Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Một tình trạng rất mới

 Một tình trạng rất mới


Thứ Tư, ngày 17 tháng 12 năm 2014

Giá dầu thô đã xuống tới mức 60 USD một ba-rin. Giá dầu đã giảm gần một nửa trong sáu tháng qua. Đây là một tin vui cho thế giới cũng như cho Việt Nam và cần được nhận định rõ ràng.

Dầu xuống giá chủ yếu vì khối lượng cung cấp gia tăng, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, kể cả dầu schist, trong khi mức tiêu thụ tại nhiều nước, nhất là Trung Quốc, giảm xuống đáng kể. Cả nguyên nhân lẫn hậu quả của tình trạng mới này đều đáng để ý.


Về nguyên nhân, các chuyên gia đều đồng ý rằng sản xuất công nghiệp tại Trung Quốc đang sút giảm dù chính quyền Bắc Kinh tiếp tục nói rằng công nghiệp của họ vẫn tăng trưởng, chỉ giảm vận tốc. Các con số thống kê của Bắc Kinh ngày càng đáng ngờ vực. Sản xuất công nghiệp không thể gia tăng trong khi mức tiêu thụ dầu giảm. Quan điểm chung là Bắc Kinh đang cố giấu một tình trạng kinh tế suy thoái. Nhưng họ sẽ còn che giấu được đến bao giờ? Và khi một sự thực mà người ta đã cố tình che giấu cuối cùng vẫn lộ diện nó sẽ rất bi đát.

Về hậu quả, sự kiện rõ nét nhất là nước Nga đang khốn đốn. Dầu khí là nguồn lợi chính, chiếm gần 80% xuất khẩu, của Nga. Đồng Rúp của Nga đã mất giá 40% trong vài tháng do hậu quả tổng hợp của việc dầu xuống giá và những biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ và Châu Âu sau khi Nga xâm chiếm Ukraine. Điều này có nghĩa là trọng lượng kinh tế của Nga trên thế giới đã sụt gần một nửa. Hơn thế nữa ngân sách của Nga, được thiết lập trên giả thuyết giá dầu 110 USD/ba-rin, sẽ thiếu hụt nặng. Tương lai bấp bênh của kinh tế Nga đang khiến hàng trăm tỷ USD đào thoát ra nước ngoài.

Liệu Nga và Trung Quốc còn cầm cự được tới bao giờ là câu hỏi đang được đặt ra. Điều chắc chắn là một "cuộc chiến tranh lạnh mới" mà nhiều người lo ngại sẽ không xảy ra. Trọng lượng tổng hợp của Nga và Trung Quốc quá nhỏ so với khối các nước dân chủ. Cả hai nước đều rất tụt hậu về khoa học kỹ thuật, kể cả kỹ thuật quân sự, kinh tế của hai nước chưa bằng 15% kinh tế thế giới. Họ không đủ sức để thách thức các nước dân chủ. Hơn nữa hai chế độ cũng không còn chia sẻ một ý thức hệ chung.

Đối với người Việt Nam những gì đang xảy ra có ý nghĩa đặc biệt. Các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam dù xung đột với nhau đến đâu trong nội bộ cũng đều đồng ý là phải giữ nguyên chế độ toàn trị bằng mọi giá. Vì thế họ không muốn sáp lại với Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Họ chỉ muốn được hợp tác với các nước này vì lợi ích kinh tế chứ không chấp nhận một thích nghi chính trị nào. Họ đang nhận ra rằng đây chỉ là một mơ mộng hão huyền. Điều mà họ hy vọng hơn là có thể dựa vào một "quốc tế độc tài" mới chung quanh Nga và Trung Quốc để tồn tại. Hy vọng này cũng đang tan biến. Chế độ Putin tại Nga đang sống những ngày rất khó khăn, không loại trừ khả năng sụp đổ. Chính quyền Tập Cận Bình đang lúng túng che đậy một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng ngày càng hiện rõ, đang phải đương đầu với những khuynh hướng ly khai và cũng đang trải qua một cuộc thanh trừng nội bộ khốc liệt. Tất cả đều có thể xảy ra trong một tương lai gần, kể cả sự tan vỡ của chính Trung Quốc. Cả hai chế độ này đều đang lung lay và không còn là chỗ dựa cho ai nữa.

Đảng Cộng Sản Việt Nam có lẽ đã quá phân hóa để có thể đồng ý trên một lối thoát. Chính những người cộng sản phải đủ sáng suốt để kịp thời rời khỏi một con tàu đang chìm.

Ban biên tập Tổ Quốc

(Báo Tổ Quốc)

Nguồn:http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32005 

GIÁNG SINH BUỒN NĂM 1967



Trinh Khanh Tuan
GIÁNG SINH BUỒN NĂM 1967

Nhớ Giáng Sinh năm nào (1967)
Lòng bỗng thấy nao nao
Vì bao xác người Thượng
Chết thãm đầy xót xa

Cách đây 47 năm, trong khi mùa vọng đã tràn về trên khắp miền đất nước VN, là mùa mà nơi nơi đều cất cao thông điệp "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm", thì trong lúc đó tại một làng người thượng gần biên giới Campuchia vào tháng 12 năm 1967, đã bị những người hoàn toàn không có thiện tâm, những con thú đội lốt người, đã ra tay sát hại một cách rất thãm thương, man rợ 252 đồng bào nơi đây. Bọn cộng sản đả dùng súng phun lửa, lựu đạn để đốt và sát hại đàn bà con nít rất tàn nhẫn.
Đây là một cuộc tàn sát đồng bào thiểu số người "thượng" vào ngày 5 tháng 12 năm 1967 man rợ nhất trong chiến tranh Việt Nam lúc bấy giờ.
Đây là một trong những bằng chứng tiêu biểu cho hàng ngàn, hàng trăm ngàn tội ác của csVN trong cuộc chiến đã qua. Cs VN đã không từ chối bất cứ thủ đoạn phi nhân nào để hoàn thành cuộc chiến xâm lược miền nam VN. Cái mà chúng gọi là " bạo lực cách mạng trong chiến tranh giải phóng". Bác và đảng đã nhét vào hàng trang của các thanh niên trong QĐND là sự dã man và tàn ác với nhân dân miền nam. Các nòng súng của họ đều mang chủ nghĩa căm thù được đảng và bác trao cho QĐND trước khi vào nam.
Để cho oan hồn 252 người sắc tộc được yên nghĩ, xin mọi người hãy tiếp tay phơi bày những sự thật về hành động khát máu nầy và tiếp tay để thiết lập hồ sơ, đưa những tên tội phạm chiến tranh chống nhân loại nầy ra trước toà án hình sự quốc tế ( International Criminal Court, tiếng Pháp: Cour Pénale Internationale; thường được gọi là các ICC hoặc ICCt). Là một tòa án thường trực để truy tố các cá nhân phạm tội ác diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh, và tội ác xâm lược.
Cộng sản phải trã lời với nhân VN:
1. Những đàn bà con nít bị quân đội ND thuộc trung đoàn 88, Sư Đoàn 308 Bắc Việt giết chết vào tháng 12 năm 1967, vậy những người bị giết nầy họ có phải là thành phần ác ôn hay không?? Nhũng người đã trực tiếp tham dự cuộc thãm sát nầy, nghĩ như thế nào về thành tích mà họ gọi là giải phóng miền nam??
2. Trên vùng dân thượng sinh sống tại Dak Son, người dân tại đây họ gần gủi với thiên nhiên, họ mặc khố, mình trần, một mảnh vãi đẹp để che thân còn chưa có, và trong số những xác chết, không thấy người nào bận quân phục của QL.VNCH. Vậy sao họ lại phải chịu bản án tử hinh rất cay độc của quân giải phóng miền nam/??
Những tên tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng trung đoàn 88A, những tên tư lệnh và chính uỷ sư đoàn 308, là người phải chịu trách nhiệm trực tiếp với nhân dân tại làng Dak Son, và trã lời về hành động sói lang của thuộc cấp mình tại Dak Son ngày 5.12.1967. Họ là những tên chĩ huy trách nhiệm trong thời gian làng Dak Son xãy ra vụ thãm sát.
Xin mời xem tiếp các chi tiết tại Blog: http://lybichthuy.blogspot.de/
Trinh Khánh Tuấn, 17/12/2014

  https://www.facebook.com/groups/604135212930608/882308945113232/?notif_t=like

"Một mũi tên giết 2 con nhạn!"


Ảnh của Thuy Truong. 




Thuy Truong
Thuy Truong đã thêm 3 ảnh mới.
41 phút · 
 
"Một mũi tên giết 2 con nhạn!"

Mỹ đem dầu của Mỹ ra bán với giá rẻ mạt ! giống như cho !!!
Vừa làm chết kinh tế Nga, vừa cho Tàu cọng thấy mỏ dầu khí khổng lồ của Mỹ . Mỹ coi dầu khí như khoai, như sắn,là thứ khộng quý hóa gì ! ...,tội chi đem tiền ,đem sức ra biển đông hục hặc làm chi cho mệt,cho mất lòng hàng xóm và nhất là "đồng chí" VN!
Có khác chi dã tràng xe cát biển đông.
Mỹ đúng là siêu cường quốc đủ mọi mặt !
Cuộc chiến dầu lửa, ĐÒN HẠ THỦ BẤT NGỜ CỦA MỸ
Tin cập nhật hôm nay giá dầu thô chỉ còn $66.81 sự hạ giá gây "choáng" và con bài dầu của Mỹ đang "lật". TỪ KHI GIÁ DẦU LỬA từ đỉnh điểm 3 con số tức có lúc lên đến trên 140 đô la/ 1thùng là thời gian khối OPEC hốt bạc. Bao nhiêu sự chi tiêu các nước Trung Đông đều lệ thuộc vào dầu. Chuyện giàu sang của khối dầu Trung Đông bao lâu nay là chuyện ai cũng biết. Cú gây sốc này là những gì khối dầu Bắc Mỹ đã tính từ trước với sự vận hành của hệ Petrodollar , càng bán dầu càng xài đô la và Bắc Mỹ vừa cất dầu vừa in đô la cho những ông chủ dầu Trung Đông "cất làm của" cho sự giàu sang của họ. Người ta tính rằng nếu dầu hạ xuống 80 đô la một thùng thôi thì Trung Đông đã thiết hại hàng tỷ đô la mỗi ngày. Giờ dầu đang dưới 70 đô la cái hậu quả là OPEC lại càng gia tăng sản lượng dầu để giữ mức thu nhập và cung tăng thì cầu giảm đó là lẽ thuờng , sẽ đẩy giá dầu tuột dốc.
Chúng ta lại bàn qua hai anh chàng ăn theo chuyện dầu và khí đốt là Putin đã và đang đánh canh bạc dầu và khí đốt đối với Mỹ và Tây Phương. Tưởng tượng mùa đông rét mướt không có khí đốt của Nga thì Đông và Tây Âu chắc chết.
Ai chết trước?
- Nga
đây là câu trả lời vì Sư Trừng Phạt Kinh tế Nga sau vụ Ukraine đang làm Nga sống dỡ chết dỡ qua sự mất mát thua thiệt về thuơng mãi cũng như hệ thống ngân hàng Nga đang bị "cấm túc" chết theo. Putin đã không dùng khí đốt làm vũ khí "răn đe" được mà phải năn nỉ "ai mua khí đốt giùm em... ? " để cứu vãn nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề do sự trừng phạt của Tây phương theo lệnh Mỹ.
Cú đòn không dừng ngang dây, lần đầu tiên kể từ năm 1949 Mỹ đã xuất cảng dầu và những thứ liên hệ với dầu cao hơn nhập cảng. Đại kỹ nghệ khí đốt sẽ xuất cảng sang Châu Âu vào năm tới cạnh tranh với Nga. Giấc mông Liên Bang Nga của Putin đang bị đứng khựng lại vì cái nạn "dầu rớt giá" mà sự kiện rớt giá này là ngón "Nhất Dương Chỉ" của Hoa kỳ đã khổ luyện từ lâu điểm vào yếu huyệt "dầu và khí " của Putin. Trong bài diễn văn trước viên DUMA theo BBC hôm nay 4/12/2014 Putin vẫn hô hào bất chấp mọi khó khăn trong lúc cử tọa thì không dấu vẻ bồn chồn lo lắng vì những cú trừng phạt quá nặng từ hệ thống tài chánh và nhất là vụ GIÁ DẦU GIẢM quá nhanh. Giờ đây sự huy hoàng của một đế chế mà Putin là "Nga Hoàng" cùng với sự trở về "nước mẹ" của Crimea và đông Ukraine có cứu Putin đươc không? câu trả lòi là KHÔNG !
Thưa bạn đọc,
những thông tin và chi tiết thì hi vọng chúng ta đã biết nhiều qua thông tin cập nhật. Người viết chỉ mong rút ra những phân tích trọng yếu cho các sự kiện kể trên. Trong đó sự rớt giá dầu và xuất cảng dầu của Mỹ là vấn đề cốt lõi.
Mỹ đã tính trước: dùng dầu Trung Đông phát triển kỹ nghệ song hành với việc đưa đẩy thế giới dùng đồng đô la đó là một chiến lược kinh tế có chủ trương hay PETRO-DOLLAR . Thời điểm hôm nay Mỹ bắt đầu xử dụng khối dầu dự trữ của Bắc Mỹ và hệ khí đốt để trở thành cường quốc số 1 trong vấn đề sản xuất dầu + khí cùng tương đương.
Theo Bloomberg thì Hoa kỳ năm nay đang qua mắt Arab Saudi , trở thành nước sản xuất dầu vói năng xuất 11 triệu thùng/1 ngày trong quý đầu. Hoa kỳ đã sản xuất khí đốt đứng đầu thế giới kẻ từ năm 2010. Tổng hợp lại theo Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế -IEA, thì Hoa kỳ xem nhu chính thức là nước sản xuất đứng đầu thế giới về lượng dầu và khí thiên nhiên hóa lỏng. Trong tương lai (theo IEA) gần Mỹ sẽ sản xuất lên con số 13.1 triệu thùng 1 ngày vào năm 2019 .
Sự kiện Ukraine đã làm gia tăng áp lực gay gắt giữa EU , Hoa kỳ đối với Putin. Theo lệnh NATO , Bulgaria hủy bỏ đường khí đốt Nga qua nước này và Putin đã chỉ thị cho ngoai trưởng Nga Alexander Novak chính thức cho biết hủy bỏ kế hoạch qua Bulgaria và phải chuyển huớng ống qua huớng Thổ nhĩ Kỳ. Rõ ràng nước Mỹ đã đứng sau lưng EU hứa hẹn về nguồn khí hóa lỏng sẽ cung cấp cho EU thế Nga.
Liên xô một lần sụp đổ vì chạy đua vũ trang với Mỹ ; đến nay Putin sẽ sụp đổ vì chạy đua vũ khí " dầu và khí " với Mỹ. Sự suy sụp kinh tế của Nga hiện nay là cái "máy chém" vô hình đang để vào cổ Putin cùng sự sụp đổ của cái ghế tổng thống độc tài của ông ta.
DHL - BA Social Science SJSU
BIỂU ĐỒ GIÁ DẦU THÔ TỪ 2000 ĐẾN 2014
Oil Price today Thursday 4,12, 2014
$66.81 ▼-0.57 -0.85
hinh 2 - các cụm bơm dầu trên đất liền của Mỹ

Nguồn: https://www.facebook.com/thuy.truong.75470316/posts/1073015652724259 

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ gặp gỡ Cộng đồng Người Việt California


Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ gặp gỡ Cộng đồng Người Việt California


“Phải giải thể chế độ cộng sản Việt Nam”, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ phát biểu trong buổi gặp gỡ thân hữu và truyền thông chiều ngày 6-12-2014 ở San Jose.


Ông Vũ cũng nói rằng chính phủ Hoa Kỳ “rất vui và vinh dự được mời ông sang Mỹ để tiếp tục đấu tranh vì dân chủ nhân quyền cho Việt Nam.”


Trước khi ra tù, trước mặt sĩ quan an ninh và đại diện sứ quán Mỹ, ông Vũ đã cố gắng nói bằng tiếng Anh: “I am determined to fight the Vietnamese communist regime to the end.” (Tôi quyết tâm chống lại chế độ cộng sản Việt Nam cho đến cùng) và sự việc này đã được công an ghi hình đầy đủ. Ông Vũ kể.


Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
Gặp giới chức ngoại giao Mỹ, ông nói khi sang Hoa Kỳ ông sẽ “dành toàn tâm, toàn ý để tranh đấu cho dân chủ nhân quyền cho Việt Nam và chính phủ Mỹ không được ngăn cản.”


Ông Vũ nói dù sang Mỹ hay đi bất kỳ nơi đâu thì mục tiêu chính của ông cũng là giải thể chế độ cộng sản Việt Nam.


Sự kiện Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đến California trong tuần qua gây chú ý vì từ ngày rời nhà tù để sang Mỹ “chữa bệnh” cách đây 8 tháng, đây là lần đầu tiên ông có những tiếp xúc với cộng đồng người Việt tại California.


Lúc đầu dự định có họp báo ở Quận Cam vào chiều thứ Năm 4-12 do Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam tổ chức. Giờ chót cuộc họp báo không diễn ra vì ông Vũ “bị bệnh bất ngờ”.


Lý do đó cũng đưa đến việc huỷ buổi ăn trưa và hội luận tại một nhà hàng ở San Jose vào thứ Bảy 6-12, theo như thơ mời của ban tổ chức gồm quí anh chị Đỗ Thành Công, phát ngôn nhân của Đảng Dân chủ Nhân dân; anh Nguyễn Trung Cao, đại diện Khối 8406 và chị Hoàng Mộng Thu thuộc Biệt đoàn Văn nghệ Lam Sơn.


Tuy nhiên, chiều thứ Sáu 5-12 Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và vợ là luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã bay từ nam California lên San Jose và được một số nhân vật cộng đồng đón tại phi trường.


Tối thứ Bảy ông Vũ đã có buổi gặp gỡ thân hữu và truyền thông. Vì thế một số người không tin ông Vũ thực sự “bị bệnh” để hủy cuộc họp báo ở nam California và buổi hội luận ở San Jose.


Buổi gặp gỡ được tổ chức tại nhà của kỹ sư Đỗ Thành Công, một người đã bị an ninh Việt Nam bắt giam hơn một tháng vào năm 2006 khi anh về Việt Nam.


Tháng 6 năm ngoái, ông Vũ tuyệt thực trong tù, anh Công cũng tuyệt thực trước Tổng Lãnh sự quán Việt Nam ở San Francisco để biểu tỏ sự ủng hộ. Hôm nay hai người mới có cơ hội gặp nhau lần đầu.


Trong buổi nói chuyện, ông Vũ kể về gia thế. Phụ thân của ông là nhà thơ Huy Cận và bác cũng là cha nuôi là nhà thơ Xuân Diệu, hai thi sĩ được nhiều người Việt biết đến.


Theo ông Vũ, bố ông là bộ trưởng đầu tiên đã cùng Hồ Chí Minh kí vào Bản Tuyên ngôn Độc lập. Theo cộng sản suốt 50 năm nhưng bố ông luôn chống tham nhũng.


Ông Vũ nhớ lại: “Khi bố đi công tác nước ngoài, nhận công tác phí tiêu không hết thì ông đem về trả lại cho bộ tài chính để nhà nước lo cho dân”.


Về người bác, ông kể: “Nhà thơ Xuân Diệu khi đi nói chuyện về thơ ở một địa phương thấy dân khổ, cán bộ hà hiếp dân, ông phản ánh lại với chủ tịch huyện khiến ông này nổi cáu muốn huỷ buổi nói chuyện. Bác ông về báo cáo với trung ương và ông này đã bị cách chức”.


Bố và bác của ông là những người đã tham gia cách mạng từ năm 1938, khi còn là học sinh ở Huế. Chú ông là sĩ quan Quân đội Nhân dân. Ông nội bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, nhờ lí lịch gia đình theo cách mạng nên không bị giết, được giảm từ địa chủ xuống trung nông, bị giam trong chuồng trâu, bỏ đói. May nhờ có một người quen đêm lén đem cơm cho ăn mà sống sót.


Thời ông Vũ làm cán bộ ngoại giao, năm 2004 gặp gỡ cố vấn Trung Quốc về quân sự cũng như kinh tế, ông có hỏi và được biết là chính Hồ Chí Minh đã thi hành chính sách cải cách ruộng đất theo hướng dẫn của Trung Quốc, có muốn cưỡng lại cũng không được.


Ông Vũ nói rằng “Bố tôi hết lòng với cộng sản, nhưng trước tội ác của cộng sản, cách này cách kia ông cũng tâm tư lắm chứ.”


Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ nhận mình thuộc gia đình có truyền thống cách mạng, trí thức. Là cán bộ ngoại giao, nếu ông cứ dựa vào đó để tiến thân thì cuộc đời ông sẽ lên.


Nhưng ông muốn thay đổi cách làm việc của bộ máy nhà nước, nhiều lần ông đã có những đề nghị với cấp trên, nhưng tình trạng tham nhũng, hiệu năng làm việc kém cũng không thay đổi. Vì thế ông dựa theo hiến pháp và luật pháp Việt Nam để tìm cách thay đổi hệ thống qua việc ứng cử chức bộ trưởng văn hóa, ứng cử đại biểu quốc hội.


Ông cũng đã kiện ủy ban nhân dân Huế trong dự án đồi Vọng Cảnh, kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về dự án Bôxít.


Ra ứng cử, ông bị ngăn chặn từ địa phương. Ở tổ dân phố, những người đấu tố ông, nói ông không có đủ tư cách, không tham gia quét rác, không thăm dân. Những lí do theo ông là vớ vẩn để không cho ông ra tranh cử. Nhưng cũng có một phần ba ủng hộ ông.


Sau nhiều cố gắng nhưng không thể thay đổi, ông thấy chỉ còn cách là giải thể chế độ cộng sản.


Ông Vũ công tác tại bộ ngoại giao từ năm 1979 đến năm 2009 là khi ông bị bắt giam với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” vì qua các báo đài quốc tế ông đã phát biểu quan điểm chống lại chính sách của nhà nước. Ông bị kết án bảy năm tù.


Trong tù ông tranh đấu cho quyền lợi của tù nhân. Bị giam chung với tù hình sự là những kẻ đâm thuê chém mướn, ông đã giảng giải cho họ nghe về tệ nạn tham nhũng của chế độ, của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà theo ông nếu chế độ sụp đổ, ông sẽ đưa ông Dũng ra tòa xử theo luật.


Thời gian ở tù, ông Vũ đã thu phục được sự ủng hộ của nhiều tù nhân. Cả giám thị Bùi Ngọc Bình, giám thị trại 5 là Đại tá Lê Duy Sáu cũng xem ông như là anh hùng.


Hỏi về bí mật quanh Hội nghị Thành Đô, ông Vũ không nghĩ Việt Nam sẽ thành thuộc địa của Trung Quốc.


“Nhưng đó là một hiệp ước đầu hàng Trung Quốc về biên giới lãnh thổ và trên vịnh Bắc Bộ. Nhà nước cứ em chả, em chả, em không biết. Nhưng Hoàng Sa không dám đòi và Trường Sa tiếp tục bị mất.”


“Trước tình hình đó, chúng ta phải nhanh chóng giải thể chế độ cộng sản Việt Nam thì mới giữ được nước”, ông phát biểu.


Trong hoàn cảnh chính trị như thế nào tại Việt Nam thì ông sẽ trở về? Ông Vũ đã không trả lời thẳng câu hỏi này, cũng như vài câu hỏi khác, mà nói lòng vòng, rồi khi được nhắc nên đi thẳng vào vấn đề ông mới phát biểu:


“Tôi không phải tranh đấu cho một ngày về mà là giải thể chế độ cộng sản Việt Nam để chúng ta cùng về, bắt tay với người dân trong nước xây dựng dân chủ, tiến hành những cuộc bầu cử tự do với sự giám sát quốc tế. Ngày về đó là ngày về của tất cả mọi người Việt Nam, không phải của riêng tôi. Đó là ngày về không phải chỉ của người nước ngoài mà là ngày về của chính người Việt Nam trong nước, ngày về với chế độ tự do dân chủ.”


Ông đã nhận được sự vỗ tay tán thưởng của khách tham dự buổi họp mặt.


Dịp này Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ cũng lập lại những điều ông đã viết trên báo hay trong các khuyến cáo gửi cho chính phủ Hoa Kỳ và ông tin vào sức ép và sức mạnh của Mỹ sẽ giúp Việt Nam có dân chủ nhân quyền và thoát ảnh hưởng của Trung Quốc.


Liên quan đến đối thoại về nhân quyền, ông đề nghị để có tiến bộ trong quan hệ hai nước, Việt Nam phải hủy bỏ những điều luật 79, 88 và 258 luật hình sự.


Như nhiều tổ chức hoạt động cho dân chủ, nhân quyền khác, ông cũng đòi bỏ điều 4 Hiến pháp mà nhà nước Việt Nam coi đó là một âm mưu nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.


Trong buổi gặp gỡ, có những lúc ông Vũ hơi cường điệu. Như khi nói về chính sách xoay trục của Mỹ, ông cho đó là đề nghị của ông với Hoa Kỳ trước đây; hay những khuyến cáo về dân chủ và nhân quyền, nếu chính phủ Mỹ làm theo ý ông chắc chắn sẽ đem lại thắng lợi.


Điều này được cựu Đại tá Vũ Văn Lộc, giám đốc cơ quan IRCC, nhắc khéo với ông rằng người Việt ở Mỹ cũng đã và đang làm những việc đó từ bốn thập niên qua.


Trong một tiếp xúc bên ngoài buổi gặp gỡ, hỏi về sự kiện nhà văn Nguyễn Quang Lập vừa bị bắt, ông Vũ nhận định đó là những đấu đá phe nhóm trong nội bộ trước kỳ đại hội đảng sắp diễn ra, như đã từng xảy ra trước đây.

Bùi Văn Phú

*Tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh Sa Francisco, California.

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

(RFA)
   
Chưa đọc hôm nay, 07:38 AM
Thống soái
 

Ông Cù Huy Hà Vũ này đừng phát biểu thì hay hơn. 
 
Nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32008
 

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

SÀI GÒN TRONG MẮT AI…!!!

 

TIẾNG VỌNG NGÀY XƯA!
   Huỳnh Mai St.8872
     Bh.Dạ Lệ Huỳnh
   Khi trời rét lạnh cuối đông mọi sức sống con người thu-tàng trong cái bó gối ngồi co ro bên bếp lửa hồng ấm cúng quanh nồi bánh tét bánh chưng ngày tết.
   Anh từ vùng đất hứa kinh tế xa xôi trở về đây trở về một thành phố Sài gon xa xưa đầy ấp kỹ niệm thân thương từ thưở ấu thời mag nhiều vết tích chiến tranh để lại,
   anh trở về đây với tấm thân tàn ma dại của hậu quả "Chất Độc Da Cam"nơi vùng đất hứa cải tạo đời mình của một vùng kinh tế mới sau chiến tranh sau khi Cải Tạo ra về...Gia đình anh bị nhiễm chất độc Da Cam nơi vùng kinh tế mà anh mớii đến làm ba đứa con anh mới sinh sau nầy,cả ba điều có hình dạng dị kỳ,dị tật vì mất chứng bệnh Da Cam,đưa đến chứng thiểu năng trí não như dại như khờ...Anh buồn lắm!cuộc chiến nầy ai thắng lẩ ai thua!?Nhưng riêng anh và cả dân tộc này...luôn luôn là kẽ chiến bại mang nhiều hậu quả thương đau do chiến tranh để lại,trong sư hơn thua,thù hận và sự chà đạp lẩn nhau trong cuộc sống mất hẳn tình người...
   Mùa đông năm nay trời hơi rét lạnh hơn mọi năm căn bệnh nhiễm độc Da Cam đang hoành hành dử dội trong anh theo sức yếu tuổi già anh phải ngồi trên chiếc xe lăn phế thải của một ông bạn già tốt bụng vừa mới qua đời...! Ông ta cũng là một "Chinh nhân hành Khất" truyền nối lại gia tài sản nghiệp lại cho anh!
  Có thể nói anh là tất cả hội chứng của chiến tranh để lại từ tinh thần lẩn vật chất cơ thể trên người anh.Cái đói nghèo bệnh tật là gia tài luôn luôn đồng hành với anh trong cuộc phần đời còn lại của anh...!
   Trên chiếc xe lăn giờ đây anh là kẻ ăn mày xin ăn từng bữa nơi đầu đường xó chợ nhờ cũa ít lòng nhiều thương hại của mọi người.Hy vọng những người những ai còn có cơ may trong cuộc sống vẫn còn biết nghĩ đến anh và kém may mắn hơn họ...!"Sinh bất phùng thời"nên chịu lắm nỗi gian truân...
   Ngày xưa anh xuất thân từ trường Quốc Gia Âm Nhạc-Nhạc Viện Sài gòn-Vì thời cuộc chiến tranh anh phải phục vụ trong quân đội Sài gon Miền Nam trong ngành Chiến Tranh Tâm Lý đem tiếng hát câu ca của mình phục vụ các tiền đồn xa xôi...Nay nhờ tình xưa nghĩa cũ qua tiếng đờn câu ca để ăn xin độ nhật qua ngày trong tình trạng chất độc Da Cam phát tác mỗi lúc mỗi nặng thêm..
   Anh trổ hết những ngón nghề xử dụng nhạc cụ rất điêu luyện,độc đáo riêng anh mà nghệ thuật,âm thanh cùng khí cụ đời đã ban tặng cho anhd9e63 trả lại cho đời cái kiếp con tằm phải nhả tơ!.
   Tuy ăn-xin và nhờ lòng bố thí nhưng anh rất hãnh diện tự hào của một quân nhân chiến sĩ!, nếu mình không làm cho lợi ích dân tộc nước non! thì mình cũng đem được điệu đờn, tiếng hát câu ca để an ủi cho đời. Vã lại vì danh dự trách nhiệm của một người lính không xin-cho hay sống bám mọi người như một kẻ hèn!?
   Biết mìmh không thể trụ lại cuộc đời nầy bao lâu nữa với chất độc phơi nhiễm Dioxin Da Cam nên anh đem sức tàn hơi kiệt của mình cống hiến cho đời thổi vào cây sáo trúc 11 lổ của mình trên chiếc xe lăn với vài sắp vé số phất phơi trong gió có một thiếu phụ -vợ của anh-nhếch nhoách nghèo nàn phía sau đẩy xe lăn bánh dưới con đường mke Sài gon đầy lá rụng..Không hiểu lá me bay...bay rụng lá hay vì tiếng sáo trầm bổng u-buồn nức nở của anh trong bản nhạc "Con Thuyền Không Bến"của Đặng Thế Phong lấy hơi bằng giọng mũi của anh-Tiếng sáo bằng làn hơi lổ mũi-làm me lá xúc động buồn tình rơi lã-tả...!cảm thương cho một kiếp tài hoa.Tiếng sáo rất tài tình,điêu luyện không kém "Tiếng Sáo Thần" của Nguyễn Đình Nghĩa.
   Trời sắp tết...Anh và chị trở lại thành đô Sàii gon,bỏ lại vùng quê đất hứa kinh tế cho 3 đứa con ở lại với bệnh tật dị hình chất độc Da Cam trong những cánh đồng lá chết màu vàng da cam hoang sơ vùng lá thắp...Anh và chị về lại Sài gon vớii hy vọng đem tiếng sáo bằng giọng mũi của mình đổi lấy bộ đồ tết mới may cho con mặc mừng năm mới...Chúng cũng như bao trẻ con khác cũng thích mặc áo mới trong ngày tết để khoe bạn bè!...nhưng trời vân không thương tình cho áo mới  khoe xóm giềng vì chúng không bình thường với bệnh Da Cam.,phó tháccho trời!
   Tết này người ta hay mua vé số cầu may mắn.Ở nơi phồn hoa đô hội này người ta đã sớm đổi đời từ tầng lớp giai cấp nghèo nàn đó kém sắn khoai ăn độn hằng ngày nay đã ăn nên làm ra theo đà phát triển kinh tế giàu ra,bỏ đi những ngày gian khổ cơ cực.vật chất,nên người ta có nhu cầu về tinh thần để xoa dịu phần nào linh hồn đau khổ. trong tranh giành cuộc sống...Và anh chị cũng muốn đổi đời cho con mình bằng những bộ quần áo mới trong ngày tết mợt cách sòng phẳng,không phải, xin cho của cuộc đời mà phải bằng câu ca tếng hát trả ơn đời!cùng với những tấm vé số đem lại may mắn cho mọi người!
   Anh chị cũng biết ngại ngùng và biết tủi thân khi thấy có khách thập phương dừng lại chiếc xe hơi bóng lộn và những thiếu phụ sang trọng ghé lại cho tiền như tỏ chút tình xưa nghĩa cũ mà không cần lấy tấm vé số đổi đời vì họ đã từng "Lên voi xuống chó"nhiều rồi trong cuộc đổi thay đời này...!
   Cũng có những vị khách xa lạ hợm hỉnh ăn mặc diêm dúa quân short ngắn mang giày đầy lông chân tua tủa mặt vênh váo theo kiểu phương tây của Việt Kiều "Áo gấm"về làng mà quên thưở te-tua! Họ về đây để hái chùm "Khế Ngọt" và thăm viếng cháu bác Hồ của thành phố Sài gon xưa.chớ nào nhớ lại những gì đã đổi thay cuộc đời vốn có của họ hiện nay!
   Tiếng sáo của anh dìu dặt trầm bổng buồn thương cho những ai chung đồng số phận cùng một cảnh đời...mới khắc ghi được lòng người thổi sáo.Tiếng sáo của anh sao mà khoan thai trều mến như xoa diệu nỗi lòng khắc khoải còn đang giẩy chết ở lòng đường phố chợ đầy dẩy Sài gòn của những người nghèo cơ nhở lang thang không nhà.Họ là ai!?Sao mây trời vẩn vô tình bay...?trong cái lạnh lùng rét mướt cuối đông mà trời sắp sang xuân,nhưng họ vẫn thiếu vắng vòng tay ấm áp cuộc đòi...Họ ở tận miền xa,khắp nẽo quê hương trở về phố thị thành đô,tìm lại chút ấm tình người chia sẻ cô đơn lạc lỏng không nhà cho cái tết cận kề tới nơi...Tiếng sáo của anh bức bối và thúc giục hơn nữa như tiếng gọi sâu lắng quê hương hồn nước của 3 đứa trẻ đòi cha mẹ trở vê quê cho chúng áo mới trong mùa tết đến!???
 
 Thơ,         
              TIẾNG XƯA!
                         Huỳnh Mai St.8872
                                Dạ Lệ Huỳnh
Nghe đâu đây gió thoảng gọi hồn về!
Vừa thương vừa nhớ cho sầu tái tê,
Chơi Vơi tiếng sáo ôi buồn tê tái,
Bạc đầu lá đổ thương hoài tiếng xưa,
Nhị bước quân hành xưa kia tấu khúc,
Ngày nay dìu dặt vút cao cung buồn,
Tiếng sầu sáo lổ vùi sâu thân phận,
Trang trải lòng mình theo tiếng sáo đưa!!!
                                        Huỳnh-Mai
                      {Viết cho bạn bè tôi... nằm xuống.!}

Tiếng Xưa (Dương Thiệu Tước) - Giao Linh

                             http://youtu.be/7pI5psTOIys

 http://maidayhoabnh.blogspot.com/2011/09/sai-gon-trong-mat-ai-bon-mua-chinh.html

VƯỢT BIỂN ... TRỞ VỀ!


hoànglonghải – Bèo giạt (17) – Vượt biển… trở về

1            Đôi khi chúng ta cũng ngạc nhiên về những người đi ngược chiều!
            Khoảng những năm sau 1986, 87 khi đi tù cải tạo về, hàng trăm, hàng ngàn người thường tụ tập ở sân cỏ trước Sở Ngoại Vụ của Dziệt Cộng ở Saigon, ngang đường Alexandre de Rhodes cũ, để lập hồ sơ đi Mỹ, theo cái gọi là “diện HO”.
Họ gặp gỡ nhau, chuyện trò vui vẻ, “hồ hỡi phấn khởi” – nói như Dziệt Cộng – chờ ngày ra đi, để thoát khỏi chế độ độc tài, được sống tự do, một thứ tự do mà ở Việt Nam chưa bao giờ có, và để có một cuộc sống no ấm hơn, nếu không nói là sẽ giàu có, để bù lại những năm tháng tù tội, đọa đày, gian khổ, v.v… và v.v…
            Trước đó, cũng đã có “chương trình ra đi trong vòng trật tự” – ODP và người đi, cũng không khác tâm trạng với người ra đi theo “chương trình HO” bao nhiêu.
Thế nhưng vẫn có những ngưòi đi ngược chiều!
            Cũng có người từ chối ra đi theo HO hay theo ODP.
            Tại sao vậy?
            Làm sao nói hết! Mỗi người một hoàn cảnh, một đời sống, một hay nhiều lý do riêng tư. Bài nầy không nghiên cứu về những trường hợp ấy nên không bàn tới. Tuy nhiên, những người từ chối ra đi chỉ làm một việc rất dễ dàng, như người Mỹ thường nói vậy: “Yes or No”. Và những người nầy chỉ cần nói “No” là xong việc.
            Người vượt biên trở về thì khác. Khi tới đảo rồi, vì lý do riêng nào đó, họ tụ tập nhau mà trốn về. Trốn về, chớ không phải công khai xin về như thời gian sau nầy, khi tôi đang ở đảo.
            Điều buồn cười là trong khi dân Saigon muốn vượt biên gặp khó khăn biết bao nhiêu, nói không hết được, thì những người nầy, họ đi (vượt biên) và về (lại Việt Nam) “như đi chợ”. Chẳng hạn như anh chàng tôi nói sau đâu, tên Vinh, dân Trà Vinh, vượt biên tới đảo năm 1980, rồi trốn về, rồi lại vượt biên thứ hai năm 1989.
            Anh Võ Thế Long, người tôi đã nói ở phần trước, vượt biên đến đảo cũng là sự… tình cờ.
            Võ Thế Long, đại úy Cảnh Sát, cử nhân luật, thuộc phòng Cảnh Sát Quốc Tế (Interpol) của bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia trước 1975, kể cho tôi nghe việc anh vượt biên như sau:
            Sau mười năm ngồi tù gở mười cuốn lịch, năm 1986, sau khi ra tù, anh thay tên đổi họ, qua Kampuchia kiếm đường vượt biên, dưới cái vỏ bọc là người thợ máy, vì anh ấy tuy học luật nhưng mê… cơ khí.
            Làm việc trong một xưởng đóng tầu của người Miên, anh được lệnh chủ tầu chạy thử chiếc tầu mới đóng. Chạy thử  là chỉ chạy qua Thái Lan, tìm đường… buôn lậu.
            Thế rồi ông Long lái tầu chạy dọc theo bờ biển, cố ý cho tầu chạy quá biên giới Thái Lan – Mã Lai, để thăm dò, để chuyến sau đem vợ con đi theo, trốn thoát khỏi quê nhà.
Không ngờ tầu của anh bị tầu tuần Mã Lai bắt giữ, kéo về Terrenganu. Không có cách nào khác hơn, Long đành khai thật tên họ thay vỉ tên giả là Võ Văn Ri, cùng quá trình lý lịch và làm người tỵ nạn bất đắc dĩ. Long không còn đường về nước, để lại ra đi một lần nữa, đem vợ con theo, như ý định ban đầu.
            Ông Vinh thì lại khác, ông đã đến đảo, lại về, và lại đến đảo lần thứ hai.
            Lúc ấy tôi mới làm việc hơn một tuần lễ ở phòng SB. Một hôm, ông Trần Quốc Phụ trưởng ban “điều hành” (tôi không nhớ rõ tên của cái ban nầy), cầm một hồ sơ đưa cho tôi và bảo:
            – “Kê” (case) rắc rối đây. Anh xem hồ sơ trước rồi gọi lên điều tra cho thật kỹ.”
            Tôi nhận hồ sơ và nói “Vâng”.
            Xem lời khai sơ khởi. Đó là trường hợp ông Vinh, như tôi vừa nói ở trên. Tôi làm thông báo, gọi trên loa, để hôm sau anh ta lên phòng SB.
            Vinh lên đúng giờ. Do người hướng dẫn chỉ tay, anh ta đến thẳng chỗ tôi, chào. Hỏi tên xong, tôi biểu anh ta ngồi xuống trên cái ghế băng, đối diện tôi.
            Sau khi ngồi xuống xong, anh rút gói thuốc lá đặt lên bàn, mời tôi hút thuốc: “Mời thầy!” tôi nói “Cám ơn” nhưng không hút.
            Nhìn qua, tôi thấy anh ta là hạng người có của ở trên đảo. Áo sơ mi cổ nhỏ (mode thời ấy), quần tây, dép da thay vì dép cao sư như mọi người, thuốc lá Kent, quẹt gas, v.v…
            Tại sao anh ta gọi tôi bằng thầy? Đó là tiếng “thầy chú” như phong tục người miền Nam thường gọi các “thầy cảnh sát” hay viên chức làng nước. Té ra không phải. Anh ta lịch sự. Anh ở chung một longhouse với Tôn Thất Tường mà Tường là học trò cũ của tôi. Hôm tôi gặp Tường, Tường chào tôi, gọi bằng thầy, thì có anh ta đứng bên cạnh Tường.
            Tôi hỏi:
            – “Anh tới đây năm 1980?”
            – “Dạ, vâng!”
            Vốn tò mò, tôi hỏi tiếp”
            – “Anh thấy Bidong hồi đó và bây giờ khác nhau nhiều không?”
            – “Khác lắm thầy! Khác lắm.” Anh ta nhắc hai lần chữ khác làm tôi chú ý thêm.
            – “Khác như thế nào. Anh kể lại đi!” Tôi nói.
            – “Hồi đó không có khu nhà ở của Cao ủy ở bãi biển khu G. Sáng, họ từ trong đất liền ra làm việc. Chiều, họ lên tầu về trỏng. Task Force cũng không có. Chỉ có đồn Cảnh Sát Mã Lai, mấy ngoe. Đồn cũng ở chỗ bây giờ. Lúc ấy trên đảo khoảng bốn chục ngàn người, hồ sơ làm không kịp. Tầu Úc đậu ngoài cầu jetty cũ, bắt loa gọi ai muốn đi Úc thì xuống Tầu mà đi. Người ta kéo nhau xuống rần rần, đầy tầu thì nhổ neo, chẳng cần làm giấy tờ chi cả.”
            – “Đời sống khó khăn nên người ta muốn đi ngay?” Tôi hỏi.
            – “Cơm gạo, cá thịt thì không thiếu. Nhưng nhà ở thì không có!” Vinh trả lời.
            – “Sao không có?”
            – “Có dựng kịp đâu! Tầu thì tới mỗi ngày mà dân trên đảo đông lắm. Phần đông đi “bán chính thức”. Mấy chú Ba Tầu là nhiều nhứt. Họ giàu lắm, nên trên đảo có nhiều nơi bán hàng. Cửa hàng táo, cửa hàng trái cây, cửa hàng thịt, rau tươi… từ trong đất liền ra. Cũng là người Tầu Mã Lai đem bán cho người Tầu Chợ Lớn vượt biên. Cá thì người ta tự đánh lấy, không bị Mã Lai cấm như bây giờ.
            – “Nhà ở, longhouse chẳng hạn?” Tôi hỏi.
            – “Chỉ có hai ba longhouse gì đó ở khu A. Các khu B, C, D đều chưa có gì hết. Người ta tự dựng lều, dựng bạt lấy mà ở. Ai muốn dựng đâu thì dựng, kể cả ngoài bãi biển. Tối ra biển ngủ, lên núi ngủ, nằm ngữa mà xem trăng. Ai bắt cặp nhau cứ kiếm chỗ mà rù rì, chẳng ai cấm cản cả. Cũng giành gái, cãi cọ, quýnh lộn, đâm chém… Lộn xộn hết sức!” Anh ta than.
            – “Loạn!” Tôi nói.
            – “Đúng đó thầy. Thiệt là loạn.” Anh ta tiếp lời tôi.
            – “Bệnh hoạn thì sao?”
            – “Tự động kiếm thuốc mà uống, hoặc gởi mua. Hai ba bữa mới có bác sĩ từ trong đất liền ra. Chiều họ cùng về với Cao ủy.
            – “Có người chết?”
            – “Đôi khi thôi, cũng không đến nỗi. Năm truớc đó, có dịch tả, chết mấy chục, chôn trên sườn núi Bidong.” Vinh nói.
Đúng vậy, năm sau, nhân dịp ông trại trưởng Ngô Văn Thu, kêu gọi và khuyến khích đồng bào cũng như các đoàn thể sửa mồ mả không thân nhân trên đảo, tôi có tham gia.
Trên sườn núi, phía Cao ủy, chỗ đặt mấy bồn nước cũ, tôi thấy khoảng hơn chục ngôi mộ chôn kề nhau, có người nói đó là mộ những người chết vì trận dịch tả hồi đó.
&
            – “Quê anh ở đâu?” Tôi hỏi.
            – “Trà Vinh.” Anh ta trả lời, cộc lốc.
            – “Vượt biển, anh về quê?” Tôi lại hỏi.
            – “Tôi về ngay chỗ cũ.” Vinh trả lời.
            – “Về bằng cách nào? Dễ không?” Tôi hỏi.
            – “Bọn tôi tụ họp nhau 5 đứa, tìm cách về. Trước tôi khoảng nửa tháng, đã có ba bốn thằng về. Hồi đó ván ép trong đất liền chở ra để làm nhà, chất mấy đống ngoài bãi biển khu A. Tụi nó ăn cắp, vác ra sau núi Bidong, cưa đóng thành chiếc thuyền nhỏ, mũi nhọn, đít bằng, giống kiểu ghe đánh cá Thái Lan. Xong, tụi nó ăn cắp một cái máy Kohler gắn vào đuôi. Nửa đêm chúng nó ra biển. Ra quá một trăm mét, sóng đánh một phát, bể thuyền. Hú hồn, thuyền ra chưa xa, tụi nó bơi vào bờ được.” Vinh kể.
            – “Anh có nhớ tên mấy người đó không?” Tôi hỏi.
            – “Nhớ chớ! Thằng An, quê Rạch Giá, sau nó về với tôi. Thằng Khoe, quê Vĩnh Bình, sau cũng về với tôi. Còn một thằng nữa, sau đổi ý, không chịu về, đi Úc với con bồ. Thằng Lang thì hiện ở đây, đang chờ đi Úc.”
            – “Còn anh thì sao, tại sao về?” Tôi hỏi.
            – “Bọn tôi 5 đứa, đứa nào cũng có lý do na ná giống nhau. Đi với bồ qua đây, bị bồ đá, theo thằng khác, giàu tiền bạc hơn, buồn tình, bỏ về.” Vinh kể.
            – “Không lý do “chính chị chính em” gì cả?” Tôi hỏi.
            – “Chính “chị” gì đâu! Tôi đang làm ăn bình yên, vợ con đàng hoàng. Bỗng có con nhỏ đến rủ đi thì đi.”
            – “Sao dễ dàng vậy. Con nhỏ như thế nào mà nó nói một tiếng, anh bỏ vợ con theo nó. Nó có bỏ bùa không?”
            – “Bùa ngãi gì đâu! Vợ tôi thì quê mùa, lam lũ. Con nhỏ thì dân thành phố, đẹp lắm. Đẹp lắm thầy ơi! Tôi như người bị hớp hồn. Với lại nó nói hay lắm, hoàn cảnh nó tội nghiệp lắm! Cha mẹ anh chị nó ở Úc. Nó còn lại một mình, bơ vơ. Nếu tôi đi với nó là cứu vớt nó. Qua tới bển, ưng thì tôi ở với nó. Tôi không ưng thì nó về ở với cha mẹ nó. Tôi có thương vợ thương con thì lo cho vợ con qua sau. Dễ quá mà. Vậy là tôi làm anh hùng, cứu người đẹp…” Vinh vừa nói, miệng hơi cười.
            – “Người đẹp giữa rừng gươm… Dziệt Cộng!” Tôi đùa.
            – “Chớ chi!” Anh ta đồng ý.
            – “Ở quê anh vượt biên dễ không?” Tôi lại hỏi.
            – “Dễ lắm ông “thầy” à! Tiệm may tôi ở gần cửa sông, cách chưa tới trăm thước. Tổ chức đi đông, đón dân Saigon về mới khó. Còn như gia đình ở dưởi, kéo thêm một ít bà con để có tiền mua dầu thì khó gì đâu! Nghe nói định cư ở Úc, ở Mỹ sướng lắm nên người ta muốn đi. Bấy giờ Dziệt Cộng bắt vô hợp tác xã, nản lắm, nên người ta chán, đi cho xong” Vinh nói.
            – “Anh cũng muốn đi?” Tôi nói.
            – “Không, tôi đang làm ăn bình thường, may vá cũng có ăn. Mà tôi may quần tây đẹp lắm, nên đông khách. Đi là vì con ngựa cái đó.”
            – “Sao gọi người ta là con ngựa cái?”
            – “Nó xạo. Ba má nó đâu có ở Úc. Nó có chồng, bỏ chồng về nhà, bị cha mẹ nó mắng chưởi, nên nó muốn đi. Gặp tôi, nó nói xạo cho tôi xiêu lòng.” Vinh kể.
            – “Qua tới đây thì sao?” Tôi lại hỏi.
            – “Nó bỏ tôi chớ sao?” Vinh nói, giọng hơi to. Tôi ra dấu biểu anh ta nói nhỏ một chút. Các bàn chung quanh, người ta đang làm việc.
            - “Anh nghèo… tôi chỉ muốn cao sang!” Tôi nhại theo một câu hát.
            – “Tôi không nghèo ông “thầy” à. Tôi lận theo mấy cây vàng. Qua tới đây, tôi mở “cửa hàng táo” (bán apple, hàng từ đất liền chở ra). Tôi có để nó thiếu thốn gì đâu. Ông “thầy” biết, hồi đó, sau vụ “nạn kiều”, ba Tầu trên đảo đông lắm, bọn nó giàu lắm! Vậy là bọn nó bỏ tiền ra dụ dỗ mua chuộc mấy con ngựa cái. Tui có giàu cũng không bì kịp mấy Ba Tầu, bị chúng cướp mất vợ. Bọn con gái ham tiền, đạp đổ người cũ, theo người mới hết.”
            – “Vậy rồi anh làm gì?” Tôi hỏi.
            – “Tôi buồn tình, chán nản, không muốn gì nữa. Giờ mới thấy thương vợ, thương con, chỉ muốn về. Ngày ngày tôi lang thang, ra bãi biển ngồi, chỗ quán “Lup” bây giờ là bãi trống. Mấy đứa muốn về, biết tôi có tiền, tới rủ tôi về.”
            – “Tại sao lại phải có tiền mới về được?”
            – “Phải có tiền mua dầu, mua lương thực chớ!” Vinh giải thích.
            – “Mua dầu ở đâu?” Tôi hỏi.
            – “Hồi đó chưa có nhà máy điện như bây giờ. Ở đồn cảnh sát Mã Lai có cái máy điện nhỏ, khi nào Cao ủy ra làm việc, máy điện mới chạy. Đồng bào thì được phát dầu để thắp đèn. Nhiều người không thắp, những đêm có trăng ít ai thắp đèn. Dầu dư nhiều lắm, mua dầu là mua lại của họ.” Vinh nói.
            – “Lương thực thì mua trong đất liền? Phải không?”
            – “Không! Mì gói. Mì gói thì nhiều lắm. Cao ủy phát hàng ngày, ăn không hết.”
            Vinh kể tiếp:
            – “Tôi chi tiền, cũng không nhiều, mua dầu, đổ đầy mấy cái can nhựa, đem dấu trong mấy cái hốc đá ở quá bãi biển khu G. Nước ngọt cũng dấu ở đó, chờ ngày chôm được tầu là đi.”
            – “Bao lâu sau thì đi được?” Tôi hỏi.
            – “Có mấy bữa. Bữa đó có chiếc tầu từ Phước Tĩnh tới.  Tầu còn tốt lắm, máy cũng tốt. Để ăn chắc, nhằm giờ trưa vắng người, thằng An, thằng Lang giả bộ đi đánh cá, leo lên ghe coi thử. Xong, chúng tôi gặp nhau, bàn chuyện khuya nay sẽ đi. Chậm một hôm, sợ Mã ai kéo tầu vô đất liền mất. Tầu nào còn tốt, Mã Lai kéo vô đất liền; tầu cũ, Mã Lai nhận chìm luôn.
            – “Vậy là đi ngay tối đó?” Tôi nói.
            – “Dạ, quá nửa khuya, thằng An, thằng Khoe lẻn ra chiếc tầu đó, mở đỏi, chống ghe cho đi ngược lên bãi biển khu G. Thật ra, việc dễ lắm. Buổi tối, Cao ủy về đất liền. Hai ba cảnh sát Mã Lai thì ở trong đồn, đâu có ló mặt ra ngoài làm chi. Khi có chuyện chi đồng bào la lối dữ dội, họ mới ra. Thành ra việc trộm ghe dễ như chơi. Khi tụi nó chống ghe lên tới khu G, chúng bật hộp quẹt ra dấu, bọn tôi núp trong lùm cây, cũng ra dấu trở lại. Vậy là ghe tấp vô. Dầu, nước, lương thực chất lên ghe. Chống thêm một đoạn nữa cho ăn chắc, chúng tôi cho nổ máy, cứ nhắm hướng bắc mà chạy.” Vinh nói.
            – “Không la bàn, bàn đồ chi cả.” Tôi hỏi.
- “Cần chi! Hai ba thằng là dân đánh cá biển, rành đường lắm. Vã lại chúng tôi cũng có thấy một cái bản đồ vịnh Thái Lan, do đồng bào vượt biên, đem tới đảo. Cứ coi trong bản đồ, nhắm hướng bắc mà chạy thì về tới Việt Nam.
            – “Không sợ công an Dziệt Cộng?” Tôi hỏi.
            – “Làm sao chúng nó ngờ bọn tôi vượt biên mà về. Còn nói vượt biên đi cũng không được. Chúng tôi chỉ có năm ngoe. Ai lại vượt biên với năm ngoe như chúng tôi. Còn hỏi giấy tờ, chúng tôi nói ghe bị bão, mất hết. Ghe thì có số TH đàng hoàng. Ghe Phước Tĩnh mang số TH là Thuận Hải.”
            “Đêm đó chúng tôi vui lắm, khui bia “liên hoan”. Sắp về với gia đình vợ con rồi.” Vinh nói, vui vẻ.
            – “Tất cả có mấy người?”
            – “Năm, tụi tôi năm người. Tôi, thằng An, dân Rạch Giá, thằng Khoe, dân Vĩnh Bình, thằng Lang, cũng Vĩnh Bình, thằng Sức, Cà Mau.”
&
            “Đi đã ba ngày mà chẳng thấy chi hết. Chúng tôi chỉ sợ lạc đường. Nếu đi chệch về bên phải nhiều, ghe tôi có thể ra tuốt ngoài biển Đông. Đêm đó, đêm thứ ba, chúng tôi lại gặp một trận bão lớn, tưởng chết. May nhờ tụi nó đi biển rành, cứ cho ghe nổ máy, cưỡi lên sóng mà đi thì khỏi bị lật. Tắt máy mà cho sóng đập, ghe chìm như không.
            “Đến sáng ngày thứ tư thì biển êm, êm lắm. Trời nước xanh ngắt một màu đẹp lắm. Chúng tôi không biết chúng tôi đang ở đâu.
            “Bỗng thằng An la lớn:
            – “Hà Tiên kìa.”
            “Nó vừa nói vừa chỉ tay vào một đám mây ở xa. Chúng tôi hỏi cái gì đó. Nó nói: “Khói nhà máy ximăng Hà Tiên.”
            “Đó là một đám mây dài, từ phía dưới mặt biển trồi lên. Có chỗ khói hơi đen một chút, giống như mây buổi chiều sắp mưa giông.
            “Tôi hỏi, để cầm chắc, chớ tôi cũng đã từng thấy cột khói nhà máy ximăng Hà Tiên trước kia rồi.
            – “Chắc không?”
            – “Chắc mà!” An nói, xác nhận. “Tui đánh cá vùng nầy tôi rành lắm mà!”
            “Cả bọn, ai nấy đều mừng.
            “Bấy giờ có đứa đi tìm lò dầu, tìm mì gói, nước ngọt, làm mì, ăn cho no để về nhà.
            – “Vậy là vui há!” Tôi nói.
            – “Còn gặp xui, ông “thầy”. Chiều hôm đó, khi thấy rõ đất liền lắm rồi, không còn bao xa thì tầu của tôi bị gãy cốt máy. Cả tiếng đồng hồ sau, gặp chiếc thuyền đánh cá quốc doanh, mang số VT. Số VT là số tầu của Vũng Tầu – Côn Đảo. Thằng thuyền trưởng là một thằng Bắc kỳ 75 mất dạy. Nó cứ đổ riệt rằng chúng tôi vượt biên, tầu bị hỏng. Nó đòi tiền chớ có gì đâu! Dầu có bắt chúng tôi giao cho Công An, nó chẳng được mẹ gì đâu. Cuối cùng, chúng tôi gom lại, phần tôi bỏ ra là nhiều nhứt, gần chục cái khâu. Gần tối, chúng nó cho chúng tôi vào bờ, chỗ cuối dãy núi Hòn Chông, có cái ấp tên Rạch Đùng. Cách bờ khoảng năm chục thước, chúng nó bảo chúng tôi bơi vào. Tôi bơi yếu, phải ôm cái can nhựa, có thằng An và thằng Khoe bơi bên cạnh, đẩy tôi đi.
            Lên bờ, chúng tôi núp trong một cái hang đá, cởi quần áo phơi khô. Gần sáng, đang dự tính tìm đường về, thì gặp thằng bé người Miên, nó chăn heo đi ngang qua. Chúng tôi sợ thằng bé đi báo công an, nên mạnh thằng nào thằng đó lo giọt, thằng An về Rạch Giá, thằng Khoe về Vĩnh Bình.
            Tôi lội băng rừng, đi qua một cái đầm lớn, tôi nhớ người ta gọi là “Cà bây ngộp”, gần ấp Rạch Đùng, rồi tôi theo hướng ống khói nhà máy ximăng Hà Tiên mà về tìm đứa em bà con ở gần thị trấn nầy.
            – “Cà bây ngộp” là tiếng Miên, có phải không?” Tôi hỏi.
            – “Cà bây ngộp” tiếng Miên nghĩa là “Đầm trâu chết”. hồi xưa, lâu lắm, cả trăm năm, có trận dịch trâu. Trâu tìm về nơi cái đầm mà chết hàng trăm con, nên người ta gọi như dzậy.”
            – “Anh nói, em anh là em gái?” Tôi hỏi.
            – “Dạ! tôi có con em gái bà con nhà ở gần “cầu Cống Tre”. Chồng nó làm công nhân ở nhà máy. Về gần tới thị trấn Kiên Lương, tôi đi bọc phía sau trường học, đi băng qua khu cư xá công nhân rồi tới nhà nó. Nó hỏi tôi đi đâu về. Tôi nói tôi đi Cam-pu-chia tìm cách làm ăn. Nó cũng chẳng biết hay nghi ngờ chi cả. Ở nhà nó, tôi tắm rửa, giặt áo quần, ăn một bữa no nê, rồi ngủ một giấc ngon lành. Sáng hôm sau, tôi đón xe đò về Trà Vinh.”
            – “Về tới nơi, chính quyền biết gì không?” Tôi hỏi.
            – “Biết mẹ gì! Khi về ngang đồn công an, tôi còn huơ tay chào. Tụi nó còn hẹn cuối tuần đến nhậu chơi. Tôi cũng “OK”. Bể là tại tôi ngu.” Vinh nói.
            – “Bể là sao?”
            – “Bể là như dzầy! Khi còn ở Bidong, tôi ra chỗ bãi biển khu G, chỗ có mấy cái ghềnh đá, chụp hình gởi về Trà Vinh, giựt “le” với bà con chơi. Ai ngờ tụi công an, khi thấy thơ từ Bidong gởi về, bèn mở ra “kiểm tra”. Dzậy chúng nó mới biết tôi vượt biên chớ! Gần tối, chúng nó tới nhà bắt tôi về đồn điều tra tôi “vượt biên” theo đế quốc Mỹ. Hôm sau, công an huyện đem xe xuống chở tôi lên, lại điều tra. Không phải điều tra tội vượt biên.” Vinh khai.
            – “Không tội vượt biên thì tội gì nữa?” Tôi hỏi.
            – “Tội làm xịa, là CIA. Tụi nó nói, tôi vượt biên qua Bidong là để liên lạc làm xịa. Rồi nó hỏi lung tung.” Vinh nói.
            – “Hỏi lung tung là hỏi cái gì?” Tôi lại hỏi.
            – “Chúng nó hỏi qua Bidong liên lạc với ai? Thằng Mỹ nào? Thằng Mỹ đó tên gì? Học khóa nào? Nó dạy cho tôi cái gì? Cách theo dõi bộ đội, công an Dziệt Cộng như thế nào? Khi về lại Việt Nam liên lạc với ai? Người đó hiện ở đâu? Làm gì? Cách tiếp xúc với nhau như thế nào? Hòm thư chết như thế nào? Ở đâu?” v.v…
            – “Anh có trả lời được không?”
            – “Trả lời được cái chi? Có biết chi mà trả lời. Bây giờ có phòng “Ét-Bi” chớ hồi đó có ai thèm hỏi tới mình đâu!”
            – “Dzậy rồi chúng nó làm gì anh?” Tôi hỏi.
            – “Làm gì à? Nó “quýnh”. Nó “quýnh” trời đất ơi là nó “quýnh”. Cứ sau nửa đêm là chúng nó gọi lên điều tra. Dzậy rồi nó “quýnh” cho tới sáng. Sáng thì cho về.”
            – “Sợ không?” Tôi hỏi.
            – “Sợ lắm ông “thầy” ơi! Gần nửa đêm là thấy lo. Nghe nó kêu tên là lạnh người.” Vinh kể.
            – “Nó “quýnh” như thế nào?” Tôi hỏi.
            – “Nó “quýnh” đủ kiểu ông “thầy” ơi!” Vinh khai.
            – “Tầu bay? Tầu lặn?” Tôi hỏi.
            – “Tầu gì cũng có hết, không thứ nào thiếu!” Vinh nói.
            – “Tui nghĩ những “món ăn chơi” đó chế độ cũ mới có chớ!” Tôi nói.
            – “Ông “thầy” đâu có kinh nghiệm bằng mấy người cùng chung tù với tôi. Người ta nói Dziệt Cộng bây giờ cái chi cũng khoa học và hiện đại, tài giỏi hơn chế độ cũ. Cái chi cũng ưu việt, tài giỏi. Tra khảo tài giỏi hết sẩy!”
            Tôi cười, làm thinh.
            Vinh nói tiếp:
- “Càng lên cao chúng nó “quýnh” càng dữ”.
            – “Càng lên cao là sao?” Tôi lại hỏi.
            – “Là huyện đưa lên tỉnh, tỉnh đưa lên Bộ Nội vụ 2. Tới đâu, tôi cũng chỉ có một cách!”
- “Cách gì?” Tôi hỏi.
- “Quì xuống sát đất mà lạy. “Tôi lạy mấy ông. Tôi lạy mấy ông. Tôi không có làm chi hết. Tôi không có biết chi hết. Tôi chỉ bỏ vợ bỏ con đi với con bồ mà thôi. Tôi lạy mấy ông!”
- “Tui nó tin anh không?” Tôi hỏi.
- “Tin chớ! Nhưng phải hơn một năm sau mới tin. Thấy tôi cứ một mực “không biết chi hết”, nên tụi nó cũng phải “xác minh lại”.
- “Xác minh cái gì?”
- “Cũng may! Trước đó, tôi biết địa chỉ con nhỏ ở Trà Vinh. Tôi biết địa chỉ thằng cha ba Tầu già lấy nó ở Chợ Lớn. Tôi khai ra cho chúng nó xác minh. Xác minh xong thì chúng nó chỉ hỏi quá trình mà không đánh nữa.”
- “Tụi nó biết anh bị bắt oan không?”
- “Tội vượt biên thì không oan, nhưng tội làm tay sai cho “Xịa đế quốc Mỹ” thì oan.”
            – “Oan thì cho về! Mấy năm thì về?”
- “Bảy năm mới về đó ông “thầy”. Oan mà dzậy đó. Không oan thì chắc “mút mùa Lệ Thủy” luôn. Nhưng cái tôi hận không phải chỗ tụi nó nghi tôi.
- “Nghĩa là sao?” Tôi hỏi.
- “Tụi nó có quyền nghi, có quyền bắt. Nhưng oan mà giam lâu quá nên khi tôi về, thì vợ tôi đi lấy chồng khác, con tôi bị gởi về ở với bà nội nó. Phải chi thấy oan, tụi nó cho tôi về sớm thì gia đình tôi không đến nỗi tan nát như dzầy.”
hoànglonghải


Nguồn: http://vantuyen.net/2014/12/15/hoanglonghai-beo-giat-17-vuot-bien-tro-ve/

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Thơ gởi thủ tướng Canada yêu cầu mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973




Thư gửi Thủ Tướng Canada yêu cầu mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973



Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam

33 Panorama 95800 Cergy – France – ltqvina@gmail;com – Tél. 01 3422 1861

Kính thưa Ngài Thủ Tướng Canada Stephen Harber,

Trích chiếu: Lời kêu gọi cho quyền Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam.

Kính thưa Thủ Tướng,
Đã hai lần, bức màn sắt rủ xuống Việt Nam.

Lần thứ nhất, tháng 8, 1945, đảng cộng sản Việt Nam đã áp lực
Vua Bảo Đại thoái vị khi nhà Vua vừa thu hồi độc lập hoàn toàn cho quốc gia sau khi quân đội chiếm đóng Nhật Bản đầu hang Đồng Minh. Tiếp theo, chiến tranh Việt Nam, thường được gọi là chiến tranh Đông Dương vì lan qua Cam Bốt và Lào, chấm dứt với Hiệp Định Giơ-Neo ngày 20 tháng 7, 1954, chia đôi nước Việt Nam thành hai phần Nam Bắc, ranh giới ở vĩ tuyến 17. Thay vì thành lập một chế độ dân chủ đặng cho dân chúng tham gia tổng tuyển cử thống nhất đất nước chiếu theo Hiệp Định, cộng sản Bắc Việt đã thiết lập một chế độ độc tài kiểu Staline, nhận chìm Miền Bắc Việt Nam trong một biển máu với hơn một trăm nghìn nạn nhân qua một cuộc cải cách ruộng đất dã man,
dài nhất trong lịch sử ( 1953-1956).

Gần một triệu người Miền Bắc kinh hoàng đã phải nắm lấy cơ hội đầu tiên do Hiệp Định Giơ Neo cung ứng để vào Nam, tạo thành một cuộc di cư quan trọng nhất chưa từng xẩy ra trong lịch sử nước này. Nhưng cộng sản Việt Nam vẫn chưa thỏa mản tham vọng quyền lực , chuẩn bị ráo riệt cuộc chiến thứ hai với mục tiêu cuối cùng: thôn tính Miền Nam, bành trướng qua Lào và Cam Bốt.Vì vậy, hiệp ước vãn hồi hòa bình đầu tiên đã bị nhanh chóng vi phạm, lôi cuốn dân tộc Việt vào tấn thảm kịch thứ nhì,sẽ kéo dài hai thập niên nữa:1956-1975!

Lần thứ hai, ngày 30 tháng tư 1975, chúng hoàn tất cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, dẫm nát Hiệp Định Paris ngày 27 tháng giêng 1973 “ chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình ở Việt Nam” và Văn kiện cuối cùng ( Acte final) ngày 2 tháng 3, 1973 mà chúng đã ký cam kết dưới danh xưng Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với mười một chính phủ khác – Pháp,Hoa Kỳ, Anh quốc, Nga Sô, Trung Cọng, Gia –Nã –Đại, Ba lan, Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam VN), Nam Dương, Hung -Gia -Lợi, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ( công cụ của cộng sản Bắc Việt, bị chúng giải tán sau khi thôn tính Miền Nam VN) – với sự hiện diện của Tổng Thư Ký Liên hiệp Quốc, “cam kết bảo đảm chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền quốc gia căn bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam, và đóng góp cùng bảo đảm nền hòa bình ở Đông Dương………”

Và vì vậy, từ gần bốn mươi năm nay, nhân dân Việt Nam tưởng niệm ngày bi thảm 30 tháng tư 1975, ngày từ đấy xứ sở của họ đã trở thành một nhà tù vĩ đại làm nhớ đến nhà tù – goulag – Nga Sô của hai thập niên năm mươi, sáu mươi thế kỷ trước. Sau khi “ giải phóng “ Miền Nam, non 500.000 người Miền Nam VN, công chức, quân nhân, y sĩ, ký giả, nhà văn, tu sĩ, của “ chế độ củ” bị tống giam trong khoảng một trăm trại giam mạo danh trại “cải tạo”, nơi mà hàng ngàn người đã chết vì kiệt sức, tra tấn, hành hạ. Thời gian giam giữ lao động khổ sai trung bình từ tám đến mười năm nhưng người chiếm kỷ lục dài hạn là ông Nguyễn Hữu Cầu mới được trả tự do sau ba –muơi - bảy năm tù ! Đứng bên cạnh ông, người tù nổi tiếng Nelson Mandella chỉ là một bóng mờ.

Cùng lúc, ở ngoài các trại giam, người dân nào cũng có thể bị đánh đập, bắt bớ, giam cầm vì bất cứ lý do nào, dù chỉ nói lên một lời bất đồng ý kiến với một chính sách của chính phủ, của đảng cộng sản, hay một sự trưng dụng đất đai mà không bồi thường thỏa đáng.
Hàng ngàn vụ như vậy vi phạm trầm trọng các nhân quyền và dân quyền căn bản đã bị các nạn nhân, các tổ chức bảo vệ nhân quyền tố cáo với các chính phủ dân chủ trên thế giới, với Liên Hiệp Quốc, và gần đây với Hội Đồng Nhân Quyền nhưng thật là trớ trêu tột cùng, Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng vừa vào an tọa chính thức trong chiếc ghế của họ trong Hội Đồng ! Sự trả tự do cho vài công dân bị kết tội một cách phi pháp và đã bị giam cầm nhiều năm chỉ nhằm xoa dịu dư luận quốc tế trong lúc sự đàn áp gia tăng khắp nước. Ai có thể tin rằng những người Việt yêu nước biểu tình chống hành động xâm chiếm của Trung Cọng – chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay – lại bị ngay chính quyền đương hành trừng trị nghiêm khắc ?

Quả thật là quá đáng ! Một chính sách khủng bố của Nhà Nước như vậy phải được chấm dứt.Gần khắp nơi trong nước, từ bắc chí nam, nông dân và thị dân, thợ thuyền và trí thức, sinh viên trẻ và cán bộ già cộng sản thức tỉnh,tướng lãnh và sĩ quan hưu trí và thất vọng của Quân Đội Nhân Dân VN, các tu sĩ Phật giáo, Công giáo,Tin Lành, Hòa hảo, Cao Đài, tất cả đều cùng nhau đòi hỏi tự do và dân chủ. Toàn dân Việt Nam nhất quyết hơn bao giờ cả tranh đấu giành lại quyền dân tộc tự quyết thiêng liêng từ tay lãnh đạo cộng sản và sẳn sang chấp nhận mọi hy sinh. Họ dư biết rằng phải đổ máu mới được tự do. Nhưng họ không bao giờ quên rằng các quyền lực kể trên của thế giới này còn nợ họ sự thực hành lời cam kết trong Hiệp Định Paris “ bảo đảm sự tôn trọng các quyền căn bản của dân tộc Việt Nam, kể rõ: nền độc lập, chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam cùng quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam ……!

Một sự cam kết cần phải luôn luôn nhắc lại vì đấy chính là một hiệp ước quốc tế không bị vô hiệu hóa bởi thời gian (prescription par le temps- statute of time limitation) và Hiệp Định Paris nói riêng không thể xem là xưa củ ,lỗi thời ( caduc – lapsed ) vì sự đề kháng kiên trì không ngưng nghĩ của dân chúng Việt Nam trong nước và ở hải ngoại suốt các thập niên qua chống lại bạo quyền cộng sản xâm lược, tố cáo chúng công khai vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris 1973.

Quả vậy, mọi hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng, qui luật căn bản của luật pháp quốc tế, nếu không được áp dụng thì thế giới của chúng ta chắc chắn sẽ bị phó mặc cho hổn độn, bất ổn kinh niên, cho lý lẽ của kẻ mạnh áp đảo kẻ yếu đối với cá nhân cũng như các dân tộc.

Kính thưa Thủ Tướng,
Được biết Ngài là một trong những nhà lãnh đạo hiếm hoi cùa thế giới, binh vực các dân tộc bị áp bức đổng thời là đại diện một quốc gia quan trọng ký kết Văn kiện cuối cùng ( Acte final) của Hiệp Định Paris 1973, nên với tư cách Quốc – Vụ -Khanh trong Nội Các của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã ký kết hai văn bản ghi trên, và thay mặt cho dân tộc khốn khổ chúng tôi, tôi thành khẩn thỉnh cầu Ngài can thiệp mạnh mẻ với các vị lãnh đạo các chính phủ đồng ký Văn kiện cuối cùng đặng thi hành sự cam kết bảo đảm quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam gồm có, như HĐ và Văn kiện xác định: tổng tuyển cử tự do, dân chủ đặng quyết định thể chế chính trị cho quốc gia, thống nhất xứ sở, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các quyền căn bản của công dân.

Xin Ngài Thủ Tướng thể nhận nơi đây sự tôn kính và lòng tri ân sâu xa của dân tộc Việt Nam chúng tôi.

Pháp Quốc, ngày 1 tháng 12, 2014

TM. Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam
Chủ Tịch






Lê Trọng Quát
Quốc-Vụ-Khanh Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa Đệ Nhị
Chủ Tịch các Ũy Ban Nội Vụ, Quốc Phòng Quốc Hội VNCH Đệ Nhất
Hội Thẩm Viện Bảo Hiến VNCH Đệ Nhất


(Ba Cây Trúc)
Reply With Quote

Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=31980

Phụ bản

Hiệp định Paris 1973

Văn thư lưu trữ mở Wikisource
HIỆP ĐỊNH CHẤM DỨT CHIẾN TRANH
LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM

 Các bên tham gia Hội nghị Pa-ri về Việt Nam,
Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hòa bình ở châu Á và thế giới,
Đã thảo luận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây:
 http://vi.wikisource.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Paris_1973