Trần Gia Phụng (Danlambao)
- Chiều Thứ Ba 27-3-2018, tại Hội đồng Thành phố Toronto, 100% nghị
viên hiện diện (38/38) đã bỏ phiếu chấp thuận đề nghị thượng kỳ Cờ Vàng
Ba Sọc Đỏ tại Kỳ đài quảng trường Nathan Phillips ở City Hall Toronto
ngày Thứ Bảy 28-4-2018 nhân dịp Tưởng niệm Quốc hận 30-04 từ năm nay.
Đề nghị nầy do Thị trưởng John Tory cùng nghị viên Chin Lee đưa ra, đáp
ứng nguyện vọng của đại đa số người Việt tỵ nạn cộng sản chẳng những ở
Toronto, mà cả trên toàn Canada và trên toàn thế giới, vì lá cờ nầy là
di sản tinh thần thiêng liêng và là biểu tượng của người Việt tỵ nạn
cộng sản hải ngoại sau năm 1975.
Xin kính mời quý vị đồng hương tham dự đông đảo LỄ CHÀO CỜ VIỆT NAM CỘNG
HÒA tại CITY HALL Toronto trong lễ Tưởng niệm Quốc hận vào lúc 12 giờ
trưa ngày THỨ BẢY 28-4-2018. Nhân dịp nầy, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại
nguồn gốc lá cờ Việt Nam Cộng Hòa tức CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.
*
Xin bắt đầu từ năm 1945 là cột mốc quan trọng xoay chiều lịch sử Việt
Nam. Vào năm nầy, trên thế giới, thế chiến thứ hai đi vào tàn cuộc. Đức
thất bại ở Âu Châu và đầu hàng vào tháng 5-1945, trong khi Nhật vẫn còn
chiến đấu ở Á Châu.
Riêng tại Việt Nam, Nhật Bản mở cuộc hành quân Meigo ngày 9-3-1945, đảo
chánh Pháp tại Đông Dương. Nhật tuyên bố trao trảo độc lập lại cho Việt
Nam. Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) công bố bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày
11-3-1945. Nhà vua mời học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ. Chính phủ
Trần Trọng Kim chính thức ra mắt ngày 17-4-1945, gồm các bộ theo lối Tây
phương, nhưng đặc biệt không có bộ Binh, hay bộ Quốc phòng hay bộ An
ninh.
Một trong những việc làm đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim là chọn
quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ theo hình quẻ “ly”, một trong tám
quẻ của bát quái. Quẻ “ly” gồm ba sọc song song, trong đó hai sọc ngoài
(ở hai bên) là hai sọc thẳng, còn sọc ở giữa cách khoảng với nhau.
Sau khi Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima (6-8-1945) và
Nagasaki (9-8-1945), Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945. Quân đội Nhật tại
Đông Dương phải hạ khí giới và rút vào trong các đồn bót của mình để
chờ quân đội Đồng minh đến giải giới.
Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Binh hay bộ Quốc
phòng để giữ gìn trật tự an ninh. Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh
(VM), lúc đó gồm khoảng 5,000 đảng viên, (Philippe Devillers, Histoire
du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris Éditions du Seuil, 1952, tr. 182) liền
lợi dụng cơ hội thuận tiện, nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội và đánh
điện yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.
Vua Bảo Đại được đại sứ Nhật ở Huế hứa giúp đỡ, dùng lực lượng Nhật còn
lại ở Đông Dương, để dẹp tan VM, nhưng lo ngại nội chiến xảy ra, người
ngoài sẽ lợi dụng, nên nhà vua không chấp nhận đề nghị của đại sứ Nhật,
mà đồng ý thoái vị ngày 25-8-1945.
Lúc đó vua Bảo Đại cũng như đa số dân chúng Việt Nam chưa biết Hồ Chí
Minh là cộng sản, và nếu có biết, cũng chưa hiểu bản chất của đảng Cộng
Sản. Hồ Chí Minh ra mắt chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
ngày 2-9-1945, gồm đa số là đảng viên cộng sản. Chính phủ nầy chọn Cờ đỏ
sao vàng là cờ của mặt trận Việt Minh làm quốc kỳ.
Khi nắm được quyền lực, Hồ Chí Minh, Mặt trận VM và đảng Cộng Sản Đông
Dương (CSĐD) gia tăng việc khủng bố, giết hại, thủ tiêu hàng trăm ngàn
người không đồng chính kiến ở tất cả các cấp, từ trung ương xuống tới
địa phương, làng xã trên toàn cõi Việt Nam. Làm như thế, Việt Minh gọi
là giết tiềm lực, nghĩa là giết tất cả những thành phần có tiềm năng gây
nguy hiểm cho Việt Minh về sau.
Trong khi đó, thi hành tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, Trung Hoa và
Anh dẫn quân vào giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương. Trung Hoa (lúc đó
do Quốc Dân Đảng cầm quyền) giải giới ở phía bắc vĩ tuyến 16 và Anh
giải giới ở nam vĩ tuyến 16 (ngang Tam Kỳ, Quảng Nam).
Khi quân Trung Hoa vào Việt Nam, các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng
(Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) lâu nay ở
Trung Hoa, cũng về theo. Tại miền Nam, khi quân Anh đến Sài Gòn, quân
Pháp cũng đi theo, tái chiếm miền Nam và kiếm cách tiến quân ra Bắc.
Lúc đó, Hồ Chí Minh và VM rất bối rối, vì phải đối phó với nhiều thế lực
cùng một lúc: Quân Pháp, quân Trung Hoa (Quốc Dân Đảng), Việt Quốc,
Việt Cách. Hồ Chí Minh nhượng bộ, tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Đông
Dương ngày 11-11-1945 (thực tế là lui vào hoạt động bí mật), thành lập
chính phủ Liên hiệp ngày 1-1-1946, tổ chức tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt
Nam ngày 6-1-1946, tức giả vờ hòa giải hòa hợp nhằm yên lòng những đảng
phái theo chủ nghĩa dân tộc.
Mặt khác, để rảnh tay đối phó với tất cả những thành phần đối lập không
cộng sản ở trong nước, Hồ Chí Minh và VM liền ký thỏa ước Sơ bộ ngày
6-3-1946 với Pháp, chính thức hợp thức hóa sự hiện diện quân đội Pháp ở
Việt Nam.
Không thể để bị tiêu diệt mãi, vì nhu cầu sinh tồn, những người theo
khuynh hướng chính trị dân tộc không cộng sản quy tụ chung quanh cựu
hoàng Bảo Đại, và chẳng đặng đừng tạm thời liên kết với Pháp chống lại
VM cộng sản. Năm 1948, đại diện ba miền đất nước cùng về Sài Gòn thành
lập Chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam ngày 23-5-1948 do ông Nguyễn
Văn Xuân làm thủ tướng. Chính phủ chính thức ra mắt ngày 1-6-1948.
Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ
do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ
do đại diện Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị. Cuối cùng lá cờ do
đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại đơn
giản, không phức tạp.
Ngày 2-6-1948, thủ tướng Xuân công bố lá quốc kỳ mới hình chữ nhật,
chiều ngang bằng hai phần ba chiều dài, nền vàng giống như cờ của Trần
Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau và cách
đều nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ.
Ý nghĩa thứ nhất là ba sọc ngang của lá cờ tượng trưng cho sự thống nhất
ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước, trên nền vàng
tượng trưng nền tảng của quốc gia Việt Nam. Nếu lá cờ năm 1945 của Trần
Trọng Kim thừa tiếp lá cờ long tinh có từ thời vua Khải Định (trị vì
1916-1925), thì lá cờ hình thành năm 1948 lại thừa tiếp truyền thống lá
cờ của Trần Trọng Kim, về hình thức, màu sắc, và cả về lý tưởng chính
trị, đó là lý tưởng quốc gia, đối nghịch hẳn với cờ đỏ sao vàng của Hồ
Chí Minh.
Ý nghĩa thứ hai, lá cờ nầy tượng trưng cho khuynh hướng chính trị mới
lúc đó (1948) ở khắp Bắc, Trung và Nam Việt Nam. Đó là khuynh hướng
chính trị dân tộc độc lập, chống lại sự đô hộ của Pháp, nhưng ở thế
chẳng đặng đừng phải liên kết với Pháp, để chống Việt Minh cộng sản.
Việt Minh cộng sản nguy hiểm trực tiếp hơn là thực dân Pháp. Khuynh
hướng nầy càng rõ nét khi cựu hoàng Bảo Đại ký hiệp định Élysée ngày
8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol, thành lập chính thể Quốc
Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng. Hiệp định Élysée chính thức giải
kết hiệp ước bảo hộ năm 1884 và trao trả độc lập lại cho Việt Nam.
Ý nghĩa thứ ba là tính tự do dân chủ của chính thể mà lá cờ tượng trưng.
Ngay từ đầu, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã trưng cầu ý dân về hình thức
lá cờ. Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ (đã viết ở
trên). Sau đó, đại diện dân chúng tự do chọn lựa một trong các mẩu vẽ,
chứ không phải là lấy lá cờ của một tập đoàn thiểu số rồi áp đặt trên ý
dân như cờ đỏ của cộng sản. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị
được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp.
Vận mệnh của CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ thăng trầm theo vận mệnh của đất nước.
Sau chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam do ông Nguyễn Văn Xuân làm
thủ tướng, chính phủ Quốc Gia Việt Nam tiếp tục chọn lá Cờ vàng Ba sọc
đỏ làm quốc kỳ. Lá Cờ vàng tung bay trên toàn lãnh thổ Quốc Gia Việt
Nam, từ Nam Quan xuống tới Ca Mau.
Khi Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh ngày 7-7-1954, nước Việt Nam bị
chia hai do hiệp định Genève ngày 20-7-1954. Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn
định tình hình miền Nam Việt Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày
23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống.
Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956. Trong khi xây dựng hiến pháp,
quốc hội cũng đã bàn chuyện tuyển chọn quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có
mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết
nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. (Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc
từng ngày, California: Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 200.)
Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới trên toàn miền Nam. Có tất cả
350 mẩu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị. Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập
hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẩu quốc kỳ và bài hát nào
hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ
làm biểu tượng quốc gia. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 203.)
Như thế, LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ đã được chọn lựa qua nhiều đề nghị, nhiều
thảo luận, nhiều ý kiến, nhiều thử thách, chứng tỏ lá cờ nầy mang đầy đủ
ý nghĩa nhất để tượng trưng cho chế độ tự do dân chủ trên quê hương của
chúng ta.
Năm 1975, sau khi cộng sản tạm thời cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, nhiều
người bỏ nước ra đi. Những người may mắn đến được bế bờ tự do, xây
dựng cuộc sống mới. Họ mang theo trong tim mình toàn bộ hình ảnh quê
hương, gia đình, bạn bè, và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân
chủ tự do, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là LÁ CỜ VÀNG BA SỌC
ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam, rồi sau đó của Việt Nam Cộng Hòa.
Khi ra nước ngoài, người Việt tiếp tục giữ gìn biểu tượng thiêng liêng
của tổ quốc. Trong tất cả các buổi sinh hoạt đều có lễ chào cờ địa
phương và chào Cờ vàng Ba sọc đỏ. Từ đó Cờ vàng Ba sọc đỏ trở thành biểu
tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại. Rõ nét nhất là mỗi
lần sinh hoạt cộng đồng hay hội họp ở đâu, Ban tổ chức chỉ cần treo một
lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ là người Việt biết địa điểm và tìm đến tham dự.
Cộng đồng người Việt dần dần lớn mạnh và tạo thành một thế lực cử tri
quan trọng. Nhiều tiểu bang, nhiều thành phố ở Hoa Kỳ chính thức thừa
nhận LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là BIỂU TƯỢNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN
CỘNG SẢN.
Hiện nay, ở hải ngoại, lá cờ của nhà nước cộng sản Việt Nam chỉ được
treo tại các tòa đại sứ và các tòa lãnh sự của cộng sản mà thôi. Ở bên
ngoài các cơ sở ngoại giao cộng sản, hoàn toàn không có bóng dáng lá cờ
cộng sản.
Trong khi đó, CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ, tuy tạm thời không còn chính phủ, lại
tung bay rợp trời ở khắp nơi trên thế giới, vòng quanh quả đất. Dầu phải
bôn ba khắp bốn phương trời và không bị ai thúc đẩy hay bắt buộc, đâu
đâu người Việt Nam ở hải ngoại cũng tự động giương cao LÁ CỜ VÀNG BA SỌC
ĐỎ. Hành động tự động đồng bộ của người Việt khắp trên thế giới chứng
tỏ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là lá cờ của lòng người, sáng ngời CHÍNH NGHĨA,
đời đời bất diệt.
Xin kính mời đồng hương Toronto và vùng phụ cần đến tham dự đông đảo lễ
chào cờ Việt Nam Cộng Hòa vào lúc 12 giờ trưa Thứ Bảy 28-4-2018 tại CITY
HALL Toronto trong buổi Tưởng niệm Quốc hận năm nay.
Dời
ơi, việt cộng cứ tức điên lên được khi cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH ngạo
nghễ tung bay khắp nơi trên thế giới, VNCH chưa chết mà chúng nó sợ cứ
muốn chôn đi, bởi ám ảnh sự bùng phát trổi dậy của Dan chủ Tự do và Nhân
quyền; còn mác lê cs đã chết từ hồi việt cộng lúp xúp chạy theo KTthi
trường mà nó cứ hà hơi tiếp sức vô vọng. Thời của sản còn bao lâu. Hoan
nghênh Quân Dân Cán Chính VNCH khắp năm châu.
Hôm nay bà không khoẻ hay không được vui vì mọi hôm bà thường
khẽ mở mắt, cố gắng bật lên lời chào: "Về nhá!". Bà yên
lặng. Trí óc Bà đang bay bổng vào nơi nào đấy, không còn nhận
thấy sự hiện hữu của ông trong phòng.
Ông bước ra cầu thang máy, bấm mã số để xuống tầng dưới nhà.
Ra vào khu nhà dưỡng lão, hay lên xuống cầu thang máy, người ta
phải biết xử dụng mã số, tránh người bệnh già đi lang thang
vào các nơi mà y tá chịu trách nhiệm không thể nào tìm ra.
Nhà dưỡng lão có hai tầng. Mỗi tầng đều có nhà ăn riêng, rộng
rãi, lịch sự. Chỉ người già còn khả năng tự đi hay lăn xe
đến, tự chọn và thưởng thức món ăn. Còn những người yếu hơn, y
tá sẽ đem đến từng phòng. Mỗi người già có phòng riêng với
một nhà tắm rộng để nhân viên hàng ngày có thể đem máy tắm
vào. Tắm và mát xa là điều rất cần cho người già ít còn khả
năng di chuyển vì hệ tuần hoàn yếu và da đã bị lão hóa, máu
đưa dưỡng chất để da hấp thụ ngày càng kém.
Trời đã xâm xẩm tối khi ông bước ra ngoài. Giáng sinh đúng vào
mùa hè ở Úc, nóng và khô nên đi bộ về nhà không khổ cực lắm,
chỉ khoảng dăm phút. Mùa đông gió rét và ẩm ướt khiến không
ai muốn đi ra ngoài trời.
Vài năm trước, ông đã lái xe tông vào một gốc cây khiến hai vợ
chồng đều bị đưa vào bệnh viện. Cảnh sát tiểu bang đã thu hồi
bằng lái của ông già. Mất một niềm vui tự do lái xe đi nơi
này, nơi kia, ông chỉ dựa vào vài người bạn còn lái được xe
hay chuyên chở công cộng, và đi bộ.
Mùa hè, trời tối, làn không khí mát đang len vào thay cái nóng
khô rát của buổi chiều. Chỉ còn một mình, thui thủi bước
trong bóng tối trở về nhà, một cảm giác lạnh lẽo của cô đơn
như mọi ngày qua lại ập đến bên ông.
Hai vợ chồng được chính phủ Úc cấp một căn nhà nhỏ, khang
trang, mới được xây cất. Hai ông bà cùng trải qua năm tháng sống
gần nhau trong căn nhà. Mỗi lần đi đâu về nhà, ông vẫn quen nghe
tiếng chân bà chậm rãi bước ra cửa, tiếng bà cất lên: "Toa về
đấy à?". Bây giờ chỉ bóng tối, sự yên lặng lạnh lùng chờ đợi
đón ông về nhà.
Khi bà sớm bắt đầu hội chứng mất trí nhớ, ông vẫn giữ ở nhà
để chăm sóc. Cách đây nhiều tháng bà bị té nặng, sau đó không
còn khả năng tự ăn uống hay vệ sinh cá nhân... Ông cũng nhận ra
ở tuổi quá 80, ông không còn khả năng chăm sóc được ai nữa,
buộc lòng phải đưa bà vào khu dưỡng lão.
Mỗi chiều vào khu dưỡng lão thăm vợ, không phải để "rửa rội"
như ông đùa. Ông muốn thăm vợ để gần gũi với hình bóng đã gắn
bó với ông hầu như cả cuộc đời, để đút bà ăn, để có người
nghe chuyện mình kể. Mặc dù ông không biết bà có hiểu gì không
vì bà thường chỉ trả lời lại bằng một điệp khúc rất đơn
giản: "Thế à...".
Càng lớn tuổi người ta lại sống gần với kỷ niệm. Già dễ quên
chuyện mới xẩy ra nhưng lại nhớ chuyện thời trẻ, thời niên
thiếu và luôn cần người để nghe mình kể chuyện. Cuộc đời của
ông quá nhiều chuyện phong phú để kể, nó gắn liền với tình
yêu, với quê hương, với dân tộc. Tối nay cũng như những tối
khác, từng bước chân âm thầm để trực giác tự hướng về căn nhà
nhỏ, trí nhớ ông như cuốn phim đang chậm rãi quay lại những
chuyện "không bao giờ quên"...
2. Tổ quốc-Danh dự-Trách nhiệm:
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh(*)
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hang khi vị ngộ.
(Nguyễn Công Trứ )
Cambodia, mùa hè 1972,
Buổi sáng sớm, sương mù vẫn còn trãi dài trên khu rừng cao su
Mimot, Nam Kratie, Cambodia. Núi rừng bao la luôn là nơi ẩn náu
lý tưởng của mọi loài động vật. Dưới các tàng cây rậm rạp,
các lán trại lẩn khuất trên một diện tích khá rộn khiến trực
thăng dù bay sát ngọn cây cũng không nhìn ra. Đấy là binh trạm
nơi trú quân của bộ đội Cộng sản Bắc Việt. Nơi đây cũng là
trại giam quân nhân VNCH, tù nhân thuộc mặt trận phía Đông. Họ
bị bắt ở vùng Lộc Ninh, An Lộc trong trận chiến “Mùa Hè Đỏ
Lửa” tháng tư 1972.
Trong không gian yên tĩnh bỗng vang lên tiếng kẻng báo động tập
họp. Các tù nhân bị bộ đội Bắc Việt cầm súng, quát nạt, lùa
vào khu đất trước nhà ăn. Các người tù bị ra lệnh xếp ngồi
xổm và nghiêm trên mặt đất. Sau những tiếng ồn ào, tất cả yên
lặng. Các người tù không dám nói gì, chỉ trao đổi với nhau
bằng ánh mắt: "Chuyện gì đây? Bọn chúng tỏ vẻ sắt máu như
chuẩn bị giết ai!".
Chỉ Huy trại giam vóc dáng nhỏ bé, bước ra trước toán bộ đội
đang đứng thẳng với các nét mặt cứng và lạnh lùng như bọn
người máy, ông ta lên giọng kiểu cách như các lần rao giảng
chính trị:
- Các anh bị bắt vào đây, Đảng và Nhà nước đã có chính sách
khoan hồng, đối xử nhân đạo, cho các anh ăn uống đầy đủ, học
tập cải tạo tư tưởng… Các anh phải hiểu rõ luật lệ của trại,
chấp hành nghiêm chỉnh. Nhưng… Nhưng vẫn có người ngoan cố, lợi
dụng sự lơ là, tự do của trại giam đã trốn khỏi trại. Trại
giam quân Giải phóng, một con cá, một con tôm chưa thoát khỏi
lưới huống hồ một tù nhân. Chỉ vài tiếng đồng hồ thoát khỏi,
kẻ trốn trại đã bị toán truy đuổi bắt lại và anh ta đang
đứng kia…
Chỉ Huy trại giam đưa tay về phía người tù vừa trốn trại. Cả
đám tù nhân quay đầu nhìn về phía sau. Ánh sáng buổi sớm mai
soi rõ bóng dáng cao của một người tù đứng dưới một gốc cây.
Cổ, tay, chân của ông đều bị xiềng bằng dây xích. Đứng áp bên
cạnh hai bộ đội cầm súng. Cả đám tù nhân sửng sốt, không
ngừng được:
- Anh Dương đã bị bắt lại đêm qua. Có thể anh ta bị xử bắn ngay
tại chỗ nhưng Đảng và Nhà nước ta rất dân chủ. Kẻ có tội
được đưa ra trước các anh và được xét xử công khai. Các anh
được cho phép phát biểu ý kiến... Chúng tôi phải xử tội anh
Dương như thế nào?
Ông Dương đang đứng thẳng trong bộ quần áo đầy bùn đất, trước
các đồng ngũ VNCH, đã bị quân Bắc Việt bắt trong trận Lộc Ninh
vào mùa hè đỏ lửa 1972. Mặc cho phiên toà bỏ túi đang diễn
ra, trí nhớ của ông quay lại. Không phải quay lại những thước
phim êm ả mà nó giận dữ, cuồng nộ như xích sắt của những chiếc
thiết giáp bám đầy bùn đang xoay tròn trên mặt đất... Đấy là
quang cảnh khói lửa mịt mù của ngày 4 tháng tư 1972, ông còn
là Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 1 quân lực VNCH, đang đóng tại
đồi Lộc Tấn, tiền đồn bảo vệ Lộc Ninh...
Rất nhiều bài viết về trận đánh Lộc Ninh, bắt đầu từ 4/4/1975
đến 7/4/1975. Nhiều người có chuyên môn quân sự ở đủ mọi phía,
phân tích theo cách nhìn riêng từng cá nhân, về sự thất bại
của quân đội VNCH, đã không bảo vệ được quận lỵ nhỏ ở cuối
cùng đường mòn HCM. Nhưng đơn giản, dễ hiểu cho người không cần
đến kiến thức quân sự, hãy nghĩ đến truyện phim hình sự rất
đơn giản:
Người chủ nhà trở về, mở cửa bước vào nhà. Một kẻ vô lại,
chuyên nghề trộm cướp, đã lên kế hoạch, chờ sẵn trong bóng tối
với vũ khí. Hoàn toàn bất ngờ, hay lắm người chủ nhà chỉ
tránh sao cho cú đập trí mạng không làm mình gục ngã hoàn
toàn. Lộc Ninh là cú đập trí mạng mà BCT đảng CSVN cùng Võ
Nguyên Giáp… đã bàn thảo, lên kế hoạch vô cùng tỉ mỉ, đưa vào
chiến trường các nhân vật chủ chốt như Phạm Hùng, Ủy viên BCT,
tướng Hoàng Văn Thái, tướng Trần Văn Trà... cùng hàng ngàn
quân thuộc Công trường 9 quân Bắc Việt. Các võ khí hiện đại
nhất của Liên Xô và Trung cộng như đạ̣i pháo 130 ly, dàn phóng
hoả tiển 122 ly, súng chống tăng B40, B41, và lần đầu tiên quân
Bắc Việt đã đưa vào chiến trường hàng trăm các chiến xa T54,
PT76... Áp dụng chiến thuật "công đồn, đả viện", quân Bắc Việt
đánh mạnh vào Lộc Ninh. Hàng vạn quân Bắc Việt cũng đã bố
trí dầy đặc súng phòng không, súng chống tăng... ở các đường
cứu viện từ Lộc Tấn, An Lộc,… lên Lộc Ninh.
Sau khi hay tin chi đoàn 3/1 thiết giáp bị phục kích trên đường
tiếp viện Lộc Ninh, Trung tá Dương chỉ huy chi đoàn 2/1 còn lại
của Thiết đoàn 1, kéo từ Lộc Tấn lên tiếp cứu. Dù tránh
được ổ phục kích, nhưng khi giao tranh dữ dội trong rừng cao su,
xe tăng chỉ huy của ông bị bắn cháy. Thoát hiểm nhờ đồng đội
cứu, trung tá Dương chỉ còn hai chiếc xe tăng M41 lê lết về Lộc
Ninh.
Lộc Ninh đã thất thủ. Chỉ huy Chiến đoàn 9/Sư đoàn 5 quân đội
VNCH, đại tá Nguyễn Công Vĩnh bị bắt. Trung tá Dương và đồng
đội còn lại, tuy mở đường máu thoát vào rừng nhưng cuối cùng
cũng chung số phận vào ngày hôm sau 7/4/1972. Khi bị trói tay,
không nhìn đến kẻ địch đang quát tháo, hạch hỏi, ông chỉ đưa
mắt đã khô rát nhìn lên trời. Có ai hiểu sự đau đớn khi chỉ
vừa nắm chỉ huy thiết đoàn vỏn vẹn 21 ngày, thiết đoàn đã tan
tác, bao nhiêu sinh mạng chiến sĩ đã hy sinh, bao nhiêu gia đình
với những người vợ, người con đã mất mát, không còn nhìn thấy
mặt chồng, mặt cha? Ai hiểu cảm giác người chiến sĩ kỵ binh
khi chiến xa mình bị bắn cháy, như người kỵ mã vuốt nhẹ đầu
con ngựa mình yêu quí đã bị gẫy chân?
Theo đúng chỉ thị từ TW đảng CS, mọi quân nhân VNCH bị bắt trong
trận Lộc Ninh bị đưa về giam ở rừng cao su Mimot, Cambodia. Trại
giam có khoảng 5 láng, chia ra láng cấp tá, láng cấp úy... Tất
cả tù "quân nhân Ngụy Quyền Miền Đông" được đối xử rất tử tế
so với tù cải tạo của quân cán chính miền Nam VN sau 30/4/1975.
Lý do dễ hiểu vào năm 1972, đảng CSVN rất cần món hàng tù
binh… Rất cần để mặc cả trên bàn "đàm phán hoà bình" đang
diễn ra ở Paris.
Chỉ có một điều không đúng bài bản đảng đưa ra trong chiến
cuộc khủng khiếp "Mùa hè đỏ lửa" là trận An Lộc. Quyết chiếm
thị trấn hiền lành, nhỏ bé An Lộc bằng mọi giá để làm lễ
ra mắt chính quyền do đảng chỉ định: "Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam". Một cố gắng tô son điểm phấn cho bên của mình tại
hoà đàm: "Chẳng lẽ Mặt trận không làm chủ được một thành phố
Miền Nam nào? Thế có được bao nhiêu dân miền Nam thuộc phe
mình?". Hy sinh hàng ngàn sinh mạng các bộ đội trai trẻ miền
Bắc vào lò lửa chiến tranh, Cộng sản vẫn không làm sao chiếm
được An Lộc. Một thành phố đang an bình bổng trở thành địa
ngục, chỉ còn các căn nhà đổ nát, xác người và máu. Thằng
chuyên vừa ăn cướp, vừa la làng đã lộ rõ mặt chuột để đấu tay
đôi với chủ nhà ở phòng khách giữa ban ngày ban mặt. Nhìn rõ
mục tiêu của thằng vô lại, người chủ nhà không còn bị động,
mọi việc đã hoàn toàn khác. Không chiếm được An lộc là một
thất bại vô cùng ê chề, nhục nhã của Cộng sản Bắc Việt trong
cuộc chiến "Mùa hè đỏ lửa 1972".
Trong trại giam có tổng số khoảng 300 tù nhân thuộc quân đội
VNCH. Tất cả trong trạng thái bồn chồn, lo lắng, ngồi nghe chỉ
huy trại giam kể tội chiến hữu của mình. Họ lo ngại đưa mắt
nhìn lẫn nhau, như trao đổi: "Chắc ông ấy bị xử bắn để răn đe
mọi người". Không sợ hãi, một người tù mạnh bạo đứng phắt
lên, dõng dạc:
Những cửa sắt các toa tàu đóng lại, các tiếng vang rền của
các thanh sắt va chạm mạnh, liên tục nối tiếp nhau. Đoàn tàu
sắt rùng mình từ từ chuyển mình. Đấy là chuyến tàu đặc
biệt, không có một toa hành khách nào chỉ là các toa tàu chở
hàng kín mít, mỗi toa chỉ có một lổ thông gió nhỏ. Theo lệnh
Trung Ương đảng CSVN, đây là chuyến tàu đầu tiên đưa ra Bắc những
tù nhân đã có chức vụ trong chính quyền Miền Nam và đang "học
tập cải tạo".
Sau ngày 30/4/1975, qua nhiều tháng bị giam và lao động tại trại
Suối Máu, ông và bạn tù đã được lệnh chuyển trại. Họ được
đưa lên xe bít bùng từ trại giam về lại Sài Gòn. Trở về Sài Gòn
trong xe tù, ông đưa mắt nhìn cảnh vật quen thuộc mình đã sống
và không khỏi ngậm ngùi. Ông trở về Sài Gòn, rất gần gia đình
nhưng cũng như xa cách nghìn trùng. Gia đình các tù nhân không
hề hay biết việc di chuyển tù và không ai biết sẽ bị đưa đi
đâu? Trước mắt là sông Sài Gòn quen thuộc đấy nhưng trong lòng
các người tù như quặn đau. Phía trước thật mờ mịt, thật u ám,
một chia ly như một hứa hẹn mãi mãi xa cách.
Xe tù ngừng ở Tân Cảng. Trời chưa sáng nhưng đèn ở bến cảng
sáng choang soi rõ một con tàu đã neo sẵn chờ bốc "hàng": tàu
Sông Hương. Các người tù được lệnh xuống xe, ôm trong lòng túi
đồ cá nhân. Tất cả được lệnh ngồi xuống đất theo tư thế ngồi
nghiêm. Họ lặng lẽ nhưng những ánh mắt câm nín nhìn nhau đã
nói lên tất cả cùng một tâm trạng của người tù: "Em và các
con... Lúc này, em và các con chắc đang ngủ say. Đâu có biết
rằng anh đang ngồi đây, gần nhà chúng ta lắm. Gần lắm nhưng mà
sao lại thấy xa vời vợi và sẽ còn xa nữa... có thể là xa mãi
mãi. Các anh như đang đi vào nơi gió cát, trên chiếc tàu hướng
về một nơi vô định...!".
Có lệnh lên tàu. Từng người tù hốc hác lầm lũi theo hàng một
nối nhau bước lên cầu tàu. Gọi là "cầu tàu" cho ra vẻ, thực
sự chỉ là mấy tấm ván chông chênh, không thành vịn, người tù
nào không cẩn thận sẽ té nhào. Trước khi đứng dậy bước theo
các bạn tù, Ông cúi xuống, hôn và lấy tay xoa nhẹ trên mặt đất
khô cứng, sần sùi bụi cát của kho Bến Cảng: "Em và các con ở
lại... Giã biệt Sài Gòn... Giã biệt em và các con!".
Thành phố Vinh, Bến Thủy, buổi chiều tối, không gian tê tái, ảm
đạm giống như trong các chuyến tàu chở các tù nhân Do Thái đi
trại tập trung Auschwitz thời Thế chiến thứ hai. Để giữ bí mật
trong việc chuyển tù, chuyến tàu sắt đậu ở một bãi đất hoang
vắng cạnh bờ sông. Những Công An đồng phục màu "củ khoai lang"
nhưng nét mặt lạnh như thép như những hung thần lính SS Đức
Quốc Xã, tay cầm súng, sẵn sàng nổ súng bắn chết bất kỳ tù
nhân nào. Các sĩ quan Công An CS, quân hàm đỏ như máu trên cổ
áo, vừa chỉ tay, vừa hò hét ra lệnh. Tiếng còi tu huýt thi
nhau rít lên, tiếng sủa thị uy của đàn chó Berger, vang dội
trên nền các bánh xe sắt nghiến trên đường ray, tiếng cửa sắt
của toa tù đóng mạnh, các tù nhân tiều tụy, áo quần xơ xác đã
bị dồn lên hết các toa tàu. Sau khi tù nhân đã lên tàu, trước khi
đóng và khoá cửa, Công An quăng mỗi toa tù một thùng khoai lang
luộc: tiêu chuẩn ăn cầm hơi cho chuyến hành trình. Con tàu ngục
tù với các toa sơn màu xám, ken két rời kho bãi. Con tàu chạy
về trại tập trung, lò thiêu xác hay là gì khác? Không ai biết!
Nhưng chắc chắn nơi chốn tù mới sẽ nghiệt ngã hơn rất
nhiều.
Mỗi toa tàu cho tù nhân chỉ có một lỗ thông hơi, thông khí cho
khoảng 75 tù nhân trong mỗi toa. Các tù nhân thay nhau đứng trước
lỗ thông hơi thưởng thức một chút hơi gió. Có tất cả khoảng
10 toa tàu ngục tù trong chuyến ra trại giam tập trung phía Bắc
lần đầu này.
Tàu chạy thẳng không ngừng ở bất kỳ trạm nào... Các tù nhân
vẫn còn ngỡ ngàng, hoàn toàn không biết gì nơi chốn mình sẽ
đến. Một vài tù nhân thoáng nhìn qua lỗ thông hơi, thì thào:
"Tàu có lẽ đang chạy qua Thanh Hoá... Rồi Ninh Bình... Thời
tiết âm u lắm...".
Nhiều người tù có lẽ mệt mỏi, dựa vào lưng nhau hay thành tàu
nghỉ ngơi. Ông lặng lẽ nhìn qua lỗ thông hơi. Trời đã về chiều.
Đột nhiên ông bật người lên. Ánh đèn... Phải ông không nhầm, ánh
đèn của cầu Long Biên. Tuy ánh đèn nhợt nhạt hơn xưa và cầu
đã mất một nhịp, ông không bao giờ quên. Kỷ niệm thời thơ ấu
vùn vụt quay trở lại. Nơi đây ông đã lớn lên. Có những buổi
chiều ông cùng bạn bè vui đùa, cùng nhau chơi đá banh trên bãi
cát Phúc Xá, hoặc bơi lội trên sông Hồng. Những lúc nghỉ ngơi,
cả bọn cùng nhau ngồi, chia nhau vài mẩu bánh, nhìn phía cầu
Long Biên, nơi những ánh đèn xe liên tiếp chạy nối theo nhau trên
cầu. Ông thở dài. Ông đã trở lại Hà Nội. Trở lại nơi chôn dấu
bao kỷ niệm đẹp nhưng với tâm trạng thê lương của một người
tù.
Khi ông báo mọi người tàu đang chạy qua Hà Nội, nhiều người
háo hức muốn biết Hà Nội như thế nào? Có lẽ tất cả thất
vọng: "Thủ đô của kẻ chiến thắng, kẻ huyênh hoang giải phóng
không chỉ miền Nam mà cả thế giới, lại như thế này sao?". Hà
Nội không còn những cô thiếu nữ tân thời, vui tươi, tình cảm như
một thời lãng mạn xa xưa của Khái Hưng. Hoàn toàn rập khuôn
như Cộng sản Tàu, chỉ còn đây những thiếu nữ nét lầm lì,
khắc khổ, tóc thắt bím, đồng phục màu rêu bộ đội, đang lọc
cọc đạp xe trên các con đường lồi lõm. Hà Nội không còn thanh
lịch với 36 phố phường ngày xưa của Thạch Lam. Qua 30 năm, khung
cảnh Hà Nội vẫn y như thời Pháp thuộc nhưng đã lâu không được
chăm sóc, mọi thứ trở nên già nua, cũ kỹ hơn. Những căn nhà u
ám, tường vôi tróc ra nham nhở, mái nhà rêu phong, cột điện siêu
vẹo... Hà Nội đã trở thành một bà lão già ủ ê, mệt mỏi và
chán chường.
Qua Hà Nội, không khí ngột ngạt của toa tàu với quá nhiều tù
nhân khiến có người bị ngạt thở. Lan, một người bạn rất thân
thiết của ông lên cơn xuyển. Thân thể gầy yếu của Lan cong lên,
cố hớp lên ít dưỡng khí hiếm hoi trong toa tàu. Mọi người la
hét để xin cứu cấp, nhưng chỉ nhận được các báng súng đập
mạnh cùng tiếng hét lạnh lùng "Yên lặng… Làm loạn chúng tôi
bắn...". Đau đớn quá! Lan, người quân nhân đã cùng ông chia bùi
xẻ ngọt như người thân trong một gia đình khi cùng chiến đấu ở
các vùng địa đầu giới tuyến Gio Linh, Quảng Trị, Huế... đã
trút hơi thở cuối cùng. Trung tá Bùi Đình Lan, một người nho
nhã, dáng thư sinh, giỏi ngoại ngữ, đã từng làm việc trong Ủy
Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến. Bây giờ ông chỉ còn một
hình hài ốm yếu nằm bất động trên sàn tàu khô khan và lạnh
lùng. Vài người tù lặng lẽ đứng nghiêm đưa tay lên chào vĩnh
biệt. Linh hồn TT Lan đã vượt ra khỏi chuyến tàu ngục tù trước
khi nó đến được ga cuối để quay trở về nhà: "Em và con thương yêu
có còn yên bình để chờ Anh, chờ Bố trở về?"
Mười năm sau này, người tù cải tạo Nguyễn Đức Dương, được tha
trở về Sài Gòn, ông tìm gặp được L, vợ Trung tá Lan, đang ở tạm
nhà người quen. Sau khi chồng bị tù tập trung, căn nhà duy nhất
của gia đình bị "cách mạng" tịch thu để cấp cho cán bộ, bà L
và bốn con bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Sống khổ sở và lây
lất vùng đất khô cằn sỏi đá, bà L và bốn con phải phân tán,
lén lút trốn về thành phố, vô gia cư, không hộ khẩu, cũng như
không được liên lạc, không tin tức về người chồng, người cha bị
tù… Bẵng đi một thời gian sau đó, ông rất vui khi biết vợ và
bốn con của Trung tá Lan đã vượt biên và được định cư ở Mỹ.
Ông mất liên lạc. Tất cả chỉ còn trong kỷ niệm vô cùng sâu đậm
của tình bè bạn, tình chiến hữu trong chiến tranh và ngục
tù.
Gần sáng chuyến tàu ngục tù đến vị trí đã định, lại một nơi
đồng không mông quạnh với xa xa bóng dáng đồi núi chập trùng,
một vùng ngoại ô phía Bắc Yên Bái. TW Đảng CS đã ra chỉ thị,
phải đưa tất cả sĩ quan, viên chức lãnh đạo trong chính quyền
VNCH ra các tỉnh biên giới phía Bắc học tập cho tốt. Đi "học
tập" ở các tỉnh càng gần Trung quốc, nước anh em "môi hở răng
lạnh" càng chắc ăn, Đảng và chính quyền càng yên tâm.
Trong 75 người trên toa tàu của ông, chỉ 73 người trong toa tàu
xuống ga. Còn hai người tù vẫn nằm lại trên khoang tàu. Họ đã
tự chuyển qua một chuyến tàu khác, chuyến tàu ly biệt giữa
sống và chết để đi về cõi vĩnh hằng.
Các chiếc xe Molotova cùng công an tay lăm lăm súng ống chờ sẵn.
Cộng sản VN học tập được rất nhiều từ Đức quốc xã, cũng như
Stalin nên tất cả diễn ra đúng bài bản của một trại tù tập
trung. Tù nhân lại bị xô đẩy lên các xe tải. Xe ì ạch chạy qua
các con đường quanh co, lồi lõm, lên đồi, xuống dốc...
Viên trưởng trại giam, mặt nhợt nhạt như bị sốt rét kinh niên,
vừa nói vừa nghiến răng như thú dữ: "Các anh được tự do chọn
các gốc cây nghỉ ngơi. Các anh phải tự dựng nhà để ở. Gạo,
sắn, ngô nếu trại có sẵn sẽ cung cấp cho. Các anh phải tự làm
việc để trồng cây lương thực, tự cải thiện buổi ăn. Các anh
thích tự do nên chúng tôi cho các anh tự do để tự sinh tồn trong
điều kiện hoang dã nhất. Nhưng... chúng tôi điều hành trại này
cũng có qui luật riêng cho tự do của các anh. Ở đây là rừng,
rất xa làng dân, xa thị trấn, các anh không thể nào có khả năng
để thoát thân. May lắm thoát qua được biên giới cũng bị trả
về chịu tội thôi. Luật quan trọng nhất của trại các anh phải
luôn luôn nhớ: bất kỳ người nào trốn trại... chúng tôi sẽ bắn
chết không thương tiếc. Chúng ta đang ở trong rừng, rất kín.
Trong rừng nên luật lệ trong đây cũng là luật của nó. Đừng mơ
tưởng điều gì khác!".
Những người tù bắt buộc phải làm quen cuộc sống tù tội mới.
Ăn uống thiếu thốn và phải chiến đấu cái rét như cắt da của
núi rừng Yên Bái, nhất các người tù chỉ quen nắng ấm trong
miền Nam. Những đêm đầu tiên không quen khí hậu, các loại côn
trùng, muỗi mòng, không ai ngủ được. Bắt đầu một cuộc chiến
mới với sự khắc nghiệt của nhà tù tập trung kiểu CS để sống
còn.
Một đêm trời mưa nặng hạt, chạy tìm chỗ tránh mưa, ông nhìn
thấy một thùng phuy có lẽ dùng đựng nước. Trời tối lại mưa
gió, không có ai chung quanh, ông lật ngang thùng phuy, chui được
đầu và thân vào. Hạnh phúc quá! Không còn các hạt nước mưa
bắn vào đầu vào cổ, ông ngủ quên đi lúc nào. Một giấc ngủ
ngon trong đời tù tội. Trời sáng, thức dậy, ông không cựa quậy
gì được. Tay chân ông như bị buộc vào một cái gì đó. Cuối
cùng ông nhận ra ông đang nằm trong thùng phuy, không phải thùng
chứa nước mà thùng chứa hắc ín cũ. Chất nhựa đường còn it́
lại trong thùng bám chặt vào người. Ông phải cởi áo, cởi
quần, hy sinh vài mảng tóc để thoát thân. Cả đám tù nhân nhìn
ông đứng tênh hênh, cùng cười hô hố, chúc mừng ông đã có giấc
ngủ ngon trong cái thùng phuy đạt tiêu chuẩn năm sao! Nếu cán bộ
không để ý, các tù nhân sẽ "cải tạo" thùng phuy để thay phiên
trú ngụ.
Ngày tháng qua đi, những thân thể còm cõi của người tù hàng
ngày đưa các cây đã đốn ngã về dựng lên mái nhà tạm bợ để
tránh mưa nắng. Trong hoàn cảnh nghiệt ngã con người lúc nào
cũng phải cố gắng ngoi lên để sống còn. Không biết bao nhiêu tù
nhân đã không thể vượt qua, ngã gục vì bệnh, vì đói, vì buông
suôi, không còn thiết tha gì cuộc sống tù tội. Một nơi nào
khác với cõi địa ngục này, có lẽ họ sẽ tìm thấy hạnh phúc?
May mắn ông vẫn chống chọi được bệnh tật, đói rét, tiếp tục
sống còn...
Vài năm sau… cuộc sống tù đày như khá hơn vì người tù như đã quen cái
lạnh, cái đói, các cơn sốt rét... Trại đón thêm các tù mới từ Nam ra.
Một ngày ông được tập thể đề nghị lên chức, chức "anh nuôi".
Không phải nuôi người mà nuôi lợn, nuôi heo cho cán bộ, nói tắt
là nuôi "heo cán bộ". Tuy là con người nhưng tù nhân không được
cán bộ trại giam quan tâm như heo cán bộ: "Lợn cho thịt để ăn,
bán còn được tiền!". Heo mập tròn ỉnh, tù ốm như bộ xương, là
định luật trại tù tập trung CS. Đúng tiêu chuẩn chức vụ quan
trọng "tù nuôi heo cán bộ", ông được cấp một con dao, vào nơi
trồng chuối, chặt cây chuối, vác về, thái ra làm thức ăn cho
lợn.
Ông không dám mang một trái chuối nào về trại. Cán bộ trại
giam CS tuy ngu dốt nhưng có bản năng đánh hơi chuối chín còn hơn
bất kỳ loại thú rừng nào! Thôi bạn tù cứ đè ông ra mà hít
hà mùi cây chuối trên người ông đã vác trên vai. Không được ăn
thì ngửi mùi hương cho đỡ nhớ! Một hạnh phúc thứ cấp, có
còn hơn không!
Sau mười năm dài trong trại tù Yên Bái, ông được thả ra về địa
phương quản lý. Sau hai năm được xum họp gia đình, thường xuyên
viết báo cáo, kiểm điểm hành vi với chính quyền địa phương,
ông được trao trả quyền công dân. Chính quyền địa phương hớn hở
làm buổi lễ long trọng để trao bằng công dân nước CHXHVN với đủ
các màn trình diễn để tuyên truyền như Chủ tịch đọc diễn văn
ca ngợi sự phấn đấu để trở thành công dân tốt, Bí Thư Đảng ca
ngợi nhờ Đảng soi đường nay địa phương có thêm một công dân
tốt... Nhưng chỉ một ngày hôm sau tại trụ sở công an địa phương
nơi ông ở, Trưởng Công an trên tay cầm điện báo của công an Bến
Tre, đã không cầm được câu chửi thề: "Đ M… Vừa mới khen là “công
dân tốt”, nay lại phạm tội vượt biên trái phép rồi!".
Riêng ông, ước mong được sống trong một xã hội tự do dù bất cứ
nơi nào ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi hay Bắc cực, Nam cực. Nhưng
vận may vẫn chưa đến! Sau một đêm ngâm mình dưới nước biển
lạnh cóng cùng những thanh niên khác dùng tay đào, kéo cát...
để cứu chiếc tàu vượt biên đã bị mắc cạn vì tàu đụng phải
hàng đáy. Nhưng trời đã sáng tỏ, đám công an biên phòng tỉnh
Bến Tre đã tỉnh giấc, lù lù xuất hiện. Số phận lại đưa ông
vào một "châu", không phải một châu lục khác trên thế giới. Tuy
cũng là "châu" nhưng ở trong lãnh thổ Việt Nam: Châu Bình. Trại
tù Châu Bình, một trại giam khét tiếng nghiệt ngã của tỉnh
Bến Tre dành cho "tù vượt biên". Tại trại tù khổ sai này, "Công
dân tốt" được Đảng và nhà nước chiếu cố, ông được bồi dưỡng
làm "nghiên cứu sinh" thêm hai năm về đề tài "các loại tù dưới
chế độ CS". Không hiểu sao, học tập dài đăng đẳng và khổ cực như
thế, Nhà nước CS lại vờ vịt, quên khấy đi, không cấp cho ông
bằng tiến sĩ "ngục tù Cộng sản"?
Nước Úc, quê hương tự do mới,
Vào năm 1990, nhờ thân nhân bão lãnh, ông và vợ đến bến bờ tự
do: nước Úc. Với hai bàn tay trắng, Ông phải làm thêm đủ các
nghề như dạy lái xe, thông dịch viên... Dù qua tuổi 60, được
hưởng trợ cấp cựu chiến binh như cựu binh Úc, ông vẫn có niềm
vui đi làm thêm.
Chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến gây nhiều chia rẽ trong xã
hội Úc. Nhiều quân nhân Úc tham chiến tại Việt Nam khi trở về
quê hương không được chào đón như các cựu quân nhân trong thế
chiến thứ Nhất, thứ Hai. Nhưng qua đấu tranh không mệt mỏi của
cựu binh Úc, cùng làn sóng tị nạn Cộng sản của người Việt,
sự sụp đổ chế độ Cộng sản Âu Châu,... mọi người dân Úc cuối
cùng đã nhận thức ra sự thật. Họ tổ chức các buổi vinh danh
các cựu binh Úc tham dự chiến tranh Việt Nam. Cả nước Úc tổ
chức hàng năm trận chiến Long Tân, xem như một chiến thắng lịch
sử của quân đội Úc trước quân đội Bắc Việt tại Việt Nam. Đồng
thời nước Úc vinh danh cả người lính VNCH, những đồng minh
cùng chiến đấu cho lý tưởng tự do ngày nào cùng người lính
Úc, nay cùng được hưởng qui chế cựu quân nhân Úc, Australian
Veterans. Ngày ANZAC hàng năm, các cựu binh Úc cũng như cựu binh
VNCH cùng khoác tay nhau diễn hành trên các đường phố lớn ở
các thành phố lớn nhất nước Úc: Camberra, Sydney, Melbourne,
Brisbane... Đây không phải là điều đem lại lợi ích vật chất cho
người lính. Quan trọng hơn tất cả, đấy là một vinh dự to lớn,
một phần thưởng tinh thần vô cùng quí giá cho người đã chiến đấu
vì "Tổ quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm".
Khi được hỏi tại sao ông không quyết định đi theo các cố vấn Mỹ
di tản vào năm 1975, ông hóm hỉnh: "Mình đã cãi nhau với nó
suốt ngày. Đi theo để cãi nhau tiếp à?". Không! Những người cố
vấn Mỹ, ông vẫn xem là những người bạn tốt, vẫn thư từ hỏi
thăm qua lại. Quyết định không di tản vì ông vẫn cảm thấy trách
nhiệm một người lính, vẫn ở vị trí chiến đấu, không thể bỏ
lại bè bạn trong giây phút cuối cùng của trận chiến?. Đi hay ở
lại đến phút cuối, một quyết định khó khăn, tùy theo suy
nghĩ, hoàn cảnh của mỗi người.
Mỗi buổi tối trở về nhà, ông thường thức rất khuya, ngồi trên
máy tính đọc thư của bạn bè ở mọi nơi, đọc các bài viết về
chính trị, quân sự của Việt Nam và thế giới. Đấy là niềm vui
nhỏ còn lại cho một người đã lớn tuổi. Một người cũng như bao
người Việt khác, cuộc sống đã trải qua những thăng trầm nghiệt
ngã nhất trong lịch sử của đất nước đầy máu lửa, đầy hận
thù. Vì thế cứ vào những ngày tháng Tư hàng năm, dịp ông gợi
nhớ lại những ngày tháng chiến tranh, ngục tù, những chiến
hữu ngày xưa nay đã xa, hay đã rất xa...
Cả một thời tuổi trẻ đã chiến đấu trong cuộc chiến khốc liệt
với hàng triệu người chết, chiến đấu trong ngục tù CS với
hàng ngàn người tù bỏ mình nơi hoang dã, ông có may mắn còn
sống, và sống một cách đàng hoàng trong một quốc gia cùng một lý
tưởng TỰ DO. Ông không giàu có, không có biệt phủ, không tiêu tốn
hàng tỉ đồng vào cờ bạc, ăn chơi bời như các tướng tá Cộng
sản tại VN hiện nay, nhưng ông vẫn có niềm vui riêng, hạnh phúc
riêng trên một đất nước tự do, hạnh phúc. Vượt trên tất cả là
một điều kì diệu gần như không tưởng, nước Úc quê hương mới đã
mở rộng vòng tay đón nhận ông, một người lính đã chiến đấu
cho TỰ DO. Nước Úc, đất nước tự do và nhân quyền bình đẳng cho
mọi người, mọi di dân... Không có "phản động", không có "thế
lực thù địch", không có tôn giáo "quốc doanh", không thần thánh
hoá lãnh tụ, không đặc quyền cho "đảng viên", không cần lò củi để
thiêu “tham nhũng”, trong giáo dục không có đảng viên bắt cô giáo
quì gối… Xin cám ơn nước Úc: "Chúng ta dù có khác... Chúng ta vẫn
là một...". Ngày nào mọi người Việt được tự do thực sự, không còn phân
biệt đảng phái, chính trị,... cùng hát bài ca tương tự như bài quốc ca
thứ hai của nước Úc.
Trong
số các nội dung được đồng ý, có việc tiến hành trao trả tù nhân trong
vòng 60 ngày, đồng thời với toàn bộ các lực lượng Hoa Kỳ sẽ rút khỏi
Việt Nam trong cùng thời gian này.
Hiệp định cũng nêu việc sẽ lập lại hòa bình trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa bằng một kỳ tổng tuyển cử.
Vào
cuối tháng 3/1973, phóng viên BBC Michael Charlton đã phỏng vấn Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu về quan điểm của ông đối với cuộc chiến, đối với
đất nước, nhân dân và cả về đối thủ của ông, những người cộng sản. Di sản cự̣u Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu Thăm quê cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu Việt Nam Cộng Hòa và những định mệnh xui xẻo
Ông Thiệu trực tiếp trả lời bằng tiếng Anh trong cuộc phỏng vấn diễn ra tại phòng làm việc ở Dinh Độc Lập.
TT Thiệu: lãnh đạo con rối hay là người quyết đoán?BBC: Ông đã ngồi ở vị trí này được khá lâu rồi. Ông có thích công việc này không? TT Thiệu: Có, tôi thích. BBC:Ông thích nó ở những điểm nào? TT Thiệu:
Tôi thích công việc của mình không phải bởi nó trao cho tôi có quyền
lực để củng cố vị thế của mình, và để thỏa tham vọng chính trị của mình,
mà bởi tôi muốn đảm nhận trách nhiệm để làm những điều tốt đẹp cho
nước, cho dân. Tôi muốn không phải là được làm một vị tổng thống trong
thời bình, mà là một vị tổng thống trong thời chiến, vào thời điểm khó
khăn nhất của đất nước.
Bản quyền hình ảnhAFP/Getty ImagesImage caption
Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson (trái), Tổng thống VNCH
Nguyễn Văn Thiệu (giữa) và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Clark Clifford
(phải) trong kỳ họp thượng đỉnh Mỹ-Việt hôm 20/7/1968 tại Honolulu
BBC:
Trong số những lời chỉ trích mà tôi nghe được, thì có người nói là ông
không thích thú gì với chính trị, mà ông hiểu, và thích quyền lực. Ông
thấy họ nói vậy có công bằng không? TT Thiệu: Không. Điều đó không đúng. Chính phủ VN nói gì về phim 'The Vietnam War'? Vietnam War: 'Cuộc chiến day dứt tất cả chúng tôi' 'Cơ hội để người Việt hiểu quá khứ của mình' BBC:
Bản thân ông là người xuất thân từ vùng quê, từ một gia đình nhỏ, ở một
vùng quê nhỏ. Theo ông thì vì sao Việt Cộng lại thành công, giành được
sự ủng hộ của người dân ở các vùng nông thôn? TT Thiệu:
Người dân Việt Nam ở cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam thời trước 1945
đều bị những người cộng sản lừa mị. Họ không nói rằng họ là những người
cộng sản mà nói họ là những người theo chủ nghĩa dân tộc, thúc giục mọi
người đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, để giải phóng Việt Nam
khỏi sự thống trị của Pháp.
Tất cả mọi người, sau 80 năm dưới sự
cai trị của người Pháp, đều muốn được độc lập, cho nên từ 'độc lập' có
sức hấp dẫn rất lớn, tạo sự hào hứng trong người dân Việt Nam, cho nên
tất cả đều đi theo Việt cộng trong giai đoạn đấu tranh đầu tiên.
Sau
đó, khi nhận ra rằng đó không phải là cuộc đấu tranh giành độc lập mà
là cuộc đấu tranh để giành quyền thống trị cho những người cộng sản, thì
lúc mọi người nhận ra vấn đề cũng là lúc đã quá muộn.
Bản quyền hình ảnhKeystone/Hulton Archive/Getty ImagesImage caption
Tổng thống Thiệu trong lễ khai trương một bệnh viện tại Sài Gòn hồi 3/1973 BBC: Trong hoàn cảnh nào thì ông nghĩ là những người cộng sản có thể tham dự vào chính quyền ở miền Nam Việt Nam? TT Thiệu: Tôi cho rằng trước tiên là phải để người dân miền Nam được thực thi quyền tự quyết thông qua bầu cử tự do, dân chủ.
Sự
hiện diện của quân đội nước ngoài, đặc biệt là sự xâm lược của binh
lính Bắc Việt, cần phải được giải quyết. Người dân Miền Nam Việt Nam
không thể thực thi quyền tự quyết của mình nếu như trên lãnh thổ Nam
Việt Nam vẫn còn binh lính nước ngoài, đặc biệt là binh lính Bắc Việt,
lực lượng đã tiến hành xâm lược đất nước này. Phi công Việt-Mỹ: 'Kẻ thù xưa, anh em nay' Phong trào phản chiến Mỹ sau Tết Mậu Thân Phía sau những tấm ảnh Mậu Thân BBC:
Nếu như quân đội Bắc Việt không rút lui khỏi miền Nam Việt Nam, mà vào
lúc này họ đang có chừng 20 sư đoàn ở đây, thì ông sẽ làm gì? TT Thiệu:
Nếu họ không chịu rút quân, tôi nghĩ có nghĩa là họ vẫn đang nuôi dưỡng
giấc mơ xâm chiếm Nam Việt Nam, vẫn lên kế hoạch để tiến hành chiến
tranh.
Ngay lúc này đây, đã gần 60 ngày rồi kể từ khi có thỏa
thuận ngừng bắn mà họ vẫn tiếp tục xâm nhập, họ vẫn tiếp tục chuyển vào
Nam Việt Nam thêm xe tăng, pháo, binh lính, đó là những dấu hiệu đầu
tiên sau khi Hiệp định Paris được ký - họ vẫn tiếp tục xâm nhập, vẫn
tiếp tục chuẩn bị cho một cuộc chiến khác. BBC: Thỏa thuận ngừng bắn đã giúp Việt Cộng
kiểm soát được những vùng rộng lớn ở nông thôn Nam Việt Nam, nếu không
nói là phần lớn người dân. Nếu bây giờ có tổng tuyển cử, thì ông cho
rằng bà [Nguyễn Thị] Bình người được gọi là Ngoại trưởng của Mặt Trận
tại hòa đàm Paris, có được phép tiến hành vận động tranh cử tại đây
không, trên các đường phố Sài Gòn, hay ngay bên ngoài Dinh Độc lập? TT Thiệu:
Trước tiên tôi có thể nói với ông rằng lợi thế của phe cộng sản vào lúc
này là câu giờ, bởi hiện họ chưa kiểm soát được đủ người dân để giành
chiến thắng trong các cử tri đi bầu, và những gì họ đã làm kể từ khi có
thỏa thuận ngừng bắn là họ muốn kiểm soát thêm các làng xã, thêm người
dân, để họ có thể kiếm được thêm phiếu trong kỳ bầu cử đó. BBC: Tức là họ không muốn có kỳ bầu cử vào lúc này? TT Thiệu: Họ không muốn có kỳ bầu cử ngay lập tức.
Bản quyền hình ảnhKeystone/Hulton Archive/Getty ImagesImage caption
Tổng thống Thiệu trong một lần gặp gỡ Giáo hoàng Paul VI tại Vatican, khoảng năm 1970 BBC: Đó không phải là điều mà Henry Kissinger nói hôm trước - tôi tin là ông theo dõi đầy đủ những gì ông ấy nói... TT Thiệu: Ông ấy nói gì? 'Lực lượng thứ Ba mong có hòa bình cho Việt Nam' 'Cha tôi và cuộc chiến bí mật của CIA ở Lào' 'Cuộc chiến Anh-Mỹ' về cách đánh ở VN BBC:
Ông ấy nói rằng có sự không nhất trí, nhưng nếu một trong hai hệ thống
chính trị có thể tạo ra một chính phủ chiếm ưu thế hơn hẳn về mặt đạo
đức, thì nước Mỹ sẽ không lo lắng. Tôi có thể diễn giải một cách công
bằng từ những gì ông ấy nói, rằng những gì mà người ta thường nghe được ở
đây, rằng ông không bận tâm xử lý tình trạng tham nhũng, và điều đó
khiến người dân xa lánh chính phủ của ông. TT Thiệu: Tôi thấy rằng những vấn đề đó có thể giải quyết được khi chúng tôi có một cuộc chiến bình thường.
Tôi
nghĩ rằng ở một quốc gia nghèo với cuộc chiến kéo dài, chừng nào mà
chúng tôi còn cần sự hỗ trợ từ bên ngoài, điều kiện sống trong nước vẫn
còn kém, thì đó là căn nguyên, là nguồn gốc của các vấn đề xã hội, trong
đó có cả vấn đề tham nhũng. Nay, tôi nghĩ rằng chúng tôi đã ở trong
thời bình, và các vấn đề xã hội sẽ được xóa bỏ... BBC: Ông có vẻ như không chắc lắm vào việc ông có thể làm được điều đó? TT Thiệu: Rồi ông sẽ thấy là tôi làm được. BBC: Ông có nhiều người trong nước chỉ trích, tôi chắc là ông biết điều đó. Có nhiều đảng phái chính trị, và ông thì có
vấn đề với báo chí, nhiều tờ báo đã bị đóng cửa, những tờ báo không
hoàn toàn ủng hộ các nỗ lực chiến tranh. Ai là người ở miền Nam Việt Nam
mà ông tin là sẽ đứng bên ông khi cần phải lựa chọn giữa việc trở thành
một quốc gia cộng sản hay một quốc gia phi cộng sản? TT Thiệu:
Tôi tin là người dân miền Nam Việt Nam sẽ lựa chọn quốc gia phi cộng
sản. Tất nhiên là chúng tôi không phải là người hoàn hảo, không phải là
một thể chế hoàn hảo, nhưng tôi nghĩ rằng người dân miền Nam Việt Nam đã
xác định rồi, họ sẽ không thể sống nổi với lý tưởng cộng sản, với hệ
thống cộng sản. Họ có niềm tin rằng khi chiến tranh qua đi, chế độ này
sẽ đem lại điều tốt đẹp hơn cho họ. Nội dung cuộc phỏng
vấn trên đã được phát trong chương trình Panorama chuyên về Chiến tranh
Việt Nam trên kênh truyền hình BBC hôm 2/4/1973.
Bùi Anh Trinh: Trang sử đã qua đi nhưng sự thật vẫn chưa trở lại!
Kissinger viết trong hồi ký: “Cho đến hôm nay tôi kính
trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho
nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn
cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết
định của chúng ta…” (Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê) Người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm
Kissinger là người mà Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi
xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét
đắng Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa
là cản trở và phá hoại hòa bình.
Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản
bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông
ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn
nhất của lịch sử. Kissinger nói: “… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên
kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hi
sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng
ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội.
Nhưng mắt của ông Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau
này…” (Bản dịch của Xuân Khuê ).
Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho
nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành
phải đóng vai làm kẻ thù của Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy
lòng, Kissinger khâm phục Thiệu: “…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố
gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại
quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông … … Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông Thiệu nhưng tôi rất
kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê
gớm (nguyên văn: terrible loneliness) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông
chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó
không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” (Bản dịch của Xuân Khuê).
Cuộc sống không có tự do còn tệ hơn sự chết
Ngày 22-10-1972 Tộng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger
ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà
Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo
Kissinger: “Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của
quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi
không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng
nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.
Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói
ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải
thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.
Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với
Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi
lại lời lẽ của Thiệu: “Là một quân nhân thì lúc nào cũng
phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức
khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức…
Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là
nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385) Kissinger đáp lại: “Tôi
cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa
rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài
cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Cộng.”
“Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết
định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon (Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải
cảng Bắc Việt) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý
ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Cộng là để làm áp lực,
buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý
ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).
Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh: “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”
TT Thiệu đáp: “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi.
Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như
thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng
tôi cần được trả lời”.
Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói: “Có
gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam?
Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các
ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và
sự chết. Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương
đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống
không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” (Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).
Trang sử đã qua đi nhưng sự thật chưa trở lại
Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền
Nam vào ông Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh”
của Mỹ *( Lời của ông Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm
1972). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải
ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn
nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và
của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cộng
sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ…!
Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng
Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải
giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi
những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.
Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến
Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm
1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ
đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là
phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi. Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng
tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói: Phía CSVN và
phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào! Cho
tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái!
Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay
danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người
Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn
luôn cản trở và phá hoại hòa bình.
BÙI ANH TRINH
Nguồn: https://baotgm.net/hoi-ky-kissinger-tong-thong-nguyen-van-thieu/