam
hãy theo đường lối hòa bình đừng cầm súng chống lại miền Bắc trong khi
đồng chí của ông thì đem toàn lực tấn công miền Nam để đánh chiếm miền
Nam. Trong số người
thấy mình bị lừa có ông Trương Như Tảng. Sau 1975, ông thấy những gì
đảng Cộng Sản làm không giống như những gì đã hứa là để miền Nam theo
chế độ không cộng sản, có nhiều thành phần chính trị tham dự, nên ông
đã vượt biên, rồi sang Pháp sống quãng đời còn lại.
Về mặt lãnh thổ, khi đảng Cộng Sản Việt Nam cần Trung Quốc viện trợ vũ
khí thì đảng Cộng Sản Việt Nam dâng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc.
Trong bài trên, đảng Cộng Sản
Việt Nam dâng cho Cam Bốt năm hòn đảo ở gần Cam Bốt. Xem ra đảng Cộng
Sản Việt Nam xem nhẹ lãnh thổ quốc gia, khi cần ngoại bang giúp mình
việc gì thì không ngần ngại cắt đất dâng
cho ngoại bang. Nói chung chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam là có
thể làm bất cứ chuyện gì miễn là đạt được cái lợi trước mắt. Khi cần
tiêu diệt các phe phái đối lập thì bịa đặt, vu khống để giết họ, hứa hẹn
những cái mình sẽ không làm để lôi
kéo người hoạt động cho mình, xuyên tạc, bịa đặt lịch sử miễn sao có
lợi cho mình, còn dân tộc bị nhiễm các hiểu biết lầm lạc thì mặc kệ.
Chi bộ trí thức
14:50 | 08/10/2012
Lê Văn Lân
Chi bộ Trí thức là một cụm từ vừa thân quen vừa lạ lẫm. Thân quen là đối
với những người hoạt động trong phong trào đô thị Huế. Và lạ lẫm là
trong công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là ở thời điểm 9 năm kháng chiến
chống Pháp. Những năm 1948 - 1950 ở Huế có một Chi bộ như thế: Chi bộ
Trí thức.
Lịch sử Đảng bộ thành phố (1930 - 2000) đã ghi rõ: “Một Chi bộ do Thị ủy
trực tiếp chỉ đạo đã được thành lập gồm ông bà bác sĩ Thân Trọng
Phước, bác sĩ Lê Khắc Quyến, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, kỹ sư Nguyễn
Hữu Đính, công thương gia Nguyễn Ngọc Bang”.
Chân dung Chi bộ Trí thức
Ở thời điểm này, phần lớn những người trong Chi bộ Trí thức đều đã mất.
Những người trực tiếp lãnh đạo Chi bộ như ông Tư Minh, ông Ngô Lén, ông
Hồng Xích Tâm, ông Vũ Xuân Chiêm, ông Hoàng Lanh... đều không còn,
những người còn sống thì
cũng đã qua tuổi 90, nhớ nhớ quên quên. Chúng tôi tìm gặp ông Trần Hân,
nguyên Bí thư Thị ủy Huế những năm 1954 - 1955, qua trao đổi ông cho
biết: Khi nhận nhiệm vụ Bí thư Thị ủy nghe nói trước đó có Chi bộ Trí
thức nhưng không rõ lắm, có gì gặp ông Phan Nam. Chúng tôi tìm gặp ông
Ngô Yên Thi,
nguyên Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, người chỉ đạo biên soạn lịch
sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế. Ông khẳng định: Những năm 1948 - 1950 Huế có
Chi bộ Trí thức nhưng lúc đó mình
còn nhỏ không rõ lắm. Người biết rõ Chi bộ này là ông Phan Nam. Qua
giới thiệu của ông Trần Hân và ông Ngô Yên Thi, chúng tôi tìm gặp ông
Phan Nam - nguyên Chủ tịch UBND Thành phố.
Ông Phan Nam, là cán bộ lão thành cách mạng tham gia cướp chính quyền ở
huyện Phú Lộc trong Cách mạng Tháng 8, cùng đồng bào Phú Lộc biểu tình
cướp chính quyền Huế. Là tự vệ cảm tử xã Vinh Giang (Phú Lộc) tăng
cường tham gia trung
đoàn Trần Cao Vân 101. Năm 1947 là Bí thư Chi bộ xã Vinh Giang, Bí thư
Chi bộ nhiều xã vùng địch hậu ở Phú Lộc, tham gia Huyện ủy Phú Lộc.
Chuẩn bị cho tổng phản công 1950; ông Phan Nam, ông Võ Đại Triều là 2
trong 6 người được Thường
vụ Tỉnh ủy điều động tăng cường vào bám trụ ở Huế. Và cơ sở ông Phan
Nam tiếp cận chính là Chi bộ Trí thức với nhiệm vụ quan hệ và phát huy
Chi bộ này trong tổng phản công. Ông Phan Nam tâm sự: Ban đầu tiếp xúc
với các vị trong Chi bộ Trí
thức ông rất ngại vì lúc đó ông còn rất trẻ, các vị lại vào hàng cha
chú, học nhiều hiểu rộng, hiểu chủ nghĩa Cộng sản từ trường học, sách
báo phương Tây. Vào Đảng từ sự kính trọng
những nhà trí thức lớn chung quanh Bác Hồ và xem những nhà lãnh đạo ở
Huế lúc bấy giờ như ông Tư Minh, ông Ngô Lén... là “thần tượng”. Vì
vậy, các vị rất tin tưởng những anh em Tỉnh ủy cử về tiếp xúc.
Theo ông Phan Nam, người Thị ủy phân công chỉ đạo trực tiếp Chi bộ là
ông Tôn Thất Long, con trai cụ Thượng thư Tôn Tất Đàn. Bí thư Chi bộ là
kỹ sư Hà Xuân Hiển, các đảng viên trong chi bộ gồm các vị: Ông Hà Xuân
Vịnh (em ruột ông Hà Xuân
Hiển), hai vợ chồng bác sĩ Thân Trọng Phước, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ,
bác sĩ Lê Khắc Quyến, kỹ sư Nguyễn Hữu Đính, họa sĩ Phạm Đăng Trí,
công thương gia Nguyễn Ngọc Bang, cùng một số vị mà giờ không nhớ hết.
Danh sách có thể kéo dài thêm nữa.
Ông Trần Hân, nguyên Trưởng ty Công an Thừa Thiên Huế, tháng 7/1954 ông
được phân công vào Huế làm Bí thư Thành ủy (lúc này thị ủy được nâng
lên Thành ủy, trực thuộc Khu ủy khu IV) trực tiếp chỉ đạo phong trào
hòa bình ở Huế. Một năm
sau tháng 8/1955 ông bị địch bắt trong suốt 20 năm, gần như toàn bộ
tuổi thanh xuân của mình ông triền miên chiến đấu với kẻ thù từ nhà tù
này đến nhà tù khác, đặc biệt là địa ngục trần gian Côn Đảo. Năm 1974
địch thả ông ra trong tình trạng thập
tử nhất sinh, hai chân bại liệt, chỉ còn chờ chết. Tổ chức đã nhanh
chóng đưa ông ra vùng giải phóng. Ở vùng giải phóng, trong các cuộc
tiếp xúc cùng cán bộ chiến sĩ B14 (cơ quan
Thành ủy trong kháng chiến); ông Hoàng Lanh luôn giới thiệu ông Trần
Hân là một người anh đáng kính, kiên cường trong đấu tranh với kẻ thù,
thà chết cương quyết bảo vệ cách mạng, bảo vệ đồng chí đồng đội.
Ông Trần Hân cho biết: Có nghe nói Chi bộ Trí thức nhưng không rõ lắm.
Nhưng những tâm sự của ông Trần Hân cũng cho ta cảm nhận thành viên của
Chi bộ Trí thức có thể đông hơn. Chẳng hạn giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ,
Tôn Thất Dương
Tiềm đã là đảng viên khi còn ở Vân Dương, năm 1947 được Thị ủy điều vào
cư trú trong nội thị. Và như vậy trong Chi bộ Trí thức có giáo sư Tôn
Thất Dương Tiềm. Cũng theo ông Trần Hân, Thị ủy lãnh đạo phong trào
nhân sĩ trí thức yêu nước qua
một ban cán sự gồm bác sĩ Thân Trọng Phước, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ,
nhà văn Võ Đình Cường. Nhà văn Võ Đình Cường trong ban cán sự Đảng thì
không thể không là đảng viên...
Nhưng chỉ chừng ấy thôi cũng đã nói lên tầm vóc, vị trí, tính chiến lược
của Chi bộ Trí thức nằm ngay trung tâm đầu não của thực dân Pháp và
triều đình phong kiến ở Huế; mới thấy
hết tính sáng tạo, độc đáo của Thị ủy Huế trong công tác xây dựng Đảng.
Chúng ta cần biết tháng 7/1947 Huế chỉ có 10 đảng viên, năm 1948 có 38
đảng viên, cuối 1949 là 100 đảng viên (trong đó có 72 đảng viên hoạt
động hợp pháp).
Thời đó, khi nói đến Chi bộ Trí thức, nhiều người nói vui đó là Chi bộ
Salon, Chi bộ Bơ sữa. Trên một khía cạnh nào đó điều này cũng đúng. Theo
ông Trần Hân, nói Chi bộ Bơ sữa bởi người dân thời đó làm gì có bơ sữa
để ăn, những người trong
Chi bộ Trí thức phần lớn có cuộc sống quá đầy đủ, có vị trí xã hội cao
trong vùng tạm chiếm. Nói Chi bộ Salon cũng đúng bởi vì những vị trong
Chi bộ thực sự là những chính khách như bác sĩ Thân Trọng Phước hoạt
động cách mạng từ những năm 20
của thế kỷ trước, là đảng viên Đảng Tân Việt từ những năm 1925, được kết nạp vào Đảng Cộng sản từ những năm 1930.
Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ có tinh thần đấu tranh với kẻ thù không mệt
mỏi, với uy tín nghề nghiệp và uy thế chính trị của mình, buộc địch
không còn cách nào khác trục xuất qua sông Bến Hải năm 1965, tạo nên
một sự kiện độc đáo trong cách
mạng miền Nam. Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế,
người đấu tranh trực diện với chính quyền Diệm khi chúng đưa giáo sư
Trần Hữu Thế ra thay linh mục Cao Văn Luận (người ủng hộ phong trào đấu
tranh của Phật giáo) làm
Viện trưởng Viện Đại học Huế, sau chính biến 1963, bác sĩ Lê Khắc Quyến
là Chủ tịch Hội đồng nhân dân cứu quốc khi ngụy quyền thành lập cơ
quan lãnh đạo Tam đầu chế: Dương Văn Minh - Trần Thiện Khiêm - Nguyễn
Khánh, ra thông báo đòi tập
đoàn Cần lao phải đến trình diện và tự thú. Uy thế của phong trào buộc
địch phải mời bác sĩ Lê Khắc Quyến tham gia vào cơ quan lãnh đạo cao
nhất của chúng: Thượng hội đồng Quốc gia.
Hoặc như kỹ sư Nguyễn Hữu Đính, thời chống Pháp đã là Giám đốc Nha Thủy
Lâm Trung trung bộ, một chức vụ bộ trưởng trong chính quyền Mỹ - Ngụy
có lẽ không quá khó khăn nếu cụ muốn.
Chi bộ Trí thức và phong trào hòa bình
Phong trào Hòa bình là phong trào đấu tranh trong các đô thị, đặc biệt
là Huế và thành phố Sài Gòn diễn ra từ năm 1954 với nhiệm vụ chiến lược
là bảo vệ hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Genève, đòi hiệp thương tổng
tuyển cử, đòi dân chủ dân sinh,
hướng mọi người vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Lúc này Chi bộ Trí thức
không còn nữa, nhưng chính những người trong Chi bộ Trí thức lại là
những nhân vật chủ chốt của phong trào này.
Phong trào Hòa bình ở Huế mở ra trong lúc Mỹ - Diệm mở chiến dịch “Tố
cộng”. Ai nói hòa bình, bảo vệ hòa bình là cộng sản. Chúng xem ngày ký
Hiệp định Genève 20/7 là ngày Quốc
hận. “Quốc gia phải tiêu diệt cộng sản đến tên cuối cùng”. Đỉnh cao của
Phong trào Hòa bình là 2 cuộc biểu tình lớn ngày 1/5 và 28/8/1955, mỗi
cuộc biểu tình thu hút trên 3 vạn đồng bào tham dự. Nhân ngày quốc tế
lao động 1/5, các tầng lớp nhân dân Huế và các huyện mitting tại Quảng
trường Phu Văn Lâu
đòi dân sinh, dân chủ, đòi đắp đập Thuận An, đòi lập quan hệ Bắc Nam,
tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đòi tôn trọng và thực thi
dân chủ, chống đàn áp khủng bố. Cuộc biểu tình ngày 28/8, cũng nội dung
đòi thi hành Hiệp định Genève
nhưng quyết liệt hơn nhiều, cuộc biểu tình với bảng kiến nghị mang hàng
vạn chữ ký của nhân dân đòi Ngụy quyền phải bàn bạc, hiệp thương tổng
tuyển cử. Chính quyền Diệm điều động
công an, cảnh sát, mật vụ và cả quân đội đàn áp tàn bạo. Sau đó Ngô
Đình Diệm phải ra Huế xoa dịu và giải quyết một số yêu sách.
Nói đến Phong trào Hòa bình ở Huế không thể không nhắc đến tập văn Ngày
Mai (xem thêm Sông Hương số 275, tháng 1/2012). Liền sau khi hiệp định
Genève ký kết, tháng 8/1954 tập văn Ngày Mai ra mắt bạn đọc, tiếp đó
tháng 10/1954 tập 2,
tháng 12/1954 tập 3, tập 4 số mùa xuân 1955 được gọi là tập văn Xuân
Hòa Bình; tập 5 bị tịch thu hoàn toàn, giấy phép xuất bản bị rút. Nòng
cốt của tập văn Ngày Mai phần lớn là trong Chi bộ Trí thức gồm các ông
Thân Trọng Phước, Tôn Thất
Dương Kỵ, Nguyễn Hữu Đính, Cao Xuân Lữ, Tôn Thất Dương Tiềm, Võ Đình
Cường, Phạm Đăng Trí, Nguyễn Hữu Ba... Không chỉ ở Huế, tập văn Ngày
Mai còn được phát hành tại Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt và thành phố Hồ
Chí Minh. Trong bối cảnh thông tin tuyên truyền thời đó, việc ra đời
tập văn Ngày
Mai như là một cơ quan ngôn luận hợp pháp của cách mạng là một cái gai
trước mắt đối với chính quyền Mỹ - Diệm. Ngay từ tập 1, Võ Đình Cường,
Tôn Thất Dương Kỵ, Lê Quang Vịnh đã bị trấn áp; đến Ngày Mai tập 3 thì
họ bị bắt giam và trục xuất khỏi Thừa Thiên Huế.
Đánh giá Phong trào Hòa bình, tập văn Ngày Mai và Chi bộ Trí thức là một
việc làm nghiêm túc và cần thiết không chỉ ở một giai đoạn lịch sử sau
Hiệp định Genève mà còn tác động đến phong trào đô thị Huế trong những
năm chống Mỹ cứu nước.
Nhưng điều không ai có thể phủ nhận được phong trào đã tập hợp rộng rãi
các tầng lớp nhân sĩ trí thức, các công thương gia tiêu biểu của Huế,
từ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, Võ Liêm Sơn... đến
Nguyễn Hữu Ba, Tam Ích, Lê
Dân... và thế hệ trẻ thời đó như Lê Quang Vịnh, Trụ Vũ, Hoàng Nguyên...
Mặc khác Phong trào Hòa bình đã đẩy Mỹ - Diệm vào chân tường buộc Diệm
phải bộc lộ chân tướng trước nhân dân
làm tay sai cho Mỹ, buộc Mỹ phải phơi bày dã tâm của kẻ xâm lược can thiệp vào nội tình Việt Nam, kéo dài sự chia cắt.
Đảng viên Chi bộ Trí thức thời chống Mỹ
Có thể nói sau năm 1954, Chi bộ Trí thức trên thực tế không còn tồn tại.
Nhiều đảng viên không còn sinh hoạt Đảng. Có nhiều nguyên nhân và chỉ
có người trong cuộc mới có thể trả lời được. Mặc khác, Chi bộ Trí thức
cũng như các đảng viên
nhân sĩ trí thức phần lớn được tổ chức hoạt động đơn tuyến, bảo đảm bí
mật và thế hợp pháp, sinh hoạt bị gián đoạn làm mất liên lạc đảng viên
là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, dù
trong hoàn cảnh nào, đảng viên trong Chi bộ Trí thức vẫn đứng vững trên
trận tuyến của mình và là chỗ dựa tin cậy vững chắc của cách mạng
trong lòng địch và trong chừng mực nào đó, họ và gia đình đã trở thành
những pháo đài giữa lòng thành phố.
Đó là giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, đảng viên từ năm 1947 ở Vân Dương được
điều vào nội thị, là người chủ chốt trong Chi bộ Trí thức và Phong trào
Hòa bình. Ông bà Tôn Thất Dương
Kỵ có nhà In Khánh Quỳnh hoạt động những năm 1950 - 1951, Nxb Tâm Huệ
hoạt động cuối năm 1953. Đây là nơi đã xuất bản tập thơ Tiếng nói dân
nghèo, toàn văn Hiệp định Genève, thơ Vũ Anh Khanh, thơ Đoàn Văn Long.
Sau tập văn Ngày Mai,
ông bị địch bắt và trục xuất khỏi Thừa Thiên Huế. Vào thành phố Sài Gòn
ông tiếp tục hoạt động cách mạng và bị trục xuất qua sông Bến Hải năm
1965. Năm 1968 ông tham gia vào liên minh các Lực lượng dân tộc dân chủ
hòa bình. Anh em chú bác
với ông là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, trong Chi bộ Trí thức, hoạt
động trong Nội thành đến năm 1968 thoát ly tham gia kháng chiến và sau
ngày giải phóng là Trưởng phòng Giáo dục.
Bố vợ giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, cụ Nguyễn Đóa hoạt động trong Nội
thành, năm 1968 thoát ly tham gia kháng chiến và là Phó Chủ tịch Chính
phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Anh rể giáo sư Tôn
Thất Dương Tiềm, ông
Phan Văn Chính, một cơ sở cách mạng tin cậy trong lòng địch... Nói
chung toàn bộ gia đình là cơ sở “cộm cán” của Thành ủy; các đồng chí
lãnh đạo thành phố Hoàng Lanh, Phan Nam, Hoàng Kim Loan... khi vào Nội
thành đều đến các gia đình này bởi được bí mật và an toàn.
Đó là kỹ sư Nguyễn Hữu Đính, đảng viên trong Chi bộ Trí thức từng là
Giám đốc Nha Thủy Lâm Trung trung bộ, Hiệu trưởng Trường Nông Lâm Súc
Huế. Trong chống Mỹ cứu nước ông là
đầu mối giúp Thành ủy móc nối liên lạc với tầng lớp trên, ông cũng là
Chủ tịch Ủy ban Bảo trợ Sinh viên Huế, hỗ trợ hoạt động của Tổng hội
Sinh viên Huế những năm cuối cùng của cuộc chiến. Nhà ông có hai căn
hầm bí mật là nơi an toàn cho
các đồng chí lãnh đạo thành phố đột nhập vào Huế. Con cụ nhiều người là
cơ sở cách mạng như Nguyễn Hữu Châu Phan hoạt động trong Nội thành,
Nguyễn Hữu Hài hoạt động ở Sài
Gòn và thoát ly tham gia kháng chiến. Sau giải phóng cụ là Ủy viên
Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch UBMTTQ thành phố Huế. Cụ cũng là
người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Huế.
Có thể nói rằng, không riêng gì gia đình giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, kỹ
sư Nguyễn Hữu Đính, bác sĩ Thân Trọng Phước... những người trong Chi bộ
Trí thức dù còn tiếp tục sinh hoạt Đảng hoặc bị gián đoạn, nhưng suốt
quá trình chống Pháp
cũng như chống Mỹ cứu nước họ luôn là người trí thức mẫu mực đáng kính,
tùy theo cương vị của mình họ luôn có đóng góp tích cực vào sự nghiệp
giải phóng dân tộc. Bản thân họ và
gia đình là một pháo đài giữa lòng thành phố với đầy đủ sức hút và lan
tỏa của nó. Họ là tấm gương sáng, là ngọn cờ tập hợp lực lượng trong
phong trào đô thị.
Lê Văn Lân
Tạp chí Sông Hương, số Đặc Biệt
(SĐB9-12)
Những người tác động tới nội các Dương Văn Minh
QĐND - Thứ Ba, 16/04/2013
QĐND - Tôi có dịp gặp
Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (tức Sáu Trí), người chỉ huy Khối điệp
báo-Tình báo quân sự Quân giải phóng miền Nam trong thời kỳ kháng chiến
chống Mỹ và được nghe ông kể lại những năm tháng hoạt động nội tuyến
trong Tổng Nha Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn, nhất là thời điểm ông
và đồng đội từng tham gia tác động để nội các Dương Văn Minh tuyên bố
đầu hàng ngày 30-4-1975…
Trưa 28-4-1975, sau bữa cơm trưa,
tôi đang ngồi đọc báo trên gác nhà H3 (bí danh của Ba Lễ, một cán bộ
điệp báo của ta) tại khu Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn thì một người con
của H3 lên báo tin: Có hai người không phải bạn của H3 nhưng lại nói
muốn gặp Sáu Trí. Đây là một tình huống bất ngờ, song tôi nghĩ mình cần
phải tìm hiểu cụ thể hơn nên đã nhờ H3 xuống phòng khách xem hai người
ấy là ai, tại sao lại biết tôi ở đây, gặp tôi để làm gì? Một lát sau,
H3 lên cho biết: Đó là anh Tô
Văn Cang, một nhân sĩ trí thức yêu nước, công tác trong lưới tình báo
của anh Đinh Sơn Đường (tức Hai Thắng) Cụm A24 từ đầu năm 1973. Cùng đi
với anh là kỹ sư Lê Văn Giàu, một cơ
sở trí vận của ta. Tô Văn Cang đến đây là do nội các Dương Văn Minh
muốn nhờ anh đi tìm đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhằm
thương lượng một vấn đề quan trọng.
Sở dĩ Tô Văn Cang biết tôi có mặt
tại Sài Gòn là do Hai Thắng tiết lộ. Thấy việc đó không ảnh hưởng nhiều
tới công việc của lưới tình báo nên tôi đã xuống gặp. Khi thấy tôi, Tô
Văn Cang
đứng dậy chào, tự giới thiệu là cán bộ của Cụm A24 và là cha ruột của
một chiến sĩ tình báo công tác tại A24. Anh xin lỗi vì đã vi phạm
nguyên tắc bí mật, đường đột đến tìm tôi và cho biết: “Tôi là bạn thân
của Nguyễn Văn Diệp (Tổng trưởng Tiếp
thương trong nội các Dương Văn Minh, trước đó Diệp là Giám đốc Việt Nam
ngân hàng). Vì Dương Văn Minh muốn bố trí gặp người đại diện cấp cao
của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nên Diệp đã nhờ tôi đi tìm”. Tô Văn Cang
cũng giải thích vì nội các
Dương Văn Minh chia làm hai phe, một phe chịu thương lượng với Mặt trận
Dân tộc Giải phóng để kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, phe thứ
hai với người đại diện là Nguyễn Bảo Kiếm
quyết tử thủ Sài Gòn, cố gắng kéo dài chiến tranh thêm một thời gian hòng kiếm giải pháp có lợi cho chính quyền Sài Gòn.
Phe chủ hòa do Diệp cầm đầu có nhiều ảnh hưởng đến Dương Văn Minh nên
muốn tìm gặp đại diện của ta để xử trí trong bối cảnh căng thẳng. Tôi
trả lời Tô Văn Cang là chỉ vào Sài Gòn có
việc riêng nên không có tư cách đại diện của cách mạng để gặp gỡ bất cứ
ai, còn chính quyền Dương Văn Minh muốn gặp Chính phủ Cách mạng lâm
thời thì cứ đến cơ quan bốn bên tại Tân Sơn Nhất, ở đó luôn có người
thường trực. Tô Văn Cang
truyền đạt câu hỏi thứ hai của Nguyễn Văn Diệp: Trong hoàn cảnh hiện
nay, nội các Dương Văn Minh nên xử trí ra sao? Tôi trả lời rằng, Dương
Văn Minh là một nhà quân sự nên ông ta có thừa khả năng để đánh giá
tình thế khi Sài Gòn đang bị các
quân đoàn của Quân Giải phóng bao vây. Quân đội Sài Gòn sẽ không còn đủ
lực lượng để chống đỡ, Mỹ không thể đưa quân trở lại và cũng không còn
thì giờ tiếp cứu. Chính quyền Sài Gòn đừng ảo tưởng vì sự cứu viện của
Mỹ cũng như của bất cứ
cường quốc nào. Sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn được tính từng ngày, nếu
để kéo dài tình trạng ấy sẽ gây tác hại lớn, đồng bào thương vong
nhiều, thành phố Sài Gòn sẽ đổ nát. Nếu chọn
giải pháp tử thủ Sài Gòn thì nội các Dương Văn Minh sẽ phải chịu trách
nhiệm trước lịch sử, trước nhân dân. Vì thế, việc đầu hàng ngay và đầu
hàng vô điều kiện là thái độ có trách nhiệm trước sinh mạng của nhân
dân...
Sau đó, Tô Văn Cang đã thông qua
Nguyễn Văn Diệp và Nguyễn Đình Đầu (một trí thức có nhiều ảnh hưởng đối
với Dương Văn Minh) nhằm tác động đến viên tổng thống cuối
cùng của chính quyền Sài Gòn. Thảo luận với Nguyễn Văn Diệp xong thì 16
giờ ngày 29-4, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền lên đài phát thanh
tuyên bố “sẵn sàng thương thuyết hòa bình với Mặt trận Giải phóng”.
Khoảng hơn 8 giờ ngày 30-4, Nguyễn
Đình Đầu điện thoại cho anh Cang báo tin là Dương Văn Minh đã chịu chấp
thuận đầu hàng vô điều kiện. Nguyễn Văn Diệp cũng gọi điện thoại mời
Tô Văn Cang vào Dinh Độc Lập để tổ chức đón tiếp Chính phủ
Cách mạng lâm thời và dặn nên đi theo lối đường Nguyễn Du, tại đó
Nguyễn Văn Diệp sẽ ra đón. Tô Văn Cang liền đi cùng xe do kỹ sư Lê Văn
Giàu lái hướng về phía Dinh Độc Lập, nhưng
đến cầu Bông thì xe bị cảnh sát Sài Gòn chặn lại, không cho vào nội
thành. Xe phải chạy ra lối ngã tư Hàng Xanh, đến ngã tư xa lộ thì gặp
đoàn xe thiết giáp của Quân Giải phóng từ
hướng cầu Sài Gòn chạy đến và đang lúng túng chưa biết đi đường nào. Tô
Văn Cang liền tiến đến chiếc đi đầu và ra hiệu cho đoàn xe thiết giáp
chạy theo xe của mình…
Khoảng 9 giờ 30 phút sáng 30-4, tại
nhà H3, tôi nghe trên Đài Phát thanh Sài Gòn lời phát biểu của Dương
Văn Minh kêu gọi quân đội Sài Gòn buông súng, chấp nhận những điều kiện
của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Vài giờ sau, Tô Văn Cang và
người bạn của anh là kỹ sư Lê Văn Giàu lại mời tôi và H3 vào Dinh Độc
Lập để chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh, tránh mọi
hành động đáng tiếc xảy ra khi Quân Giải
phóng vào tiếp quản Dinh Độc Lập. Tôi và H3 cùng theo xe của Tô Văn
Cang vào Dinh Độc Lập, đến phòng của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền
thì có một bộ phận Quân Giải phóng đã có mặt trong dinh. Bộ đội ta đòi
bắt toàn bộ các nhân vật này làm
tù binh. Sợ anh em vi phạm chính sách của Mặt trận Giải phóng, tôi liền
gặp và giải thích: Nội các Dương Văn Minh đã chấp thuận theo những
điều kiện của ta nên vừa có thông báo đầu hàng trên Đài phát thanh. Lúc
đầu, anh em không tin vì
thấy tôi mặc thường phục. Tôi tự giới thiệu là Đại tá Sáu Trí, Sĩ quan
Bộ Tham mưu B2 vào Sài Gòn làm công tác đặc biệt trong Chiến dịch Hồ
Chí Minh. May sao, đúng lúc đó xuất hiện
một sĩ quan thuộc đơn vị thiết giáp, anh chính là người bạn học cùng
khóa quân sự cấp cao với tôi ở Hà Nội. Anh tới bắt tay tôi và thân mật
nói: “Đi đâu cũng gặp thằng tình báo này!”.
Sau đó, tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn
Hữu An-Tư lệnh Quân đoàn 2 -và cùng anh bàn việc tiếp quản Dinh Độc
Lập. Chúng tôi nhất trí nên có lời công bố chính thức của Quân Giải
phóng
trên đài phát thanh. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An phân công tôi soạn thảo
gấp. Tôi cùng với Tô Văn Cang, Ba Lễ bàn nhau và thống nhất giao cho Tô
Văn Cang chấp bút bản thông báo với tựa đề “Thông báo số 1”. Viết
xong, tôi đến gặp Thiếu tướng
Nguyễn Hữu An để thông qua. Ông tế nhị từ chối không đề tên đơn vị mình
và đề xuất chỉ nên đề là “Bộ tư lệnh Quân Giải phóng Sài Gòn-Chợ
Lớn-Gia Định”. Anh Cang được phân công cùng với anh Giàu lên xe
com-măng-ca chạy ra Đài phát thanh.
Phải khó nhọc lắm xe của anh mới vào được trong. Anh Cang lên lầu, đọc
chậm và rõ bản “Thông báo số 1”. Anh Giàu đọc lại lần hai. Sau đó dặn
cứ 5 phút thì lặp lại một lần.
Bản "Thông báo số 1” của Bộ tư lệnh
Quân giải phóng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định là bản tin chính thức được ta
phát trên Đài phát thanh, vài giờ sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương
Văn Minh.
Trong lúc tôi và Thiếu tướng Nguyễn
Hữu An đang bàn công tác bảo đảm an ninh thì anh em cho biết những
thành viên nội các Dương Văn Minh đang tỏ ra hoảng loạn. Anh An bảo tôi
nên đi gặp gỡ họ vì tôi là người miền Nam, lại làm tình báo nên
biết tâm lý, tình cảm của họ. Tôi mời họ ra hành lang để nói chuyện. Tướng Minh đứng trước, các thành viên đứng kế tiếp.
Tôi động viên họ về sự chiến thắng vĩ đại của quân, dân ta và về việc
đầu hàng không điều kiện của nội các Dương Văn Minh đã giúp cho thành
phố Sài Gòn vẫn giữ được nguyên vẹn. Tôi
còn hứa sẽ bảo đảm việc an toàn tính mạng cho họ. Lúc ấy, Dương Văn
Minh xin phép tạt qua phòng riêng để thăm người vợ đang lo lắng cho số
phận của chồng, anh Cang cũng rảo bước theo sau…
Phạm Xuân Trường
Minhduc7.blogspot
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32904
Nhận xét
LỘT MẶT NẠ TỔ CHỨC BỊP BỢM " MẬT TRẬN DÂN TỘC GPMN " Lột Mặt Nạ Tổ
Chức Bịp Bợm "Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam" (Sự thật về các trí
thức miền Nam theo cộng sản) - Cố Gs HỨA HOÀNH - Các ông, các bà trí
thức tư sản miền Nam trốn theo "Mặt Trận Giải Phóng" (gọi tắt của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền N...
Sau
cuộc gặp gỡ đại sứ Yamato thì vài tháng sau, có một số người Mỹ tìm gặp
một số trí thức VN đối lập với chính quyền VNCH. Một dịp tình cờ, tôi
đến nhà ông Trịnh Đình Thảo ở Hạnh Thông Tây, Gò vấp, lời ông Bửu,
đây là một vườn xoài rộng 6 mẫu, ông Thảo cho xây một nhà đúc kiên cố,
theo kiểu nhà khách ở bịnh viện Cộng Hòa. Chúng tôi ngồi uống trà
dưới bóng mát của 3 cây xoài, trên những ghế đá màị Tôi được ông Thảo
giới thiệu với một người Mỹ nói tiếng Pháp, còn tôi được gọi là kỹ sư
không xưng tên. Sau lời chào hỏi lịch sự theo xã giao Tây phương, chúng tôi nói chuyện thoải mái với ông Mỹ này. Tôi nói : - Nguyện vọng của chúng tôi là yêu cầu Mỹ rút quân để vấn đề chiến tranh này cho người VN giải quyết với nhau. Người Mỹ đáp : - Nếu quân đội Mỹ rút đi, thì CS sẽ chiếm miền Nam. Tôi nói tiếp : -
Nếu CS có thắng thì chúng tôi hợp tác với họ trong hòa bình, không còn
bắn giết nhau nữa, người dân Việt Nam mới sống yên ổn, sinh hoạt bình
thường, không còn lo sợ chiến tranh. Người Mỹ này đứng dậy, lấy khăn lau mồ hôi trán, rồi chậm rãi đáp : - Nếu CS vào Saigon, thì sẽ bắn giết lực lượng VNCH. Saigon sẽ thành biển máu lửa. VC sẽ bỏ tù hết các ông.
Tôi đáp ngày : -
Chúng tôi là dân sự, không chống đối họ thì họ sẽ trọng dụng chúng tôi,
nhất là chúng tôi là những chuyên viên về kinh tế, kỹ thuật, có thể
phục vụ cho đất nước bất cứ lúc nào cũng được. Ông Mỹ nói: - Ông còn ảo tưởng lắm! Người CS có đường lối độc tài của họ, không sử dụng người trí thức đâụ Họ sẽ tiêu diệt giai cấp bằng cách
quốc hữu hóa tài sản của người dân, biến con người thành công cụ sản
xuất, nhằm bảo vệ giai cấp lãnh đạo của họ, được gọi là giai cấp công
nhân thất học đó. Tôi có cảm tưởng khinh thường ông Mỹ này, vì tôi cho rằng ông đi tuyên truyền chống cộng như con vẹt. Tôi đáp: - Xin lỗi ông, tôi không tin! Trong
khi đó, trước sự chú ý của nhà văn Thanh Nghị, Hoàng Trọng Quỳ, ký giả
Hoàng Trọng Miên, bà Ngô Bá Thành, kỹ sư Trần Văn Quyến, ký giả Thiếu
Sơn, kỹ sư Hồ Gia Lý...thì ông Thảo cắt ngang lời nói của tôi. Ông nói: - Cháu còn trẻ nên còn hăng đấy. Ông Mỹ cười và quay sang bà Ngô Bá Thành ngồi kế bên nói chuyện một lúc. Rồi ông nói rõ lập trường của Mỹ như sau : -
Người Mỹ sang VN chiến đấu vì lý tưởng tự do và bảo vệ tự do cho dân
tộc VN. Với tư cách một người trí thức Mỹ, tôi tin rằng số đông trí thức
VN đều có du học ở phương Tây, sẽ hiểu biết được thực tâm của chính
phủ Mỹ, để không chống đối Mỹ tiến hành chiến tranh ở VN, nhằm ngăn chặn
làn sóng sẽ do Trung quốc đang muốn bành trướng sang VN và Đông Nam Á. Trong
dịp này, CS núp dưới chiêu bài "giải phong miền Nam", để rồi sau khi
chiếm được VNCH, họ sẽ thôn tính luôn cả Lào và Kampuchea. Qua cuộc
tiếp xúc này, tôi được biết ý định của Mỹ, nhưng tôi vẫn xem Mỹ là kẻ
xâm lược VNCH, vì lẽ "người dân có kêu Mỹ tham chiến đâu"! Tự nhiên
người Mỹ vào thay thế người Pháp
sau Hiệp định Geneva 1954 và cai
trị chế dộ VNCH xuyên qua các chính quyền do Mỹ dựng lên. Sự có mặt của
người Mỹ như chủ nhân ông, không có chính nghĩạ Đối với lương tri con người,
mặc dù chính quyền Mỹ đã tốn rất nhiều tiền, và thanh niên Mỹ phải bỏ
mạng ở chiến trường VN. Bởi vì nếu CS xâm lược thì nhân dân miền Nam có
quyền tự vệ và đánh đuổi CS ra Bắc Việt Cũng bởi vì quốc sách Ấp Chiến Lược của VNCH đang tỏ ra hữu hiệu thì Mỹ lại thay đổi chính sách chống Cộng!
Ký ức và trăn trở của Điệp viên X20 - Đặng Chí Bình
 Điệp viên X20 - Đặng Chí Bình. RFA files photos
Trong cuộc chiến tranh VN huynh đệ tương tàn, nhiều người bị trở thành
tù binh chiến tranh. Điệp viên Đặng Chí Bình với bí danh “X20” là một
trong những tù binh chiến tranh ở Bắc Việt từ năm 1962. Sau khi đặt chân
đến Hoa Kỳ, ông Đặng Chí Bình đã kể lại điệp vụ vượt tuyến và 18 năm tù
đày của mình qua thiên hồi ký “Thép Đen”. Nhân sự kiện 40 năm ngày
30/4, cựu tù binh chiến tranh Đặng Chí Bình chia sẻ lại hồi ức của mình
khi đón nhận thông tin “Sài Gòn thất thủ”.
Hòa Ái: Xin chào ông Đặng Chí Bình. Rất cảm ơn ông đã
dành cho đài ACTD để chia sẻ với thính giả của đài biết về hoàn cảnh ông
bị đi tù ở Hòa Lò cũng như ở khắp các trại tù miền Bắc, VN trong thời
gian rất dài. Trước tiên, xin ông cho biết tại sao ông chọn ngành tình
báo khi ông còn quá trẻ và ông đã bị bắt vào lúc nào?
Ông Đặng Chí Bình: Xin chào cô Hòa Ái và qua cô tôi hân hạnh kính
chào toàn thể quý vị đang lắng nghe đài ACTD. Tôi cảm ơn cô hỏi đến một
người đã ngoài 80, làm cho tôi vui hẳn và hưng phấn. Tôi xin trả lời
câu cô hỏi “tại sao chọn ngành tình báo” là do bản tính tôi từ nhỏ rồi.
Bố tôi là võ sư và tôi đã học võ từ lúc còn bé thành thử tính thích
ngang tàn. Sau này đọc những sách Z28 (của Người Thứ Tám), sách của Phạm
Cao Củng. Trong bối cảnh quê hương ở miền Nam như thế, từ ý thích đó
cho đến khi cơ duyên đến được gặp ông chú Nguyễn Văn Thưởng và được giới
thiệu với Linh mục Mai Ngọc Khuê, rồi từ đấy tôi vào ngành tình báo.
Sau 2 năm huấn luyện, tôi nhận một nhiệm vụ bí mật một mình tôi trở ra
Hà Nội đầu năm 1962, khi đó còn Đệ nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình
Diệm. Nhiệm vụ của tôi bí mật đến Hà Nội rồi bí mật đi chỉ có 25 ngày.
Công tác của tôi thuộc loại ngắn hạn với nhiệm vụ tuyển mộ gây mạng
lưới.
Sau 2 năm huấn luyện, tôi nhận một nhiệm vụ bí mật
một mình tôi trở ra Hà Nội đầu năm 1962, khi đó còn Đệ nhất Cộng Hòa của
Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhiệm vụ của tôi bí mật đến Hà Nội rồi bí mật
đi chỉ có 25 ngày. Công tác của tôi thuộc loại ngắn hạn với nhiệm vụ
tuyển mộ gây mạng lưới - Ông Đặng Chí Bình
Khi đến đấy,
đầu tiên có điều kiện là tôi đến bệnh viện Việt-Đức để trao một tài
liệu đặc biệt cho bác sĩ Hoàng Đình Thọ. Ngày hôm sau tôi tiếp tục đến
một nhà thờ để liên lạc với một vị linh mục. Khi đi ra thì tôi phát hiện
có người theo dõi. Từ khi khẳng định thì bắt đầu tôi đánh lừa, tương kế
tựu kế, dùng các phương pháp đánh lạc hướng cho rối mù lên. Đáng lẽ bí
mật tôi về chổ đổ bộ của tôi ở Hà Tĩnh nhưng vì không cắt được đuôi để
rồi lang thang đến cuối cùng hơn 1 tháng sau tôi mới bị bắt.
6 năm trường ở Hỏa Lò, Hà Nội, tôi bị bao nhiêu phương pháp cùm kẹp, tra
tấn từ đầu năm 1962 cho đến ngày 30/12/1967, tôi bị đưa ra Tòa án Nhân
dân Thành phố xử 18 năm và 5 năm mất quyền công dân. Người nào đọc sách
“Thép đen” của tôi mới hiểu được, thưa cô Hòa Ái.
Hòa Ái: Như vậy Trong suốt thời gian ông bị tù đày, bị tra tấnthì hình thức tra tấn nào ông cho rằng là ấn tượng nhất?
Ông Đặng Chí Bình: Tôi bị cùm kẹp, đói khát. Người khác còn có
người trông nom. Tôi thì không có một ai nhìn tới trong 6 năm ở trong
Hỏa Lò, không một ai hỏi thăm đến. Vì tôi là tình báo nên nếu ai hỏi
thăm thì bị nghi là đường dây của tôi thì người đó cũng bị nguy hiểm.
Tôi bị cùm kẹp suốt 3, 4 năm trường như thế. Tôi ấn tượng nhất trong quá
trình tù dưới chế độ Cộng sản thì tôi phải nói rằng là cái đói là nặng
nhất chứ cùm kẹp đối với tôi chẳng nghĩa lý gì cả. Chết thì thôi mà. Bắn
thì xin mời cứ bắn. Tôi cảm ơn nữa là khác. Đáng lẽ một người tù ăn
được 5 phần nó chỉ cho ăn 3 thành thử người tù bị rút cả xương tủy. Cái
đói và thời gian 6 năm mù mịt ở trong Hỏa Lò như thế…Chỉ có thời gian và
đói mới là nguy hiểm, rất ấn tượng trong thời gian đi tù của tôi.
Hòa Ái: Trong thiên hồi ký “Thép đen”, ông có đề cập đến một dụng cụ gọi là “cùm mồm”, ông có thể mô tả sơ lược lại vì sao ông phải chịu hình thức tra tấn này?
Ông Đặng Chí Bình: Khi bị bắt vào Hỏa Lò, đầu tiên tôi bị 4,5
thằng bắt cởi quần áo, khám xét từ miệng, tai, tóc…vì tôi là điệp viên
nên bị khám kỹ ghê gớm. Theo hiểu biết của tôi lúc đó là một người điệp
viên như tôi đã bị bắt thì chỉ có bị tra tấn đến chết, trước sau cũng
chết. Tôi xác định chấp nhận cái chết. Vậy thì chết trước là đỡ khổ. Cho
nên khi bị đưa vào xà lim và bị cùm, tôi còn bị đánh bằng một cái gậy
khoảng 60-70 phân như cái cán xẻng. Tôi hiểu từ trước là Hồ Chí Minh
được xem như thần thánh hễ ai nói động tới là bị bắn hết. Lúc đó tôi
nghĩ rằng chỉ muốn chửi ngay thằng Hồ Chí Minh với đảng Cộng sản thì
mong rằng mục đích là tôi bị bắn chết đi để khõi khổ, khõi bị tra tấn.
Tôi nghĩ như vậy cho nên tôi mới chửi. Nhưng nó không bắn. Nó mang vào
một dụng cụ, nó khóa tay tôi ra phía sau rồi nó đưa khóa miệng tôi lại.
Sau này tôi mới biết là cái “cùm mồm”. Sau này nữa trong giai đoạn xà
lim, qua nghe ngóng, có 1 anh Tàu cũng chửi bới và cũng bị cùm mồm như
tôi.
Hòa Ái:Đã có bao giờ ông có ý định vượt ngục? Trong hòan cảnh quá tuyệt vọng, ý nghĩ vượt ngục có manh nha trong đầu hay không, thưa ông?
Ông Đặng Chí Bình: Nói đến vượt ngục thì ngay khi bị phát hiện
thì tôi đã định trốn rồi nhưng không có cách gì cả vì có quá đông người
theo dõi tôi. Khi bị bắt trong Hỏa Lò, bị cùm chân cùm tay, kềm kẹp ở
trong xà lim nữa thì không có cách gì mà vượt ngục được. 3 năm sau,
chuyện dài lắm, trong “Thép đen” mới tả hết được, lúc đó tôi ở xà lim 1
rồi tình cờ 1 lần có 1 cán bộ gọi cung tôi thì ra người này ở quê tôi,
Phát Diệm. Tôi thấy anh chàng này ăn nói có vẻ ngơ ngơ ngác ngác nên
trong buổi cung đó tôi nổi lên ý tưởng có thể trốn thoát. Thế là tôi
dùng nhiều mưu mẹo và cả nghệ thuật võ của tôi nữa. Cuối cùng tôi đánh
gục và khóa cổ anh ta rồi tôi thay quần áo và tìm cách trốn khõi Hỏa Lò.
Nhưng mà, lúc ra khõi Hỏa Lò thì tôi bị nhiều trận lắm. Nó bắt được
tôi, nó đánh tôi, đâm tôi gãy 3 cái răng rồi nó trói tay, đưa tôi xuống
hầm đá, cát-sô ở Hỏa Lò…có thể chết ở dưới đó. Do Thượng đế, do hồn
thiêng dân tộc thì tôi mới sống chứ tôi đã chết rồi.
Hòa Ái: Trong suốt thời gian bị giam cầm như vậy, ông có được nghe tin họ báo rằng ông được trao trả như tù bình chiến tranh hay không?
Ông Đặng Chí Bình: Không bao giờ thông báo cả. Chỉ tự suy nghĩ
đoán thôi chứ không bao giờ nó bảo các anh sẽ được trao trả dù trước tập
thể hay trước cá nhân, không bao giờ nói với ai cả.
Ngày
30/4 thì tôi không còn thiết điều gì nữa. Trước đây còn hy vọng le lói
trong miền Nam nhưng bây giờ 30/4 mất miền Nam... Tôi chán chường, tôi
thấy cuộc đời mù mịt, chung quanh tối đen, không còn một hy vọng nào nữa
- Ông Đặng Chí Bình
Vào khoảng sắp sửa ký hiệp định
Paris thì tôi ở trại Trung ương số 1, Lào Cai. Nó tập trung tất cả tù
binh biệt kích, gián điệp. Nó giam nhiều chổ khác nhau nhưng khi đó nó
tập trung về 1 nơi để cho ăn bồi dưỡng. Trước đây ăn đói khổ, ăn 13 kg
trung bình nhưng bây giờ cho ăn 18 kg, có cả gạo và thịt bồi dưỡng.
Chúng tôi biết đây là sắp trao trả. Nó chuẩn bị như vậy từ trước 6 tháng
ký Hiệp định Paris. Nhưng lưng chừng nó đánh lừa được phía các phái
đoàn của Mỹ và của quốc tế, thế là nó mang tôi với một anh nữa là anh Lê
Văn Bưởi, 1 thiếu tá cũng là 1 điệp viên đã đi theo cách vượt sông Bến
Hải, và 1 người nữa là anh Lưu Nghĩa Lương, đưa sang trại Trung ương số 2
ở Yên Bái trở lại chế độ bình thường. Ở đây nó điều tôi đi làm các công
việc dọn cứt đái, rồi trong các toán rau…khổ cực, đày đạo ghê lắm như
tôi đã tả trong “Thép đen”.
Hòa Ái: Câu hỏi sau cùng, ông đón nhận tin về ngày 30 tháng 4 năm 1975 như thế nào?
Ông Đặng Chí Bình: Thưa cô, hỏi như thế này thì tôi hãy còn nỗi
niềm, nó quấn vào trong đầu tôi, trong lòng tôi ngày hôm đó. 30/4/1975,
lúc đó tôi ở trại Phong Quang. Có thể nói rằng tôi đã xác định chấp nhận
cái chết nhẹ như không, 2 chân trong cùm mà tôi vẫn vui cười vì đấy là
lý do để tôi sống được. Nghệ thuật sống và phương pháp sống và nhân sinh
quan, thế giới quan của tôi đã trang bị cho tôi nên tôi mới sống được.
Thế mà ngày 30/4 thì tôi không còn thiết điều gì nữa. Trước đây còn hy
vọng le lói trong miền Nam nhưng bây giờ 30/4 mất miền Nam thì tôi có 1
chì mật duy nhất vẫn giấu hơn 10 năm trường với hy vọng sau này còn hoạt
động tiếp được nữa mà tôi cũng hủy luôn. Tôi chán chường, tôi thấy cuộc
đời mù mịt, chung quanh tối đen, không còn một hy vọng nào nữa. Đúng
giai đoạn đó tôi gặp rất nhiều nhiều người như anh Nguyễn Chí Thiện, anh
Kiều Duy Vĩnh và nhiều nhân vật tù miền Bắc lúc đó mà tôi cũng không
thiết nói chuyện với ai. Tôi chán chường lắm!
Hòa Ái:và bây giờ là thời điểm 40 năm qua, 30/4/2015 kể từ giây phút ông đón nhận tin VNCH không còn nữa thì cảm giác từ lúc đó cho đến bây giờ có còn ám ảnh ông hay không và nỗi ám ảnh đó ra sao?
Ông Đặng Chí Bình: Hết 18 năm của tôi…Bởi vì chống đỡ với dư luận
nên nó mới cho tôi về rồi thì nó sẽ bắt tôi tội khác nên tôi tương kế
tựu kế, tôi mượn kế của nó để thoát khõi tay nó. Cô ơi, không phải dễ để
trốn vượt biên sang đến hải ngoại đâu! Người nào phải đọc sách “Thép
đen” của tôi mới hiểu được. Nỗi ám ảnh thật là to tát quá! Nỗi ám ảnh
30/4 đã mờ nhạt rồi! Điều nặng nề trong lòng tôi nhất là mối nguy hiểm
nhất từ Trung Cộng với Mỹ và thế giới tự do bây giờ. Tôi buồn lắm! Từ
khi trong tù cho đến hải ngoại cho đến bây giờ tim tôi vẫn rỉ máu ngày
đêm. Mặc dù kể cả CIA huấn luyện
tôi mà CIA cũng không ưa gì tôi vì tôi dám nói thẳng nói thật là vì Mỹ
chưa hiểu Cộng sản, nhất là không hiểu Cộng sản Tàu và Cộng sản VN. Liên
Xô đổ, Đông Âu đổ, Cộng sản đổ…cũng không hiểu được Trung cộng. Trung
cộng quỷ quái ghê gớm lắm. Tôi dám nói rằng trong “Thép đen”
của tôi đã đề cập nhiều đến mối nguy hiểm của người Trung cộng, của
người Cộng sản VN, kể cả thế giới cũng không hiểu. Nó làm cho người khác
hiểu lầm nó. Nó giả vờ sắp vỡ đến nơi. Nó tham nhũng, đấu đá nhau sắp
chết đến nơi rồi để các anh coi thường nó. Nhiều ông chiến lược gia, lý
luận gia cứ tưởng nó sắp vỡ đến nơi. Đấy là sai lầm! Các anh không hiểu
họ thì dù anh giỏi hơn hay giàu có hơn gấp 10 hay gấp trăm lần thì cũng
vẫn không là đối thủ của họ khi mà không hiểu kẻ thù của mình. Tôi già
80 tuổi ngoài rồi, tôi đau buồn lắm!
Hòa Ái: Cảm ơn ông đã dành thời gian chia sẻ với quý thính giả của đài ACTD. Cầu chúc ông mọi sự được an lành!
Ông Đặng Chí Bình: Tôi xin cảm ơn cô.
Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-02-24
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32934
Nhận xét
KÝ ỨC VÀ TRĂN TRỞ CỦA ĐIỆP VIÊN X20- ĐẶNG CHÍ BÌNH
Điệp viên X20 - Đặng Chí Bình. RFA files photos
Trong
cuộc chiến tranh VN huynh đệ tương tàn, nhiều người bị trở thành tù
binh chiến tranh. Điệp viên Đặng Chí Bình với bí danh “X20” là một trong
những tù binh chiến tranh ở Bắc Việt từ năm 1962. Sau khi đặt chân đến
Hoa Kỳ, ông Đặng Chí Bình đã kể lại điệp vụ vượt tuyến và 18 năm tù đày
của mình qua thiên hồi ký “Thép Đen”. Nhân sự kiện 40 năm ngày 30/4, cựu
tù binh chiến tranh Đặng Chí Bình chia sẻ lại hồi ức của mình khi đón
nhận thông tin “Sài Gòn thất thủ”.
Ông Đặng Chí Bình: Hết 18 năm
của tôi…Bởi vì chống đỡ với dư luận nên nó mới cho tôi về rồi thì nó sẽ
bắt tôi tội khác nên tôi tương kế tựu kế, tôi mượn kế của nó để thoát
khõi tay nó. Cô ơi, không phải dễ để trốn vượt biên sang đến hải ngoại
đâu! Người nào phải đọc sách “Thép đen” của tôi mới hiểu được. Nỗi ám
ảnh thật là to tát quá! Nỗi ám ảnh 30/4 đã mờ nhạt rồi! Điều nặng nề
trong lòng tôi nhất là mối nguy hiểm nhất từ Trung Cộng với Mỹ và thế
giới tự do bây giờ. Tôi buồn lắm! Từ khi trong tù cho đến hải ngoại cho
đến bây giờ tim tôi vẫn rỉ máu ngày đêm. Mặc dù kể cả CIA huấn luyện tôi
mà CIA cũng không ưa gì tôi vì tôi dám nói thẳng nói thật là vì Mỹ chưa
hiểu Cộng sản, nhất là không hiểu Cộng sản Tàu và Cộng sản VN. Liên Xô
đổ, Đông Âu đổ, Cộng sản đổ…cũng không hiểu được Trung cộng. Trung cộng
quỷ quái ghê gớm lắm. Tôi dám nói rằng trong “Thép đen” của tôi đã đề
cập nhiều đến mối nguy hiểm của người Trung cộng, của người Cộng sản VN,
kể cả thế giới cũng không hiểu. Nó làm cho người khác hiểu lầm nó. Nó
giả vờ sắp vỡ đến nơi. Nó tham nhũng, đấu đá nhau sắp chết đến nơi rồi
để các anh coi thường nó. Nhiều ông chiến lược gia, lý luận gia cứ tưởng
nó sắp vỡ đến nơi. Đấy là sai lầm! Các anh không hiểu họ thì dù anh
giỏi hơn hay giàu có hơn gấp 10 hay gấp trăm lần thì cũng vẫn không là
đối thủ của họ khi mà không hiểu kẻ thù của mình. Tôi già 80 tuổi ngoài
rồi, tôi đau buồn lắm!
Hòa Ái: Cảm ơn ông đã dành thời gian chia sẻ với quý thính giả của đài ACTD. Cầu chúc ông mọi sự được an lành!
Xin đừng hòa hợp với Ngụy
1/ Cho phép tôi được để chữ Ngụy thoải mái, không nằm trong ngoặc kép.
Biết rằng ý nghĩa chữ Ngụy rất xấu, phản nghĩa với Việt Nam Công Hòa,
lại do chính bọn Cộng Sản xách mé gọi chính quyền và quân đội Sài Gòn.
Thế nhưng hầu hết, kể cả người dân miền Bắc, khi biết ai là Ngụy, họ tỏ
ra thân thiện và tin tưởng.
2/ Theo đề bài trên, giống như người viết mạo nhận đại diện cho một số
người, hoặc hội đoàn quân nhân, quân lực VNCH, thực tế không phải, tôi
chỉ viết với suy tư cá nhân, không hề dám đại diện bất cứ ai, bản thân
người viết là Ngụy, Ngụy rặc ròng, từ ông cố, ông nội, ông ngoại, cha,
mẹ, anh chị em và những người giúp việc trong gia đình, toàn Ngụy.
3/ Tôi không muốn viết sự việc cũ rích, song mới đây CS đưa ra luận điệu
hòa hợp, hòa giải, (HHHG) với lời lẽ trịch thượng, hỗn xược, tuy không
mới, hy vọng "be bờ" gìn giữ chính mình, và ai đó mang tâm địa trắc ẩn,
hoặc khù khờ hùa theo giặc. Với CS không làm hại được nó, tối thiểu cũng
quyết không làm lợi cho bọn Việt Gian, trường hợp này xin ghi nhớ câu: "Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm."
"Trong một lần tôi đi thăm Mỹ, tiếp xúc với một số anh em đã từng
phục vụ chế độ cũ, một người đã tâm sự: Trong cuộc chiến, chúng tôi là
người ngã ngựa, còn các anh là những người chiến thắng, ngồi trên mình
ngựa. Nhiều lúc, chúng tôi ước mong, những người ngồi trên mình ngựa hãy
cúi xuống chìa bàn tay kéo chúng tôi dậy. Mỗi cử chỉ ấy sẽ xóa tan nỗi
hoài nghi của bao nhiêu người ở nước ngoài này."
Đương nhiên Tổng Thống bỏ nước ra đi, tướng mất thành là thua, không cần
biện bác lý do này, kia. Nhưng nêu ra 4 điểm tự hào trong chiến bại:
1/ Thua trận nhưng VNCH vẫn thuộc về phe có chính nghĩa, Cộng Sản là kẻ cướp. Ngày nay đúng với câu: "Rước voi dày mả tổ."
2/ 20 năm chiến tranh CS chỉ chui rúc trong mật "khu," chưa hề xâm lấn
trọn vẹn một quận của miền Nam. (ngoại trừ 4/1972 chiếm duy nhất quận lỵ
Lộc Ninh)
3/ Hai trận thư hùng An Lộc, Xuân Lộc, đã nói lên tính anh dũng chiến đấu của QLVNCH.
Chiến trường An Lộc:
CS quen thói biển người, điều hơn 40 ngàn bộ đội, trong khi đó tướng Lê
Văn Hưng chỉ có SĐ 5, LĐ 3 BĐQ, 2 TĐ của SĐ 18, cùng với Địa Phương
Quân, Nghĩa Quân Bình Long, tổng số quân phòng thủ 6,300, sau 10 ngày
chiến đấu Lữ Đoàn 1 Dù, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù tăng viện. Căn cứ sự
chênh lệch này Nguyễn Thị Bình, tại hòa đàm Paris, đã láu táu, tuyên bố
rằng "10 ngày nữa An Lộc sẽ là thủ đô của MTGPMN," nhưng An Lộc mãi kiên
cường thách thức Cộng thù cho tới ngày tàn cuộc.
Chiến trường Xuân Lộc:
Lực lượng CS Bắc Việt gồm có: Quân đoàn 4,
tăng cường sư đoàn 6 bộ binh (quân khu 7), ngoài ra còn một trung đoàn
tăng, Thiết Giáp, một trung đoàn Pháo Binh, sau còn được tăng cường thêm
trung đoàn 95B (sư đoàn bộ binh 325) và một đại đội xe tăng (tổng quân
số khoảng 40.000) do thiếu tướng Hoàng Cầm tư lệnh và thiếu tướng Hoàng Thế Thiện chính ủy.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa quân số khoảng hơn 10.000 người, gồm Sư Đoàn 18 bộ binh (với các trung đoàn 43, 48 và 52), lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân
Long Khánh và các đơn vị tăng phái gồm trung đoàn 8 (thuộc sư đoàn 5 Bộ
binh), Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ, Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân, hai tiểu đoàn Pháo Binh, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Lữ đoàn 1 Dù (với các Tiểu đoàn 1, 2, 8, 9) và Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù. Toàn bộ tuyến phòng ngự do chuẩn tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư Đoàn 18 chỉ huy. (1)
Đặc biệt giờ áp chót của đất nước, lòng dạ quân dân suy sụp trầm trọng,
vũ khí và quân nhu, thiếu hụt thê thảm, nhưng quân dân Long Khánh, SĐ 18
BB và tướng Lê Minh Đảo, đã kịp để lại một trang sử vẻ vang.
Tình cờ hai chiến trận, hai ông tướng đều họ Lê, đều chuẩn tướng, thư
hùng với nhiều tướng CS. Tướng Hưng "gặp" các tướng: Trần Văn Trà, Đồng
Văn Cống, Trần Văn Phát, Lê Ngọc Hiền, Bùi Phùng, sư đoàn trưởng, SĐ 9
VC Bùi Thanh Vân, SĐ 7 VC Nguyễn Thới Bưng.
Bộ chỉ huy cao cấp: Chính ủy Phạm Hùng, Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Hoàng Cầm.
Chuẩn tướng Lê Minh Đảo "gặp" thiếu tướng Hoàng Cầm, tư lệnh QĐ4, thiếu tướng Hoàng Thế Hiện chính ủy.
4/ Nhiều Tướng, Tá tuẫn tiết khi mất nước: Mất nước, mất về bọn Tàu (như
ông Ngô Đình Nhu đã nói) là điều nhục nhã, không còn điều gì để biện
bác. Song rất tự hào cho bất cứ ai thuộc về hàng ngũ chính nghĩa, chỉ
cần 2 trận thư hùng An và Xuân Lộc, đối chiếu với đại tướng Phùng Quang
Thanh và BCT đảng CSVN, lạy lục bọn Tàu, Trương Tấn Sang nịnh Tàu với cờ
6 sao. Nếu CS có một chút liêm sĩ, sẽ biết cái nhục nằm ở bên thắng
cuộc, hay bại trận!?
CS mỗi khi đề cập HHHG thường tuyên truyền "Ngụy vì bại trận nên cay cú, ngoan cố và căm hận CS".
18 năm gần gũi với các siêu niên trưởng, niên trưởng và bạn bè, tôi
không hề thấy họ có ý thức như vậy, hầu như họ không muốn nhớ tới cuộc
chiến đã qua, hiện tại quý vị đó đã quá già để nghĩ tới thế cuộc, sinh
hoạt Cộng Đồng, Hội Đoàn bóng dáng của họ rất thưa thớt.
Rừng cờ vàng ba sọc đỏ ở Canada, Nguyễn Tấn Dũng và đảng CS phiền hà,
phản đối, tôi tin rằng không có bao nhiêu cánh tay của Quân, Cán, Chính
VNCH, rừng cờ vàng đó của hơn 90% đồng hương bình thường tạo nên. Khắp
nơi trên đất nước Tự Do đều có cờ vàng, có sự tranh đấu chống độc tài
đảng trị, do đồng hương chủ xướng, Nói như vậy để CS chấm dứt hô hoán "Ngụy bại trận nên cay cú và cực đoan, do đó chưa thành công trong công tác HHHG".
Không riêng Ngụy, mà toàn thể đồng bào, đồng hương cùng một lòng không
HHHG với CS, vấn đề rất đơn giản, muốn thực sự HHHG ít nhất phải có
những điều căn bản tương đồng, đã không có điểm tương đồng, chỉ có sự
đối nghịch, làm thế nào đi đến HHHG được.
Ví dụ: Ngụy và đồng bào muốn tự do, dân chủ. Đảng CS muốn độc tài đảng trị, và cha truyền con nối.
Ngụy và đồng bào muốn tự do truyền thông báo chí, đảng CS độc tôn lãnh đạo.
Ngụy và đồng bào quyết tâm không nô lệ giặc Tàu, đảng CS quyết chí
"trọng thị" Tàu, coi Tàu như tổ tiên, còn hơn cả ông bà, cha mẹ của đảng
CSVN.
Những điều quá khác biệt như trắng với đen, làm sao có thể HHHG? Đứa trẻ
con cũng hiểu. Vì vậy không thể tin một kẻ ngu xuẩn, đớn hèn nào đó,
chờ đợi: "ước mong, những người ngồi trên mình ngựa hãy cúi xuống
chìa bàn tay kéo chúng tôi dậy. Mỗi cử chỉ ấy sẽ xóa tan nỗi hoài nghi
của bao nhiêu người ở nước ngoài này." (?)
Tôi, một quân nhân cấp bậc gần nhỏ nhất, của một triệu quân, chưa hề
thấy quỵ ngã, nếu có cũng tự mình đứng dậy, hoặc bạn bè chiến hữu vực
dậy, chưa bao giờ nghĩ tới kẻ thù bất nhân, vô đạo như CS "chìa bàn
tay". Cuối cùng quỵ ngã, hoàn toàn trong cô độc, thà làm tử sĩ vô danh,
nhất định không chờ bàn tay CS nhuộm máu, cướp bóc tài sản của đồng bào,
bàn tay đã vùi hàng triệu người vô tội dưới biển Đông, trên rừng sâu
núi thẳm, bàn tay đó không xứng đáng chìa ra trước mặt tôi, tôi tin rằng
bạn bè cùng suy nghĩ.
CS, một bè lũ ác nhơn, khi chúng tỏ ra thân thiện, người ta càng tởm, càng sợ tránh xa, ai nghĩ rằng "cử chỉ ấy sẽ xóa tan nỗi hoài nghi." Kẻ ấy không xứng đáng là Ngụy, hoặc mạo danh Ngụy.
Sau 1975 đất nước hết chiến tranh, nhưng không có hòa bình, cuộc chiến
vẫn còn tiếp diễn, sự bại trận trên chiến trường súng đạn, chưa phải đã
kết thúc, mỗi quân nhân và đồng bào, đồng hương, đều có thể tự chọn một
phương thức thích hợp để "tác chiến." Mỗi phương thức tuy khác nhau,
nhưng cùng nhắm về kẻ thù của Tự Do - Dân Chủ, kẻ thù của Độc Lập và sự
toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Những tên: Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn
Sinh Hùng, kể luôn thằng vua Mường Nông Đức Mạnh, đang ngồi "trên ngai
vàng" chứ kể gì trên mình ngựa, có xứng đáng "chìa bàn tay kéo Ngụy dậy
không?"
Chớ dại, hoặc lú nghe lời xúi bậy, gặp Ngụy và tất cả "khúc ruột ngàn
dặm" chìa bàn tay quân cướp ngày, coi chừng bị ăn cái tát, hay một bãi
nước bọt vào mặt.
Nguồn:http://danlambaovn.blogspot.com/2015/02/xin-ung-hoa-hop-voi-nguy.html#more
Bình luận
Theo tôi, QLVNCH tuy đã Thua (vì đồng minh phản bội), nhưng để cho
toàn dân VN Thắng (khi mọi người bây giờ đều hiểu rõ mặt thật của Hồ chí
minh và bọn Cướp Sạch VN. Nhiều bí mật, huyền thoại về Hồ chí minh và
bọn Cướp Sạch VN nay đã được giải mã làm cho có những kẻ xưa nay còn mù
mờ chưa hiểu, nay cũng đã được tỏ tường). Xin mọi người hãy nhớ lời tôi:
Sau này, khi bọn tay sai cho ngoại bang, bán nước cho giặc Tàu, giết
hại dân lành vô tội, cướp của dân nghèo để tiêu xài phung phí xa hoa,
bọn chó đẻ Cướp Sạch VN đã bị lật đổ, bọn chúng sẽ biến mất....vĩnh
viễn....trên quê huơng VN, bởi vì nhân dân VN sẽ làm cỏ bọn chúng rất
sạch sẽ, không sót một tên nào. Đó sẽ là chiến thắng cuối cùng và ngày
đó sắp đến rồi. Khi biến cố đã xảy ra rồi, thì nhanh lắm vì lòng dân
đang sôi sục khắp nơi. Bọn bay cứ chờ xem!!!
"Những người chiến thắng ngồi trên mình ngựa" của Xuân Linh toàn là
BỌN BÁN NƯỚC, dân miền Nam thấy là nhổ vô mặt. BÁN NƯỚC là đã đốn mạt
rồi, lại còn làm trò VỪA BÁN NƯỚC VỪA VÊNH VÁO thì đúng là siêu đốn mạt
thật. Tụi bây mà ngồi trên mình ngựa gì, ngồi dưới cái đít của Tàu thì
có.
QLVNCH dứt khoát và quyết tâm...không bao giờ hòa hợp , và hòa giãi với Việt Cộng cho đến khi hơi tàn , sức kiệt !!!
Xin được đóng góp ý kiến:
Đề tựa "Xin đừng hòa hợp với Ngụy" không đúng với nội dung của đề tài.... hao hao như "xin cho" (?)
Đề nghị để tựa "ĐỪNG MONG HOÀ HỢP VỚI NGỤY" để chứng tỏ bên có "Chính Nghĩa" là người ngồi trên ngựa.
csVN "bá đạo.... hèn với giặc ác với dân" là kẻ té ngửa....
Chỉ một chử thôi: TUYỆT. Cảm ơn T/G đã vạch rỏ làn ranh quốc gia và
cộng sản. Ðây cũng là kim chỉ nam rỏ ràng mạch lạc. Tuy nhiên, những kẽ
đón gió trỡ cờ bắt tay với Việt cộng để làm giàu trên xương máu lam lũ
của người dân VN thì nó sẽ bịt mắt, bịt tai và hành động như con đà điểu
trên sa mạc: Chúi đầu vào cát và đưa cái đít lên trời.
Việt Nam Cộng Hòa ra đời trong hoàn cảnh nào?
Việt Nam Cộng Hòa ra đời trong hoàn cảnh nào?
Nguyễn Huy Hùng
Hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng
10 qua đầu tháng 11 Dương Lịch là một số người đă từng hưởng nhiều ân
huệ của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lại vận động tổ chức ngày tưởng
niệm để ghi nhớ công ơn ông đă thành lập nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ tại
miền Nam Việt Nam sau khi hoàn tất việc thi hành Hiệp định đình chiến
do Pháp và Việt Minh ký tại Genève ngày 21-7-1954.
Nhiều Bạn Trẻ thắc mắc muốn biết hoàn cảnh nào đă đưa đẩy khiến cho ông
Ngô Đình Diệm có được cơ hội thành lập nước Việt Nam Cộng Hoà theo
khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp
chủng Quốc Hoa Kỳ và lên làm Tổng Thống tại miền Nam Việt Nam, nhưng
lại không có thì giờ ngồi sưu tập các tài liệu ghi chép các sự kiện
lịch sử đă xẩy ra tại Việt Nam trong những năm thuộc thế kỷ 20, nên
trăn trở chẳng biết phải làm sao.
Do đó, tôi xin ghi lại dưới đây một số những sự kiện trọng yếu đă xẩy
ra tại Việt Nam trong những năm thuộc thế kỷ 20, và hoàn cảnh nào đă
giúp cho ông Ngô Đình Diệm có thời cơ trở thành người Anh Hùng tạo
dựng ra nước Việt Nam Cộng Hoà vào năm 1956 tại miền Nam Việt Nam.
Nhưng vì tuổi tác đã cao trên 80, trí nhớ cũng suy giảm do ảnh hưởng
sau 13 năm chịu cảnh đọa đầy trong các trại tập trung cải tạo lao động
khổ sai của chính phủ nước Cộng Hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam sau
ngày Quốc Hận 30-4-1975, toàn thể
đất nước Việt Nam bị đặt dưới quyền thống trị độc tài chuyên chính độc
đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên những ghi nhận và suy luận được
trình bầy có thể là chủ quan theo hiểu
biết nông cạn của tôi, cũng có thể phiến diện hoặc thiếu sót, xin Quý
Vị còn minh mẫn vui lòng miễn chấp và bổ túc giúp cho, tôi cám ơn vô
cùng.
1. CHIẾN CUỘC TẠI ĐÔNG DƯƠNG XOAY CHIỀU, CHÍNH PHỦ PHÁP PHẢI RÚT QUÂN RA KHỎI VIỆT NAM.
Giữa năm 1949, Trung Cộng thắng thế ở Trung Hoa Lục địa, do đó tình
hình chiến trận tại Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, đặc biệt là tại
Bắc Việt trở nên rất sôi động. Tháng 5 năm 1949,
Chính phủ Pháp phải cử Tướng Revers sang thanh sát tình hình và nghiên
cứu trình kế hoạch đối phó. Sau khi công cán về nước, Tướng Revers đề
nghị rút bỏ Cao Bằng (biên giới Việt Nam-Trung Hoa) để:
- 1. Gom quân giữ Quốc lộ 4 từ Lạng Sơn đến Tiên Yên;
2. Củng cố bình định vùng đồng bằng Bắc Việt;
3. Lấn chiếm cô lập khu Việt Bắc của chủ lực Việt Minh gồm các tỉnh Thái Nguyên, Lào Kay, Tuyên Quang, và Yên Bái.
Chủ định thâm sâu của Pháp là
tái lập Thuộc địa Đông Dương dưới hình thức mới, nên không được sự hỗ
trợ của Hoa Kỳ. Do đó Pháp e ngại Trung Cộng (chủ nhân ông mới của
Trung Hoa
Lục địa) xua quân can thiệp hỗ trợ cho Việt Minh Cộng sản, nên phải
thu về thủ vùng đồng bằng để bảo toàn lực lượng, và tìm phương kế mới.
Kế hoạch của Tướng Revers đề nghị, được Chính phủ Pháp chấp thuận cho
thi hành vào cuối năm 1949. Nhưng vì tại Đông Dương lúc đó, đang có sự
bất đồng ý kiến giữa Tướng Carpentier (Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh
Pháp) tại Saigon và Tướng Alexandri (Tư lệnh đoàn quân tại Bắc Việt),
nên măi tới
cuối tháng 8 năm 1950 mới thực hiện, mặc dù qua tin tức tình báo,
chính phủ Pháp, Cao ủy Đông Dương Pignon, và Tướng Carpentier, đều
biết rằng Kế hoạch Revers đă bị tiết lộ.
Phía Việt Minh, không biết bằng cách nào đã dò biết được Kế hoạch
Revers, nên tướng Võ Nguyên Giáp với sự trợ giúp trang bị vũ khí đạn
dược, huấn luyện quân sĩ, và cố vấn hành quân của Trung Cộng, đã ráo
riết chuẩn bị mở màn thử thách khả năng chiến đấu của bộ đội Việt Minh.
Ngày 18-9-1950, các đơn vị Việt Minh được sự yểm trợ của Pháo binh và
súng cao xạ bắn máy bay, đã khởi tấn công và chiếm được đồn Đông Khê,
rồi bao vây cô lập Cao Bằng. Sau
đó thừa thế tiếp tục khai triển mặt trận Cao Bằng-Lạng Sơn, kéo dài
cho tới ngày 7-10-1950. Pháp thất bại nặng nề, phải rút bỏ Cao Bằng,
Thất Khê, Na Chầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, và Lao Kay.
Trận đánh này đă làm tăng uy thế cho Việt Minh, rúng động tinh thần
quân sĩ Pháp tại Đông Dương, cũng như các giới chính trị Pháp và Hoa
Kỳ. Dân chúng Pháp bắt đầu gọi cuộc chiến tại Đông Dương là “Chiến
tranh sa lầy”, các Đảng phái chính trị
Pháp cấu kết với nhau làm áp lực chính trị, khiến các chính phủ Pháp
thay phiên nhau sụp đổ liên tục, làm cho tình hình tại cả bên chính
quốc lẫn tại Đông Dương ngày một rối rắm thêm. Để gỡ rối, Chính phủ
Pháp cố gắng tìm một Tướng làm Tổng Tư
lệnh mới thay thế Tướng Carpentier tại Đông Dương. Các Tướng Juin và
Tướng Koenig được tham khảo, nhưng 2 ông này từ khước vì Chính phủ
Pháp không thể thoả măn được những điều kiện các ông ấy đòi hỏi. Sau
cùng, Tướng Jean Marie Gabriel De Lattre De Tassigny được lựa chọn.
Ông này nhận lời ngay với một điều kiện duy nhất là phải cho ông ta
rộng quyền chỉ huy.
Ngày 7-10-1950, Đại tướng De Lattre được đề cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư
lệnh quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Đúng 10 ngày sau, Tướng De
Lattre lên đường nhậm chức, mang theo cả một Bộ Tham Mưu hùng hậu để
làm trụ cột giúp ông ta
hoàn thành sứ mạng lớn lao đă nhận lănh. Trong suốt 9 tháng trời ròng
ră tiếp theo, ông ta đă chứng tỏ tài lănh đạo chỉ huy và hành quân táo
bạo của mình, qua các trận Vĩnh Yên giữa tháng 1-1951 (chết mất người
con trai duy nhất là Trung úy
Bernard), trận Mạo Khê cuối tháng 3-1951, trận “Bờ Sông Đáy” cuối
tháng 5-1951, và đặc biệt là kế hoạch xây dựng “Phòng tuyến Bê tông De
Lattre” để bảo vệ đồng bằng Bắc Việt trong
Vùng Tam Giác: Moncay, Việt Trì, Ninh Bình, và “Phòng Lũy Hải Phòng”.
Tướng De Lattre đă làm cho tinh thần Quân Sĩ được phục hồi, đồng thời
tạo được sự tin tưởng của Chính phủ Pháp và các Đồng minh Hoa Kỳ, Anh
Cát Lợi,…
Giữa tháng 9-1951, Tướng De Lattre được Chính phủ Pháp cho đi công cán
sang Hoa Kỳ xin viện trợ. Có lẽ nhờ trận Việt Minh tấn công quân Pháp
tại vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, có sự hiện của quân Trung Cộng trong hàng
ngũ quân Việt Minh, y như
trận Bắc Hàn tấn công Nam Hàn mà Mỹ và Đồng minh phải can thiệp cũng
có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Bắc Hàn, nên
Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Pháp.
Nhờ thế, Tướng De Lattre đă xin được Mỹ viện trợ cho Pháp tiếp tục
cuộc chiến tại Đông Dương, dưới nhiệm vụ mới là “Ngăn chặn sự bành
trướng của Quốc tế Cộng sản ở vùng Đông Nam Á Châu”, mà Việt Minh là
tay sai tiền phương của Liên Sô và
Trung Cộng. Viện trợ chỉ được chấp thuận với một điều kiện tiên quyết
kèm theo là: “Pháp phải thành thực trao trả quyền Độc Lập, Tự do, cho
các Chính phủ Quốc gia không Cộng sản tại Đông Dương, và xúc tiến
nhanh chóng việc thành lập, huấn
luyện, và trang bị quân sự cho các Quốc gia này có đủ khả năng tự vệ,
tiêu diệt Cộng sản địa phương, bảo đảm an ninh cho dân chúng phát
triển kinh tế. Đặc biệt phải để cho các
Quốc gia này có quyền Tự do giao thương trực tiếp với tất cả các nước
Tư bản, ngoài khối Liên Hiệp Pháp, không phải qua trung gian của
Pháp.”
Ngày 28-9-1951, hai ngày sau chuyến công du của Tướng De Lattre chấm
dứt, chiếc tầu biển Eartham Bay của Hoa Kỳ đã từ Manilla chở tới
Saigon, rất nhiều vũ khí nhẹ và đạn dược đủ loại.
Đồng thời, một đoàn 30 Phóng pháo cơ B-26 do phi công Hoa Kỳ lái từ
Phi Luật Tân qua, đáp xuống phi trường Cát Bi (Hải Phòng), trao cho
Pháp trong âm thầm không kèn không trống.
Mười hai (12) chiếc trong số phi cơ này đă được Hoa Kỳ biến cải thành
loại máy bay soi sáng (Luciole), dùng để thả hoả châu soi sáng chiến
trường ban đêm, trong thời gian liên tục 1 tiếng đồng hồ cho mỗi phi
cơ.
Cũng nhờ thế nên ngày 1 tháng 10 năm 1951, ông Trần văn Hữu Thủ Tướng
kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam mới chính thức
công bố việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) chống Cộng
sản (gồm 8 Sư đoàn
nhẹ trong 5 năm, riêng năm 1951 dự trù thành lập Sư đoàn 1 ở miền Nam,
Sư Đoàn 2 ở miền Trung, Sư đoàn 3 ở miền Bắc, và Sư đoàn 4 ở vùng Cao
Nguyên Trung phần Việt Nam). Ngày 16-10-1951 ban hành Lệnh Tổng Động
Viên khoảng 15.000
thanh niên có bằng cấp từ Trung học trở lên vào học các khoá đào tạo
Sĩ quan Trừ bị cấp tốc tại Thủ Đức và Nam Định. Rồi lần lần sau đó,
thành lập Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN, Trường Quân Y, và các Trường Võ bị
Địa phương (Ecole Militaire Régionale) đào tạo các Chuẩn úy Trung đội
trưởng, ngoài số
Thiếu úy Hiện dịch do Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt đã và đang đào tạo
(Trường VBLQ ĐàLạt được thành lập từ năm 1948). Các Trung tâm Huấn
luyện Tân binh và Hạ sĩ quan cũng lần lượt được thành lập, và hoạt động
náo nhiệt để thành lập các đơn vị cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn Bộ Binh
và các đơn vị Binh chủng, Nha, Sở chuyên môn.
(Thời gian này, Tôi là Trung Úy mới mãn khóa
Sỹ quan Truyền Tin tại Trường Truyền Tin Montargis bên Pháp về vào đầu
tháng 7-1951, được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Mật Mă thuộc văn phòng
Đổng lý Bộ Quốc Phòng do Thiếu Tá Nguyễn văn Vận làm Đổng Lý. Sau này
Thiếu Tá Vận rời Bộ Quốc Phòng ra Hà Nội được thăng cấp lần lần tới
Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 vào năm 1954)
Được sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Quân đội Viễn chinh Pháp ồ ạt xây dựng các
doanh trại và cơ sở rất lớn rộng cho các Cơ quan Chỉ huy và Đơn vị
Hành chánh Tiếp vận Trung Ương tại các vùng Tân Sơn Nhứt, Gò Vấp, Bình
Lợi, Cát Lái (Gia Định),
Khánh Hội (Saigon), và Biên Hoà. Theo dự tính của Tướng De Lattre, các
Cơ sở này phải đủ tầm vóc có thể biến thành các Cơ sở Chỉ huy và Tiếp
vận cho các Lực lượng Liên Hiệp Quốc xử
dụng khi cần phải đến Việt Nam để điều khiển chiến tranh ngăn cản Cộng
sản Quốc tế xâm lăng các nước thuộc Đông Nam Á Châu, như họ đã đến
tham gia cuộc chiến tại bán đảo Triều Tiên.
Vào tháng 12 năm 1951, Tướng De Lattre qua đời, Tướng Raoul Salan được
cử thay thế làm Tổng Tư lệnh, để tiếp tục giải quyết cuộc “Chiến tranh
sa lầy” không lối thoát của Pháp tại Đông Dương. Nội tình nước Pháp
tiếp tục lục đục, chính phủ Queuille
bị đổ vào tháng 2-1952. Tại Bắc Việt, Tướng Salan rút bỏ Hoà Bình vào
cuối tháng 3-1952. Thủ tướng mới của Chính phủ Pháp là Pinay vẫn giữ
chính sách cũ đối với Đông Dương. Ông Letourneau được bổ nhiệm làm Bộ
trưởng các Quốc gia Liên
kết, kiêm nhiệm chức Cao Ủy Đông Dương kể từ tháng 4-1952, và Tướng
Salan được chỉ định làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông
Dương. Bộ trưởng Letourneau phải thường
xuyên hoạt động tại chính quốc, làm gì có thời giờ chạy qua chạy lại
giữa Pháp và Đông Dương, nên Tướng Salan vô hình chung có được toàn
quyền quyết định y như cố Đại tướng De Lattre thuở còn sinh thời.
Sở dĩ Tướng Salan được lựa trám chỗ trống của De Lattre, vì ông ta đă
từng ở Việt Nam lâu năm, tham dự nhiều trận chiến với Việt Minh từ hồi
1947, đă cộng tác mật thiết với Tướng De Lattre trước khi ông này qua
đời, nên thông thạo lối đánh của
Việt Minh. Ngoài ra, ông ta còn có được cái trí khôn của người Á Đông
vì lấy vợ người Việt Nam, hút thuốc phiện, theo vợ đi lễ các Đền,
Chùa, am tường các phong tục tập quán của các Sắc dân Đông Dương.
Chiến công của Tướng Salan từ sau ngày
thay thế De Lattre, chỉ là cuộc hành quân rút lui khỏi Hoà Bình trong
an toàn không bị sứt mẻ, và xây dựng “Pháo lũy Na Sản” giữ được mặt
trận vùng Bắc Thái (phiá Tây, Bắc Việt) vững vàng trong suốt 3 tháng
(10, 11, và 12-1952). Còn tình hình toàn diện Đông Dương chẳng có gì
khả quan hơn.
Qua tháng 5-1953, Tướng Navarre được cử thay thế Tướng Salan làm Tổng Tư lệnh Quân Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương.
Ông này xào xáo lại các kế hoạch của các Tướng tiền nhiệm, rút tỉa các
kinh nghiệm, để hệ thống hoá thành kế hoạch chiến thuật mới của mình
là:
- 1. Phòng thủ miền Bắc;
2. Bình định miền Nam;
3. Lập một Binh đoàn Chủ lực lưu động, để có thể đánh ở bất cứ nơi nào có sự tập trung quân của Địch (Việt Minh).
Kế hoạch được mở màn bằng
cuộc hành quân “Castor” vào cuối tháng 11-1953, để hỗ trợ việc xây
dựng “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” với mục đích:
- a.
Buộc Việt Minh phải chấp nhận một trận công kiên chiến, mà Pháp tin
rằng họ sẽ thắng vì có ưu thế hơn về Không quân và Tiếp liệu.
b. Cầm chân Chủ lực quân Việt Minh tại miền Bắc để chúng không thể tiếp
sức cho miền Nam, nhờ thế Pháp sẽ bình định Liên Khu V gồm các Tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, tại miền trung tâm của
Trung Việt Nam một cách dễ dàng.
c. Dùng Điện Biên Phủ làm “Căn cứ Bàn đạp” đánh vào Hậu tuyến Việt Bắc,
nếu Việt Minh di quân khỏi nơi này để tấn công vùng đồng bằng sông
Hồng. Tiếc thay, Bộ tham mưu của Tướng Navarre ước tính sai lệch quá
nhiều. Việt Minh đă tập trung được quanh Điện Biên Phủ, một lực
- lượng nhiều tới 100,000 quân.
Với sự yểm trợ của Trung Cộng, Việt Minh còn kéo được cả súng Đại pháo
qua đỉnh núi, đào hầm bố trí ngay trên sườn núi nhìn thẳng xuống
thung lũng Điện Biên Phủ. Thế mà Pháp cho rằng, Việt Minh chỉ có thể
tập trung quanh Điện Biên Phủ khoảng
- 20,000 quân là tối đa, và lòng
chảo Điện Biên Phủ không thể bị uy hiếp bằng Pháo binh, vì các Đại
pháo chỉ có thể bố trí phiá bên kia các dẫy núi quanh lòng chảo, xa
quá tầm tác xạ của súng.
Cuối tháng 11-1953, tình hình
chiến sự bỗng chuyển biến đột ngột. Bốn (4) Sư đoàn Việt Minh kéo lên
áp lực miền Bắc Thái (Tây Bắc, Bắc Việt). Qua tháng 12-1953, Tướng
Navarre phải
cho lệnh rút quân bỏ Lai Châu và toàn vùng Bắc Thái, để tập trung về
Điện Biên Phủ, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân ở vùng thượng lưu
sông MêKông để củng cố phòng thủ miền Bắc Lào (nước Ai Lao).
Đầu năm 1954, tình hình lắng dịu tại khắp các chiến trường phụ trên
toàn cõi Đông Dương. Riêng tại Điện Biên Phủ tình hình coi như đang có
nhiều điều thuận lợi cho quân Pháp. Nhưng, vào trung tuần tháng
2-1954, Hội nghị Bá Linh (Berlin, Đức) được
mở ra để thảo luận về việc thành lập một Hội nghị chính thức tại
Genève để tìm giải pháp cho vấn đề đình chiến tại Đông Dương, đă khiến
tình hình chiến sự trở nên bất lợi cho quân Pháp, và làm cho Tướng
Navarre bị ngỡ ngàng.
Đầu tháng 3-1954, Việt Minh rút Sư đoàn 308 đang uy hiếp Luang-Prabang
(Lào), đem về tăng cường bao vây Điện Biên Phủ. Đến ngày 13-3-1954,
Việt Minh mở đầu các cuộc tấn công trên khắp các mặt trận Đông Dương
(kể cả Điện Biên Phủ),
nhằm mục đích phô trương khả năng quân sự mới để áp đảo tinh thần quân
Liên Hiệp Pháp và các Quốc gia Liên kết Đông Dương, đồng thời tạo
điều kiện thượng phong tại Hội nghị
Genève. Quân Pháp bị cầm chân tại tất cả mọi nơi, nên không còn quân số
tiếp ứng cho nhau, nhất là cho “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ”.
Đến cuối tháng 4-1954, Bộ Tư lệnh Pháp cho mở cuộc hành quân “Atlante”
đánh vào Quân khu V của Việt Minh tại trung Việt, nhưng chẳng đem lại
kết quả gì, nếu không muốn nói là uổng công vô ích.
Ngày 7 tháng 5-1954, sau 55 ngày đêm tự lực cầm cự, “Tập đoàn Cứ điểm
Điện Biên Phủ” đă phải xin đầu hàng vô điều kiện. Dư luận Pháp rất
hoang mang, chia rẽ, tranh cãi trầm trọng, khiến Chính phủ Pháp phải
đưa Tướng Paul Ely Tổng
Tham mưu trưởng Quân lực Pháp sang Đông Dương thay thế Tướng Navarre,
với quyền hạn rộng răi là Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh
tại Đông Dương, như đă dành cho
Tướng De Lattre hồi trước. Nhưng, Tướng Ely cũng chẳng làm được gì
hơn, là tiếp tục nhận lãnh những thất bại chua cay, trong âm mưu tái
lập thuộc địa lỗi thời của Pháp tại Đông Dương sau Thế chiến II.
Mấy tuần lễ sau vụ Pháp thất trận Điện Biên Phủ, chiến cuộc Đông Dương
được giải quyết ngă ngũ, chấm dứt bằng giải pháp chính trị tại Hội
nghị Genève với một Hiệp Định đình chiến, ký kết vào lúc 01:00 giờ ngày
21 tháng 7 năm 1954 tại Genève
giữa Pháp và Việt Minh. Đại diện Hoa Kỳ và Đại diện Chính phủ Quốc gia
Việt Nam khước từ không ký vào bản Hiệp định. Theo Hiệp định này,
nước Việt Nam bị phân làm 2 phần Nam, Bắc. Vĩ tuyến 17 và dòng sông
Bến Hải được dùng làm ranh giới giữa 2
miền. Từ giữa lòng con sông trở lên phiá Bắc thuộc quyền kiểm soát cai trị của Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh cầm đầu.
Phần từ giữa lòng con sông trở xuống phiá Nam thuộc trách nhiệm của
Chính quyền Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại
lãnh đạo.
Thi hành Hiệp định Genève, Bộ Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp của Tướng
Ely phối hợp cùng Chính phủ Quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm
Thủ tướng, tổ chức một cuộc di tản vĩ đại ngoạn mục trong vòng 300
ngày, cho hơn một triệu Dân
Quân Cán chính không thích sống dưới Chế độ Cộng sản rời miền Bắc vào
Nam tái lập nghiệp, và hàng chục ngàn Cán Binh Cộng sản từ miền Nam
buộc phải tập kết ra Bắc. Thời hạn triệt thoái quân Pháp và quân Quốc
gia ra khỏi Bắc Việt theo lối cuốn
chiếu quy định như sau: phải ra hết khỏi Hà Nội trong thời hạn 80 ngày
kể từ ngày ký Hiệp Định Genève, do đó ngày chót được ấn định cho Hà
Nội là ngày 11-10-1954; 100 ngày cho Hải Dương do đó ngày chót được ấn
định là ngày 1-11-1954; và 300 ngày cho Hải Phòng do đó ngày chót
được ấn định là ngày 19-5-1955.
2. THỜI CƠ GIÚP CHO QUỐC GIA VIỆT NAM CHÍNH THỨC CÓ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN
ĐỘC LẬP TRONG MỌI LÃNH VỰC TỔ CHỨC QUẢN TRỊ HÀNH CHÁNH, CHÍNH TRỊ
NGOẠI GIAO ĐỐI NỘI ĐỐI NGOẠI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ QUỐC PHÒNG TẠI MIỀN
NAM VIỆT NAM.
Từ ngày Cựu Hoàng Bảo Đại nhận lănh sự ủy nhiệm của các Đảng phái
chính trị không theo Cộng sản tại Việt Nam, đứng ra thương thuyết và ký
với Pháp Hiệp Ước sơ bộ tại Vịnh Hạ Long để giành lại quyền độc lập
cho nước Việt Nam thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam vào ngày
5-6-1948, rồi đến trưa ngày 8
tháng 3 năm 1949 tại Paris có thêm THOẢ ƯỚC ÉLYSÉE giữa Tổng Thống
Pháp Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại, vào ngày này, hai người
trao đổi văn thư, theo đó “Pháp long trọng công nhận” một nước Việt
Nam độc lập và dân chúng có quyền
tự do quyết định sự thống nhất lãnh thổ của mình, theo tinh thần Hiệp
Ước Hạ Long, kèm theo một phụ bản các điều thoả thuận với PIGNON, cho
đến ngày ký Hiệp định Đình chiến tại Genève 20-7-1854, đă có tới 7
chính phủ thay nhau điều hành Quốc gia Việt Nam:
- 1. Nguyễn văn Xuân, từ 2-6-1948 đến 30-6-1949.
2. Bảo Đại, từ 1-7-1949 đến 20-1-1950,
3. Nguyễn Phan Long, từ 21-1-1950 đến 5-5-1950,
4. Trần văn Hữu, từ 6-5-1950 đến 25-5-1952,
5. Nguyễn văn Tâm, từ 26-5-1952 đến 15-1-1954,
6. Bửu Lộc, từ 16-1-1954 đến 6-7-1954,
7. Ngô Đình Diệm từ 7-7-1954 tới 23-10-1955.
Thư ngày 8-3-1949 của Auriol gửi Bảo Đại gồm 7 mục chính:
- 1. Việt Nam thống nhất (Unité du Vietnam)
2. Vấn đề Ngoại giao (Question diplomatique)
3. Vấn đề Quân sự (Question militaire) Việt Nam sẽ có một Quân đội
riêng để duy trì trật tự, an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la
defense de l’Empire). Trong trường hợp tự vệ, có thể được các lực
lượng Liên Hiệp Pháp yểm trợ (appuyé par les forces de l’Union
francaise). Quân đội VN cũng tham dự vào cuộc bảo vệ biên cương của
toàn Khối Liên Hiệp Pháp.
4. Vấn đề chủ quyền trong nước (Souveraineté interne).
5. Vấn đề tư pháp
6. Vấn đề văn hoá
7. Vấn đề kinh tế và tài chánh.
(Ghi chú:
Đoạn văn chữ nghiêng nét đậm trên đây là trích từ trang 119 trong
cuốn VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939 (Tập B :1947-1954) của Chính Đạo do nhà
phát hành Văn Hoá in năm 1997 tại Hoa Kỳ. Đặc biệt Tôi có thay một chữ
trong mục 3. ….., an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la defense de
l’Empire). …. Thay cho chữ .. bảo vệ đế quốc (la defense de
l’Empire)….. như trong nguyên bản, vì Tôi nghĩ Việt Nam chưa bao giờ là
Đế quốc, thời trước 1945, Pháp gọi là L’Empire d’Annam tức là Vương
quốc Annam do Bảo Đại làm vua (Empereur.)
Đến ngày 28-4-1956, Bộ Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương giải tán, tất
cả các Cơ sở và Căn cứ trước đây do Pháp xây dựng chiếm đóng, đều trao
hết cho Chính phủ và Quân đội Quốc gia Việt Nam thừa hưởng. Dinh
Norodom tọa lạc tại trung tâm Thủ đô Saigon trước kia dành cho Cao Ủy
Pháp tại Đông
Dương, nay là trụ sở của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đổi tên thành
Dinh Độc Lập. Camp Chanson to lớn bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất trước
kia là nơi làm việc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh pháp tại Đông
Dương, nay thuộc quyền xử dụng của Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội
Quốc gia Việt Nam
(QĐQGVN) và đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo. Hospital Rocques rộng lớn
của đoàn quân Viễn chinh Pháp xây dựng tại Gò Vấp sát bên Bộ TTM và
phi trường Tân Sơn Nhất, nay thuộc quyền QĐQGVN và đổi tên là Tổng Y
Viện Cộng hoà. (Không biết cái tên Roques Tôi nhớ có đúng không, bạn
nào biết là sai xin vui
lòng chỉnh giùm, Tôi vô cùng cám ơn). Còn rất nhiều Doanh trại, Căn cứ,
và Cơ sở khác tại Saigon và tại các Tỉnh trên toàn lănh thổ miền Nam
Vĩ tuyến 17 được Pháp trao lại cho Chính quyền Quốc gia miền Nam Việt
Nam, nhưng Tôi thấy không cần liệt kê hết ra đây.
Vào tháng 8-1956, Chính phủ Pháp loan báo việc đề cử ông Henri Hoppenot
làm Cao Ủy Đông Dương. Nhưng, ông Ngô Đình Diệm đang lãnh đạo Chính
quyền Quốc gia Việt Nam với chức vị tự phong là Tổng Thống từ ngày
26-10-1955 thay thế
Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế từ ba ngày trước đó 23-10-1955, đã
dựa theo các điều khoản của Hiệp định Genève không chấp nhận, nên Chính
phủ Pháp phải đổi lại chức vụ là Đại sứ Pháp tại Việt Nam.
Đến ngày 26-10-1956, lễ ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà (theo
khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ, do Quốc Hội Lập
Hiến được bầu ra vào ngày 4 tháng 3 năm 1956 biên soạn và biểu quyết
chuẩp thuận) mới được tổ
chức rất trang trọng tại Đại lộ Trần Hưng Đạo, Saigon. Buổi lễ này cũng
đồng thời là Lễ Tuyên Thệ chính thức nhậm chức Tổng Thống nước Việt
Nam Cộng Hoà đẩu tiên tại miền Nam Việt Nam của ông Ngô Đình Diệm,
trước toàn dân và Ngoại giao
đoàn quốc tế đă có mặt tại Saigon từ thời Quốc gia Việt Nam còn thuộc
quyền lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại. (Quốc Hội Lập Hiến gồm 123 Dân
Biểu thuộc các thành phần sau: Phong
trào Cách mạng Quốc gia 47 ghế, độc lập không đảng phái nào 39 ghế,
Tập đoàn Công dân 18 ghế, Phong trào Tự do 11 ghế, và 5 đảng phái chia
nhau 8 ghế.)
Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan
biến dần để thay thế bởi ảnh hưởng Hoa Kỳ. Bởi vì, ngay từ khi mở Hội
nghị Bá Linh bàn thảo việc thành lập Hội
nghị Genève giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, Hoa Kỳ đă ngầm
vận động thúc đẩy Quốc trưởng Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm (đang ở
Mỹ) về làm Thủ Tướng, thay thế Thủ tướng Bửu Lộc được coi là thân
Pháp.
3. THỜI CUỘC BIẾN ĐỔI ĐÃ TẠO CƠ HỘI CHO THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
GIÀNH ĐƯỢC QUYỀN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VIỆT NAM, THAY THẾ QUỐC TRƯỞNG BẢO
ĐẠI ĐÃ RỜI VIỆT NAM SANG PHÁP TỪ NGÀY 10-4-1954 SỐNG TẠI BIỆT THỰ
RIÊNG Ở CANNES, ĐỂ CHỮA BỆNH SÁN GAN VÀ VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ GIÚP GIẢI
QUYẾT CUỘC CHIẾN CHỐNG CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM.
Tại Saigon trong khoảng những ngày cuối tháng 5 sang đầu tháng 6-1954,
các hãng thông tấn quốc tế và quốc nội loan truyền tin đồn đoán là
ông Ngô Đình Diệm sẽ làm Thủ Tướng thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc. Nhưng
măi đến ngày 16-6-1954, Quốc Trưởng Bảo Đại, từ tư dinh tại thành phố
Cannes bên
Pháp, mới chính thức công bố quyết định cử ông Ngô Đình Diệm làm Thủ
Tướng với toàn quyền hành động (tức là mọi quyết định quan trọng liên
quan đến quốc gia không cần phải thỉnh ý Quốc Trưởng trước như các Thủ
Tướng tiền nhiệm).
Ngày 25-6-1954 ông Ngô Đình Diệm từ Pháp về tới phi trường Tân Sơn Nhất
Saigon, được sự tiếp đón theo nghi lễ ngoại giao tại phòng Khách Danh
Dự của phi trường, gồm một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính
phủ Bửu Lộc, một số Sĩ quan
cấp Tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ TTM/QĐQGVN (trong đó có
Tôi đang là Thiếu Tá Chánh Sự vụ Sở Mật Mã trực thuộc văn phòng Tổng
Tham Mưu Trưởng, lúc đó Thiếu Tướng
Nguyễn văn Hinh làm Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tá Trần văn Minh làm
Tham mưu trưởng), cùng một số thân quyến thuộc dòng họ Ngô-Đình và
Nhân sĩ thân hữu của gia đình ông Ngô Đình Diệm ở trong nước.
Những ngày tiếp theo, ông Diệm tiếp xúc các nhân sĩ để thành lập chính
phủ, mãi tới ngày 7-7-1954 mới chính thức trình diện chính phủ và bắt
đầu tham chánh. Thành phần chính phủ gồm có:
- - Ngô Đình Diệm, Thủ Tướng kiêm Nội Vụ và Quốc Phòng,
- Trần Văn Chương, Quốc Vụ Khanh,
- Trần Văn Đỗ, Tổng Trưởng Ngoại Giao,
- Trần Văn Của, Tổng Trưởng Tài Chánh và Kinh Tế,
- Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng Trưởng Lao Động và Thanh Niên,
- Trần văn Bạch, Tổng Trưởng Công Chính,
- Phạm Hữu Chương, Tổng Trưởng Y Tế và Xă Hội,
- Phan Khắc Sửu, Tổng Trưởng Canh Nông,
- Nguyễn Dương Đôn, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục,
- Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng,
- Lê Quang Luật, Thông Tin,
- Phạm Duy Khiêm, Công vụ Phủ Thủ Tướng,
- Nguyễn Ngọc Thơ, Nội Vụ,
- Lê Ngọc Chấn, Quốc Phòng,
- Hồ Thông Minh, Thứ Trưởng Quốc Phòng,
- Bùi Văn Thinh, Tư Pháp,
- Nguyễn Văn Thoại, Kinh Tế,
- Trần Hữu Phương, Tài Chánh.
Nhưng chỉ ít ngày sau, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bắt đầu gặp nhiều khó khăn về mọi mặt đối nội cũng như đối ngoại. Chẳng hạn:
1. Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam không ký trên Hiệp định Genève,
nhưng vẫn phải chấp nhận và cộng tác với Bộ Tư lệnh quân đội Viễn
chinh Pháp tại Đông Dương thi hành, đặc biệt phải chấp nhận cho các cơ
sở kiểm soát đình chiến do Ấn
Độ (Trung Lập) làm Chủ tịch, với các thành viên Ba Lan (Cộng sản) và
Canada (thuộc Thế giới Tự Do Tư Bản) đặt cơ sở hoạt động tại nhiều nơi
trên lãnh thổ miền Nam, ngay cả tại giữa Thủ Đô Saigon. Trong các cơ
sở kiểm soát đình chiến này có cả sự hiện diện của những người đại
diện của Việt Cộng.
2. Phải vận động nhờ Chính quyền Pháp tại Đông Dương và chính phủ Hoa
Kỳ hỗ trợ phương tiện và ngân khoản để di tản cả triệu người (Dân,
Quân, Cán chính) không thích sống dưới sự cai trị của Chính quyền Việt
Cộng tại miền Bắc Vĩ tuyến 17, di cư vào miền Nam.
3. Tổ chức tiếp đón cứu trợ ban đầu, tái định cư, và tạo công ăn việc
làm, ổn định đời sống cho những người này. Vì họ đă phải bỏ tất cả của
cải đất đai hương hỏa của Tổ tiên Ông Cha tại miền Bắc, ra đi vào miền
Nam với 2 bàn tay trắng.
4. Hợp nhất các Lực lượng Võ trang Giáo phái vào hàng ngũ Quân đội Quốc
gia Việt Nam, để tiêu hủy nạn “phe phái hùng cứ địa phương” do Pháp
tạo dựng lên trước đây, với mục đích Thực dân thâm độc “chia để trị”.
5. Điều chỉnh cải tiến hệ thống hành chánh, để chấm dứt tệ nạn “Xứ
Quân, Vua một cõi” thao túng áp bức quần chúng bằng quy luật “Phép Vua
thua Lệ Làng”, hậu quả dư âm Quan lại của thời Pháp còn vương rớt lại,
tại các tỉnh và ngay cả tại các Quận hành chánh giữa Saigon Chợ Lớn.
6. Loại bỏ các tổ chức gieo rắc tệ đoan xã hội (khu bài bạc, các ổ chứa
gái mãi dâm công khai hoạt động có nộp thuế) do các tay Chính trị
hoạt đầu, Doanh gia bất chính, lợi dụng nước đục thả câu, với sự bảo
trợ khích lệ của Thực dân Pháp đă tổ chức kinh doanh từ nhiều năm qua.
7. Đặc biệt là phải đề ra phong trào chống Cộng, với một Chính sách dựa
theo Chủ thuyết Nhân bản có thể bẻ gẫy được Chủ thuyết Cộng sản, để
làm kim chỉ Nam hướng dẫn quần chúng
hăng say tham gia công cuộc tố cáo và loại trừ các hoạt động của cán
bộ Cộng sản nằm vùng tại miền Nam. Để dân được sống an toàn tại khắp
mọi nơi, an tâm tham gia xây dựng phát triển Kinh tế phồn vinh, và
hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc trong thanh bình.
Vì thế mới có Chủ thuyết NHÂN VỊ, Đảng Cần Lao, và PHONG TRÀO CÁCH MẠNG
QUỐC GIA ra đời, hoạt động thường xuyên trong mọi tổ chức hành chánh,
quân đội, và các cơ sở xã hội khác trên đất liền cũng như trên các
hải đảo thuộc miền Nam Việt Nam từ Vĩ tuyến 17 trở xuống.
Mọi người sống tại miền Nam Việt Nam đều biết và cũng đã từng phải tham
gia, tùy theo vị trí hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân và gia đình.
(Thời gian đó, Tôi là Thiếu Tá Trưởng Phòng
Mật Mă Trung Ương thuộc Bộ Chỉ huy Viễn Thông tại Bộ Tổng Tham Mưu
QĐQGVN, được tập thể chiến hữu thuộc các đơn vị Truyền Tin tại Saigon
bầu làm Chủ tịch Phong trào Cách Mạng Quốc gia của Binh chủng Truyền
Tin).
Phong trào này nhằm mục đích đánh bóng lãnh tụ Ngô Đình Diệm, chỉ trích
tinh thần bạc nhược của Quốc trưởng Bảo Đại trong việc điều hành Quốc
gia, để tiến tới việc tổ chức cuộc
“Trưng cầu Dân ý truất phế Bảo Đại” vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, và
ủy nhiệm cho ông Ngô Đình Diệm thành lập nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ theo
khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ vào ngày
26-10-1956.
Suốt trong thời gian vận động tổ chức cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ý vào ngày
23-10-1955, trên các phương tiện truyền thông của Chính phủ thường
xuyên phổ biến bài hát thúc đẩy mọi người tích cực tham gia đi bầu rất
hay. Nhưng rất tiếc Tôi chỉ còn nhớ một số câu tiêu biểu khó quên chứ
không nhớ trọn bài:
- “Hai ba tháng mười là ngày trưng cầu dân ý,
Hai ba tháng mười là ngày phá tan ngai vàng,
Đứng lên toàn quốc, viết trang sử mới,
……..(không nhớ……”
Và kể từ sau ngày VIỆT NAM
CỘNG HOÀ ra đời 26-10-1956, nghi thức chào cờ chính thức được quy định
là sau khi hát bài Quốc Ca “Tiếng gọi công dân” thì phải hát bài SUY
TÔN NGÔ TỔNG THỐNG. Bài hát này do nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bích sáng tác
(ông đã qua đời vào năm 2001):
Suy Tôn Ngô Tổng Thống
Ai bao năm từng lê gót nơi quê người
Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do
Người cương quyết chống cộng
Bài phong kiến bóc lột
Diệt thực dân đang giắt reo tàn phá
Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời
Gương hy sinh ngàn muôn tiếng không hề phai
Toàn dân quyết kết đoàn cùng chung sức với người
Thề đồng tâm say đắp cho ngày mai
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Xin thượng đế ban phước lành cho người
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng Thống
Chung đắp say nền thống nhất sơn hà
Nguyễn Huy Hùng (K1)
Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà,
Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến,
Cựu tù nhân chính trị 13 năm lao động khổ sai
trong các trại tập trung cải tạo của chính quyền Cộng hoà xă hội chủ
nghiă Việt Nam sau ngày Quốc hận 30-4-1975.
Các tài liệu tham khảo:
1. (Quân sử 4) QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ
TRONG GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH 1946-1955. Do Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu biên
soạn và phát hành, sách được in tại cơ sở xuất bản Đại Nam năm 1972
trụ sở Taiwan Republic of China, và được ông Đỗ Kinh Lâm tự Đỗ Ngọc
Tùng (cựu sinh viên sĩ quan Khoá 4 Lý Thường Kiệt, Trường Võ bị Quốc
gia Việt Nam) Giám đốc nhà xuất bản Đại Nam sao in lại và phát hành
vào năm 1983 tại thành phố Glendale California Hoa Kỳ.
2. THÀNH TÍCH SÁU NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA CHÁNH PHỦ
VIỆT NAM CỘNG HOÀ ấn hành năm 1960 tại Saigon, và được ông Hồ Đắc Huân
(cựu sinh viên sĩ quan Khoá 2 Hiện dịch Nha Trang) sao in lại tại Khu
Little Saigon Nam California Hoa Kỳ vào tháng 7-2007 để gửi tặng
riêng các thân hữu tùy nghi ủng hộ giải quyết tổn phí ấn loát chứ
không in với mục đích thương mại. Ai muốn có sách có thể liên lạc với
ông Huân qua điện thoại số (714) 725 5136 hoặc địa chỉ gửi thư:
HỒ ĐẮC HUÂN
- P.O. BOX 1711
Westminster, CA92684
3. VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939-1975 (Tập B: 1947-1954) của Chánh Đạo do nhà xuất bản Văn Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ năm 1997.
4. VIỆT NAM NIÊN BIỂU Tập III NHÂN VẬT CHÍ
(liệt kê gần 900 tác nhân lịch sử cận đại, từ 1848 tới 1975) của Chánh
Đạo do nhà xuất bản Văn Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ vào năm 1997
Nguyễn Huy Hùng
Namkyluctinh
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32915
|