Là
những chứng nhân của những cái chết...của người lính trên chiến trường
VN. Trạng thái tinh thần của người lính sắp chết... trở nên bình thảng
và tỉnh táo vô cùng... Tình thương nẩy nở trong tâm thức người chết, nó
hiện lên ' ảo ảnh ' trở về... với vợ con và cha mẹ già thân yêu trong
nổi vui mừng, vì lâu ngày, không về phép thăm nhà!. Sự mùng vui, đến nỗi
họ quên mất oán hờn, kẻ thù...đang giết chết họ, và họ xin tôi một điếu
thuốc lá và hút tàn hơikhi nhắm mắt lìa cõi đời!... Phải chăng trong
cõi chết không có hận thù... mà là chỉ có tình thương của thượng đế ban
cho loài người, Và người lính VNCH chỉ biết hy sinh cho tô quốc Tự Do!-
Chết nhẹ tợ ' hồng mao ' Người lính ' hâu vệ- Sài Gòn ' luôn luôn đi sát cách trong mọi chiến trường mặt trận, trong khi xung phong chiếm lại ngọn đồi máu VinKy; anh ưởng người ném lựu đạn, để yểm trợ tôi tiến chiếm mục tiêu; rồi bổng nhiên anh nẩy ngược người...lên!. Tôi biết anh trúng đạn, trước khi anh ngả xuống?!, tôi kéo anh xuống giao thông hào... và anh đòi uống nước, vì máu ra nhiều;anh bảo thèm thuốc hút và xin ' ông thầy - cho tôi điếu thuốc lá'. Anh ta kéo một hơi thuốc, đầy sảng khoái... và thều thào bảo: ' nó hết đạn bắn rồi!...và tụi nó cũng ' biết điều'- thương em-để cho em gặp mặt vợ con... đến thăm em lần cuối...và dần dần chìm vào cơn mê ảo ảnh...!!, của tử thần.
ẢO-ẢNH TRONG MƠ!!!- Cõi chết chính mình!
... " Nằm nghe các bạn sống sót kể nhau, khi theo chân Bộ Đội ra chợ
Long Khánh mua hòm [quan tài], thấy dân chúng ùn túa ra đường lộ lớn và
chuẩn bị khăn gói di tản ra khỏi vùng nổ kho đạn Long Khánh và nói
rằng vụ nổ lớn quá và khéo dài từ 10g30 sáng đến tận đêm khuya nên Tù
Cải Tạo chết hết rồi. Tin nầy đồn đến tận Saigon…Câu chuyện đến đây
tôi thấy trong người mệt mõi mê thiếp và chìm dần vào ảo ảnh cơn
mê…các bác sĩ kinh nghiệm nghề nghiệp cho đây là hiện tượng bệnh nhân
sắp chết. Riêng về kinh nghiệm chiến trường khi một chiến hữu của
mình bị thương nặng sắp chết, họ thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng thoải
mái. Họ bình tâm biết mình sắp giải thoát nên họ xóa được ranh giới
hận thù và trong ánh mắt họ là tinh thương bao la muốn găp lại người
thân thương!và tôi đã đạt được đến trạng thái tâm linh nầy. Trong ảo
ảnh mê mờ, thấy tôi trơ lại thành phố Sài gòn thân yêu. Thấy mọi
người đổ xô ra đường phố vây vẩy tay, miệng hét to “Giải Phóng nữa
rồi bà con Ơi!”hoan hô VNCH….Cứ mỗi lần nghe tiếng nổ lớn từ phía kho
đạn Long Khánh làm rung chuyển cả thành phố. Dân chúng bàn tán và
khấu nhau rằng: Do vệ tinh Mỹ chiếu tia “Laide”đốt kho đạn cứu
Saigon, nhưng tất cả không nhìn thấy tôi và họ đi xuyên qua người mà
họ không hay biết tôi sợ họ đụng phải tôi nép sát vào tường và tôi đã
lọt xuyên qua tường, đứng trước lớp học sinh đang học và cũng là nơi
trước đây 2 năm bị bắt nhổ cỏ, vệ sinh tạp dịch cho chính quyền cách
mạng phường khóm trước khi trình diện cải tạo. Và tôi đi ngang một
quán cơm, nghe mùi cơm thơm phức, rất thèm và xin ăn nhưng ngươi ta
làm ngơ không biết,tức minh tôi hét lón:”Tôi từ Long Khánh về đây.
Đói bụng quá, xin cho tôi ăn cơm… đói quá!” mọi người vẫn không nghe
tôi nói không trả lời, cũng không hay biết có tôi đứng trước mặt họ
và tôi đã đọc được ý nghĩ của họ không thích Công Sản và lầm bầm vái
trời “Đạn Nổ cho chết thằng VC”
Quá buồn lòng…tôi quyết định trở về nhà, thì lập tức tôi có mặt
tại nhà khu gia binh Quân Tiếp vụ Tô Hiến Thành cũng còn mái tole siêu
vẹo bị đạn rớt lung mái nhà chưa kịp sửa trước khi đi cải tạo. Thấy
nhà cừa đống khoen cài, thấy vợ tôi đang ngồi khóc với đứa con gái
lên ba đang vô tư nghịch chén BoBo{Cao lương} luộc nấu thay cơm tối
trước khi đi ngủ. Nghe tiếng vợ tôi bảo con qua ý nghỉ:”Mẹ có đến
chùa Từ Nghiêm ở đường Bà Hạt để tìm xác ba con cải tạo tù Long Khanh
bị nổ đạn sang nay!? Ở trong xóm khu gia binh của mình, ai có chồng
Sĩ Quan Cải Tạo trại Long Khánh hãy đi nhận xác chồng theo thông báo
phường khóm quản lý khu gia binh”. Tôi nghe rõ và gỏ cửa vào nhà. Vợ
tôi vẫn không hay, không biết tôi lên tiếng nói đề vợ tôi vui mừng vì
tôi chưa chết và đang ở đây, nhưng vợ tôi vẫn lặng thinh và buồn bả
thở than như tôi không hề có mặt bao giờ. Nắm nắm lấy bàn tay nhỏ bé
của vợ tôi như nắm vào khoảng hư không trống rổng…buồn tình tôi đến
bên cạnh con tôi bế nó lên như bế hư không, không nắm bắt được hình
hài của nó và nó vẫn vô tư nghịch những hạt bobo thay cơm của hai mẹ
con nó. Tôi cảm thấy bơ vơ trống trải như ngày nào 30-4-1975. Mọi
người đều vô tình ngoảnh mặt làm ngơ chạy theo chiến thắng kẻ thù…nay
vợ con quên lãng không nhận ra mình. Đời người bạc bẻo thế đó!.Tôi
buồn và bỏ nhà ra đi nhưng quên mở cữa nhưng nó vẫn xuyên qua bên
ngoài mà không động chạm dến cánh cữa. Tôi không thèm để ý đến điều
ngạc nhiên lý thú đó!!! Tôi vừa ra khỏi cửa bắt gặp lại bà mẹ vợ tôi
từ trong cánh cửa không mở hiện ra tôi không ngạc nhiên lắm vì trong
thơ gởi vào trại tù vợ tôi có báo tin là mẹ chết rôi! Bà nhìn tôi
thương hại trong ánh mắt chở che không nói lấy một lời nào, nhưng tôi
đọc được ý nghĩ tư tưởng của mẹ bảo tôi mau quay về trại Cải tạo kẻo
muộn còn ở đây có mẹ lo!. Chúng tôi liên lạc cho nhau bằng ý nghĩ tư
tưởng không bằng lời…và tôi thui thủi trở lại trại tù.
Thấy tôi tỉnh lại và ngoại ngậy tay chân ông đại úy già mừng rỡ
kêu lên và báo bác sĩ hay! Còn tôi tỉnh lại cãm thấy cơn đau lập tức
kéo đến hành hạ thân xác tôi của một người vừa trải qua một giấc mơ
giữa thực và ảo giữa sống và chết!? hay là nhưng trải nghiệm bên kia cửa
tử, thế giới ngươi chết??? Như vậy chết và sống đâu có gì cách biệt
và khác nhau!? ranh giới giửa sống và chết chỉ được phân định cách
biệt nhau giử hận thù và tình thương giửa chiến tranh và hòa bình. Nó
tạo nên một trạng thái của một dòng sống liên tục bất tận của nhân
sinh vũ trụ. Tôi cố nhắm mắt một chút để ôn lại mọi diễn tiến xảy ra
và một phần nào hiểu rõ tình hình cho hiện tại bấy giờ...."
Trích đoạn- Đạn nổ trong tù Cải Tạo Long Khánh!!!
{RIVER BRIDGE KWAII OF SOUTH VIETNAM} http://www.truclamyentu.info/tlls_nhungdongtho/dannotrongtulongkhanh8.htm
CẬN TỬ NGHIỆP VÀ TÁI SINH - THUYẾT PHÁP HAY NHẤT
https://youtu.be/X6BjpkUL1MI
Thế Nào Là Cận Tử Nghiệp (Rất Hay)
https://youtu.be/KbPlUiS0e7Q
Cựu chiến binh Mỹ kể lại trải nghiệm cận tử trong chiến tranh Việt Nam (video)
Chủ nhật, 18/09/2016 | 09:09 GMT + 770,053 lượt xem
Bill
Vandenbush gia nhập Quân đội Hoa Kỳ vào năm 1968. Khi đến Việt Nam tham
chiến, ông đã có trải nghiệm cận tử khi cận kề cái chết trên chiến
trường.
(ảnh: Shutterstock)
“Cuộc
chiến đáng sợ hơn rất nhiều so với những gì tôi từng tưởng tượng,” ông
cho biết trong một cuộc nói chuyện với khán giả, được ghi hình và chia
sẻ trên YouTube bởi NDEaccounts (kênh chuyên đưa về các trải nghiệm cận
tử).
Ông
đã trải qua 10 tháng trong vai trò một lính bộ binh. Các trận chiến
khốc liệt và những chiến trường lớn đã không còn xa lạ với ông, kể cả
những trải nghiệm khi thấy cả bạn bè và người bên đối phương tử trận.
Ông
đã thỏa thuận với hai người bạn lính, John và Hank. Ba người sẽ bảo vệ
và bọc hậu cho nhau. “Tôi đã hiểu được rằng ba, bốn hoặc năm người mạnh
hơn rất nhiều so với một cá nhân đơn lẻ,” ông nói.
Nhưng John và Hank đã không tham gia cùng ông trong nhiệm vụ khiến ông gần như tử trận.
Trải nghiệm cận tử khi cận kề cái chết
Ông
và một số người lính khác được giao một nhiệm vụ bất ngờ, tìm một máy
bay trực thăng bị bắn rơi. Rồi, đột nhiên cả nhóm bị bao vây tứ phía,
tiếng súng vang lên từ mọi hướng. Một lúc sau, máy bay ném bom đến để
giải vây cho nhóm của ông.
Nhưng
khi Vanderbush nhìn thấy những chiếc máy bay thả bom, ông hiểu rằng vị
trí không kích rất gần vị trí của ông và đồng đội. Quả vậy, một quả bom
rơi xuống và các mảnh bom bay về phía ông.
Khi ấy, 19 tuổi, ông nghĩ mình sẽ chết.
Nhưng “điều tiếp theo tôi cảm nhận được, mọi thứ đều yên bình và tĩnh lặng. Không còn chiến tranh nữa, “ông nói.
Ông Vandenbush để về trải nghiệm của mình (ảnh chụp/Youtube)
Khi
ông di chuyển qua một đường hầm tối đến phía có ánh sáng, ông cảm thấy
mọi thứ thật tuyệt vời. Ông cảm thấy “một niềm vui mà tôi chưa bao giờ
có trong cuộc đời.”
Ông nội,
người đã qua đời 5 năm trước đó, chào đón ông. Nhưng một linh hồn khác
đến và nói rằng ông phải quay trở lại. Ông vẫn còn có mục đích phải hoàn
thành trên Trái Đất.
Ông
đã “quay trở lại” chiến trường. “Tôi có thể ngửi thấy cuộc chiến, tôi
có thể ngửi thấy mùi thuốc súng”, ông nói. Nhưng ông đã không còn đau
đớn, và cũng không sợ hãi. Ông biết rằng dù có vấn đề gì xảy ra, ông vẫn
sẽ sống.
“Tôi không lo lắng về cái chết hoặc cơn hấp hối hoặc những hậu quả của những vết thương tôi đã gặp,” ông nói.
Ông
đã bị thương nặng bởi bom, nhưng sau đó một người lính phía đối phương
xuất hiện và đã bắn tiếp vào ông nhiều phát đạn nữa. Vandenbush cho biết
ông cảm thấy những viên đạn cắm vào cơ thể của mình, nhưng ông không lo
lắng. Ông vẫn cảm thấy rằng tất cả đều ổn.
Khi
các nhân viên y tế tìm được và chuyển ông đến một bệnh viện dã chiến,
họ cho rằng ông sẽ chết. Họ đã bỏ ông trên một chiếc cáng ở hành lang.
Nhưng cuối cùng, một y tá nhận ra ông vẫn còn sống, vì vậy họ đã cố gắng
làm mọi điều có thể để cứu ông và chuyển ông đến một bệnh viện lớn hơn.
“Khuôn
mặt của tôi bị dập nát, tôi có một vết thương ở đầu, cổ họng tôi bị xé
ra, lồng ngực của tôi bị xé toạc … cánh tay trái của tôi gần như đã lìa
ra,” ông nói. “Tôi biết có một con đường gian nan đang chờ tôi phía
trước.”
Nhưng ông cũng cảm thấy được kết nối với thế giới tinh thần mà ông đã chợt thấy, điều đó cho ông sự thoải mái và sức mạnh.
Hồi phục và kết nối
Ông
phải mất vài tháng để trở về nước và điều trị ở một bệnh viện ở
California. Những năm kế tiếp không phải là dễ dàng. Sau khi bị thương,
ông phải mất một thời gian để học nói một lần nữa. Ông khát khao được
kết nối lại với linh hồn đã nói chuyện với ông và hoàn thành mục đích
lớn hơn so với cuộc sống thường nhật này.
Năm
1989, lần đầu tiên ông nói về trải nghiệm cận tử của mình. Ông đã tham
gia một khóa học dạy về đối mặt với cái chết và trong một bài tập trên
lớp, ông chia sẻ câu chuyện sống sót của bản thân.
Với
sự khuyến khích của giáo viên, cuối cùng ông cũng tiếp xúc với những
người có trải nghiệm cận tử khác và bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm của mình
rộng hơn. Khi kể về điều đó, ông tìm lại được cảm giác bình an từng có;
và cảm thấy mong muốn tìm mục đích trong cuộc đời đã được hoàn thành.
Mục đích đó là chia sẻ sự bình an và hạnh phúc với những người khác, để
chữa lành những vết thương của họ.
Ông
nhận ra rằng, “người lính là người gánh trên vai sứ mệnh hòa bình,”.
Người lính biết cách bảo vệ mình và những người khác, nhưng mục đích của
ông là tìm sự yên bình và mang nó đến cho người khác.
Bộ phim The Vietnam War đang được trình chiếu trên đài PBS. Hình minh họa: Wkar.org)
HOUSTON, Texas (NV) – Trích dẫn từ báo Houston
Chronicle là câu chuyện của cựu chiến binh VNCH, ông Trần Ngọc Toàn, khi
ông bị thương ở chân vì Việt Cộng bắn trúng ông hai phát ở đùi. Ông
phải giả chết và bị Việt Cộng bắn thêm ba phát nữa sau khi đá vào người
ông.
“Bốp! Bốp! Bốp!” Ông kể cho phóng viên Houston Chronicle. Ông bị bắn
thêm vào bên trái, phía dưới xương ngực. Rồi cả bọn bỏ đi vì tưởng ông
chết rồi.
Không
đầu hàng, người chiến sĩ kiên cường này bò lên và suốt ba ngày ròng rã,
tìm về ngôi làng mà trước đó QLVNCH và đồng minh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ
bị Việt Cộng phục kích vào cuối năm 1964.
Hơn 50 năm sau, câu chuyện này của ông Toàn trở thành một phần trong
bộ phim phóng sự “The Vietnam War” được trình chiếu trên đài truyền hình
PBS.
Kể lại câu chuyện, ông Toàn vẫn giữ vẻ lạc quan.
“Tôi quá may mắn, được đưa vào bệnh viện Nam Hàn. Nếu bị đưa về Sài
Gòn, chắc họ cưa chân tôi rồi. Bác sĩ bảo tôi đây là một phép lạ.” Ông
chỉ vào đùi phải, chỗ viên đạn AK-47 xuyên qua da thịt mình. “Chỉ nhích
qua bên này một phân nữa thôi thì xương đùi tôi tan tành rồi. Nhích qua
bên kia một phân thì trúng động mạch và tôi đã mất máu và chết trong
rừng rồi.”
May quá, viên đạn xuyên qua đùi ông một cách tài tình, chỉ để lại vết thẹo lớn thôi. Sáu tháng sau, ông trở lại chiến trường.
Trận Đồng Xoài, Bình Giã, nắm vai trò quan trọng trong bộ phim “The Vietnam War” của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick.
Trung Úy Thủy Quân Lục Chiến Philip Brady, cố vấn quân sự, kể với các
nhà làm phim rằng năm 1964, cũng như mọi binh lính Mỹ, ông tin chắc
rằng phần thắng đã nằm trong tay họ.
Đến Đồng Xoài, Bình Giã, ông mới vỡ lẽ ra rằng Mỹ đang thua trận.
Để giữ sự trung thực, trận Đồng Xoài, Bình Giã, được thuật lại từ ba
góc nhìn, phía Mỹ của Trung Úy Brady, phía Nam Việt Nam của ông Toàn, và
phía Việt Cộng của ông Nguyễn Văn Tống.
Trong hàng trăm người được phỏng vấn cho bộ phim, ông Toàn chiếm một vị trí quan trọng, ngay cả xa hơn trận Bình Giã.
Với những điều ông Toàn chia sẻ, ông là một “ngôi sao lớn,” ông Burns nói.
Những gì ông Toàn kể lại làm sáng tỏ câu chuyện về cuộc chiến.
Người Mỹ không thích nói về chiến tranh Việt Nam.
Câu chyện của ông Toàn, do đó cho bộ phim cái nhìn rõ ràng hơn.
Trước khi đi Mỹ, ông ở Đà Lạt, nơi ông học tại Trường Võ Bị Sĩ Quan Đà Lạt.
Năm 22 tuổi, ông tốt nghiệp và trở thành quân nhân Thủy Quân Lục Chiến, Tiểu Đoàn 4 “Kình Ngư.”
Cuối năm 1964, khi Mỹ gởi quân nhân đến Đồng Xoài thì ông Toàn đã dày dạn chiến trường.
Không ai có thể ngờ, Việt Cộng đã di chuyển hàng ngàn quân và đạn được xuyên rừng, vào gần đến Sài Gòn.
Cho dù ông Toàn lãng tai vì tuổi tác và vì bom đạn, ông vẫn nhớ được ngày tháng một cách tinh tường.
Ngày 28 Tháng Mười Hai, 1964, trận Đồng Xoài bắt đầu khi Việt Cộng
tấn công. Họ nhanh chóng chiếm đóng tỉnh lỵ và quân viện trợ của Mỹ đổ
bộ.
Khi quân Mỹ phải rút lui, QLVNCH bị tấn công.
Ông Toàn bị bắn vào đùi phải. Vì còn đi được, ông tiếp tục chiến đấu. Và ông chiến đấu cho đến 30 Tháng Tư, 1975.
Đời ông khó nhọc hơn xưa. Như bao nhiêu sĩ quan khác, ông bị đi tù
cải tạo. Ông gọi thời gian bị giam cầm tại Lào Cai là “trại lao động.”
Mười năm sau, được thả về, ông vượt biên đến Indonesia.
Giữa thập niên 1980, ông đến San Francisco rồi đến Washington, DC. Tại đây ông làm thợ sơn nhà.
Ông về hưu tại Houston năm 2005 vì khí hậu Washington, DC quá lạnh.
Ông hiện sống cùng vợ là bà Kim Quy gần Beltway.
“Khí hậu và đời sống ở đây dễ chịu,” ông nói.
Rời Việt Nam với hai bàn tay trắng, ông chỉ còn giữ được tấm hình
vàng úa đầy nếp gấp, những người trong hình đã qua đời hết, trừ Trung Úy
Braddy.
Kết quả trận Đồng Xoài, Bình Giã, không phản ánh được toàn bộ cuộc
chiến Việt Nam, mặc dù nó nói lên được sự mất mát của cả ba phe. Mỹ mất
năm quân nhân, Việt Cộng mất 32 quân và khoảng 200 quân nhân VNCH bỏ
mạng.
Nói chung, hơn 58,000 quân nhân Mỹ thiệt mạng tại Việt Nam.
Số quân Việt Công thiệt mạng vì cuộc chiến chưa được rõ ràng, nhưng được ước lượng ở mức hơn 1 triệu.
Quân nhân QLVNCH bỏ mình vì cuộc chiến là khoảng 250,000 người.
Chừng 2 triệu dân lành Việt Nam ở cả hai miền thiệt mạng.
Trận Đồng Xoài, Bình Giã, là điềm xấu cho Mỹ tại chiến trường Việt Nam.
Ở tuổi 77, ông Toàn mong mỏi rằng những câu chuyện chưa được kể sẽ được biết đến tại Hoa Kỳ.
“Tôi vui vì đã làm hết sức mình. Rất nhiều bạn bè tôi đã chết. Tôi
may mắn còn kể được chuyện này. Còn 300,000 bạn đồng ngũ của tôi đâu kể
được chuyện của họ cho ai. Tôi muốn nước Mỹ biết điều này,” ông Toàn
nói. (ĐG)
Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/cau-chuyen-cua-mot-cuu-quan-nhan-vnch/
Huỳnh Mai St.8872
Cựu tù binh cài tạoCsVN
Phim Hành Động Mỹ hay nhất 2017 - trở về từ cõi chết - The Revenant - Full Thuyết Minh
https://youtu.be/6wYAsBMw6Hk
Phim Hành Động Mỹ Cực Hay * NGƯỜI VỀ TỪ CỎI CHẾT * Phim Bom Tấn https://youtu.be/ci_o8fqaL8w
- Công Ước Genéva được ký ngày
12/08/1949, Chương III, Điều 120, và Điều 121: nói về trách nhiệm chôn cất
tù binh và bảo vệ phần mộ của các phe lâm chiến.
- Hiệp Định Genéva ngày
20/07/1954, Điều 23 : xác nhận trách nhiệm bảo toàn phần mộ của các tử sĩ
đối phương trong lãnh thổ chiếm đóng.
- Hiệp Định Hòa Bình Paris ký
ngày 17/01/1973, Điều 8 : cũng ghi rõ nhiệm vụ bảo vệ và gìn giữ phần mộ của
tử sĩ phe đối địch.
Để minh xác cho sự thật, chúng ta
thử duyệt qua những trích đoạn trong Công Ước, Hiệp Định nêu trên, để một lần nữa
không-còn-nghi-ngại đó là cách ngụy biện của kẻ thua cuộc bày ra.
1. Công Ước ngày 12/08/1949 :
Đây là Công Ước quốc tế lần thứ
tư định nghĩa một cách rộng rãi về những quyền cơ bản của tù nhân chiến tranh
(dân sự và quân nhân) trong chiến tranh, thành lập sự bảo vệ cho những người bị
thương tích và dân sự trong vùng chiến, kể cả những nầm mồ, hài cốt của người
tham chiến hay không dự phần. Công Ước nầy được những nước là thành viên của
Liên Hiệp Quốc ứng dụng trong thực thi lòng nhân đạo nhằm xoa dịu phần nào những
đau thương, thống khổ, và mất mát trên cả hai phần của con người : vật chất/
(thể chất) và tinh thần. Dù trong chiến tranh, người ta cố gắng bảo vệ lý tưởng
nào đó, nhưng trong đoạn kết, ngay cả kẻ chiến thắng cũng cảm thấy quá mõi mệt
để đeo đuổi nó, khi nhìn lại những xác chết, nấm mồ của bạn-và-thù chưa từng
quen biết.
Nguồn trên trang mạng http://www.icrc.org có đăng toàn bộ Công Ước.
Trong Phần IV: Mức hạn của sự giam cầm, Mục III: Sự tử vong của các tù nhân chiến
tranh, và…
a. Điều 120 có những đoạn như
sau :
"… The burial or
cremation of a prisoner of war shall be preceded by a medical examination of
the body with a view to confirming death and enabling a report to be made and,
where necessary, establishing identity.
The detaining authorities
shall ensure that prisoners of war who have died in captivity are honourably
buried, if possible according to the rites of the religion to which they
belonged, and that their graves are respected, suitably maintained and marked
so as to be found at any time. Wherever possible, deceased prisoners of war who
depended on the same Power shall be interred in the same place.
Deceased prisoners of war
shall be buried in individual graves unless unavoidable circumstances require
the use of collective graves."
Tạm dịch : "… Việc chôn cất
hoặc hỏa táng một tù sẽ được tiến hành sau một cuộc kiểm tra y tế trên thể xác
với sự thẩm định để xác nhận về sự tử vong và cho phép làm bản báo cáo và, khi
cần thiết, xác minh sự nhận dạng
Các nhà chức trách giam giữ sẽ
phải bảo đảm rằng các tù binh, những người đã tử vong trong sự giam cầm, được
chôn cất một cách vinh dự, nếu có thể, theo các nghi thức của tôn giáo của họ,
và phần mộ của họ được tôn trọng, duy trì một cách phù hợp và đánh dấu để có thể
tìm lại được trong bất kỳ thời gian nào. Bất cứ khi nào có thể, những tù binh
quá cố, những người dựa vào cùng chính quyền sẽ được táng cùng một nơi.
Những tù binh quá cố sẽ được
chôn trong những phần mộ riêng lẽ, trừ khi trong hoàn cảnh không thể tránh được,
đòi hỏi phương cách của ngôi mồ tập thể."
Trong trích đoạn của Điều 120 ở
trên, có nhắc đến trách nhiệm của nhà chức trách trong tinh thần nghĩa vụ quốc
tế về sự chôn cất, bảo vệ phần mộ đối phương, và "lòng cao thượng" của
họ nên được thể hiện qua sự tôn trọng những chiến binh quá cố, sự đồng cảm về
tình đồng đội. Và để nhấn mạnh thêm về trách nhiệm chăm sóc phần mộ là của nhà
cầm quyền, phần cuối của Điều khoản viết :
"… Responsibility for the
care of these graves and for records of any subsequent moves of the bodies
shall rest on the Power controlling the territory, if a Party to the present
Convention"
Tạm dịch : "… Trách nhiệm
cho việc chăm sóc các phần mộ và hồ sơ của bất kỳ sự xê dịch xác chết tiếp theo
sau đó sẽ vẫn là của nhà cầm quyền đang kiểm soát lãnh thổ, nếu nhóm đảng tham
gia Công Ước này."
b. Điều 121 có đoạn :
"Every death or serious
injury of a prisoner of war caused or suspected to have been caused by a
sentry, another prisoner of war, or any other person, as well as any death the
cause of which is unknown, shall be immediately followed by an official enquiry
by the Detaining Power
… If the enquiry indicates the
guilt of one or more persons, the Detaining Power shall take all measures for
the prosecution of the person or persons responsible."
Tạm dịch : "Mỗi cái chết
hoặc sự chấn thương nghiêm trọng của tù binh bị xãy ra hoặc nghi ngờ rằng đã bị
gây ra bởi lính gác, tù binh khác, hoặc bất kỳ người nào khác, cũng như bất kỳ
cái chết nào từ nguyên nhân chưa được biết, sẽ phải được theo dõi ngay lập tức
bởi công cuộc điều tra chính thức của nhà cầm quyền."
… Nếu cuộc điều tra chỉ rỏ
tội của một hoặc nhiều người, nhà cầm quyền sẽ phải tiến hành các biện pháp
truy tố cá nhân hoặc những người có trách nhiệm."
Trong Điều 121, nói về
"trách nhiệm" của nhà cầm quyền đối với "cái chết" của tù
binh, dù với lý do nầy hay lý do khác, nhưng đó vẫn là trách nhiệm của họ
!
2. Hiệp định Genéva ngày 20/07/1954, Điều 23:
Đây là một Hiệp Định mà hầu hết
người dân Việt biết đến, vì nó đánh dấu sự chia cắt hai miền Nam-Bắc nơi vĩ tuyến
17, cùng những đoàn người xuôi ngược giữa hai miền trước khi bước vào giai đoạn
"hận thù" nhau, hơn nửa thế kỷ qua.
"In cases in which the
place of burial is known and the existence of graves has been established, the
Commander of the Forces of either party shall, within a specific period after
the entry into force of the Armistice Agreement, permit the graves service
personnel of the other party to enter the part of Vietnam territory under their
military control for the purpose of finding and removing the bodies of deceased
military personnel of that party, including the bodies of deceased prisoners of
war. The Joint Commission shall determine the procedures and the time limit for
the performance of this task. The Commanders of the Forces of the two parties
shall communicate to each other all information in their possession as to the
place of burial of military personnel of the other party."
Tạm dịch : "Trong những
trường hợp mà trong đó các địa điểm mai táng được biết đến và sự tồn tại của
ngôi mộ đã được xây dựng, Tư lệnh Lực lượng của cả hai bên, trong khoảng thời
gian cụ thể sau khi sự ghi nhận danh mục trở nên có hiệu lực trong Hiệp Định
đình chiến, sẽ phải cho phép các nhân viên phục vụ mộ phần của bên kia vào phần
lãnh thổ Việt Nam dưới sự kiểm soát quân sự của họ cho mục đích của việc tìm kiếm
và di chuyển xác của những quân nhân quá cố của bên đó, bao gồm xác của các tù
binh đã mất. Ủy ban Hợp tác sẽ quyết định phương thức và thời hạn để thực hiện
nhiệm vụ này. Tư lệnh Lực lượng của hai bên sẽ trao đổi với nhau tất cả các
thông tin của họ như là nơi chôn cất các quân nhân của bên kia."
Qua Điều 23, có nói về quyền hạn
của nhân viên phục vụ mộ phần vào Nam hay ra Bắc, nhưng phải tuân
theo phương thức và thời hạn của nhà cầm quyền trên miền của họ. Có nghĩa, dường
như nó chỉ có hiệu lực trong thời gian ấn định nào đó, vì khi chiến tranh bùng
nỗ sau 1954, xem như Hiệp Định 54 đã hết hữu hiệu.
3. Hiệp định Paris ký ngày 17/01/1973, Điều 8 :
Và đây cũng là một Hiệp Định được
biết đến với đại đa số dân Việt. Hiệp Định nầy là cả sự hảnh diện của chình quyền
Hà Nội trong thế chính trị khôn ngoan đã buộc Hoa Kỳ lui bước khỏi miền Nam Việt
Nam và trói tay quân lực Việt Nam Cộng Hòa với tên gọi Hiệp Định Đình chiến Hòa
Bình.
"(a) The return of
captured military personnel and foreign civilians of the parties shall be
carried out simultaneously with and completed not later than the same day as
the troop withdrawal mentioned in Article 5. The parties shall exchange
complete lists of the above-mentioned captured military personnel and foreign
civilians on the day of the signing of this Agreement.
(b) The parties shall help
each other to get information about those military personnel and foreign
civilians of the parties missing in action, to determine the location and take
care of the graves of the dead so as to facilitate the exhumation and
repatriation of the remains, and to take any such other measures as may be
required to get information about those still considered missing in
action.
(c) The question of the return
of Vietnamese civilian personnel captured and detained in South Viet-Nam will
be resolved by the two South Vietnamese parties on the basis of the principles
of Article 21 (b) of the Agreement on the Cessation of Hostilities in Viet-Nam
of July 20, 1954. The two South Vietnamese parties will do so in a spirit of
national reconciliation and concord, with a view to ending hatred and enmity,
in order to ease suffering and to reunite families. The two South Vietnamese
parties will do their utmost to resolve this question within ninety days after
the cease-fire comes into effect."
Tạm dịch : "(a) Sự trao
trả quân nhân, thường dân nước ngoài bị bắt của các bên sẽ được tiến hành cùng
lúc và hoàn tất không muộn hơn trong cùng ngày khi quân rút lui, được đề cập tại
Điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những quân nhân và thường dân nước
ngoài bị bắt nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này.
(b) Các bên sẽ giúp đỡ lẫn
nhau để có tin tức về những quân nhân và thường dân nước ngoài của các bên
bị mất tích trong trận chiến, để xác định vị trí và chăm sóc các ngôi mộ của
người chết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai quật và hồi hương các bộ
hài cốt, và để thực hiện bất kỳ biện pháp khác như có thể được yêu cầu góp nhặt
tin tức về những người vẫn được xem là mất tích trong trận chiến.
(c) Những câu hỏi về sự trao
trả nhân viên dân sự Việt bị bắt và bị giam giữ ở miền Nam Việt-Nam sẽ được
giải quyết do hai đảng phái của miền Nam Việt Nam trên cơ sở các nguyên tắc của
Điều 21 (b) của Hiệp Định về sự đình chiến ở Việt Nam ngày 20 tháng bảy, 1954.
Hai đảng phái của miền Nam Việt Nam sẽ làm như vậy trong một tinh thần quốc gia
hòa giải và hòa hợp, với một quan điểm chấm dứt thù hận và thù nghịch, nhằm giảm
bớt đau khổ và đoàn tụ với gia đình. Hai đảng phái của miền Nam Việt Nam sẽ làm hết sức mình để giải quyết
câu hỏi này trong vòng chín mươi ngày sau khi lệnh ngưng bắn có hiệu lực."
Vì đây là Hiệp Định giữa bốn bên
(Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam_ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hay Việt Minh_, và Việt Nam
Dân chủ Cộng Hòa) nên có những Điều khoản rất dễ làm người đọc hiểu sai, vì đôi
khi cả ba bên được nói đến trong cùng một Điều khoản, hoặc chỉ nói đến 2 bên.
Như trong Điều 23, phần (a) và (b) ứng dụng cho 3 bên (hơn là 4 bên, hay chỉ 2
bên Nam-Bắc), và phần (c) dành cho 2 bên, nhưng chỉ ứng dụng trong miền Nam giửa
2 nhóm thế lực.
Và Điều 23(b) cũng nhắc đến sự
giúp đỡ lẫn nhau giữa các bên trong việc khai quật, hồi hương hài cốt, và chăm
sóc phần mộ. Cũng như tin tức về những người mất tích trong chiến tranh.
Xét qua những Điều khoản trên, đều
có nhắc đến "phần mộ", và tùy theo mục đích của Công Ước hay Hiệp Định
vấn đề đó được nhấn mạnh, hay chỉ sơ sài chi tiết. Cho dù là vậy, Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đã là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ ngày 20/09/1977 nhưng vẫn cố
tình không thực hiện những Điều khoản trong Công Ước Genéva quốc tế, và Hiệp Định
đã từng ký kết về phần mộ của các tù nhân chiến tranh, hay chiến sĩ đối
phương.
Điều nầy chắc chắn sẽ gây nên trở
ngại cho những cuộc bang giao của Việt Nam với quốc tế, ngoại trừ với khối
cộng sản bé nhỏ. Sự tín nhiệm của nước khác vào Việt Nam trong cương vị là một thành
viên của Liên Hiệp Quốc, sẽ là một dấu hỏi không nhỏ. Nhất là khi NtQdBH - một
nghĩa trang bậc quốc gia của chế độ cũ, còn sót lại - bị xóa mất dấu tích, sẽ
khiến quốc tế có cái nhìn e ngại hơn về lòng nhân đạo của Việt Nam.
Thử nhìn lại một góc cạnh nhỏ
trong bối cảnh sau khi Hiệp Định Paris 1973 đã được ký kết, để có thể phán xét,
ai là kẻ gây nên chiến tranh, trong sự công bằng và sự thật của lịch sử. Theo
Wikipedia, "Le Duc Tho", bản tiếng Anh, có đoạn như sau
:
"Lê Đức Thọ and Henry
Kissinger were jointly awarded the 1973 Nobel Peace Prize for their efforts in
negotiating the Paris
Peace Accords. However, Thọ declined to accept the award, stating, "There
was never a peace deal with the U.S.
We won the war."
Tạm dịch : "(Trưởng ban Tổ
chức Trung ương, Chính khách VNDCCH) Lê Đức Thọ và (Bộ Trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ)
Henry Kissinger cùng được trao chung giải Hòa Bình Nobel năm 1973 cho những nỗ
lực của họ trong cuộc đàm phán Hiệp định Hòa bình Paris. Tuy nhiên, Thọ đã từ chối chấp nhận giải
thưởng, nói rằng "Không bao giờ có một thỏa thuận hòa bình với Mỹ. Chúng
tôi chiến thắng."
Và vẫn theo Wikipedia, "Kissinger",
bản tiếng Anh, đã viết : "Tho rejected the award, telling Kissinger
that peace had not been really restored in South Vietnam."
Tạm dịch : "Thọ từ chối
giải thưởng, nói với Kissinger rằng hòa bình chưa thực sự được khôi phục ở miền
Nam Việt Nam"
Qua câu nói của Lê Đức Thọ_ chỉ vừa
sau khi ký xong Hiệp Định_ đã đủ phô diển niềm tự kiêu của kẻ hiếu chiến (xâm
phạm Hiệp Định Paris, nhất là nơi Điều 15) và chỉ mong chiến thắng (tiếp tục vận
chuyển bộ đội, vũ khí Trung cộng, Liên Xô vào miền Nam) hơn là xây dựng nền hòa
bình thực sự như trong bản Hiệp Định mang tên Hòa Bình đó. Có lẽ, cũng vì vậy,
niềm hy vọng mong chờ một đặc ân trong hòa hợp hòa giải dân tộc từ phía nhà cầm
quyền đương thời, cho những phần mộ của chiến sĩ "được nằm yên" trong
NtQdBH, là một điều rất mong manh - chắc không bao giờ là hiện thực. Vả lại Việt
Nam
hôm nay có quá nhiều thay đổi; sức mạnh đồng tiền (đô la) không còn là hư ảo
trong chủ nghĩa xã hội nữa, mà nó hiển hiện một cách trung thực, rõ ràng, và
mãnh liệt nhất, hơn cả sinh mạng con người đang sống. Thì làm sao, có thể đặt
chút hy vọng vào một đặc ân nào đó cho người quá cố của chế độ "thù nghịch"
cũ ! (?).
Quê hương tàn chinh chiến…/ Sầu đông trong cải tạo! / Sàigon mùa đông chinh chiến!
Huỳnh-Mai * đăng lúc 11:13:53 AM, Apr 07, 2011 * Số lần xem: 1377
Hình ảnh
#1
Quê hương tàn chinh chiến…
Huỳnh-Mai.St.8872
Bh.Dạ Lệ Huỳnh
Ngồi ngắm mây qua khung trời Cải-Tạo,
Lắng tiếng bomb rền…vọng tiếng rừng sâu…
Mắt lệ hỏa châu hết buồn chinh chiến,
Pháo hoa chiến thắng nhỏ lệ trong tù,
Một đời chinh chiến trọn giành tổ quốc…
Một thưỡ hòa bình cho đất nước tôi,
Mà sao cay đắng dành riêng Cải Tạo…
Góc tối tù đày phần thưởng chiến tranh,
Thương đau chấp nhận vì anh chiến sĩ,
Ngục tù cải tạo…quê hương hòa bình,
-0-
Quê hương một dảy nước non dân tộc,
Một thoáng hòa bình…phải giá đắng cay…
Đời là hạnh phúc “Thiên-đàng Cộng-Sản”
Sống đời nô cộng chịu kiếp sắn khoai…
Bắp ngô độn bửa người thành trâu ngựa…
Hòa bình êm-ả trên đồng cỏ xanh,
Đó là hạnh phúc cho người phản chiến,
Con vật tế thần chủ nghĩa cộng nô…
Đành lở rồi quê hương tàn chinh chiến,
Hòa bình không thấy…thấy toàn thương đau…?
-0-
Hởi người chiến sĩ đừng buồn cải tạo…
Quê hương mình vận nước…hãy chưa thôi,
“Hòa bình phản chiến”ý người dân muốn,
Anh phải ngồi tù…phản chiến theo dân…
“Hòa bình gảy súng” thôi đành chấp nhận,
Danh dự trách nhiệm…đâu bằng hiếu dân,
Chiến đấu hy sinh cũng vì tổ quốc…
Cải tạo tù đày chết cũng vì dân…
Dù chiến bại chí hùng anh bất khuất,
Không hổ thẹn lòng chết cũng vì dân,
-0-
Lâu lắm rồi vận nước chưa đổi thay…
Ba lăm năm chiến thắng,giấc ngủ dài,
Thở ngắn than dài mình ta thức trọn…
Canh xác Tự-Do cạnh xác người say,
Người dân chưa tỉnh…Tự-Do còn chết
Đấu tranh đơn độc…hiểm nguy riêng mình,
Chiến hữu Tự-Do tìm đường xứ ngoại…
Bỏ lại mình ta chôn xác Tự-Do…
Không kèn không trống… không ai đưa tiễn,
Tù trong, tù ngoài mộ chí Tự-Do…
-0-
Ta biết tủi hờn…hồn thiêng sông nùi,
Sống chặt đời thà nát với cỏ cây…
Thấy được mình.làm phân cho hoa lá,
Tô điểm thêm đời…thiếu vắng Tự-Do,
Mất Tự-Do rồi…đời đâu nghĩa sống…?
Mồ hoang chiến sĩ…sung gảy vẫn còn…
Lưu dấu một thời hòa bình chiến đấu…
Để lại lòng người….một chút nhớ thương,
Sống chi một kiếp…đời người nô cộng…?
Quê hương tàn chinh chiến…mất Tự-Do,
Huỳnh-Mai
“Tàn chinh chiến”
Thơ,
Sầu đông trong cải tạo!
{Nước Mắt…kẽm gai}
Huỳnh-Mai.St.8872
Bh.Dạ lệ Huỳnh
Mù sương trắng xóa phủ trùm láng trại!
Một màu tang tóc cỏi chết mùa đông!
Tiếng kẽng vang lên chiêu hồn sức sống,
Một đám thây ma sống cảnh vô hồn!
Chiến bào tơi-tả…lắm đầy bụi muối,
Mồ hôi hản-mã lao cải nông trường…
Nợ nước tình nhà nay vào cải tạo!
Cày xới vun trồng sỏi đá thành cơm…
Đá lên bông…vút cao miền kiêu hãnh!?
Nhìn rào kẽm thép thấy lạnh buồn thêm!
-0-
Cái lạnh Miền Nam đâ bằng rét Bắc!
Mà sao tím-tái lòng người Miền Nam!?
Gió bấc đem đông tràn vào Cải-Tạo!?
Mang theo rau muống ngập đầu bếp ăn…
Bắp ngô, khoai sắn…lẽ người chiếng thắng!
Con sâu cái kiến…cũng lẽ trời nuôi…
Rét lòng lượm nhặt tàn dư thuốc cáng!?
Phì phà khói thuốc cho tù…lên hương…!?
Gió đông thuốc cáng…lên đời sâu bọ!
Thuốc rê cải tạo…chịu đời đắng cay…
-0-
Mưa phùn gió bấc lạnh lòng lao cải!
Run…tiếng bomb rền vang chiến trường xưa…
Điếu thuốc lượm được! năm ba đứa hút!!!
Ấm lòng chiến sĩ trong tù gió đông…
Bắp, khoai cải tạo:”là của nhân dân?
Không quyền nướng cắp”…no lòng tù nhân!?
Thoát cơn đói lạnh…tình người chiến bại!
Đòn thù độc ác…”thú-người “rừng xanh…!?
Dù đói lạnh người tù không biết khóc!?
Để dành nước mắt khóc cho quê hương!?
-0-
Bên kia trời…nhìn qua rào kẽm thép…!
Bình minh còn phủ sương đông quá dày…!
Mắt thép kẽm gai…lạnh lùng nhìn cảnh báo!?
Bên ngoài rào…” chuồng trại của nhân dân”…!?
Xem ra nó khổ còn hơn người tưởng!?
Bắp khoai ngô sắn….nghẹn lời khóc than!
Giọt sương đọng…nước mắt trên rào kẽm!
Tiếng hạt buồn rơi rụng…mắt kẽm gai!
Nước mắt kẽm gai vì đời đổ lệ!?
Cho người quên lãng…cho mình lãng quên!
-0-
Ngục tù cải tạo khí hùng bất khuất!
Đã quen rồi, hổ lại nhớ rừng xanh…?
Nước mắt kẽm gai khóc đời chiến sĩ!
Cũng không ngăn nổi”đạn nổ trong tù!
Trong cơn đạn nổ…thấy lòng rộng mở!
Ấm lại quê hương…một chút kiêu hùng!?
Tặng lại quê hương tất lòng Cải-Tạo!?
Không còn non nước…vẫn lòng Quốc-Gia!
Trong kiếp đọa đày nào ai có biết!?
Đêm đông khóc hận nước non một mình…!
Huỳnh-Mai
{Nước mắt kẽm gai}
Thơ,
Sàigon mùa đông chinh chiến!
Huỳnh-Mai.St.8872
Bh.Dạ lệ Hùnh
Đông về thành phố từng cơn buốt lạnh!
Lạnh lắm không anh cải tạo trong tù!?
Nơi đây sương lạnh một trời thiếu vắng…!
Ai dìu bước em trong nắng mùa đông!
-0-
Sàigon đó anh…đông nầy lạnh lắm!!!
Cái lạnh se lòng gió Bắc vào Nam…!
Me già rụng lá, lệ rơi lã chã…!
Rơi trên ghế đá để sầu công viên!
-0-
Vắng anh là cả mùa đông cõi chết!
Nghe lòng buốt lạnh thiếu vắng chinh nhân,
Anh mang hơi ấm từng vùng hỏa tuyến!
Sưởi ấm lòng em lúc giá đông về!
-0-
Anh đi biền biệt mang theo nồng ấm…!
Bỏ lại Sàigon…cho mặc giá đông!
Cái lạnh rừng sâu…chiến trường anh đó!
Tràn về phố thị giá buốt lòng em!
-0-
Đèn đường ngơ ngẩn thẩn thờ soi bóng…!
Cúi đầu ngấn lệ sầu đông vắn-dài!
Ai đem cái lạnh từ phương Bắc đến…!?
Cho kiếp má hồng khóc bạn tình xưa!
-0-
Áo ấm mùa đông, chiếc khăn choàng cổ!
Chưa kịp trao anh…dung duỗi chiến trường!
Anh có biết cái lạnh mùa đông cải tạo!?
Cái lạnh Sàigon thấu buốt tim côi…!
-0-
Sàigon mùa đông phủ đầy sương trắng!
Ào ành dần lên…áo trắng học trò!
Tung bay tà áo dệt trời thơ mộng…!
Sao nay…trắng xóa khăn tang Sàigon!
-0-
Sương đông mờ ảo nhạt nhòa phố thị!
Anh đâu có biết tên đường nhà em!?
Đổi đường đổi phố đổi cả mùa đông…!?
Chỉ còn giá lạnh… cái trong lòng người!?
-0-
Thành Hồ sương trắng chìm trong ảo vọng!
Lộ nét trang đài vóc dáng kiêu sa…!
Nét người con gái hồng lên đôi má!
Mùa đông Sàigon khuất bóng trong mơ!
-0-
Sàigon buốt lạnh mùa đông xứ Bắc,
Không có tuyết rơi…lệ đổ ngập lòng!
Ngắm nhìn sương trắng phủ “Thành chiến bại”!
Thương “Cây súng gảy bên rào kẽm gai…!
Huỳnh-Mai
{Mùa đông chinh chiến}
Nguồn:http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=6515
|
10/31/201712 Comments Hải Âu (Danlambao)-Dưới
chế độ cai trị độc tài của đảng cộng sản, không một nhóm, hội hay tổ
chức xã hội dân sự độc lập nào được phép công khai thành lập và hoạt
động. Mặc dù hầu hết các nhóm, hội, tổ chức xã hội dân sự đều đặt mục
tiêu xây dựng một xã hội, một đất nước nhân quyền và phát triển. Những
mục tiêu, lý tưởng cao cả ấy được cổ suý bằng tinh thần yêu nước và hoạt
động trong phương châm bất bạo động. Nhưng điều đó lại khai sáng tri
thức cho người dân cũng như phơi bày sự tàn độc của một chế độ thối nát.
Vì thế đảng cộng sản luôn xem tất cả các tổ chức, nhóm, hội có tiếng
nói bất đồng chính kiến với tư tưởng cộng sản là những tổ chức phản
động. Từ đó cộng sản luôn ra sức trấn áp nhằm triệt hạ các nhóm, hội, tổ
chức này bằng những thủ đoạn đê tiện.
Thế nhưng “hội cờ đỏ”, một liên minh khủng bố mới vừa công khai ra mắt
trong sự bảo kê của những kẻ cầm quyền cộng sản. Đây là một tổ chức qui
tụ thành phần nam, nữ, già, trẻ có tư duy cuồng đảng, cuồng Hồ. Chúng tự
đặt cho mình trách nhiệm “bảo vệ tổ quốc” bằng những đợt bạo loạn, tấn
công khủng bố những nhà hoạt động dân chủ, những vị chức sắc và giáo dân
Công Giáo.
Kể từ tháng 4/2017, hội cờ đỏ đã nhiều lần khủng bố tinh thần các linh
mục và bà con giáo dân tại nhiều giáo xứ thuộc giáo phận Vinh. Chúng tấn
công giáo xứ Văn Thai, giáo xứ Đông Kiều, giáo xứ Song Ngọc. Chúng hung
hãn đánh đập nhiều giáo dân gây thương tích nặng và đập phá tài sản
cùng nhiều ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ của người Công Giáo. Những việc làm
của chúng đều được người dân ghi lại hình ảnh bằng camera an ninh. Thế
nhưng trước những dữ liệu được người dân cung cấp cho phía côn an nhưng
thành viên hội cờ đỏ không hề mất một sợi tóc trên đầu. Bởi lẽ chúng
được sự bảo kê ngầm của nhà cầm quyền cộng sản.
Sau những “chiến tích” trên, công cuộc “bảo vệ an ninh tổ quốc” bằng bạo
lực và sự tàn độc của những tên cuồng đảng cuồng Hồ đã nhận được sự
“khích lệ” âm thầm của những kẻ cầm quyền trong đảng. Vì thế ngày
29/10/2017, “hội cờ đỏ” đã chính thức ra mắt với hơn 700 thành viên tại
buổi giao lưu được tổ chức tại xóm 8 xã Sơn Hải, cách nhà thờ giáo họ
Văn Thai khoảng 30 mét. Đây được xem là buổi phô trương thanh thế của
một tổ chức ô hợp nhằm thách thức và khủng bố linh mục, giáo dân giáo họ
Văn Thai nói riêng và giáo xứ Song Ngọc nói chung.
Hội cờ đỏ nổi lên sau vụ việc Phan Sơn Hùng cùng đồng bọn hành hung mấy
người phụ nữ tại quận 2 thành Hồ. Tiếp đến là sự kiện một nhóm cờ đỏ
hung hãn mang theo súng và hung khí xâm nhập nhà thờ Thọ Hoà, Đồng Nai
để gây hấn với linh mục quản xứ tại đây. Nhưng điểm nóng mà chúng muốn
“xử lý” chính là các giáo xứ thuộc giáo phận Vinh. Nơi đây bà con giáo
dân đang vật lộn với thảm họa môi trường biển do Formosa và đảng cộng
sản gây ra tại 4 tỉnh miền Trung.
Rất có thể sắp tới đây, giáo dân và các vị chức sắc Công Giáo tại giáo
phận Vinh sẽ gặp nhiều bất trắc trước sự hung tàn của đám người ô hợp
trong cái gọi là hội cờ đỏ. Máu có thể rơi, mạng có thể mất nhưng niềm
tin vào Công Lý và Sự Thật của linh mục, giáo dân nơi đây sẽ chẳng bao
giờ suy tàn. Đó chính là sức mạnh, là vũ khí để chống lại bạo tàn của
cộng sản và để Hoà Bình ngự trị trên quê hương Việt nam.
Không cần nói thì ai cũng biết kẻ chủ mưu đứng sau liên minh “hội cờ đỏ”
chính là đảng cộng sản. Nhưng vì sao một thể chế cộng sản với khí giới
và quyền lực trong tay lại sử dụng những tên ô hợp như Trần Nhật Quang,
Nguyễn Trọng Nghĩa, Lê Quỳnh Hoan, Phan Sơn Hùng…Câu trả lời thật ra rất
đơn giản khi tính “chính danh” của cộng sản không cho phép sử dụng bạo
lực trấn áp những người giáo dân hiền lành. Lại càng không thể dùng bạo
lực một cách chính qui để trấn áp những nhà hoạt động xã hội bất bạo
động. Vì thế việc sử dụng thành phần ô hợp trong “hội cờ đỏ” là một
chính sách ném đá giấu tay của cộng sản với mục đích khủng bố những
tiếng nói bất đồng.
Điểm nữa là vấn nạn tham nhũng và những cuộc chiến quyền lực trong đảng
cộng sản đang gây ra sự khủng hoảng ngân sách trầm trọng. Vì vậy việc sử
dụng những kẻ ngu muội trong “hội cờ đỏ” sẽ giúp cộng sản giảm chi phí
đáng kể so với lực lượng chính qui. Cộng sản chỉ cần ban phát cho chúng
chút danh tiếng cùng vài khoản chi phí cho việc tụ tập là có thể khiến
chúng lên đồng đánh đập, hủy hoại tài sản của giáo dân, giáo xứ mà chúng
xem là thành phần “phản động”.
Khi cộng sản sử dụng “hội cờ đỏ” khủng bố, tấn công trấn áp các vị linh
mục và giáo dân công giáo, điều đó đồng nghĩa với việc bàn tay của những
kẻ cầm quyền sẽ không vấy máu nhân dân. Cộng sản phủi tay bằng cách
dùng dân đánh dân càng minh chứng cho sự thâm độc, tàn ác của những kẻ
cầm quyền. Tuy nhiên âm mưu nham hiểm của đảng cộng sản sớm muộn sẽ vấp
phải những tác hại cực kỳ nghiêm trọng. Một con dao hai lưỡi có thể gây
tổn thương cho chính đảng cộng sản và “hội cờ đỏ”.
Những tên tham gia “hội cờ đỏ” chắc chắn là những kẻ “đáng thương” nhất
trong một xã hội bị cộng sản tuyên truyền bằng sự gian dối. Một ngày nào
đó, chính cộng sản sẽ triệt hạ chúng vì đối với cộng sản, ngoài đảng
mafia đỏ thì không thể có một tổ chức nào được phép tồn tại. Dù cho tổ
chức đó được tạo ra từ những thủ đoạn nham hiểm của cộng sản. Và một
ngày nào đó khi cộng sản sụp đổ thì người dân sẽ truy tìm những tên
trong “hội cờ đỏ” khát máu cuồng cộng, cuồng hồ để thanh toán. Bài học
“hồng vệ binh” từ người bạn vàng Trung cộng vẫn còn đó để những kẻ trong
“hội cờ đỏ” rút ra cái nhìn đúng đắn trước khi quá muộn.
Cho đến lúc chúng tôi viết xong bài này, là đúng một tháng, cuốn phim 10 tập “THE VIETNAM WAR”
của hai nhà đạo diễn Mỹ là Kenn Burnes và Lynn Novick đã được trình
chiếu rộng rãi trên các phương tiện truyền thống đại chúng. Đối với khán
giả các giới Việt Nam trong và ngoài nước, đã có những cảm nhận khác
nhau, đưa đến các cuộc tranh cãi trong chốn riêng tư hay qua các bài
viết về nội dung, ý nghĩa, tính trung thực và khách quan hay không của
bộ phim này.
Trong bài trước “The Vietnam War là chiến tranh gì?”, được đăng tải trên diễn đàn này của Đài VOA, người viết đã định danh, định hình là “Cuộc Nội Chiến Ý Thức Hệ Quốc-Cộng” giữa người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia (chủ nghĩa quốc gia: Nationalism) và người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản (chủ nghĩa cộng sản:Communism) trong bối cảnh cuộc “Chiến Tranh Ý Thức Hệ Toàn Cầu” (TheGlobal War Of The Ideology) giữa cộng sản chủ nghĩa (Communism) đứng đầu là Liên Xô với phe các nước xã hội chủ nghĩa; và tư bản chủ nghĩa (Capitalism) đứng đầu là Hoa Kỳ với phe các nước tư bản chủ nghĩa.
Trong bài viết này, người viết sẽ định tính và định lượng “The Vietnam War là chiến tranh của ai, do ai và vì ai?”.
I/- THE VIETNAM WAR LÀ CHIẾN TRANH CỦA AI?
Theo cách định danh, định hình của chúng tôi (bên cạnh cách định danh, định hình khác như chúng tôi đã trình bày) thì The Vietnam War là cuộc chiến giữa “Hai phe, bốn bên”. Hai phe đó là: Phe xã hội chủ nghĩa(XHCN) đứng đầu là Liên Xô và các nước XHCN (hay cộng sản) trong đó có bên cộng sản Bắc Việt (gọi tắt là Việt cộng); và phe tư bản chủ nghĩa (TBCN)đứng đầu là Hoa Kỳ và các nước tư bản chủ nghĩa, trong đó có bên quốc gia Nam Việt (gọi tắt là Việt quốc). Cả hai phe cùng thực hiện “cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu” giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa dưới hình thái một “cuộcChiến tranh nóng” (The Hot War) hay “Chiến tranh cục bộ” tại chiến trường Việt Nam. Bốn bên đó là: Bên Liên Xô, Trung Quốc với các nước XHCH (bên ngoài gián tiếp tham chiến) và bênViệt cộng (bên bản xứ trực tiếp tham chiến) thuộc phe XHCN.- Bên Hoa Kỳ với các nước đồng minh TBCN (bên ngoài tham chiến gián tiếp lúc đầu (1954-1963), sau trực tiếp tham chiến) và bên Việt quốc (bên bản xứ trực tiếp tham chiến) thuộc phe TBCN. Như vậy có thể coi“The Việt Nam War”là “ngoại chiến”(chiến tranh ngoài nước) của các nước Liên Xô, Trung quốc với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; cũng là “ngoại chiến” của Hoa Kỳ với các nước đồng minh trong phe tư bản chủ nghĩa. Đồng thời “The Vietnam War” là “Nội chiến”
của hai bên người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản và người Việt Nam
theo ý thức hệ quốc gia. Chính vì vậy chúng tôi đã định danh, định hình
chiến tranh Việt Nam là một “Cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng”.
Cuộc nội chiến này diễn ra trong bối cảnh của cuộc chiến tranh ý thức
hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa là như thế.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, dù hai cuộc chiến này cùng diễn ra trên chiến trường Việt Nam, trùng lắp không gian và thời gian, có thể bề ngoài cùng chung mục tiêu, lý tưởng (của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa tư bản) , nhưng khác biệt lợi ích và ý đồ giữa các bên tham chiến muốn thành đạt thông qua “The Vietnam War”. Bởi lẽ nếu hai “cuộc chiến ý thức hệ toàn cầu” và “cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng” tại Việt Nam là một, thì sau ngày 30-4-1975, “bên thua cuộc” Việt quốc đã không còn lý do tiếp tục chống lại “bên thắng cuộc”
Việt cộng cho đến nay và vẫn đang tiếp tục cho đến khi nào giành được
mục tiêu tối hậu của chủ nghĩa quốc gia là dân chủ hóa đất nước. Và mặc
dù cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản
chủ nghĩa (hay là cuộc Chiến tranh Lạnh theo cách gọi của Tây phương) đã chấm dứt 27 năm rồi (1990-2017).
II/- THE VIETNAM WAR LÀ CHIẾN TRANH DO AI ?
“Cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu” hình thành sau Thế Chiến II diễn ra dưới hai hình thái “Chiến tranh Lạnh ” (The Cold War) giữa các cường quốc giầu mạnh (Chiến tranh tâm lý, tuyên truyền, chạy đua vũ trang…) và “Chiến tranh Nóng” (The Hot War) nơi các nước nghèo yếu như Việt Nam (chiến tranh tâm lý, khủng bố, chiến tranh vũ trang…(1)). Phe cộng sản, đứng đầu là Liên Xô thì phất cao ngọn cờ“Cách mạng vô sản” để lôi kéo các nước nghèo đi vào quỹ đạo của mình, để cùng thực hiện mục tiêu lý tưởng chung của chủ nghĩa xã hội (Chính
trị độc tài toàn trị- Kinh tế chỉ huy hoạch định cứng rắn, tài sản công
hữu, tiến tới xã hội cộng sản không còn giai cấp…(2) Phe thư bản đứng đầu là Hoa Kỳ thì phất cao ngọn cờ“ tự do dân chủ” để lôi kéo các nước nghèo đi vào quỹ đạo của mình để cùng thực hiện mục tiêu lý tưởng chung của chủ nghĩa tư bản (Chính
trị dân chủ pháp trị, kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, tôn trọng
quyền tư hữu trong một xã hội tự nhiên vốn có giai cấp, cộng đồng đồng
tiến...(3).
Sự cạnh tranh giữa hai phe cộng sản và tư bản để “lấn đất dành đồng chí hay bảo vệ đồng minh giữ đất” đã
đưa đến các cuộc chiến tranh cục bộ nơi các nước thường là những nước
nghèo, mới thoát ách thống trị của các đế quốc thực dân.Các cuộc chiến
tranh cục bộ này thường là các cuộc nội chiến ý thức hệ do có sự xung
đột giữa ý thức hệ vốn có từ trước của những người trong nước (chủ nghĩa quốc gia) với ý thức hệ cộng sản (chủ nghĩa cộng sản) mới du nhập. Thực tế tựa hồ như có sự phân công: Phe cộng sản thường ở thế tấn công, phát động chiến tranh lấn chiếm lãnh thổ, cướp chính quyền. Phe tư bản thì thường ở thế phản công, ngăn chặn, đẩy lùi để bảo vệ lãnh thổ, chính quyền với tổ chức xã hội hiện hữu nơi các nước có hiểm họa cộng sản (Chủ thuyết Domino) Việt Nam cũng như một số nước nghèo yếu ( như Miên, Lào, Đại Hàn, một số nước ở Châu Phi, Châu Mỹ Latin…)
có số phận không may đã rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý
thức hệ toàn cầu. Vì trước đó, chủ nghĩa cộng sản đã du nhập Việt Nam,
với đảng CSVN chính thức có mặt trên chính trườngViệt Nam từ ngày
3-2-1930 tạo ra mâu thuẫn đối kháng với chủ nghĩa quốc gia (quân chủ chuyên chế rồi dân chủ tự do…). Nói cách khác, nếu chủ nghĩa cộng sản không du nhập, đã không có đảng CSVN, đã không có cuộc “nội chiến ý thức hệ quốc-cộng” kéo dài nhiều thập niên qua, trước cũng như sau cuộc chiến tranh Quốc-Cộng (1954-1975) cho đến nay vẫn chưa chấm dứt. Do đó, dù muốn dù không Việt Nam đã được chọn là chiến trường thực hiện hình thái “Chiến tranh nóng”
cao độ, để qua đó các cường quốc đứng đầu hai phe cộng sản và tư bản
tranh dành lãnh địa, lôi kéo Việt Nam đi vào quỹ đạo của mình, nhân danh
mục tiêu lý tưởng tối hậu của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa tư bản.
Một số người Việt Nam, hàng đầu như Ông Hồ Chí Minh, đã bị mê hoặc của lối mời chào này, quy tụ thành “Đảng Cộng sản Việt Nam” ( đảng CSVN ra đời năm1930), nằm trong hệ thống các đảng cộng sản quốc tế, nên đã tự nguyện, chủ động tiến hành “Cách mạng vô sản” dưới ngọn cờ “chống ngoại xâm, giành độc lập” (thời kỳ kháng chiến chống pháp)hay “Chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”(Thời kỳ chến tranh ý thức hệ toàn cầu)
để cướp chính quyền Miền Nam, cộng sản hóa Việt Nam, mở mang bờ cõi cho
phe xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, để thực hiện cuộc
chiến tranh này, bên Việt cộng đã được Liên Xô, Trung Quốc và “Các nước xã hội chủ nghĩa anh em” chi
viện dồi dào mọi mặt về của, về người, như vũ khí, lương thực, y tế và
cả nhân lực cố vấn, chuyên gia, hậu cần hay ngụy trang tham gia chiến
đấu, để “giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước” dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, cộng sản hóa cả nước..
Hiệp Định Genève 1954 chia đôi Việt Nam đã chấm dứt chế độ thuộc địa
của thực dân Pháp kéo dài gần 100 năm (1858-1954). Vì Hiệp định này chỉ
là sự ký kết giữa chính quyền thực dân Pháp và Việt Minh (tức Việt cộng)
sau khi căn cứ chiến lược Điện Biên Phủ bị thất thủ, nên việc giao Miền
Bắc Việt Nam từ vỹ tuyến 17 cho Việt cộng chỉ có ý nghĩa như là Pháp bị
mất một nửa thuộc địa Việt Nam cho phe xã hội chủ nghĩa, để sau đó, một nửa nước Miền Bắc Việt Nam trở thành “tiền đồn cho phe xã hội chủ nghĩa”, có nhiệm vụ phát động cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, đưa Việt Nam vào hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, có chung một “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô” (có sự cạnh tranh ngôi vị của Trung Quốc). Một nửa Miền Nam Việt Nam Pháp đã đến lúc không thể
tiếp tục kéo dài chế độ thuộc địa,buộc phải trao trả độc lập hoàn toàn,
sau khi đã trao trả độc lập từng phần từ năm 1949, cho chính quyền quân
chủ Việt Nam với vua Bảo Đại, là vị vua cuối cùng của dòng họ Nguyễn đã
trị vì trước và sau khi bị thực dân Pháp xâm chiếm đô hộ. Và vì vậy,
chính quyền quốc gia quân chủ và sau đó chính quyền dân chủ Việt Nam
Cộng Hòa coi mình là một chính quyền chính thống của quốc gia Việt Nam,
tiếp nhận nền độc lập từ tay thực dân pháp. Thế nhưng sau đó lại rơi vào
thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu. Miền Nam Việt nam
đã trở thành “Tiền đồn cho phe tư bản chủ nghĩa” hay còn gọi là “Tiền đồn thế giới tự do” đứng đầu là Hoa Kỳ với các nước phe tư bản chủ nghĩa, viện
trợ mọi mặt cho chính quyền và nhân dân Miền Nam, trực tiếp tham chiến
chống cộng,để cùng ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh thôn tính Miền
Nam, nhuộm đỏ đất nước của Việt cộng, được Liên Xô, Trung Quốc và các
nước phe xã hội chủ nghĩa chi viện toàn diện. Đến đây có thể trả lời cho câu hỏi “THE VIETNAM WAR” là chiến tranh do ai gây ra:
Rằng chính Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở thế tiến công đã gây ra
cuộc chiến, khi chủ mưu và hổ trợ cho đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Bắc
Việt khởi động cuộc chiến tranh Việt Nam, với vũ khí, lương thực đạn
dược, các phương tiện giết người của Liên Xô, Trung quốc và các nước
trong phe xã hội chủ nghĩa. Vậy các bên khởi động cũng như bị động tham
gia cuộc chiến tranh Việt Nam là vì ai?
III/- THE VIETNAM WAR LÀ CHIẾN TRANH VÌ AI?
Như ở phần (I) chúng tôi đả viết: “dù hai cuộc chiến này cùng diễn ra
trên chiến trường Việt Nam, trùng lắp không gian và thời gian, có thể bề ngoài cùng chung mục tiêu, lý tưởng, nhưng khác biệt lợi ích và ý đồ giữa các bên tham chiến muốn thành đạt thông qua “The Vietnam War”. Vậy THE VIETNAM WAR là chiến tranh vì ai? - Chúng tôi thử nhận định qua bốn bên trong hai phe tham gia trực tiếp hay gián tiếp cuộc chiến Việt Nam là vì ai? Đối với hai bên ngoại chiến đứng đầu phe XHCN là Liên Xô ( thêm Trung Quốc) và đứng đầu phe TBCN là Hoa Kỳ,
thì cả hai bên tham gia chiến tranh Việt Nam gián tiếp hay trực tiếp
đều vì quyền lợi quốc gia của họ, dưới chiêu bài khác nhau. Bên Liên Xô (cũng như Trung Quốc)
và bên Hoa Kỳ và một số nước đồng minh khi tham chiến đều nhằm thành
đạt các lợi ích chính trị,quân sự kinh tế và các lợi ích khác của chính
quốc gia của họ, thông qua cuộc chiến Việt nam. Cả hai bên ngoại chiến
đều nhân danh những lý tưởng cao đẹp khi tham chiến là để giúp hai bên
nội chiến đồng chí (Việt cộng) hay đồng minh (Việt quốc) thắng cuộc để thực hiện mục tiêu lý tưởng chung.
Chẳng hạn về chính trị cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều thông qua chiến tranh
Việt Nam để tạo ảnh hưởng, lôi kéo Việt nam vào quỹ đạo của mình. Liên
Xô thì có tham vọng cộng sản hóa toàn cầu để trở thành bá chủ. Hoa Kỳ
thì tham gia chiến tranh Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn, đẩy lùi các
cuộc chiến tranh xâm lấn lãnh địa, thực hiện tham vọng cộng sản hóa toàn
cầu của Liên Xô
Chẳng hạn về quân sự, kinh tế …các cường quốc trong hai phe cộng sản
và tư bản nhờ chiến tranh Việt Nam đã tiêu thụ được lượng vũ khí đạn
dược và các khí tài quân sự tồn đọng sau Thế Chiên II và là nơi thử
nghiệm thêm nhiều loại vũ khí mới. Một điển hình là sau Hiệp Định Genève
chia đồi Việt Nam, quân đội VNCH ở Miền Nam ở thế thủ, trong thời gian
đầu đã chỉ được Hoa Kỳ trang bị các loại súng cá nhân từ thời Thế Chiến
II như súng Garant (mỗi khi bắn phải lên cò từng viên), hay
súng liên thanh Carbin M.1 hay M.2. Mãi cho đến khi quân đội CSBV được
Liên Xô, Trung Quốc trang bị cho vũ khí cá nhân AK, thì quân đội VNCH
mới được Hoa Kỳ trang bị cho AR.15 hay 16. Nghĩa là quân đội VNCH được
trang bị vũ khí các loại tối tân theo kiểu “nước lên, thuyền lên”.
Bên Việt cộng đóng vai trò tấn công trong cuộc chiến được Liên Xô,
Trung Quốc trang bị các loại vũ khí tối tân đến đâu thì quân đội VNCH ở
thế thủ cũng được Hoa Kỳ và đồng minh trang bị vũ khí tối tân đến đó.
Vì vậy, theo nhận định của chúng tôi, một khi thấy “The Vietnam War”
không còn lợi ích, các cường quốc đứng đầu hai phe đã tìm cách chủ động
đưa cuộc chiến Việt Nam đi đến kết thúc.Vì vậy chúng tôi từng nhận định
rằng, thực tế “The Vietnam War” chấm dứt như thế “không phải là thắng lợi của phe này ( Phe XHCN và Việt cộng) đối với phe kia (Phe TBCN và Việt quốc) mà chỉ là vì nhu cầu phải thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực mà thôi” (4) Đối với bên nội chiến Việt cộng ở Miền Bắc thì phát động chiến tranh nhân danh lợi ích ngụy dân tộc “kháng chiến chống Mỹ xâm lược, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước” để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, vì “độc lập- tự do-Hạnh phúc” của nhân dân. Đồng thời, nhân danh quyền lợi giai cấp vô sản, thực hiện nghĩa vụ quốc tế cộng sản làm “Chiến tranh cách mạng” để nhuộm đỏ Việt Nam và các nước Đông Dương (Việt-Miên-Lào…), cộng sản hoá tòan cầu để thực hiện mục tiêu lý tưởng cộng sản tối hậu (một thế giới đại đồng, không còn biên giới quốc gia, xã hội cộng sản viên mãn như “Thiên đường cộng sản”).
Do đó đã được Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe XHCN chi viện
vũ khí đạn dược, lương thực dồi dào để giành chiến thắng bằng bạo lực
cách mạng. Đối với bên nội chiến Việt quốc ở Miền Nam thì buộc
lòng phải tham gia một cuộc chiến tự vệ vì lợi ích dân tộc, để bảo vệ
phần đất Miền Nam và chế độ dân chủ VNCH vì lý tưởng tự do dân chủ, với
sự trợ giúp nhiều mặt của Hoa kỳ và đồng minh. Mục tiêu lý tưởng của
Việt quốc là dân chủ hóa cả nước, không phải bằng bạo lực chiến tranh
thôn tính, mà bằng ưu thắng của chế độ dân chủ pháp trị giầu mạnh văn
minh tiến bộ ở Miền Nam trên chế độ độc tài toàn trị cộng sản nghèo yếu,
lạc hậu ở Miền Bắc. (như thực tế nước Đức đã thống nhất bằng sự ưu
thắng của chế độ dân chủ Tây Đức giầu mạnh, trên chế độ độc tài cộng sản
Đông Đức …)
Vậy thì, một cách khách quan và công bằng, chúng tôi cho rằng cả hai bên nội chiến phát động chiến tranh từ Miền Bắc (Việt cộng) hay chiến tranh tự vệ ở Miền Nam (Việt quốc)
đều có ý hướng muốn thống qua cuộc chiến giành chiến thắng để có điều
kiện thực hiện mục tiêu lý tưởng tối hậu của mình trên cả nước, theo chủ
nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa quốc gia. Vì tự tin rằng đó là điều tốt
đẹp cho nhân dân, đất nước và dân tộc.
Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng hai bên Việt quốc cũng như Việt cộng, dù ở
thế chẳng đặng đừng phải làm công cụ cho hai phe ngoại bang trong cuộc
chiến tranh ý thức hệ toàn cầu, nhưng không người Việt quốc gia chân
chính nào ở Miền Nam nghĩ rằng mình tham gia cuộc chiến chống cuộc chiến
tranh xâm lấn của CSBV là “đánh thuê cho Mỹ”, mà là để
bảo vệ phần đất Miền Nam vì lý tưởng tự do dân chủ của chủ nghĩa quốc
gia. Trái lại, cũng như những người Việt cộng sản chân chính, không ai
nghĩ rằng “Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung quốc”
như Cố Tổng Bí Thư đảng CSVN Lê Duẩn đã phải tuyên bố khi Việt Nam bị
Trung Quốc bức bách sau chiến tranh; mà hầu hết thực tâm tham gia cuộc
chiến là say mê vì lý tưởng cộng sản mà họ tin là cao đẹp, có thể hiện
thực. Chẳng thế mà trong thời kỳ chiến tranh, cố Thủ tướng Việt cộng
Phạm Văn Đồng đã ra công hàm năm 1958 tán đồng tuyên bố chủ quyền Biển
Đông của Trung Quốc, có lẽ vì cả tin cho rằng “không còn biên giới quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản,” thì các hải đảo ở Biển đông là của Việt Nam hay Trung Quốc cũng thế thôi?-
Tựu chung, cuộc chiến tranh “cốt nhục tương tàn” (1954-1975)
và sau khi cuộc chiến tranh này đã kết thúc 42 năm rồi (1975-2017) đã
cho thấy cuộc chiến tranh ấy đã không đem lại những điều tốt đẹp gì cho
nhân dân, đất nước và dân tộc như mong đợi của cả đôi bên Việt Quốc cũng
như Việt Cộng. Thực tế chẳng cần nói ra thì ai cũng biết, cuộc chiến ấy
đã chỉ để lại những hậu quả nghiêm trọng, toàn diện và di hại lâu dài
cho dân, cho nước. Trong khi mục tiêu lý tưởng tối hậu của “bên thắng cuộc” cũng như “bên thua cuộc” vẫn chưa bên nào đạt được. “Bên thắng cuộc” (Việt cộng) thì đã có điều
kiện và cơ hội thực hiện mục tiêu lý tưởng của mình là xây dựng chủ
nghĩa xã hội sau chiến tranh. Thế nhưng đã thất bại hoàn toàn sau 10 năm
đầu thử nghiệm triệt để chủ nghĩa xã hội(1975-1985) qua “đổi mới” 10 năm (1985-1995) vẫn không thành, phải “mở cửa” bắt tay với cựu thù “Đế quốc Mỹ”
để cho các nước tư bản tràn vào đầu tư. Từ đó và nhờ đó đảng CSVN đã
thoát hiểm, kinh tế Việt Nam cất cánh để có bộ mặt xã hội phát triển
phồn vinh như hôm nay. Đời sống nhân dân ngày được nâng cao, dù sự cách
biệt giầu nghèo còn sâu sắc; nhân dân từng bước đã được trả lại các
quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền. “Bên thua cuộc” (Việt quốc) thì tiếp tục
đẩy mạnh các hình thức “chống cộng” vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước,
tạo lực đẩy, lực xoay cùng chiều về phía dân chủ, làm tăng tốc dân chủ
hóa để sớm kết thúc giai đoạn cuối cùng của tiến trình dân chủ hóa Việt
Nam một cách hòa bình.
Thiết tưởng, đảng và nhà cầm quyền hiện nay, mà thực chất cũng như
thực tế không còn là cộng sản nữa, đã đến lúc phải thức thời, mạnh dạn
vất bỏ “cái mặt nạ cộng sản” đi và công khai khẳng định con đường đưa đất nước đến phôn thịnh, văn minh tiến bộ và dân chủ là “con đường phát triển theo kinh tế thị trường, định hướng tư bản chủ nghĩa”, không nên tiếp tục lừa bịp nhân dân bằng “con đường kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Vì đó là chiếu hướng phát triển tất yếu của thực tiễn và lịch sử Việt Nam.
Thiện Ý Houston, ngày 17-10-2017
* Ghi chú: (1), (2), (3) và (4)
Xin vào: luatkhoavietnam.com, Mục “Diễn Đàn”, Tiểu mục Tác giả-Tác
phẩm” để đọc thêm “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện
Ý, ấn hành tháng 4-1995, tái bản năm 2005- Vào Tiểu mục “Thuyết
trình-Phỏng vấn” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả về tác phẩm này.