Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Năm Mùi nói chuyện Dê


Năm Mùi nói chuyện Dê

Phạm Thành Châu




Dê là con vật được thuần dưỡng rất sớm, có thể trước thời kỳ đồ đá, cách nay khoảng 6, 7 nghìn năm. Trên những mảnh đất nung ở Trung Hoa, người ta thấy có hình chạm con dê. Chữ “dương” trong Hán tự ra đời cách nay 3 nghìn năm vẽ hình con dê có 2 sừng và chòm râu. Dê hay cừu đều là “dương” dù ở núi hay đồng bằng. Chữ miên dương là con dê mặc áo bông... là con cừu. Linh dương là con dê có sừng cong về phía sau. Căn cứ vào chữ “dương” là “dê” ta có thể “dịch” như sau: Dê to lớn, có quốc tịch Pháp gọi là “Ðại Tây Dương”. Dê không thích đánh nhau gọi là “Thái Bình Dương”. Dê đi nước ngoài gọi là “xuất dương”. Dê bị cạo sạch lông (no hair) gọi là “dương trần”. Dê không ngay thẳng gọi là “dương gian”. Dê có học, sống đời văn minh tiến bộ gọi là “Dương văn Minh”... Không chỉ người Việt nói dê là “dê gái” mà người Anh, Pháp cũng vậy. Chữ goat trong tiếng Anh cũng dùng để chỉ người có máu dê (a lecherous man), old goat là ông già dê. Tiếng Pháp, chữ bouc cũng chỉ mấy ông có máu dê. Cà tím giống dái con dê (đực!) nên gọi là cà dái dê. Ðánh số đề, nếu thấy con dê trong giấc mơ hay ngoài đời thì đánh số 35 thường “rất” trật lất. Con số 35 phát nguồn từ các sòng bài Kim Chung và Ðại Thế Giới ở Sài Gòn (sau nầy là “khu dân sinh”) của tướng cướp Bảy Viễn thời Pháp thuộc. Giới nhà nghèo thường vô đó đánh bạc với hi vọng đổi đời. Họ không biết chữ nên dưới mỗi con số có hình vẽ một con vật tượng trưng để tiện đặt tiền. Ví dụ số 1 mang hình con cọp, số 2 hình con trâu, số 3 hình con chuột... và số 35 mang hình con dê. Người chơi cứ theo hình đó mà mua một con số. Nhà cái xổ ra con (số) gì mà mình có thì cứ việc lượm tiền. Dê nhà thả đi rong ít lâu sau sẽ thành dê núi, dê rừng. (Các ông cũng vậy, thả ra khỏi nhà là đi hoang, thấy gái là thả dê, hết tiền mới mò về!) Giống dê được thuần hóa đầu tiên là giống Pasang, phát xuất từ trung Á. Ấn Ðộ nuôi dê sớm nhất. Vì Ấn Ðộ có hai tôn giáo chính, Ấn giáo và Hồi giáo. Ấn giáo không ăn thịt bò, Hồi giáo không ăn thịt heo. Thịt dê được cả hai tôn giáo chiếu cố. Việc nuôi dê phát triển ở Ai Cập, sang châu Âu, châu Á rồi mới đến châu Phi. Dê rất dễ nuôi, ăn bất cứ loại lá nào, ăn cả giấy báo, nhưng lại sợ ăn trên các cánh đồng có phân bón. Tại các đảo ngoài khơi miền nam California, như đảo Santa Rosa, Santa Cruz, San Clemente... là những nơi nghiên cứu các loại vũ khí bí mật, dê thường được thả chung quanh các căn cứ để chúng ăn cây cỏ cho quang đãng. Các thành phố Upland, Fontana, khi cỏ và cây dại mọc nhiều quá, người ta chở dê đến quanh các hồ nước, thả ra để dê ăn bớt. Nuôi dê để lấy thịt và lấy sữa. Nuôi để lấy lông, dệt len thì có giống Angora và Cashmere (nuôi ở Cashmere, Ấn Ðộ). Ở châu Phi, người ta vắt sữa hai lần trong ngày, nếu vắt trễ, căng sữa, dê về nhà chủ, gõ chân vào cửa nhắc nhở. Cho ăn no, dê có thể cho một lít sữa mỗi ngày. Ở Ai Cập, phụ nữ dắt dê đi bán sữa. Ai mua. Vắt sữa ngay vào bình. Trước 1975, quanh chợ Bến Thành, trên các đường phố chính như Nguyễn Huệ, Tự Do... các tiệm vải đều do các anh Bảy Chà gốc Bombay hay Calcutta làm chủ. Ngoài mấy tiệm vải họ còn hành nghề cho vay cắt cổ (chà Sét ty), và nuôi dê lấy sữa. Các anh Bảy Chà nầy thường giao sữa dê vào buổi sáng. Họ dùng xe mobylette chở từng bao bố lớn, có túi chứa các chai thủy tinh đựng sữa dê. Họ đến giao sữa từng nhà, dĩ nhiên nhà của mấy chú Bảy Chà giàu có, sang trọng, không thích uống sữa bò. Mấy con dê già, chú Bảy làm thịt, chế biến thành cà ry dê, ngon nhưng cay toát mồ hôi. Người ta nuôi dê ở các vùng đất cằn cỗi, gần núi. Dê leo núi rất giỏi. Ở châu Âu, vùng núi, người ta thả dê suốt mùa ấm, thỉnh thoảng có người đến cho ăn muối. Ðến mùa đông, lùa vào chuồng. Dê thích đánh nhau (húc sừng. Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa) có khi đến nửa giờ. Dê rất mau lớn, 6 tháng tuổi có thể cho 30 Lbs thịt ròng. Thịt dê chiếm 5,7% sản lượng thịt trên toàn thế giới. Tiểu bang Texas nuôi khoảng nửa triệu dê để lấy thịt. Luật ở đó cho phép thịt dê được ghi là thịt cừu (lamb hay mutton) ngoài bao bì. Người Việt mình thường nói “Treo đầu dê bán thịt chó” là trường hợp nầy (Nhưng hiện nay ở Việt Nam, thịt chó mắc hơn thịt heo, thịt bò. Mấy tên cẩu tặc chỉ xách xe chạy một vòng, bắt trộm mấy chú cẩu về bán cho các quán nhậu thịt chó là có trong túi cả triệu bạc VN). Thời Xuân Thu, Chiến Quôc bên Tàu, vua chúa đãi nhau bằng tiệc “Thất lao” gồm bảy món thịt, trong đó có thịt dê. Ở Việt Nam xưa, người ta cầu thần linh bằng lễ “Tam sanh” gồm thịt trâu (hay bò) heo và dê. Mấy quan chức đảng và nhà nước ta, tham nhũng các dự án, giàu nứt trứng, đem tiền của ra nước ngoài cất giấu, sắm nhà, xe, chơi gái, cá độ... đến khi đổ bể thì cho vài thằng đàn em ra lãnh đủ, và gọi chúng là “dê tế thần”. Dê có mùi hôi, nghe nói trước khi làm thịt, người ta cho dê uống rượu cho say rồi đánh dê cho nó kêu la, đến khi nào nó toát hết mồ hôi mới làm thịt. Thật tàn nhẫn. Người ta thường bảo “dê kêu!” ý nói, có kêu bao nhiêu cũng chẳng ai quan tâm, như con dê kêu la thảm thiết trước khi bị làm thịt. Có người bảo, làm thịt dê xong, ngâm thịt trong nước mía thì bớt hôi. Người Âu Mỹ thường đốt cái hạch chứa mùi hôi chỗ sừng dê, ít lâu sau mới làm thịt thì không bị hôi nữa.

“Nghiên cứu” con dê theo sách vở, đọc chán lắm! Nên tôi linh tinh chuyện “dê gái”, đọc vui hơn. Dê đực, khi “bức xúc” thường cúi đầu về phía sau và đái lên đầu. Nước đái dê hôi kinh khủng cộng với mùi của hai cái hạch nằm sau cặp sừng khiến mùi hôi càng nồng nàn (giống mấy ông xức nước hoa) Thế là các nàng dê, từ nơi xa, ngửi thấy mùi đó, thèm đến phát điên, chạy tìm cho ra chàng để nạp mạng. Tôi xem TV. băng tần “Ðời sống hoang dã” thấy mấy chị sư tử, báo (beo), hổ (cọp) hễ đọâng cỡn thì cứ việc đến nằm trước chàng (con đực) và chờ. Nếu con đực không thích chuyện đó, bỏ đi thì chị ta đi theo, lại nằm trước mũi và chờ. (Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi!) Ðể “khỏi phụ lòng em” con đực miễn cưỡng trả bài! (Giống mấy ông làm home work) Nhưng vừa xong việc là nàng quay lại táp chàng một phát khiến chàng nhảy đựng lên, bỏ chạy. Mấy ông “dân chơi cầu Bến Nọc” ra đường, thấy con dê đực thì vòng tay cúi đầu, kêu lên “Xi phu!” (sư phụ!)”. Các bợm nhậu thường thích ăn món, ngầu bín (cu con dê), “ngọc dương” (dái dê) để lên gân, khỏi bị mụ vợ già và các “bò nhí” (bồ trẻ) chê “Làm như gà!” (chưa nóng bụng đã tụt xuống!). Trong lúc chờ món thịt dê đem lên, các ông kháo nhau “Con dê đực đầu đàn là sư tổ chuyện đó. Mỗi buổi sáng, mở chuồng dê ra, làm gì con dê đực đầu đàn cũng ra trước, đứng ở cửa chuồng. Chị dê cái nào đi ngang qua cũng phải đứng lại cho “chàng” xơi một phát. Trong chuồng có trăm chị cái thì chàng xơi đủ trăm chị” Làm liên tục như vậy chỉ trong một buổi sáng! Thật đáng tôn vinh làm tổ sư Bồ Ðề. Nếu ai hỏi “Ông có thấy chuyện đó chưa?” thì làm gì ông ta cũng vỗ ngực “Chính mắt tôi thấy rõ ràng”. Nhiều ông tự xưng là “học giả” cũng khẳng định như thế. Sự thực như thế nào? Xin nghe ông “Tô Vũ đời nay” kể. Năm 1975, ông Nguyễn Mạnh, đảng viên Quốc Dân đảng, quận bộ Phú Vang, tỉnh Thừa thiên, bị Việt Cộng bắt đi tù cải tạo tại trại tù Bình Ðiền, Thừa Thiên. Ông ta được giao quản lý 84 con dê gồm 6 con dê đực, 40 con dê cái và 38 con dê con. Ông ta kể rằng. Buổi sáng, mở cổng chuồng, con dê đực đầu đàn ra đứng trước cửa chuồng đón chào bầy dê đi ra, miệng kêu “Bê hê!’ (dịch sang tiếng Anh là “Good morning!”). Bầy dê đi ra, con dê đầu đàn chỉ chận những con cái lại và “ngửi” dưới đuôi con dê cái (xin nhắc lại. Chỉ ngửi thôi) rồi cho đi. Chỉ con dê cái cuối cùng mới được chàng “lâm hạnh” trong 8 phút. Xong xuôi chàng lại kêu “Hê hê!”, (dịch sang tiếng Anh là “Good bye!”). Tưởng gì!? Tôi. “Ðại văn hào” chuyên viết chuyện “tầm bậy tầm bạ”, cũng dư sức làm chuyện đó (nhưng không phải với những con dê cái). Chuyện Tô Vũ chăn dê thì ai cũng biết nên xin tóm tắt như sau. Ðời Hán Vũ Ðế bên Tàu có rợ Hồ phương bắc thường xâm nhập trung nguyên (nội địa) đánh phá, cướp bóc, vua Hán bèn cho nàng Chiêu Quân làm cống vật cho vua Hồ làm thiếp. Tháp tùng có “đại sứ đặc mệnh toàn quyền” Tô Vũ. Không hiểu ông ta phát ngôn bừa bãi sao đó mà bị Hồ vương cho đi cải tạo ở ngoài quan ngoại (sa mạc Gô Bi) với đàn dê hàng mấy trăm con. Một lần, vào mùa đông, Tô Vũ trốn trại. Ði lang thang mãi mà không biết mình đang ở đâu, lại đói lạnh nên ngất xỉu. Tỉnh dậy, thấy một con khỉ cái đang đốt lửa sưởûi cho mình còn nấu cháo cho ăn. Tô Vũ “bèn kết duyên cùng nàng”, sinh được hai con. Sau hơn ba “lịnh” (mỗi lịnh ba năm tù), Tô Vũ học tập tốt, lao động tốt, yên tâm cải tạo, trở thành công dân chân chính... nên được tha về trung nguyên (nội địa nước Tàu). Chuyện chỉ có thế mà sử sách Tàu truyền tụng đến bây giờ. Ở Việt Nam ta, trước 1975, tờ báo Sài Gòn Mới có phóng sự “người lấy khỉ” ở trong rừng Cà Mau. Báo bán chạy như tôm tươi, bà chủ báo (BT) hốt bạc. Bị các báo khác (bán ế) ganh ghét xúm nhau đả kích, rêu rao rằngï “Bà chủ báo lấy khỉ” chứ người làm sao lấy khỉ, sinh con, ai mà tin được? Chuyện Tô Vũ thì tin?! Hóa ra, người Tàu là sư tổ phịa chuyện, mà chuyện nào cũng khiến người ta say mê, tin là thật! Viết nhiều tốn giấy, chủ báo lầu bầu, nên tôi xin kết thúc bằng những chuyện vui vừa xảy ra cách nay khoảng... chục năm. Xin tóm tắt như sau. Dê Khiêu Dâm. Dưới chân dãy Hi Mã Lạp Sơn, có mấy bà vác đơn kiện mấy con dê trong làng về tọâi khiêu dâm. Nguyên nhân là mấy cô gái vị thành niên đi chăn dê, thấy mấy con dê làm chuyện người lớn, thèm quá bèn cho mấy thằng cà chớn “muốn làm gì thì ... cứ thoải mái”. Kết quả các cô sình bụng (có chửa). Các bà yêu cầu không được nuôi dê, nếu nuôi phải thiến các con dê đực. Nhưng nuôi dê là nguồn sống của dân làng. Họ cần sữa dê, thịt dê. Quan tòa không biết giải quyết ra sao đành khuyên các gia đình nuôi dê đừng cho mấy đứa con gái đi chăn dê nữa. Ghen Vợ Giết Dê. Ở Bangladesh, một bà già vác đơn kiện ông chồng già, đòi ly dị và bồi thường vì đã giết “thân nhân” của bà ta là một con dê đực. Bà ta rất yêu quí con dê đó, suốt ngày tắm rửa cho nó, ăn chung với nó, tối ngủ chung phòng với vợ chồng bà. Ông chồng bực mình, giết con dê của vợ. Sau khi làm một đám tang long trọng và đẫm nước mắt, bà ta đưa ông chồng ra tòa. Ông chồng thưa với tòa rằng, bà vợ chỉ chăm sóc cho con dê mà không thèm để mắt tới chồng dù chồng bịnh hoạn, ốm yếu. Bà ta còn âu yếm gọi con dê là “Chàng trai yêu quí của em”. Tòa bèn bác đơn của bà ta, chỉ phạt ông chồng một ngày quét dọn nhà thờ và phải rửa tội. Giết Dê Ðể Hưởng Quyền Thừa Kế. Một ông giàu có viết di chúc, để toàn bộ tài sản cho một con dê vì con trai của ông ta lười nhác và nghiện rượu. Sau khi cha chết, người con giết con dê để lấy tài sản. Nhà chức trách đưa anh ta ra tòa vì tội giết dê. Tòa bỏ tù anh ta nhưng không nghe nói gì về tài sản của bố anh ta? Treo Ðầu Dê Bán Ma Túy. Một ông cảnh sát Mỹ, nhà gần biên giới với Mêxicô, đưa vợ đi ăn thịt dê ở một tiệm ăn của người Mỹ gốc Mêxicô. Ông ta biết tiếng Tây Ban Nha nên nghe lóm chuyện của hai anh bồi bàn nói tiếng Mễ. Hai cậu nói rằng. Chủ tiệm ăn bắt những người làm thịt dê phải để cái bao tử lại cho chủ. Thông thường, lục phủ ngũ tạng của dê đều vất bỏ. Ông ta sinh nghi. Thế là cảnh sát theo dõi. Hóa ra những con dê chở từ Mêxicô qua Mỹ đều bị mổ bụng, độn ma túy vào bao tử trước khi đưa qua biên giới. Chủ tiệm ăn là tay buôn lậu ma túy.

(lyhuong.net) 
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32685

Hòa giải, hòa hợp


Hòa giải, hòa hợp

Việt Định
2015-02-03

nguoi-linh-vnch-2.jpg
Người lính VNCH
File photo
Ngày tôi vào quân ngũ trong đầu thật tình chỉ nghĩ vì không một lựa chọn nào khác vì không đủ tiêu chuẩn của luật tổng động viên sau tết Mậu Thân năm 1968.
Thật tình mà nói thì tôi không ưa cộng sản như những bạn bè cùng trang lứa nhưng sống ở vùng xôi đậu bị tuyên truyền của cộng sản hay những bạn bè ở Sàigon nhưng sự hiểu biết lơ mơ về cộng sản thì ưa cộng sản. Không ưa nhưng không phải vào lính vì lý tưởng, chỉ coi đó là bổn phân của một công dân trong một quốc gia. Thế thôi.
Nhưng đến khi vào quân đội và chinh chiến nhiều năm qua những cuộc hành quân với đồng đội gặp được dân chúng ở các nới có chiến tranh thì mới thấy được sự khổ đau của dân chúng miền Nam trong vùng lửa đạn. Từ đó bất bình với những xáo trộn do những kẻ được sống yên bình nơi thành phố nay biểu tình mai xuống đường làm cho chính phủ không dồn hết sức lực vào cuộc chiến để mau chiến thắng đem lại hòa bình cho dân chúng trong đó có chúng tôi ngày đêm đối mặt với chết chóc.
Khổ nỗi chính phủ VNCH là chính phủ dân chủ không thể đàn áp mạnh tay những kể gây rối ở hậu phương được. Những kẻ này thật ra là cộng sản nằm vùng hay ngây thơ bị cộng sản lợi dụng. Cho đến ngày 30 tháng tư năm 1975 đến phần đông dân miền Nam mở mắt thì quá muộn. Chỉ có một thiểu số trót đã theo cộng sản như Lê Hiếu Đằng lúc gần chết mới mở mắt.
Mặc dầu sau 30 tháng tư phải đi cải tạo và cũng như những năm sống với cộng sản vì chưa thoát được tôi lại cảm thấy hãnh diện dầu gì cũng đã đóng góp sức mình trong chính nghĩa tự do của cuộc chiến tự vệ của miền Nam. Trong những năm tháng chưa rời khỏi Việt nam đã phải sống với cộng sản để thấy rõ hơn chính nghĩa của quân dân miền Nam trong cuộc chiến vừa qua.
Sáng nay trong mục “Ký ức 40 năm” có một bài viết của một độc giả nói về sự hòa giải của hai phía và trách cứ hai phía không cứ mãi hận thù. Thật tình mà nói thì luận điệu này cũng gống như một số người cố tình đánh đồng bọn lãnh đạo cộng sản và dân tộc. Dân tộc Việt nam cả ba miền vẫn không có hận thù với nhau ngay cả sau ngày 30 tháng tư năm 1975. Những bà con dòng họ miền Bắc đã tấp nập vào Nam sau ngày đó.
Nhiều người miền Bắc với cả tấm lòng họ tin người miền Nam đói khổ như tuyên truyền của cộng sản đã đem từng quà cáp mà họ có được vào biếu xén cho bà con miền Nam nhưng khi đến nơi họ thấy sự giàu có của dân miền Nam thì họ bẽn lẽn và cất giấu những món quà của họ và họ nhận về biết bao quà cáp của bà con miền Nam đem trở lại miền Bắc. Và đến bây giờ sau gần 40 năm bao tỉ đô la người Việt hải ngoại đã gởi về cho bà con trong nước. Bao nhiêu hội đoàn từ thiện ở hải ngoại về giúp không kể Bắc Nam.
Những kẻ thua cuộc không thể làm gì để hận thù hay hoà giải cả. Họ không có một quyền lực gì để làm điều đó. Chỉ có chính quyền cộng sản mới có thể làm điều đó nhưng họ không làm. Miệng họ nói hoà hợp hoà giải nhưng họ chỉ muốn người thua cuộc và dân chúng trong nước phục tùng họ mà thôi. Ngay cả người chết họ còn không muốn hoà giải thì chuyện họ kêu gọi cũng chỉ cho vui thôi. Trước tiên họ phải hoà giải với người dân trong nước trước đã. Bao nhiêu người dân bị cầm tù chỉ vì đòi hỏi những quyền cơ bản của con người. Bao nhiêu người chết khi vào đồn công an.
Người thua cuộc như chúng tôi có bị đày ải trong tù cải tạo cũng không thể đem lòng hận thù được nếu như sau 30 tháng tư năm 1975, dân Việt Nam sống sung túc, dân chủ hơn miền Nam trước 1975, thì lòng hận thù nếu có của những kẻ thua cuộc như chúng tôi sẽ không tồn tại trong lòng dân tộc được. Người Việt hải ngoại chống Trung cộng với tấm lòng là sợ đất nước rơi vào tay Tàu cộng chứ không phải chống Trung cộng bằng vài ba phản đối lấy lệ để làm yên lòng dân.
Đừng đánh đồng đảng cộng sản với dân tộc cũng như yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.

Nguồn:  http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/40years-april30/kyuc40nam-02032015-vietdinh-02032015114145.html

Tổng thống Nixon tuyên bố chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam năm 1973

1

Tổng thống Nixon tuyên bố chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam năm 1973

Nguồn: NY Daily News
22-01-2015
Tác giả: Jeffrey Antevil
Người dịch: Trần Văn Minh
01-02-2015
(Bài này đã được đăng lần đầu tiên trên báo Daily News vào ngày 24-1-1973)
Tổng thống Nixon tuyên bố rằng đã đạt được thỏa thuận kết thúc chiến tranh Việt Nam. Một hiệp định ngừng bắn đã được Henry Kissinger và Lê Đức Thọ ký kết tại Paris.
Washington, ngày 23 tháng 01 (Phòng Thông tin) Tổng thống Nixon công bố tối nay rằng Hoa Kỳ và Bắc Việt đã ký kết một hiệp định để chấm dứt cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ và đem lại “hòa bình trong danh dự” cho Việt Nam.
Lệnh ngừng bắn sẽ bắt đầu vào lúc 19:00 (giờ New York) thứ Bảy này trên khắp Việt Nam, Nixon nói với khán giả truyền hình trên toàn quốc.
Hiệp định hòa bình sẽ được chính thức ký kết giữa Hoa Kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Việt Cộng tại Paris vào ngày thứ Bảy.
Cuộc triệt thoái các lực lượng Mỹ còn lại ở Việt Nam và sự trở về của các tù nhân chiến tranh Mỹ sẽ được thực hiện trong vòng 60 ngày tới, Tổng thống cho biết trong khi nói sơ qua về các điều khoản của hiệp định.
Nixon nói :”Đây là một nền hòa bình trường tồn và một nền hòa bình chữa lành [vết thương]”.
Thông báo về hiệp định ngừng bắn được đưa ra vừa đúng 11 năm, một tháng và một ngày sau cái chết của người Mỹ đầu tiên trong cuộc chiến Việt Nam, James Thomas Davis, từ Livingston, tiểu bang Tennessee, 25 tuổi, chuyên viên lục quân loại 4, bị giết chết trong cuộc phục kích của Việt Cộng cách Sài Gòn 25 dặm vào ngày 22 tháng 12 năm 1961.
Trong thông báo, Tổng thống Nixon nhắn nhủ người dân miền Nam Việt Nam, ông nói với họ rằng nhờ công sức và sự hy sinh mà họ đã giành được quyền thành lập chính phủ của riêng họ và có được sức mạnh để duy trì nó.
Kêu gọi Bắc Việt
Đối với Bắc Việt, ông kêu gọi một tinh thần hòa giải.
Nixon giải thích sự im lặng của mình trong những tuần gần đây bằng cách nói rằng bất cứ lời nói nào của ông cũng có thể ảnh hưởng đến các cuộc đàm phán mong manh.
2
Ông nói với dân chúng toàn quốc, bị chia rẽ sâu sắc trong cuộc xung đột, rằng chúng ta nên tự hào về việc 2,5 triệu người trẻ Mỹ phục vụ vô vị kỷ để giúp một chính phủ thân thiện duy trì sự tự do của họ.
Nixon nói không gì có ý nghĩa hơn cho ông trong lúc này bằng sự đau khổ triền miên của những người vợ của các tù nhân và những người được liệt kê mất tích đã đến hồi kết thúc.
Ca ngợi sự hỗ trợ của Johnson
Tổng thống ca ngợi cố Tổng thống Lyndon Johnson về các nỗ lực vất vả của ông để tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam, và bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với sự ủng hộ của Johnson cho những cố gắng của Nixon để mang chiến tranh đến một kết cuộc trong danh dự.
Một trong những điều mỉa mai của lịch sử, thông báo của Nixon đưa ra một ngày sau cái chết của Johnson, người đã hy sinh sự nghiệp chính trị của ông trong việc tìm kiếm hòa bình.
Nixon cho biết hiệp định ngừng bắn được ký kết tại Paris sáng sớm ngày hôm nay bởi Henry Kissinger, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam của ông, và Lê Đức Thọ phía Hà Nội. Ông cho biết hiệp định sẽ bắt đầu có hiệu lực vào lúc 7 giờ tối (giờ New York) ngày thứ Bảy.
Trong bài phát biểu của mình, ông đã đọc một tuyên bố mà ông nói đã được các viên chức Bắc Việt phát hành cùng lúc, bày tỏ hy vọng rằng hiệp định này sẽ dẫn đến một nền hòa bình lâu dài trên toàn cõi Đông Dương.
Bài phát biểu của Nixon, từ Phòng Bầu dục của Tòa Bạch Ốc, theo sau cuộc họp của nội các và các nhà lãnh đạo đảng Dân chủ và Cộng hòa.
Báo cáo mọi điều kiện đã được chấp thuận

2
Nixon nói rằng “trong vòng 60 ngày kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, tất cả người Mỹ bị giam giữ như là tù binh chiến tranh trên toàn Đông Dương sẽ được phóng thích”.
Tổng thống nhắc lại rằng ông đã vạch ra các điều kiện cho một cuộc ngừng bắn như vậy trong bài phát biểu của ông vào tháng 8 vừa qua. Ông nói: “Tất cả các điều kiện mà tôi đặt ra lúc đó đã được thỏa mãn”.
Thông báo của Nixon về hiệp định hòa bình Việt Nam đã đến sau gần bốn năm tính từ ngày có các cuộc đàm phán hòa bình đầu tiên ở Paris. Đó là ngày 26 tháng 01 năm 1969, rằng các nhà đàm phán của Hoa Kỳ, Bắc Việt, Việt Cộng và miền Nam Việt Nam lần đầu tiên tập trung tại khách sạn Majestic ở Paris để cố gắng chấm dứt cuộc chiến lâu dài và đẫm máu, đã làm 46.000 binh sĩ Mỹ tử nạn.
Hiệp định công bố tối nay “đáp ứng các mục tiêu và có sự hỗ trợ hoàn toàn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và chính phủ Nam Việt Nam,” Nixon nói.
Nhưng ông cảnh báo rằng các điều khoản của hiệp định “phải được nghiêm chỉnh chấp hành“. Ông nói Hoa Kỳ sẽ tuân thủ các điều khoản – và hy vọng Bắc Việt cũng làm như vậy.
Ông cho biết hiệp định công nhận chính phủ Nguyễn Văn Thiệu “là chính phủ hợp pháp duy nhất của miền Nam Việt Nam”. Tổng thống tuyên bố, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hỗ trợ chính phủ này về quân sự.
Ông tuyên bố: “Kết thúc chiến tranh chỉ là bước đầu tiên hướng tới việc xây dựng hòa bình”.
Khen ngợi thân nhân của các tù binh chiến tranh
Khi nói về sự phóng thích được mong đợi từ lâu của các tù binh chiến tranh Mỹ, Nixon đã vinh danh “một số người dũng cảm nhất mà tôi từng gặp” – những người vợ và gia đình của các tù nhân. Ông cho biết, họ là những người đã cương quyết hỗ trợ công việc tìm kiếm “hòa bình đúng nghĩa” của ông.
“Khi những người khác kêu gọi chúng tôi giải quyết với bất kỳ điều kiện nào”, vị chủ tịch hành pháp cho biết, thân nhân của các tù nhân chiến tranh vẫn giữ vững lập trường, khuyến khích ông tranh đấu cho “hòa bình trong danh dự” để những người thân yêu của họ “không chết và đau khổ một cách vô ích”.
2
“Không có gì có ý nghĩa hơn với tôi”, Nixon nói với giọng nói cứng rắn nhưng đầy cảm xúc, hơn là tìm được cách để đưa những người lính trở về.
Các tuyên bố mà Nixon đọc trong bài phát biểu đêm nay được phát cùng lúc tại Hà Nội. Tuyên bố nói:
“Vào lúc 12:30 trưa (giờ Paris) hôm nay, ngày 23 tháng 01 năm 1973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình, đã được ký kết bởi Tiến sĩ Henry Kissinger đại diện cho Hoa Kỳ và cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, thay mặt cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
“Hiệp định sẽ được chính thức ký kết bởi các bên tham gia hội nghị Paris về Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế tại Paris. Lệnh ngừng bắn sẽ có hiệu lực vào lúc 24:00 giờ (nửa đêm) GMT ngày 27 tháng 1 năm 1973.
“Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đều phải góp sức vào việc duy trì hòa bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á.”
Nixon nói: “Chúng ta hãy tự hào rằng nước Mỹ đã không hài lòng với một nền hòa bình có thể phản bội đồng minh của chúng ta. Chúng ta hãy tự hào rằng nước Mỹ đã không hài lòng với một nền hòa bình có thể bỏ rơi các tù nhân của chúng ta”.
Ca ngợi cố Tổng thống
Nixon nói Kissinger và Thọ đã ký kết hiệp định lúc 12g30 trưa (giờ Paris, 6g30 sáng New York) hôm nay, ngay trước khi Kissinger trở về Washington để báo cáo cho Tổng thống.
Tổng thống cám ơn công chúng Mỹ về những gì ông nói là sự kiên nhẫn và hiểu biết của họ trong khi Hoa Kỳ đàm phán hòa bình.
“Điều quan trọng không phải là nói về hòa bình, mà đạt được hòa bình”, Nixon nói.
Nói về Tổng thống Johnson và sự phê phán mà ông đã chịu đựng trong suốt cuộc tìm kiếm hòa bình, Nixon đã kết luận bài phát biểu 10 phút của ông với một bài điếu văn cho Lyndon Baines Johnson:
“Không ai có thể chào đón [hiệp định] hòa bình này hơn ông ấy. Và tôi biết ông sẽ cùng tôi yêu cầu – cho những người đã chết, và những người còn sống – chúng ta hãy dâng tặng giây phút này bằng cách cùng nhau hợp lực để làm nên hòa bình mà chúng ta đã đạt được, một nền hòa bình lâu bền”.

Nguồn: http://baotoquoc.com/2015/02/02/tong-thong-nixon-tuyen-bo-cham-dut-su-can-thiep-cua-hoa-ky-vao-viet-nam-nam-1973/

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Kissinger lại rục rịch "đi đêm" với Putin


TT Obama Nhờ Kissinger Đi Đêm Với Nga


Các chiến binh lực lượng Aydar, một tiểu đoàn tình nguyện Ukraine, đứng chận cổng vào Bộ Quốc Phòng Ukraine ở Kiev, hôm 30-1-2015 nhằm ngăn cản việc có thể sẽ giải thể lực lượng Aydar. Hôm Thứ Sáu 30-1-2015 có 24 người chết, trong đó có 19 thường dân, giữa các trận chạm súng giữa quân chính phủ Ukraine và loạn quân thân Nga phía Đông Ukraine.

Bloomberg News cho biết TT Obama đang nhờ cựu ngoại trưởng Henry Kissinger bí mật liên lạc dàn hòa với TT Putin của Nga để giữ hòa bình Ukraine, vì Kissnger là bạn thân của Ngoại Trưởng Nga Sergei Lavrov -- hai người được nói là gặp thường xuyên. Kissinger từ chối bình luận. (Photo AFP/Getty Images)

(Việt Báo)


   
Chưa đọc hôm qua, 07:52 PM
M&M M&M is offline
Tướng 4 sao



Kissinger bênh vực Putin



Tin tổng thống Obama nhờ Kissinger "đi đêm" với Putin không phải là chuyện ngẫu nhiên mà có, mà dường như đã được "khơi mào" từ trước đó, sau những phát biểu của Henry Kissinger trong buổi họp Hội Đồng Quan Hệ Quốc Tế tại New York hồi đầu tháng 11 năm ngoái nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày bức tường ô nhục Bá Linh bị đạp đổ, thống nhất nước Đức.
Trong buổi họp đó, Kissinger đã nói "Tôi thấy bi quan về tình hình đang biến chuyển, nó chẳng đem lại hòa bình cho Ukraine cũng như sự ổn định quốc tế" Ngoài ra, khi được hỏi có nhận thấy sự tương đồng giữa độc tài mafia đỏ Putin và bạo chúa cs tiền nhiệm của Putin là Stalin, Kissinger trả lời "Thật ra là không. Tôi không nghĩ Putin cho rằng guồng máy cai trị của Nga xung khắc với các guồng máy khác ở tây phương. (Putin) cảm thấy rất khổ sở trước những biện pháp hành động của tây phương nên ông ta đã có những phản ứng mà Peter the Great cũng có thể hiểu được tại sao. Điều này thật tàn nhẫn. Nhưng tôi không nghĩ rằng chúng ta đang phải đối phó với cùng một hiện tượng như trong thời Chiến Tranh Lạnh"

Thêm vào đó, Kissinger còn đổ lỗi cho tây phương về những xung đột đang xảy ra tại Ukraine "Tình hình xảy ra ... được biến chuyển trong vài tháng qua, tôi nghĩ phương tây đã không hiểu hết những ẩn ý của những gì đang âm ỉ cháy, và họ không lợi dụng cơ hội đã có sẵn để nói về những vấn đề căn bản, đó là quan hệ lâu dài giữa họ với Nga"

Nguồn:
http://www.huffingtonpost.com/peter-mellgard/kissinger-putin-not-stalin_b_6108426.html

Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32681

John Kerry và hội cựu chiến binh phản chiến: Những con rối trong tay Hà Nội * John Kerry and the VVAW: Hanoi's American Puppets?



 Hình ảnh cho www. Ông John Kerry kẻ phản chiến VN

John Kerry và hội cựu chiến binh phản chiến: Những con rối trong tay Hà Nội * John Kerry and the VVAW: Hanoi's American Puppets?

Jerome R. Corsi and Scott Swett (Winter Soldier) / Nguyễn Thu Trâm biên dịch (Danlambao) - Những tài liệu mới được phát hiện cho thấy có sự liên kết giữa các Cựu chiến binh phản chiến với Cộng Sản Việt Nam.
Hai tài liệu tịch thu được từ những cán binh cộng sản Bắc Việt trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Việt Nam, vừa mới được phát hiện gần đây đã hổ trợ mạnh mẽ cho quan điểm cho rằng có một sự liên kết chặt chẽ tồn tại giữa các chế độ cộng sản Hà Nội và Hội Cựu chiến binh phản chiến (VVAW) trong thời gian John Kerry từng làm phát ngôn viên hàng đầu của nhóm phản chiến toàn quốc.


Thông tư: Phối hợp quốc tế, tuyên truyền chống chiến tranh 

Các tài liệu đầu tiên là “Thông Tư 1971” được phân phối bởi những người cộng sản tại Việt Nam. Nội dung “Thông Tư” là thảo luận về các chiến lược để phối hợp nỗ lực tuyên truyền trong nước thông qua các hoạt động văn công nhằm tạo ra sự đồng cảm của các đối tác trong phong trào chống chiến tranh Việt Nam của người Mỹ. Cụ thể, các tài liệu ghi nhận rằng Việt Cộng và các đoàn đại biểu của phía Bắc Việt đến Pará để tham dự cuộc hòa đàm đã được sử dụng như một nối kết thông tin liên lạc nhằm chỉ đạo và điều hướng các hoạt động của các nhà phản chiến đến gặp gỡ họ tại Paris. 
Dưới đây là một số trích dẫn từ tài liệu:
Các phong trào chống chiến tranh tự phát tại Mỹ đã nhận được sự hỗ trợ và hướng dẫn từ đoàn “Thân Hữu Bắc Việt” tại hòa đàm Paris.
- Thông tư về các Phong Trào Phản Chiến ở Mỹ. Tham chiếu đến “VC” biểu thị cộng sản Việt N; “NVN” biểu thị chính phủ Bắc Việt.
Câu này là đặc biệt quan trọng trong sự thừa nhận của John Kerry rằng ông ta đã gặp gỡ với các nhà lãnh đạo của cả hai phái đoàn cộng sản vào hòa đàm Paris vào tháng Sáu năm 1970, trong đó có bà Bình, bộ trưởng ngoại giao của Chính phủ cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (PRG), còn được gọi là Việt Cộng. Hồ sơ của FBI từng ghi nhận rằng Kerry sau đó đã trở lại Paris để gặp gỡ với phái đoàn cộng sản Bắc Việt vào tháng Tám năm 1971, và cũng đã từng lên kế hoạch cho một chuyến đi thứ ba vào tháng Mười Một.
Trước khi phát hiện ra Thông tư này, thì không có bằng chứng trực tiếp rằng Hà Nội đã thực sự chỉ đạo các hoạt động của Phong Trào Phản Chiến ở Mỹ bằng cách truyền đạt các mục tiêu và mong muốn của Hà Nội đến các lãnh đạo phong trào phản chiến thông qua các chuyến thăm thường xuyên của họ đến Paris, mặc dù nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định điều đó là xác thực. Những Phân tích sâu hơn về các tài liệu này đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm cho rằng bà Nguyễn Thị Bình đã sử dụng các cuộc gặp gỡ của y thị với John Kerry ở Paris để hướng dẫn cho Kerry về phương cách mà ông và Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến của Mỹ có thể làm tốt nhất vai trò của người đại diện cho Hà Nội tại Hoa Kỳ. Vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1971, một chiến lược quan trọng của Hà Nội đã được xúc tiến gọi là Kế hoạch hòa bình Bảy điểm của Nguyễn Thị Bình.
Kế hoạch này được xây dựng khéo léo để buộc Tổng thống Nixon phải đưa ra một thời hạn để kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam và rút hết quân đôi Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Theo kế hoạch hòa bình 7 điểm của bà Bình, trở ngại duy nhất để Hà Nội đưa ra thời hiệu phóng thích các tù nhân chiến tranh của Mỹ ấy là Tổng Thống Nixon đã không sẵn sang đưa ra ngày giờ cụ thể cho việc rút quân. Tất nhiên, việc chấp nhận một cách đầy đủ các điều khoản của Kế hoạch hòa bình 7 điểm sẽ buộc chính phủ Hoa Kỳ phải thừa nhận bại trận và đầu hàng, một sự đầu hàng nhục nhã bao gồm việc bồi thường chiến tranh cho phía cộng sản Việt Nam như một là một sự thừa nhận trước công luận quốc tế rằng Hoa Kỳ là kẻ xâm lược sai trái trong một cuộc chiến tranh phi nghĩa.
Một phần của Thông tư có tiêu đề “CHUẨN BỊ CHO PHONG TRÀO PHẢN CHIẾN MÙA THU 1971” đã làm rõ ràng tầm quan trọng của sự phát triển kế hoạch hòa bình 7 điểm của bà Nguyễn Thị Bình mà cộng sản Việt Nam đặt để trên phạm vi nước Mỹ đó là:
Đề nghị hòa bình bảy điểm của Chính phủ cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam không chỉ giải quyết vấn đề liên quan đến việc phóng thích các tù binh Mỹ mà còn thúc đẩy người dân của tất cả các tầng lớp xã hội và thậm chí cả thân nhân của phi công Mỹ bị giam giữ tại Miền Bắc Việt Nam tham gia phong trào chống chiến tranh.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ cho thấy Chính phủ cách mạng lâm Nam Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam “SVN”, tức là Việt Cộng còn Chính Phủ Bắc Việt, “NVN” tức là đề cập đến miền Bắc Việt Nam.
Và một lần nữa, đã nhấn mạnh việc cộng sản Việt Nam xem sự nối kết các hoạt động của phong trào phản chiến Mỹ, nền chính trị Hoa Kỳ và nền chính trị tại Nam Việt Nam với nhau, như là mục tiêu tổng quát của Kế hoạch hòa bình 7 điểm của Thị Bình có một tầm quan trọng như thế nào:
Bè lũ Nixon - Thiệu bè lũ sẽ vô cùng lúng túng vì đề nghị hòa bình bảy điểm được ủng hộ bởi các phong trào đấu tranh trên mặt trận chính trị của các chính trị gia thuộc Chính Phủ Cách Mạnh Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và các phong trào phản chiến ở Mỹ. Vì vậy, tất cả các địa phương, các đơn vị, các phân khu phải phổ biến rộng rãi đề nghị hòa bình bảy điểm này, phải đẩy mạnh phong đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân cả ở các thành phố cũng như ở các vùng nông thôn, tận dụng lợi thế của các rối loạn và chia rẽ trong của phía đối phương (Việt Nam Cộng Hòa) trong cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống sắp tới. Các cơ quan đoàn thể phải phối hợp thành công hơn với các phong trào phản chiến ở Mỹ để cô lập các phe nhóm Nixon - Thiệu.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ. “RVN” nghĩa là Việt Nam Cộng Hòa, tức là chính quyền Miền Nam do Hoa Kỳ hậu thuẩn.
Các gia đình có con em là tù binh chiến tranh: Mục tiêu của Cộng Sản Việt Nam
Cuối năm 1970, một Việt Cộng chiêu hồi đã mô tả lại một kế hoạch mà cộng sản sử dụng những thành phần thân cộng ở Mỹ để vận động các thành viên gia đình của tù binh Mỹ bị giam giữ ở Miền Bắc Việt Nam cùng tham gia trong các phong trào phản chiến. Bản tóm tắt sau đây của cuộc phỏng vấn các cán binh cộng sản hồi chánh đã được cung cấp cho Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện:
Cộng sản Việt Nam đã hoạch đinh một kế hoạch tiếp tục những nỗ lực tuyên truyền, vận động của họ để giành sự đồng tình của thế giới đối với họ và để thu hút càng nhiều những sự hỗ trợ cho cuộc đấu tranh từ các nước khác của cộng sản càng tốt để tạo ra một môi trường thuận lợi cho cộng sản Bắc Việt tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình cho Việt Nam.
Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động phản chiến ở Mỹ, gây tình trạng bất ổn trong nước, bằng các phong trào phản đối sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam để tăng nhanh tiến trình triệt thoái quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam và tạo ra áp lực sớm chấm dứt chiến tranh.
Nỗ lực này sẽ được hướng trực tiếp đến các binh sỹ Hoa Kỳ Mỹ tại Việt Nam để họ yêu sách với chính phủ Hoa Kỳ rằng họ phải được trở về nước và được đoàn tụ với gia đình và vợ của của họ .
Cộng sản Việt Nam sẽ nổ lực để tạo ra các dự thảo chống chiến tranh và thái độ chống chiến tranh ở Mỹ bằng cách tổ chức các nhóm thân cộng tại Hoa Kỳ để các nhóm đó liên lạc với các gia đình có con em đang chiến đấu ở Việt Nam và xúi giục họ gọi con em bỏ ngủ về nước. Đồng thời, các băng nhóm thân cộng tại Hoa Kỳ cũng sẽ được tổ chức để phân phối các dự thảo và truyền đơn chống chiến tranh cho sinh viên và thanh niên Mỹ.
Vào ngày 01 tháng hai năm 1971, tại buổi điều tra của Winter Soldier ở Detroit, các Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã đưa ra lời tuyên bố của bà Virginia Warner, mẹ của tù binh chiến tranh Jim Warner, đôn đốc Tổng thống Nixon phải “kết thúc chiến tranh để các tù nhân chiến tranh có thể trở về nhà.” Jim Warner đã cáo buộc chính John Kerry đã khai thác nỗi sợ hãi của mẹ mình để có được lời tuyên bố đó.
Vào ngày 22 tháng bảy năm 1971, John Kerry đã tổ chức một cuộc họp báo ở Washington DC, kêu gọi Tổng thống Nixon chấp nhận kế hoạch hòa bình 7 điểm của Thị Bình. Tại cuộc họp báo đó, bao quanh Kerry là vô sô vợ con các tù binh chiến tranh cùng cha mẹ và anh chị em của họ được mời tham dự để quảng bá thông điệp của mình. Sự kiện này được tường trình trên tờ Thời Báo New York vào ngày 23 Tháng Bảy năm 1971 và trên tờ Thế Giới Cộng Sản Hàng Ngày vào hôm 24 tháng 7 năm 1971. Mỗi bài viết được đăng kè bức ảnh của Kerry được bao quanh bởi các thành viên gia đình tù binh chiến tranh.
Việc John Kerry sử dụng các gia đình tù binh chiến tranh trong hoạt động phản chiến đã trực tiếp tạo ưu thế cộng sản Bắc Việt trong chương trình nghị sự tại Hòa Đàm Paris như mô tả của cán binh cộng sản hồi chánh cũng như trong Thông tư mới được phát hiện, cho thấy thị Bình đã đề nghị cùng một kế hoạch hành động cho các nhà hoạt động phản chiến mà y thị đã từng gặp gỡ ở Paris.
[Lưu ý: Một số gia đình tù binh chiến tranh đã được liên lạc bởi một nhóm “giao liên” do Cora Weiss, con gái của tài nhà hổ trợ tài chính cho đảng cộng sản, Samuel Rubin, lãnh đạo với những đề xuất là sẽ giúp chuyển thư tín và các thông tin về người chồng tù binh của họ nếu gia đình đồng ý công khai lên án cuộc chiến tranh. Hầu hết các thành viên gia đình tù binh từ chối hợp tác với hành vi tống tiền này, ngay cả khi họ được hứa hẹn sẽ đối xử tốt hơn với chồng hoặc con của họ tại các nhà tù ở Hà Nội. Bốn người vợ tù binh tức giận phản đối tại cuộc họp báo của John Kerry vào tháng bảy, một trong số đó cáo buộc Kerry tội “thường xuyên sử dụng đau khổ và đau buồn của chúng tôi” để xiễn dương tham vọng chính trị của mình.]

Chỉ Thị: Hỗ Trợ Các Cuộc Biểu Tình, Bạo Lọan Trong Nước Mỹ 

Tài liệu thứ hai, lực lượng quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam vào ngày 12 tháng năm 1972, đã bắt giữ một điệp báo cộng sản với chỉ thị được soạn thảo để thúc đẩy các cuộc thảo luận tại Việt Nam về việc thúc đẩy các hoạt động phản chiến đang diễn ra tại Hoa Kỳ. Đoạn thứ năm của tài liệu này đã tường giải rằng những người cộng sản Việt Nam đã được sử dụng cho mục đích tuyên truyền về các hoạt động của Hội Cựu chiến binh Hoa Kỳ chống chiến tranh Việt Nam. Cuộc biểu tình được mô tả là diễn ra từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 4 năm 1971tại Washington DC trùng hợp trực tiếp với các ngày khởi đầu chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, là một cuộc biểu tình do John Kerry đầu têu, trong đó John Kerry làm chứng nhân của cuộc chiến tranh trước Ủy ban Đối ngoại của Thượng nghị sĩ Fulbright là một trung tâm truyền hình. Các mô tả về các hoạt động phản chiến theo Chỉ thị thậm chí bao gồm cả việc “trả lại huy chương” tại chính buổi lễ đó, chính John Kerry và các thành viên khác của nhóm Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã ném bỏ các huy chương và/hoặc ruy băng danh dự của họ xuống các bậc tam cấp của Điện Capitol Hoa Kỳ, cùng với hành động đó là nhiều tiếng la hét đe dọa bạo lực đối với chính phủ.


Các Kết Nối: Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ)

Một luận cứ quan trọng trong các tài liệu cho thấy mức độ mà những người cộng sản Việt Nam đã làm việc với và thông qua các Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý. Thông tư, ngay lập tức tiết lộ các Phái Đoàn Cộng tham dự cuộc đàm phán hòa bình Paris đã được sử dụng để hướng dẫn phong trào phản chiến Mỹ, đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) như thế nào đối với những nỗ lực này:
Đối với các phong trào phản chiến ở Mỹ, thì hai thực thể quan trọng hơn cả là: Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) và Ủy Ban Quốc Gia Hành Động Vì Hòa Bình (NPAC). Hai phong trào này đã tập [jpđược nhiều sức mạnh quần chúng và tổ chức nhiều cuộc biểu tình tuần hành. Trong đó, Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) là quan trọng nhất. Ủy Ban này vẫn duy trì mối quan hệ với chúng tôi.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ (Nhấn Mạnh Bổ Sung).
Trong báo cáo thường niên 1971 của Cục Nội An đã mô tả Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) là một tổ chức đặt dưới quyền kiểm soát của cộng sản Mỹ: “Vấn đề đáng quan tâm ở đây là các đảng viên đảng Cộng sản đã tạo ra những ảnh hưởng lớn, và những hướng dẫn có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển các chính sách của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ)”.
Những tường trình về kết quả giám sát của FBI vừa công bố gần đây đã chứng tỏ một mối liên kết mạnh mẽ giữa John Kerry, Al Hubbard, các Cựu Chiến Binh Phản Chiến, Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) và các chuyến đi của họ đến Paris để gặp gỡ với thị Bình. Như những tranh luận được trình bày trong cuốn Unfit For Command, về Hubbard, trưởng ban điều hành của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến và một đường lối cứng rắn cực đoan có quan hệ với các thế lực đen Black Panthers và Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ), đã trực tiếp tuyển dụng John Kerry vào Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến, bỏ qua quá trình bầu cử của tổ chức. Tuyên bố của Al Hubbard rằng bản thân từng là một phi công vận tải, từng bị thương tích trong chiến đấu, đã trở nên bất khả tín khi Bộ Quốc phòng công bố các tài liệu chứng minh rằng, mặc dù Hubbard đã ở trong không lực lượng Không quân, nhưng ông không phải là phi công cũng chẳng phải là sĩ quan, và chưa bao giờ phục vụ tại chiến trường Việt Nam và cũng đã chưa từng tham gia chiến đấu ở bất cứ nơi đâu. Chính ông John Kerry chia sẻ câu chuyện tham chiến của mình với Al Hubbard trong cuộc biểu tình Phản Đối Cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 tại Washington, DC, và Kerry đã xuất hiện cùng với Hubbard trên chương trình Gặp Gỡ Báo Chí trên kênh truyền hình NBC vào ngày 18 Tháng Tư năm 1971. Hubbard cũng đã ký Hiệp ước Hòa Bình Dân Tộc People's Peace Treaty (Giữa Người Mỹ, Người Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam và người Việt Nam Cộng Sản ở Miền Bắc), một tài liệu của Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) mà đã tái khẳng định vị trí của Bắc Việt Nam và Việt Cộng, nhân danh Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến.
Một tường trình của FBI ấn ký ngày 11 tháng 11 năm 1971 báo cáo rằng FBI đã nắm bắt được thông tin tại Hội nghị Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến khu vực Norman Oklahoma, vào ngày 5-
Tháng 7, năm 1971, rằng John Kerry và Al Hubbard đã hoạch định chuyến đi đến Paris trong tháng 7 để tham gia vào các cuộc đàm phán hòa bình với các đoàn đại biểu cộng Sản Việt Nam. Trong khi tài liệu này đang được phối kiểm từ nhiều nguồn khác nhau, thì một báo cáo khác của FBI khác đã tường minh rằng Đảng Cộng sản Mỹ lo liệu mọi chi phí cho chuyến đi của Al Hubbard đến Paris.
Cần lưu ý rằng “ĐẢNG CỘNG SẢN” ĐƯỢC ĐỀ CẬP ĐẾN TRÊN RETEL là Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, VÌ AL HUBBARD LÀ THÀNH VIÊN phối hợp của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ), CŨNG NHƯ GIL GREEN LÀ THÀNH VIÊN CỦA ỦY BAN QUỐC GIA CỦA CỘNG SẢN Hoa Kỳ và Jarvis TYNER LÀ GIÁM ĐỐC LIÊN ĐOÀN THANH NIÊN CÔNG NHÂN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC. HUBBARD, GREEN VÀ TYNER ĐÃ TỪNG CÙNG THAM DỰ CÁC CUỘC HỌP CỦA LIÊN MINH DÂN TỘC VÌ HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ (PCPJ).
- Trong một báo cáo về giám sát thực địa của Cục Điều Tra Liên Bang FBI, nộp ngày 11 tháng 11 năm 1971, gồm một bản sao của báo cáo này được gởi đến văn phòng FBI ở Boston bằng đường hàng không yêu cầu Văn Phòng lưu tâm đặc biệt đến John Kerry .
Một báo cáo khác của Cục Điều Tra Liên Bang FBI trong lĩnh vực giám sát thực địa ngày 24 Tháng 11 năm 19 đã tường trình chi tiết về phần trình bày của Al Hubbard cho các ủy ban điều hành và chỉ đạo Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến trong một cuộc họp tại thành phố Kansas, Missouri, trong suốt những ngày cuối tuần từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 11 năm 1971. Tại cuộc họp này các Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã xem xét, và sau đó đã từ chối kế hoạch ám sát một số thượng nghị sĩ Hoa Kỳ ủng hộ cuộc chiến tranh Việt Nam. John Kerry được ghi nhận là có hiện diện trong cuộc họp. Một lần nữa, Al Hubbard đã làm sáng tỏ thêm sự phối hợp của cộng sản có liên quan đến chuyến đi gần đây của ông đến Paris:
[BLACK OUT] Xin được thông báo rằng Hubbard đã cung cấp các thông tin sau về chuyến đi Paris của mình như sau:
Có hai thực thể nước ngoài, một là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, đã mời đại diện của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến cùng đại diện Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, và một nhóm cánh tả tại Paris, cùng tham dự cuộc họp của họ ở Paris. Hubbard khai là ông được bầu chọn để đại diện cho Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến. Một người đàn ông khác, không rõ danh tính đã được mời đại diện cho đảng cộng sản Hoa Kỳ và một cá nhân không rõ danh tính khác đã được tuyển chọn để đại diện cho các nhóm cánh tả ở Paris. Tại cuộc họp, Hubbard cũng đã trình bày rằng chuyến đi của ông được tài trợ bởi Đảng Cộng Sản Mỹ.
- Báo cáo giám sát thực địa của Cục Điều Tra Liên Bang, nộp 24 Tháng 11 năm 1971.
Một lá thư do Al Hubbard viết vào ngày 20 tháng 4 năm 1971 đã xóa tan mọi nghi ngờ về sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội Cựu chiến binh chống chiến tranh Việt Nam và Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý. Địa chỉ nơi gửi đi là từ các văn phòng Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến ở Washington, DC, bức thư đưa ra lời kêu gọi cho các thành viên của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến hãy dành sự hỗ trợ cho Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). Nội dung bức thư cũng bàn thảo về một số phương cách mà hai tổ chức đó đã làm việc chặt chẽ với nhau:
Đây là một lời kêu gọi giúp đỡ cho Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). Trong những tháng qua, Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). đã hỗ trợ Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến bằng nhiều cách. Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ) đã cung cấp miễn phí văn phòng làm việc cho Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến, và Liên Minh cũng cho phép Hội được sử dụng tất cả các thiết bị văn phòng cần thiết như máy máy quay rô nê ô, máy làm stencil thư mục và máy đánh chữ. Họ cho chúng tôi mượn chiếc xe hơi, phương tiện thông tin, và thiết bị địa chỉ công cộng. Nhân viên của họ đã tiếp nhận thông tin báo chí cho chúng tôi và giúp chúng tôi tham gia cùng chúng tôi trong tình đồng chí để giúp đỡ cho chúng tôi cùng tiến bộ của chúng tôi. Bây giờ là lúc mà chúng ta có thể đáp trả lại bằng sự hỗ trợ này.
Vào ngày thứ bảy, 24 Tháng Tư, Liên minh cần sự giúp đỡ quyên góp tiền và bán các nút bấm tại cuộc diễu hành tuyệt và cuộc biểu tình lớn. Những người làm công việc quyên góp và bán hàng phải tràn đầy hang hái và quyết tâm. Sẽ có vấn đề rắc rối về an ninh trong việc mang số tiền lớn đến các ngân hàng. Liên minh cần quyền lực của nhân dân, và cần hàng trăm người tham gia trợ giúp.
Tôi tha thiết mong các bạn sẽ tiến lên để hỗ trợ cho bạn bè của chúng tôi trong trường hợp khẩn cấp này.
- Al Hubbard đã ký tên dưới bức thư, từ Văn Phòng Hội Cựu Chiến Binh Phản chiến tại phòng 900, 1029 Đại Lộ Vermont. N.W. Washington, DC, ngày ngày 20 tháng 4 năm 1971. Bức thư dược tìm thấy trong hồ sơ đối tượng tại Ủy Ban An Ninh Nội Địa, Washington, DC
Hai ngày sau khi bức thư được viết ra, John Kerry đã thực hiện một buổi làm chứng nổi tiếng của mình trước Thượng nghị sĩ Fulbright của Ủy ban Đối ngoại, trong đó ông so sánh quân đội Mỹ tại Việt Nam với quân đội của Thành Cát Tư Hãn. Cuộc tuần hành và biểu tình mà Hubbard đã được kêu gọi sự hỗ trợ của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã trở thành cuộc biểu tình với quy mô lớn của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ) vào ngày 24 tháng 4 ở Washington, DC mà ngay lập tức theo sau là một cuộc biểu tình của Hội Cựu Chiến Binh Phản chiến phản đối cuộc hành quân Lam Sơn 719 kéo dài một tuần. Tờ Thế Giới Cộng Sản hàng ngày đã tường thuật vào ngày 27 tháng 4 rằng “Cống vật đặc biệt đã được dùng để trả công cho vai trò đặc biệt của Cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam” đã tham gia vào cuộc biểu tình của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ), và chương trình tường thuật được tiếp nối bằng phần trích dẫn bài phát biểu dài lê thê của John Kerry tại sự kiện đó.

Đối Tác Sẵn Sàng: Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến và Cộng Sản Việt Nam

Có vô số những ví dụ khác về sự vận động của Hội Cựu Chiến Binh Phản chiến cho vị thế của cộng sản Việt Nam trong thời gian John Kerry lãnh đạo hội. Nhóm Phản Chiến đã ban hành một tuyên bố vào tháng Hai năm 1971 kêu gọi đại chúng bất tuân dân sự và binh biến quân sự nếu các lực lượng Mỹ hành quân vào Lào. Sau chiến tranh, các nhà lãnh đạo quân sự Bắc Việt đã thừa nhận rằng một trong những lo ngại lớn nhất của họ là Mỹ sẽ di chuyển lực lượng đáng kể vào Lào để ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh. Sự háo hức của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến trong việc tuân thủ các nguyện vọng của cộng sản Việt Nam thậm chí còn mở rộng sự lựa chọn của danh mục. Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã nói trong một cuộc họp tháng 7 năm 1971 rằng các thuật ngữ như “Việt Cộng” và “Cộng Sản Bắc Việt” đã không được sử dụng trong các thông cáo báo chí của truyền thông và của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến. Thay vào đó, chúng ta chỉ sử dụng nhóm từ “Chính Phủ Cách Mạnh Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (Tức Cộng Sản Bắc Việt) để phản ánh sự chấp nhận của chúng ta đối với các chỉ định của họ. Và Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến vẫn không ngớt nhấn mạnh rằng các lực lượng Mỹ đã thảm sát hàng loạt thường dân Việt Nam, là hành động lặp lại một cách hoàn hảo những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc sự thật do chính bọn cộng sản Việt Nam đưa ra và được các đồng minh cộng sản quốc tế của họ hà hơi tiếp sức tuyên truyền, gồm cả mẫu quốc Liên Xô của cộng sản Bắc Việt.

Kết luận

Các tài liệu mới được phát hiện giúp làm rõ sự liên minh ma quỷ giữa của Bắc Việt, Việt Cộng , Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ), Đảng Cộng sản Mỹ, và Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến của John Kerry. Những cứ liệu đó đã chỉ ra rằng các tổ chức này đã làm việc chặt chẽ với nhau, bằng cách sử dụng hòa đàm Paris như một trung tâm thông tin liên lạc, để sử dụng các chiến lược và chiến thuật do cộng sản Bắc Việt hoạch định nhằm đạt được mục tiêu chính của họ là đánh bại Hoa Kỳ tại Việt Nam.
___________________________________

JOHN KERRY AND THE VVAW: HANOI'S AMERICAN PUPPETS?

Jerome R. Corsi and Scott Swett (Winter Soldier) - Newly discovered documents link Vietnam Veterans Against the War to Vietnamese communists
Two recently discovered documents captured from the Vietnamese communists during the Vietnam War strongly support the contention that a close link existed between the Hanoi regime and the Vietnam Veterans Against the War (VVAW) while John Kerry served as the group's leading national spokesman.


The Circular: International Coordination of Antiwar Propaganda

The first document is a 1971 "Circular" distributed by the Vietnamese communists within Vietnam. It discusses strategies to coordinate their national propaganda effort with their orchestration of the activities of sympathetic counterparts in the American anti-war movement. Specifically, the document notes that the Vietcong and North Vietnamese delegations to the Paris Peace talks were being used as the communications link to direct the activities of anti-war activists meeting with them in Paris. To quote from the document:
The spontaneous antiwar movements in the US have received assistance and guidance from the friendly (VC/NVN) delegations at the Paris Peace Talks. 
- Circular on Antiwar Movements in the US. The reference to "VC" indicates the Vietcong; "NVN" is the North Vietnamese government. 
This sentence is particularly important in light of John Kerry's admission that he met with leaders of both communist delegations to the Paris Peace Talks in June 1970, including Madame Binh, foreign minister of the Provisional Revolutionary Government (PRG) of South Vietnam, also known as the Vietcong. FBI files record that Kerry returned to Paris to meet with the North Vietnamese delegation in August of 1971, and planned a third trip in November. 
Prior to the discovery of the Circular, there was no direct evidence that Hanoi was actually steering the U.S. antiwar movement's activities by conveying Hanoi's goals and wishes to movement leaders during their frequent visits to Paris, though many investigators had assumed that to be the case. Further analysis of this document supports the contention that Madame Binh used her Paris meeting with John Kerry to instruct him on how he and the VVAW might best serve as Hanoi's surrogates in the United States. In the spring and summer of 1971, a key strategy of Hanoi was to advance what was known as Madame Binh's Seven Point Peace Plan. 
The plan was cleverly constructed to force President Nixon to set a date to end the Vietnam War and withdraw American troops. According to the 7-Point Peace Plan of Madame Binh, the only barrier to Hanoi setting a date to release American Prisoners of War was President Nixon's unwillingness to set a specific date for military withdrawal. Of course, accepting the full terms of the 7-Point Peace Plan would have amounted to an American capitulation, a virtual surrender that included the payment of reparations to the Vietnam communists as an admission that America was the wrongful aggressor in an immoral war. 
A section of the Circular titled "PREPARATION FOR THE FALL ((1971)) ANTIWAR MOVEMENT" makes clear the importance the Vietnamese Communists placed on advancing Madame Binh's 7-Point Peace Plan within the United States: 
The seven-point peace proposal ((of the SVN Provisional Revolutionary Government)) not only solved problems concerning the release of US prisoners but also motivated the people of all walks of life and even relatives of US pilots detained in NVN to participate in the antiwar movement. 
- Circular on Antiwar Movements in the US. "SVN" indicates the South Vietnam Provisional Revolutionary Government, i.e., the Vietcong. "NVN" refers to North Vietnam. 
And again, highlighting how the Vietnamese communists viewed the activities of the US antiwar movement, US politics, and politics in South Vietnam as interconnected; all to be targeted by Madame Binh's 7-Point Peace Plan: 
The Nixon-Thieu clique is very embarrassed because the seven-point peace proposal is supported by the SVN people's (( political struggle)) movement and the antiwar movements in the US. Therefore, all local areas, units, and branches must widely disseminate the seven-point peace proposal, step up the people's ((political struggle)) movements both in cities and rural areas, taking advantage of disturbances and dissensions in the enemy's forthcoming (RVN) Congressional and Presidential elections. They must coordinate more successfully with the antiwar movements in the US so as to isolate the Nixon-Thieu clique. 
- Circular on Antiwar Movements in the US. "RVN" refers to the Republic of Vietnam, the government in South Vietnam supported by the US. 


POW Families: Targets of the Vietnamese Communists 

Late in 1970, a defecting Vietcong organizer described a communist plan to use Vietcong sympathizers in the US to recruit family members of American POWs held captive in North Vietnam. The following summary of his interview was provided to the House Foreign Affairs Committee: 
The Viet Cong plan to continue their efforts to win worldwide opinion to their side and to solicit as much material support for the VC struggle as possible from other countries in order to create a favorable climate for the VC at the Paris Peace Conference. 
The Viet Cong will continue to promote domestic unrest against the war in the United States in order to speed withdrawal of US troops and create pressure for an end to the war. 
Efforts will be directed toward the US soldier in Vietnam to demand that they be returned to the US and be reunited with their families and wives. 
The VC will strive to create anti-draft and anti-war attitudes in the US by organizing VC sympathizers in the US to contact families with sons in Vietnam and urge them to call their sons home. Also VC sympathizers in the US will be organized to distribute anti-draft leaflets to students and young people. 
On February 1, 1971, at their Winter Soldier Investigation in Detroit, the VVAW released a statement by Virginia Warner, mother of American POW Jim Warner, urging President Nixon to "end the war so the prisoners of war can come home." Jim Warner has accused John Kerry of exploiting his mother's fears to obtain this statement. 
On July 22, 1971, John Kerry held a press conference in Washington, DC, to call upon President Nixon to accept Madame Binh's 7-Point Peace Plan. Kerry surrounded himself at the press conference with POW wives, parents and sisters who had been recruited to promote his message. The event was reported in The New York Times of July 23, 1971 and the communist Daily World of July 24, 1971. Each article included a photograph of Kerry surrounded by POW family members. 
Kerry's use of POW families directly advanced the North Vietnamese communist agenda as described by enemy defectors and in the newly discovered Circular, which suggests that Madame Binh had recommended the same course of action to antiwar activists meeting with her in Paris. 
[Note: A number of POW families were contacted by a "liason" group headed by Cora Weiss, the daughter of Communist Party financier Samuel Rubin, with offers to provide mail and information about their husbands if the families agreed to publicly denounce the war. Most POW family members refused to cooperate with this extortion, even when promised better treatment for their husbands or sons in Hanoi. Four angry POW wives protested at Kerry's July press conference, one of whom accused Kerry of "constantly using our own suffering and grief" to advance his political ambitions.] 

The Directive: Supporting the US Domestic Insurgency 

The second document, captured by US military forces in South Vietnam on May 12, 1972, is a communist Directive designed to motivate discussions within Vietnam about promoting the ongoing antiwar activities in the United States. The fifth paragraph of this document makes clear that the Vietnamese communists were utilizing for their propaganda purposes the activities of the Vietnam Veterans Against the War. The protest described as occurring from April 19 through April 22, 1971 coincides directly with the dates of Dewey Canyon III, the Washington, DC, protest led by John Kerry, during which John Kerry's testimony before Senator Fulbright's Foreign Relations Committee was a televised centerpiece. The description of the protest activities in the Directive even include the "return their medals" ceremony in which John Kerry and other VVAW members threw their medals and/or ribbons toward the steps of the US Capitol, with several shouting threats of violence against their government as they did so. 

The Connection: The People's Committee for Peace and Justice 

Another key discussion in the documents reveals the degree to which the Vietnamese communists were working with and through the PCPJ (People's Coalition for Peace and Justice. The Circular, immediately after disclosing how the communist delegations to the Paris Peace talks were being used to guide the US antiwar movement, stresses the importance of the PCPJ to these efforts: 
Of the US antiwar movements, the two most important ones are: The PCPJ ((the People's Committee for Peace and Justice)) and the NPAC ((National Peace Action Committee)). These two movements have gathered much strength and staged many demonstrations. The PCPJ is the most important. It maintains relations with us. 
- Circular on Antiwar Movements in the US (emphasis added). 
The House Internal Security Committee in its 1971 Annual Report described the PCPJ as an organization strongly controlled by US communists: "There is no question but what members of the Communist Party have provided a very strong degree of influence, even a guiding influence, in the evolution and formation of policies of the Peoples' Coalition for Peace and Justice." 
Recently released FBI surveillance reports establish a strong link between John Kerry, Al Hubbard, the VVAW, the PCPJ, and their trips to Paris to meet with Madame Binh. As discussed in Unfit for Command, Hubbard, the Executive Secretary of the VVAW and a hard-line radical with ties to the Black Panthers and the PCPJ, had directly recruited John Kerry into the VVAW's Executive Committee, bypassing the organization's election process. Al Hubbard's own claim to have been a transport pilot wounded in combat was discredited when the Department of Defense released documents demonstrating that, though Hubbard had been in the Air Force, he was neither a pilot nor an officer, had never served in Vietnam and had never been in combat. John Kerry shared the stage with Al Hubbard during the Dewey Canyon III protest in Washington, D.C., and he appeared together with Hubbard on NBC's Meet the Press on April 18, 1971. Hubbard also signed the People's Peace Treaty, a PCPJ document that reiterated the positions of North Vietnam and the Vietcong, on behalf of the VVAW. 
An FBI field surveillance report stamped November 11, 1971 reported that the FBI had learned at the Regional VVAW Convention in Norman Oklahoma, on November 5-7, 1971, that John Kerry and Al Hubbard were planning to travel to Paris later in the month to engage in talks with the Vietnamese communist peace delegations. While this document is heavily redacted, other FBI reports make it clear that the Communist Party of the USA was paying for Al Hubbard's trips to Paris. 
IT IS NOTED THAT THE "COMMUNIST PARTY" REFERRED IN RETEL IS PROBABLY THE COMMUNIST PARTY, USA, BECAUSE AL HUBBARD IS A MEMBER OF COORDINATING OF PEOPLES COALITION FOR PEACE AND JUSTICE (PCPJ), AS ARE GIL GREEN, MEMBER OF NATIONAL COMMITTEE, COMMUNIST PARTY, USA AND JARVIS TYNER, NATIONAL DIRECTOR, YOUNG WORKERS LIBERATION LEAGUE. HUBBARD, GREEN AND TYNER HAVE ATTENDED SAME NATIONAL MEETINGS OF PCPJ. 
- Federal Bureau of Investigations, Field Surveillance Report, filed November 11, 1971. A copy of this report was air-mailed to the Boston FBI office in reference to John Kerry. 
An FBI field surveillance report dated November 24, 1971 details Al Hubbard's presentation to a VVAW meeting of the Executive and Steering committees in Kansas City, Missouri, during the weekend of November 12-15, 1971 -- the same meeting at which the VVAW considered, then rejected a plan to assassinate several pro-war US Senators. John Kerry is listed as present. Once again, Al Hubbard made clear the communist coordination involved in his recent trip to Paris: 
[BLACK OUT] advised that Hubbard gave the following information regarding his Paris trip: 
Two foreign groups, which are Democratic Republic of Vietnam (DRV) and Peoples Republic Government (PRG) (phonetic), invited representatives of the VVAW, Communist Party USA (CP USA), and a Left Wing group in Paris, to attend meeting of the above inviting groups in Paris. Hubbard advised he was elected to represent the VVAW. An unknown male was invited to represent the CP USA and an unknown individual was elected to represent the Left Wing group from Paris. He advised at the meeting that his trip was financed by CP USA. 
- Federal Bureau of Investigations, Field Surveillance Report, filed November 24, 1971. 
A letter written by Al Hubbard on April 20, 1971 leaves no doubt about the strong coordination between the Vietnam Veterans Against the War and the People's Coalition for Peace and Justice. Addressed from the offices of the VVAW in Washington, D.C., the letter is an appeal to VVAW members to provide assistance to the PCPJ. It discusses several ways in which the two organizations have worked closely together: 
This is an appeal for help for the Peoples Coalition for Peace and Justice. Over the past months the Peoples Coalition has supported the Vietnam Vets Against the War in many ways. The Coalition has made office space available at no charge, and permitted the use of all necessary office equipment such as mimeograph machines, stencil-making machines, folders and typewriters. They have loaned us cars, bullhorns, and public address equipment. Their staff has taken messages for us and joined fraternally in building our progress. Now we can return this support. 
Saturday, April 24, the Coalition needs help collecting money and selling buttons at the great march and rally. Collectors and sellers must be energetic and determined. Theree will be security problems in taking large amounts of money to banks. The Coalition needs people power, hundreds of workers. 
I earnestly hope that you will come forward to support our friends in this emergency. 
- Letter signed by Al Hubbard, addressed from the Vietnam Veterans Against the War office at Room 900, 1029 Vermont Ave. N.W., Washington, D.C., dated April 20, 1971. Found in the House Internal Security Committee subject files, Washington, D.C. 
Two days after the letter was written, John Kerry gave his famous testimony to Senator Fulbright's Foreign Relations Committee in which he likened the American military in Vietnam to the army of Ghengis Khan. The march and rally for which Hubbard was recruiting VVAW assistance was the PCPJ's massive April 24 demonstration in Washington, which immediately followed the VVAW's week-long Dewey Canyon III protest. The communist Daily world reported on April 27 that "Tributes were paid to the special role of the Vietnam Veterans" at the PCPJ rally, and went on to quote at length from John Kerry's speech at that event. 

Willing Partners: the VVAW and the Vietnamese Communists 

Other examples of the VVAW's advocacy of Vietnamese communist positions during the period of John Kerry's leadership abound. The group issued a proclamation in February 1971 calling for mass civil disobedience and military mutiny if American forces entered Laos. After the war, North Vietnamese military leaders acknowledged that one of their greatest fears was that America would move significant forces into Laos to interdict the Ho Chi Minh Trail. The VVAW's eagerness to comply with the wishes of the Vietnamese communists even extended to its choice of nomenclature. The VVAW's Executive Committee stated in a July 1971 meeting that the terms "Vietcong" and "North Vietnamese" were not to be used in VVAW press releases and communications. Instead, "PRG (Provisional Revolutionary Government)" and "DRV (Democratic Republic of Vietnam)"... "are to be used by us to reflect our acceptance of their designations." And the VVAW's unremitting insistence that American forces were mass-murdering Vietnamese civilians perfectly echoed the primary propaganda theme put forth by the Vietnamese communists, their international communist allies, and their Soviet sponsors. 

Conclusion 

The newly uncovered documents help clarify the relationship of the North Vietnamese, the Vietcong, the PCPJ, the Communist Party of the USA, and John Kerry's VVAW. They indicate that these organizations worked closely together, using the Paris Peace Talks as a central point of communication, to employ the strategy and tactics devised by the Vietnamese communists to achieve their primary objective: the defeat of the United States of America in Vietnam. 
- by Jerome R. Corsi and Scott Swett 
_______________________________
[Note 1: On October 22, 2004, Swift Veterans and POWs for Truth researchers Troy Jenkins and Tom Wyld located the two Vietnamese communist documents referenced above in the archives of the Vietnam Center at Texas Tech University, in the Douglas Pike Collection. Douglas Pike was a leading authority on the Vietnam War who collected over 2 million pages of original documents now archived at the Vietnam Center. James Reckner, Ph.D., Director of the Vietnam Center at Texas Tech, verifies that the documents in the Pike collection are original and authentic. The Circular and the Directive are listed as items numbered 2150901039b and 2150901041 respectively.] 
[Note 2: The authors wish to thank Max Friedman for making available two additional documents, first, Al Hubbard's April 20, 1971 letter to the VVAW membership. The full citation is: National Peace Action Coalition (NPAC) and Peoples Coalition for Peace & Justice (PCPJ) Part I, hearings before the Committee on Internal Security, House of Representatives, 92nd Congress, First Session, May 18-21, 1971, p. 1796. The second document, "Extracts from an interview with a Viet Cong returnee" comes from the American Prisoners of War in Southeast Asia 1971 hearings before the Subcommittee on National Security Policy and Scientific Development, House Foreign Affairs Committee, 92nd Congress First Congress, March 23-25, 30-31, April 1, 6 & 20, 1971, Testimony of Max P. Friedman, pg 299.]
Nguồn:  http://danlambaovn.blogspot.com/2013/12/john-keery-va-hoi-cuu-chien-binh-phan.html
 Bình luận


Phát hiện về việc “có một sự liên kết chặt chẽ tồn tại giữa các chế độ cộng sản Hà Nội và Hội Cựu chiến binh phản chiến (VVAW) trong thời gian John Kerry từng làm phát ngôn viên hàng đầu của nhóm phản chiến toàn quốc” được đưa ra lúc này không gì khác là nhằm vào Ngoại trưởng John Kerry, tức là nhằm vào đường lối ngoại giao của TT Obama. Chẳng quá là vì những người chống cộng đang ngày đêm ra rả về một chế độ CS ở VN đang tàn lụi, vậy mà John Kerry đã dám nói ngược thì chuyện chọi đá là đương nhiên. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. “Cách đây nhiều năm, chúng ta đều có một sự tưởng tượng là chúng ta muốn có thể nghĩ về Việt Nam, trong rất nhiều năm khi bạn nói từ “Việt Nam”, chúng ta chỉ nghĩ về một cuộc chiến. Nhiều người trong chúng ta không muốn nghĩ theo cách đó. Giờ đây, khi bạn nói từ “Việt Nam” và bạn nghĩ về một đất nước, bạn nghĩ về một sân chơi đã thay đổi, một trong những quốc gia đang tăng trưởng, đóng góp và chuyển đổi của thế giới. Tôi nghĩ rằng cơ hội cho tương lai là to lớn…”. Vậy là kết luận: John Kerry là con rối trong tay Hà Nội!


Có vài ngộ nhận mà "bienhoa" nên biết trước khi tự sướng
- Những "phát hiện..." về Kerry không phải mới được phát hiện và đưa ra vào lúc này, nó đã được người Việt tố cáo từ lâu nhưng truyền thông phương Tây lờ đi cho đến khi hắn (Kerry) ra tranh cử TT/Mỹ, khi đó ngưòi ta mới "rà soát" lại quá khứ (của tất cả ứng cử viên) và phát hiện nhiều dối trá trong tiểu sử của Kerry, những điều mà "bienhoa" đọc được trên diễn đàn này về hắn chưa là gì cả, nhiều điều khác còn bỉ ổi hơn mà hắn (và ủy ban tranh cử của hắn) đã dùng kẻ hở luật pháp để che dấu, cản trở truyền thông bóc mẽ.
- CS ở VN đang tàn lụi là việc có thật đang diễn ra, người ta nói về việc đó dựa trên những chỉ số kinh tế, niền tin, an toàn xã hội... những điều mà nhà cần quyền VN đang cố che dấu bằng những hào nhoáng phù phiếm, cái mà "bienhoa" tự sướng là "quốc gia đang tăng trưởng, đóng góp và chuyển đổi thế giới". Một quốc gia bị ngoại bang ức hiếp không biết đường mà đối phó, một đất nước mà nội trị nát bét, tệ nạn xã hội tràn ngập mọi ngóc ngách của cuộc sống, lòng người thì vô cảm, nghi kị, ly tán. Một đất nước như thế lấy cái gì để đóng góp và chuyển đổi thế giới ngoài việc bán rẽ nhân lực, tài nguyên cho thiên hạ bóc lột !?.
- Bây giờ nói về VN người ta không còn nghĩ về "một cuộc chiến", chỉ những kẻ đang ăn mày quá khứ mới níu kéo quá khứ cuộc chiến để hợp thức hóa sự độc quyền phi lý. Bây giờ nói đến VN là nói đến bất công, bất ổn, bất minh, nói đến VN là nói đến chính trị hà khắc, đạo đức suy đồi, xã hội lụn bại... Những người chống cọng là những người muốn thay đổi những tác tệ đó chứ không phải vì "hận thù chiến tranh" như dảng CSVN đang cố tình xuyên tạc.
- Bài viết trong một chừng mực nào đó cũng có ích cho Hà Nội, John Kerry là con rối trong tay Hà Nội hay Hà Nội là con rối trong tay Kerry thì phải coi ai khai thác được ai nhiều hơn. Trong cuộc chiến Hà Nội lợi dụng những người như Kerry cho những vận động chính trị của mình, thì Kerry cũng lợi dụng cuộc chiến, lợi dụng những quan hệ với Hà Nội để mở cho mình một "hoạn lộ" mà suýt chút nữa đã lên tột đỉnh vinh quang, qúa khứ đã vậy tương lai cũng sẽ vậy, bài viết sẽ giúp cho Hà Nội nếu họ biết học từ... "kẻ thù" (?).
Chẳng có gì gọi là "chọi đá" ở đây !!!



Mặt ngựa thì đã sao, vậy chứ Hồ Chí Minh có cái mặt cunt mà cả dân tộc Việt
Nam đều gọi là “Bác”, thậm chí là “Cha Già Dân Tộc” đó thôi!



  • (Trích)"Một bài báo ở phương Tây đã tiết lộ về chuyến đi của Bush đến HN năm 2006, ban đầu dự trù gặp gỡ các nhà đấu tranh dân chủ VN, nhưng đã không làm vì HN thoả thuận yêu cầu của Bush là không lên án chiến tranh của Mỹ ở Irag. ... Vụ Kerry hoạt náo có lợi cho HN biết đâu lại không có bàn tay của Nixon dính vào để sớm rút quân khỏi VN."
    Có thì hãy nói nhé. Nói mà không có căn cứ là nói xàm vậy.

Dân oan ngủ hè giá rét, thủ tướng lo chỗ ở cho công nhân Tàu.


Dân oan ngủ hè giá rét, thủ tướng lo nhà ở cho công nhân Tàu.


Hỗ trợ dự án nhà ở công nhân KKT Vũng Áng
Thủ tướng Chính phủ đồng ý ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho tỉnh Hà Tĩnh trong kế hoạch hàng năm để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư Dự án thí điểm nhà ở công nhân Khu kinh tế (KKT) Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo mức hỗ trợ không quá 281 tỷ đồng và giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xử lý cụ thể theo quy định.
UBND tỉnh Hà Tĩnh chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng số vốn được hỗ trợ trên đúng mục đích, đúng đối tượng và đúng quy định của pháp luật, chủ động bố trí ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện, đảo đảm hoàn thành dự án đưa vào sử dụng.
Theo Baomoi.com


Theo tin từ FB dân oan : rất nhiều dân oan đã nhiều ngày nay ngủ trên hè, dưới giá rét tại bên ngoài cổng trụ sở tiếp dân nhà nước Số 1 Ngô Thì Nhậm Hà Đông Hà nội.

Tối qua, công an ném mắm vào lều bạt của dân oan ngủ hè đường.



Trụ sở tiếp dân bên trong được khóa kín cửa, sân và sảnh chờ tiếp dân rất rộng, có điện và nhà vẹ sinh công cộng rất rộng rãi, có bảo vệ canh gác suốt ngày đêm, tuy nhiên ban đêm thì bỏ không, bảo vệ canh gác kỹ lưỡng.
Vậy trụ sở này được xây bằng tiền của ai ? Của dân hay của quan ? Kẻ nào gây ra các oan sai khiến dân khiếu kiện, khiến dân phải ngủ hè đường trong giá rét ? Chủ tịch Quốc hội và chủ tịch nước hãy trả lời xem ?


ĐMCS .
(Xuân VN)
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32668