Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

TIẾNG SÚNG BIỂN ĐÔNG SẮP BÙNG NỔ TRONG MỐC THỜI GIAN ‘ROLL-BACK 2010 2020.

TIẾNG SÚNG BIỂN ĐÔNG SẮP BÙNG NỔ TRONG MỐC THỜI GIAN ‘ROLL-BACK 2010 2020.

TIẾNG SÚNG BIỂN ĐÔNG SẮP BÙNG NỔ TRONG MỐC THỜI GIAN ‘ROLL-BACK 2010 2020.
Nguyên nhân thứ nhứt:
Hoa Kỳ đã lừa đưa TQ vào Cái-Bẩy phải khai chiến như Nhật Bản 1941 bằng tu chánh án “Coope-Church”. Có như vậy để chia TQ ra nhiều mảnh như Liên Xô trong chương trình của tuồng cải lương “Âu-Á-Sự-1”; Vì thế giới đang tập trung chú ý sự mất giá của thị trường chứng khoán Thượng Hải, cùng những chứng cứ sức tăng trưởng kinh tế TQ đang giảm tốc nghiêm trọng theo chiều muốn xuống thẳng đứng.
Bài viết Kinh tế Trung Quốc bị rối loạn, Bắc Kinh có thể gây chiến tranh đăng trên trang “National Interest”, nhắc nhở Mỹ nên cẩn thận, vì từng có tiền lệ không nên đưa TQ vào chân tường: Một chính phủ cảm thấy bị bao vây, có thể tìm cách tháo cởi sự bất mãn của nhân dân bằng cách tạo ra một cuộc khủng hoảng chính sách đối ngoại gây hiểm hoạ cho nhân loại.
Cớ sự phải đến Biển Đông 2016: Thái độ chống Trung Quốc gia tăng trong ASEAN:
Tác giả bảo đảm với bạn, ngay sau khi thể chế mới ra đời (30/4/2016) thì sẽ có chính sách rõ ràng đối đầu với TQ, để thoả mãn người dân Việt (vì không còn bị cấm vận vũ khí bắt đầu 1/7/2015 thầm lặng xoá bỏ điều 4 mà theo tâm linh Dương Cước là giữa năm 2015 tính theo âm lịch) muốn Hải Quân VN và Chính sách sớm của chính thể mới có những quyết định và có những biện pháp để khắc phục hậu quả và để cho ngư dân vững tin bám biển, bảo vệ và khẳng định chủ quyền biển VN là bất khả xâm phạm…mà nhất là cũng để canh giữ giếng dầu ExxonMobil đóng trụ ngoài khơi vùng phụ cận Hoàng Sa mà luôn luôn có hạm đội 7 canh phòng vào cao điểm Hoa Kỳ sẽ điều thêm Hạm đội 3 và những chiến cụ tối tân nhứt. Vì rõ ràng Hoa Kỳ rất coi trọng Biển Đông đi đôi với TPP mà VN đứng vào vị trí chiến lược khống vùng hải hành tấp nập nầy.
Tháng Giêng 1974, Hạm đội 7 có lịnh của Very, Very Secret Society phải án binh bất động đứng nhìn Trung Quốc rơi vào Bẫy cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay Hải quân VNCH hồi năm đó, (để chờ vào giai đoạn làm nhân chứng khi ra toà án La Hague theo kịch bản là Phi đóng vai chính (Mỹ sẽ đem lực lượng chốt tại Phi để sẵn sàng ứng chiến, chớ không phải csVN kiện TQ vào thế kỉ XXI tại toà án quốc tế La Hague)
Thế nên ngày nay vì sợ TQ nắm vòi xăng nên Mỹ lịch sự ngầm ý cho Ấn Ðộ cũng có phần hùn khai thác dầu-khí thay mình bảo vệ VN trước khi Philippine rồi Nhựt bản nhảy vào vòng chiến, khi quân Mỹ nhảy vào thì mọi việc xem như sắp kết thúc. Kiểu chơi chiến tranh nầy Mỹ rất thích và có kinh qua Đệ-1 và Đệ 2 thế chiến, đồng thời lấy cớ sự nầy mà đưa Trung Quốc vào tình trạng trước 1950 bằng hợp đồng “Win Win Negotiation” với Mao đã expied lâu rồi.
Nhận xét của tác giả hoà hợp với Giáo sư am tường quan hệ quốc tế Nguyễn Mạnh Hùng từ Washington nói Hoa Kỳ sẽ không can thiệp quân sự nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam ở Biển Đông. Ông nói với BBC mối quan hệ hiện nay giữa Hà Nội và Washington cần phải “đổi khác nhiều lắm” nhờ đang chuyển tiếp thể chế mới, để có thể xảy ra khả năng Hoa Kỳ bảo vệ Việt Nam khi có xung đột (nhờ vào TPP và hành động sơ khởi thả Bà Thanh Thủy, rồi sau đó tới những tù nhân lương tâm chống TQ)
Trong bối cảnh hai nước chuẩn bị có diễn tập hải quân lần thứ nhì tại Biển Đông, các nhà lãnh đạo Việt Nam đang phải tính toán làm sao để cân bằng các mối quan hệ khu vực. Giáo sư Hùng nói Hoa Kỳ có quan hệ chặt chẽ với những nước mà họ cam kết bảo vệ.
“Chúng ta thấy Hoa Kỳ tuyên bố với Nhật Bản rất rõ rệt. Đảo Shenkaku là đảo Ðiếu Ngư hiện Nhật Bản đóng và Hoa Kỳ có liên minh quân sự với Nhật Bản. Nếu Nhật Bản bị tấn công Hoa Kỳ sẽ phải giúp đỡ. “Rồi với Phi Luật Tân thì Đại sứ Hoa Kỳ cũng nói Hoa Kỳ ủng hộ quan điểm của Phi Luật Tân. Cái đó rất rõ bởi vì họ đã có hiệp ước với nhau.” Còn VN vẫn mang cái nhãn csVN, nên đó là nguyên nhân chính mà Bonesman Kerry lo vận dụng lột da csVN thành VNCH để thứ nhứt là Mỹ sẽ bảo vệ và thứ nhì là lấy lại cả biển đảo và đất đai vì Chu An Lai đã đặt bút ký hiệp định Genève 1954 VNCH có 2 quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa dưới vỉ tuyến 17.
Còn nếu VN không có thay đổi thế chế mới (VNCH) thì có cam kết với Mỹ, thế nên tác giả viết nhiều lần xác định là VN sẽ nổ súng trước tại quần đảo Trường Sa để tự vệ, ngay đảo Gác Ma đầu cầu tấn kích (khi có khuyến nghị ngầm của Virus/CIA trước 2020)
Khi BBC hỏi quan hệ giữa hai bên cần cải thiện tới đâu để có mối quan hệ tương tự như với Nhật Bản và Philippines: “Tôi nghĩ rằng phải cải thiện thêm rất nhiều nữa, hai bên phải tin tưởng nhau rất nhiều nữa.” có nghĩa sau 30/4/2016, VN sẽ có đường lối hành động chuẩn xác đối đầu với TQ như mệnh lệnh của phương cách tự vệ.
TQ đụng độ với VN lan qua tới Phi không thể tránh khỏi Nhựt, Ấn, Asean và Úc Mỹ sẽ nhảy vào để chia TQ ra nhiều nước. Như tôi đã viết trước nhiều bài. Theo bản đồ của TQ mà LHQ có được thì đảo Hải Nam là ranh giới cuối cùng ở phương nam, đó cũng là lý do tình báo Mỹ xúi VN đã kích Đài Loan chiếm đảo Ba Bình với hy vọng Đài Loan sẽ trả cho VN như tình trạng Hồng Công vậy. Nếu sau lưng có Mỹ yểm trợ vì vòi xăng Biển Đông thì VN có phần thắng ngay sau khi mọi việc được mổ xẻ trên bàn mổ LHQ về COC. Như thế phải có đụng độ NHỎ ở Biển Đông.
Nhưng khi hoàn cảnh đưa đến quân đội xung kích VN chết 100.000 quân tại Căn Cứ tàu ngầm bí mật tại đây thì đảo Hải Nam sẽ thuộc chủ quyền VN. Trung Quốc sẽ bị chia 5 xẻ 7 như Okinawa hay Guam Wake.
 
Nguyên nhân thứ hai:
Hiện nay, Trung Quốc phóng lao phải theo lao là bị trúng kế Mỹ về lòng tham dầu khí ngay sau khi phát hiện dưới thềm lục địa VN có số lượng dầu khí khổng lồ, (trong khi Mỹ khám phá qua vệ tinh gián điệp Corona,1960) nên công khai bộc lộ ý đồ chiếm trọn Biển Đông.
Dĩ nhiên trúng mánh nên Hoa Kỳ phản ứng mạnh mẽ hơn trong lúc một nửa ASEAN tích cực tìm đối sách: Trước nhứt là Mỹ bán được một số lớn vũ khí. Còn Việt Nam Malaysia và Philippines thiết lập thế đối tác chiến lược, Singapore mở rộng cửa cho phi cơ Mỹ trú đóng và Indonesia dọa kiện Trung Quốc trước tòa án quốc tế, Very, Very Secret Society thật là vui.
Hết năm 2015 sắp kết thúc được đánh dấu bằng thái độ thách thức lộ liễu chưa từng thấy của Trung Quốc tại Biển Đông, với hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo được Bắc Kinh rầm rộ tiến hành, bất chấp các tuyên bố quan ngại của hầu như toàn bộ các nước quan tâm đến quyền tự do hàng hải trong khu vực, cũng như các nước Đông Nam Á bị Trung Quốc chèn ép.
Trước thái độ càng lúc càng hung hăng của Bắc Kinh, Washington cũng có những phản ứng cứng rắn hơn. Ngoài việc vạch trần các hành động bị đánh giá là coi thường luật lệ quốc tế của Trung Quốc tại Biển Đông thông qua việc công bố thường xuyên hình ảnh vệ tinh về các công trình mà Bắc Kinh đang xây dựng trên các rạn san hô ở quần đảo Trường Sa, giới lãnh đạo chính trị cũng như quân sự Mỹ đã rà mắt theo dỏi mọi website quốc tế để phản đối hành vi của Trung Quốc.
Trên hiện trường, lực lượng Mỹ bắt đầu có những hành động cụ thể. Đáng chú ý nhất là quyết định khởi động chiến dịch được mệnh danh là tuần tra vì quyền tự do hàng hải (FON) tại Biển Đông, đánh dấu bằng việc cử khu trục USS Lassen, trang bị tên lửa dẫn đường tiến vào bên trong vùng 12 hải lý quanh Đá Xu Bi ở Trường Sa ngày 27/10/2015.
Tương tự như Hoa Kỳ, nhiều nước Đông Nam Á cũng có những tuyên bố bất đồng tình với Trung Quốc hoặc có những quyết định biểu lộ thái độ cứng rắn hơn trước những hành động quá đáng nước lớn của Bắc Kinh tại Biển Đông. Trong số 4 nước ASEAN bị Trung Quốc lấn lướt tại Biển Đông, Việt Nam, Malaysia và Philippines đã quyết định liên kết chặt chẽ với nhau hơn để chống lại áp lực từ phía Trung Quốc. (Tại sao 3 nước nầy Hạm đội 7 + 3 phải bảo vệ trong lăng kính soạn giả kịch bản “Âu-Á-Sự-1” của Harriman đã chỉ dấu VN là nước non-communist?!
Cho nên tác giả vin vào đó mà nêu lên câu cò mồi của BTQP Moshe Dayan tuyên bố sau vài ngày lội bộ hành quân 1967 với TQLC Mỹ. “Nếu muốn thắng cộng sản hãy để cs chiếm miền Nam”.
Giới phân tích đặc biệt nêu bật hai sự kiện: Ngày 07/08/2015, hai Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Malaysia Najib Razak đồng ý nâng cấp quan hệ song phương từ đối tác toàn diện lên hàng đối tác chiến lược. Qua ngày 17/11/2015, đến lượt Việt Nam và Philippines ký kết quan hệ đối tác chiến lược bên lề Thượng đỉnh APEC ở Manila. Theo tác giả phỏng đoán 3 nước nầy sẽ là cái mầm móng của Liên Minh Quân Sự cho các nước Asean mà tác giả hơi cương một tí là “Hiệp Hội Quân Sự các nước TBD” tác giả tạm đặt tên là APTO (Asia Pacific Treaty Organization).
Ngay cả những nước không có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông như Indonesia và Singapore cũng không ngần ngại có những động thái thể hiện sự không đồng ý với các yêu sách quá đáng của Trung Quốc cũng như những hành vi quyết đoán của Bắc Kinh nhằm buộc cả thế giới công nhận đòi hỏi quá đáng của Trung Quốc về Biển Đông.
Cụ thể là vào trung tuần tháng 11, Jakarta đã đe dọa sẽ kiện Trung Quốc ra trước « Tòa án Hình sự Quốc tế » nếu « yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với hầu như toàn bộ Biển Đông và một phần của lãnh thổ Indonesia không được giải quyết thông qua đối thoại ». Còn Singapore thì chỉ mới đây thôi, ngày 07/12/2015 đã đồng ý cho Mỹ triển khai phi cơ do thám tối tân P8 Poseidon trên lãnh thổ của mình, để tuần tra trên Biển Đông.
Đại học Maine (Hoa Kỳ), một nhà nghiên cứu kỳ cựu về Biển Đông, các diễn biến trên đây trong tình hình Biển Đông trong năm 2015, đều bắt nguồn từ thái độ thách thức quốc tế một cách « lộ liễu » và « trơ tráo » của Trung Quốc.
Vấn đề nổi cộm nhất ở Biển Đông năm 2015 là việc Trung Quốc tiếp tục bồi đắp và các đảo nhân tạo ở Trường Sa và xây dựng những cơ sở trên đó, với ý định dùng để kiểm soát Biển Đông và đe doạ an ninh của toàn khu vực. Không những đã bất chấp phản kháng của các láng giềng và các nước khác trên thế giới về những hoạt động này, mà các lãnh đạo Trung Quốc lại càng ngày càng có thái độ thách thức rất lộ liễu.
Một ví dụ cụ thể là Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, trong chuyến thăm Hoa Kỳ cuối tháng 09/2015, không những tuyên bố trước là không muốn bàn về hồ sơ Biển Đông với Tổng Thống Mỹ Barack Obama, mà trong cuộc họp báo chung của hai lãnh đạo ngày 25/09/2015, Tập Cận Bình đã tuyên bố một cách trơ tráo rằng
Tóm lại, trong những ngày vừa qua, tình hình thế giới biến động mạnh, nhất là tại Biển Đông và Biển Hoa Đông. Bắc Kinh đã lên tiếng là khó tránh khỏi cuộc chạm súng tại hai vùng biển này vì Hoa Kỳ công khai yểm trợ về quân sự cho các nước ven Thái Bình Dương để họ có thể tự vệ và chống lại được sự bành trướng ngang ngược của Trung Cộng, và đưa các hạm đội mạnh nhất của Hoa kỳ vào hai vùng Biển Đông và Hoa Đông.
 
Nguyên nhân thứ Ba:
Nhiều người nghĩ rằng hiệp ước mậu dịch TPP là để bao vây kinh tế TQ, trong khi thực tế là để phục vụ lợi ích kinh tế của HK, nó nằm trong viễn kiến thế kỷ 21 là thế kỷ của Châu Á-Thái Bình Dương và sự giàu thịnh của HK trong thế kỷ 21 là ở vùng này, vì thế bài “Dưới Rặng Trường Sơn Tây” khá là quan trọng mà nó là nguồn gốc chính để phá vỡ những mưu toan làm cản trở trên trục lộ đồ từ Việt Nam đến Trung Quốc qua 2 bài khá dài nói trên.
Ông Bầu Mỹ đặt nặng quan tâm về gánh hát TPP “đối chọi” với đường lối hành động của “Đường Tơ Lụa”.
Hiệp ước TPP: Trong vòng một ngày qua (5 tháng 10, 2015) thế giới chấn động khi Hiệp Định TPP được ký kết với Nhật Bản và 11 nước trong vùng Thái Bình Dương, nhưng không có Hoa Lục. TT Abe của Nhật tuyên bố đây là thắng lợi vĩ đại cho Nhật và các nước trong vùng, trong đó có cái gọi là (the so called) CSVN, và là một thất bại to lớn nhất cho Trung Quốc
TQ có nguy cơ sẽ trắng tay tại Châu Á Thái Bình Dương vì tất cả các cơ xưởng kỹ nghệ của TQ tại 11 nước này sẽ không còn được Châu Âu và Mỹ hợp tác và đầu tư nữa. Châu Âu và Mỹ sẽ ký các thoả hiệp đầu tư với các nước trong TPP mà thôi, như thế các cơ xưởng này của TQ sẽ bị đóng cửa hoặc sẽ chuyển giao lại cho các nước trong vùng.
Thêm một vấn đề nữa: Đó là chưa kể TQ phải đem tàu bè qua Mỹ chở những hàng tiêu dùng mà người Mỹ không đồng ý sau khi mua rồi trả lại. Một đống rác khổng lồ như bạn thay vỏ xe phải trả tiền rác cho 4 vỏ xe cũ.
TQ đang bị Mỹ chơi cạn tàu ráo máng để tước đoạt vị thế cường quốc số 2 của TQ giao cho Ấn Độ như đoạn kết đáp số của Eurasia-1 để Mỹ ăn mừng mở “ÂU-Á-Sự-II (2020-2120)”
Tác giả nghĩ, lần đầu tiên một nguyên thủ một nước đã phát ngôn một cách rất thấp kém khi tức giận về hiệp ước TPP vừa được ký kết là Tập Cận Bình đã mạt sát Hoa Kỳ vào sáng ngày 6 tháng 10, 2015 rằng Mỹ là một tên côn đồ, thương gia lưu manh, v.v… Để trả đũa, TQ đã trục xuất một số người Mỹ khỏi Bắc Kinh nói họ là CIA, nhưng TCB quên rằng CIA đã giúp Bình hạ Giang Trạch Dân, cái thứ đồ vong ân. Ai xúi VC và Ấn chào đón TCB bằng cờ 6 sao đem uy tín và bảo vệ ngầm ngôi vị cho TCB, dù rằng CIA nuôi Giang Trạch Dân như Chanh vắt hết nước thì bây giờ đến your turn thôi… chớ ai vào đó đừng buồn! Như TT Thiệu từng nói: “Làm kẻ thù với Mỹ thì dễ còn Làm bạn với Mỹ thì KHÓ LẮM!”
Sự thật vì quyền của Mỹ chớ không phải Mỹ có bổn phận phải lo cho 3 nước nầy.
1)*-Công Nhận Đài Loan: Một điểm đau cho TQ là Mỹ đã ngầm công nhận Đại Loan khi 6 tháng trước đã cho phép các cơ sở Trung Tâm văn hóa của Đài Loan trên đất Mỹ (TT lớn nhất của Đài Loan ngay tại New York) được treo cờ Thanh Thiên Bạch Nhật (là cờ của thời Tưởng Giới Thạch/Trung Hoa Dân Quốc cũng như ngầm bảo vệ danh dự cho VNCH, 2 nước nầy đã bị Mỹ tước đoạt 2 lá cờ đó cho csVN và csTQ trong giai đoạn gài bẫy TQ để hạ em Liên Xô và thầy trò TQ+VN sau).
Như vậy Mỹ tuy không tuyên bố nhưng đã ngầm công nhận hai nước Tầu, và Thiệp Ước Thượng Hải ký giữa Kissinger, TT Nixon với Chu ân Lai, Mao Trạch Đông năm 1972 đã bị xé bỏ. Lúc đó năm 1972, Mỹ công nhận một nước Trung Hoa và bỏ Đài Loan, đưa TC vào LHQ (cùng với việc ký Hiệp Định Paris bỏ rơi đồng minh VNCH). Bây giờ sẽ giúp THDQ + VNCH sống lại bằng 2 lá cờ màu dân tộc thay vì màu máu của anh em một nhà!
Ngoài ra, Thượng Viện Mỹ đã thông qua việc viện trợ quân sự cho Đài Loan về các vũ khí, hỏa tiễn đất đối không, đất đối đất, và tầu chiến, tầu ngầm nguyên tử, v.v… để Đài Loan có khả năng tự vệ một khi bị tấn công, và chống lại áp lực bành trướng của TC. Thượng Viện HK còn thông qua việc chấp thuận yểm trợ về quân sự cho 7 nước khác trong vùng ĐNÁ trong đó có cái gọi là CSVN.
2)*- CSVN và TC: Bắc Kinh áp lực Campuchia đưa ra LHQ đòi lại đất miền Nam, nói là trước kia của người Khmer. BK viện trợ cho Lào 40 tỷ USD để mở một thủy điện lớn nhất tại Lào để chặn nguồn nước xuống sông Cửu Long, và để mở con đường chiến lược từ Vân Nam xuống đến con đường số 9 vào VN. Tất cả những hành động nầy là vào cái bẫy của Mỹ như TC đã xây cả một hệ thống xa lộ cho Mỹ từ khu kỹ nghệ Vũng Áng đến tận Nam Á, Trung Đông cho Mỹ xài ngay sau khi TQ bị chia ra từng mảnh như thời đông châu liệt quốc.
Bóng dáng cộng sản phai mờ từ ngày 4/10/2015 tại Hà Nội, dĩ nhiên sau ngày xóa bỏ điều 4 thầm lặng ngày 1/7/2015, nhằm vào Dương Cước anh hung tận, và cái gọi là đảng CSVN lần đầu tiên công bố các điều kiện để ứng cử vào các chức vụ trong Bộ Chính Trị, Quân ủy, v.v.. hoàn tòan mới lạ khác với trước là gắn chặt vào đảng tính và giai cấp. Lần đầu tiên Nguyễn Phú Trọng tuyên bố con đường tiến lên XHCN đã cáo chung, và đi theo TC là diệt vong. CSVN cũng tố cáo TC tiếp tục xây các đường băng dài cả 3 km trên các đảo, đe dọa các nước trong vùng tại Biển Đông.
3)*- Mỹ Chuyển Các Hạm Đội vào Biển Đông: Hàng Không Mẫu Hạm (HKMH) Ronald Reagan sau một thời gian ngoài khơi Cam Ranh đã đến Yokosuka, Nhật để thay thế cho HKMH George Washington. HKMH George Bush thay thế HKMH Ronald Reagan tại Biển Đông. Nhiệm vụ của HKMH Ronald Reagan là Lực Lượng Phản Ứng Nhanh có thể đổ bộ TQLC Mỹ lên đất liền trong 24 giờ để cứu nguy khi TC mở cuộc tấn công các nước ven Thái Bình Dương.
Ngoài ra Hải Quân Ấn Độ cũng đã qua eo biển Malacca để vào Biển Đông thám sát, có thể khai thác dầu hỏa trên thềm lục địa của VN (theo thỏa ước đã ký kết do Mỹ làm môi giới), soái hạm của Ấn đã ghé VN trong dự tính sẽ đưa hạm đội của Ấn chính thức vào Biển Đông để cùng tuần tiễu hành quân với HQ Mỹ, Nhật, và Úc. Nhật cũng đang huấn luyện cho HQ/VN thể chế mới trong 6 tháng trước khi bàn giao viện trợ tầu tuần duyên loại tối tân nhất. TC đe dọa nếu Ấn vào khai thác dầu tại VN phải xin phép TC, nếu không có thể bị tấn công…nhưng có dám không vì sau lưng có Mỹ bảo đảm.
Tầu của Ấn vẫn vào Biển Đông bất chấp đe dọa. Điểm đáng chú ý là Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Độ Mỹ tuyên bố sẽ cho tầu chiến vào sát các đảo Trường Sa và Hoàng Sa sâu trong vùng 12 hải lý, bất chấp đe dọa của TC. Bắc Kinh nói nếu Mỹ vào sâu trong 12 hải lý tại TS và HS thì khó tránh khỏi chạm súng. Đệ Tam Hạm Đội của Mỹ cũng bắt đầu khởi hành từ San Diego vượt qua Thái Bình Dương để gia nhập với HĐ 7.
Bắc Kinh vô cùng lo ngại trước việc Hoa Kỳ đang khai triển lực lượng tại hai vùng biển này, TC tố cáo Hoa Kỳ đang đe dọa tại Biển Đông và yêu cầu HK giảm các mối đe dọa này.
4)*-Chiến Tranh Không Gian: TC hiện đang có ba vệ tinh loại GPS để hướng dẫn các hỏa tiễn liên lục địa Đông Phương 21 của họ nhắm vào Hạm Đội 7 của Mỹ và vào Hoa Kỳ. Mỹ đã phóng lên ba vệ tinh có khả năng vô hiệu hóa các vệ tinh của TC.
Các bố trí cho các cuộc chiến trên không và trên biển tại Thái Bình Dương đang diễn ra trong tình hình suy sụp về kinh tế của TC qua bốn trung tâm chứng khóan vừa bị sụp đổ lại tiếp tục bị loại ra ngoài TPP.
Liệu TC có ngồi yên khi đang thất thế trên trường kinh tế và chính trị và bị bao vây về quân sự tại Biển Đông và biển Hoa Đông? Việc gì sẽ xẩy ra nếu chiến hạm Mỹ vào sát TS và HS? BK sẽ hành động như thế nào trước viễn ảnh Ấn sẽ vào VN khai thác dầu khí?
TC sẽ làm gì khi CSVN đang dần ngả hẳn sang Hoa Kỳ về quân sự; và chính thức bác bỏ các luận điệu của TC nói TS và HS là của TC?
Tóm lại, tất cả những diễn biến trên đều đã nằm trong bài dài “Siêu Chiến Lược Eurasia-1 (1920-2020) và tất cả những diễn biến đã, đang và sẽ xảy ra trên chính tình VN đều ghi rỏ trong 293 bài “TT Nguyễn Tấn Dũng sẽ tự ý xuống”.
 


Nguồn: http://achauthoibaonews.com/blog/?p=7030

Người Mỹ lại đi tìm ẩn số cho “Chiến tranh Việt Nam”?

Người Mỹ lại đi tìm ẩn số cho “Chiến tranh Việt Nam”?
Bác Sĩ Mã Xái (Danlambao) - Lịch sử “Chiến tranh Việt Nam” tưởng chừng như đã chìm vào dĩ vãng đối với chính giới Hoa kỳ, nhưng không, “The Vietnam War Summit” (Thượng đỉnh về Chiến tranh Việt Nam) đã được khơi lại nơi Thư viện Tổng thống Lyndon B.Johnson (Austin,Texas) vào những ngày cuối tháng Tư năm 2016, chung quanh Ngày Quốc Hận 30-04-75, ngày mà nhân dân Miền Nam sẽ không bao giờ quên sự bội tín của đồng minh Hoa Kỳ đưa tới sự sụp đổ của VNCH.
Cuộc Hội luận ba ngày gọi là để giải mã những ẩn số cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cùng những bài học và di sản của nó (nguồn: vietnamwarsummit.org) Hội nghị có dành phần nghi lễ vinh danh các người đã phục vụ cuộc chiến. “Chiến tranh Việt Nam” là theo cách gọi của người Mỹ, nhiều tài liệu sách khác còn gọi là “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai”. Đã có nhiều viện nghiên cứu chính trị, các Đại Học, các sử gia, tướng lãnh cả Mỹ, lẫn Việt Nam đã nhiều lần đóng góp về nguyên nhân và hệ luỵ của cuộc chiến Việt Nam; khá nhiều hồi ký do các viên chức cao cấp VNCH làm sáng tỏ thêm nguyên nhân chung quanh cuộc việc sụp đổ VNCH. Pentagon Papers và trong những năm gần đây, các tài liệu giải mật về Chiến tranh Việt Nam giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp tục phân tích về sách lược mà cường quốc Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Cộng trong việc giải quyết cuộc chiến.
Đây cũng là lúc người quốc gia chúng ta nên tiếp tục vạch trần sự gian trá, lừa đảo của tập đoàn Cộng sản Hà Nội đã bóp méo lịch sử tranh đấu cho chính nghĩa của VNCH, cộng sản cũng đã lừa được một số chính khách người Mỹ và vài giới truyền thông theo đóm ăn tàn, ca ngợi cuộc chiến diệt chủng của cộng sản Bắc Việt dựa trên chủ nghĩa Mác Lê và cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cộng đồng người Việt quốc gia hải ngoại đã thể hiện lập trường và hành động thích nghi với “Thượng đỉnh về Chiến Tranh Việt Nam” ngay nơi hội nghị (Austin, Texas)
Những ai đi tìm ẩn số cho bài toán? Không thấy sự hiện diện những người Việt Nam đã sống và chiến đấu cho lý tưởng tự do trong hàng ngũ VNCH, ngoại trừ ông Hubert Võ là Dân biểu Tiểu Bang Texas, riêng danh sách tham dự viên (participants) người Mỹ, trên dưới năm sáu mươi học giả, sử gia, văn nghệ sĩ, giới truyền thông, các ký giả của thời chiến, các cựu chiến binh Hoa Kỳ; có sự hiện diện của Ngoại trưởng John Kerry, diễn giả chánh cho buổi hội luận, ông là người đã từng tham chiến tại Việt Nam, và từng là phát ngôn viên của phong trào chống chiến tranh, có diễn giả Henry Kissinger, và Đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ Phạm Quang Vinh với bài thuyết trình “America and Vietnam in the 21st Century: A New Beginning như để bổ túc bài phát biểu của ông John Kerry nói về bang giao Việt Mỹ và các chuyển biến chính trị và xã hội Việt Nam kể từ ngày ông Kerry có mặt tại chiến trường; những tài liệu mới về cuộc chiến được giải mật cho thấy cựu ngoại trưởng Kissinger đã một mình thao túng, đạo diễn chính sách Hoa Kỳ về Việt Nam và là người trách nhiệm bán đứng Miền Nam cho Cộng Sản Hà Nội, gây nên thảm trạng Quốc Hận 30-4-75. Kissinger được khen là đóng góp phần tạo nên không khí “détente” với Liên Xô, và tách rời được liên minh LX-TC, nhưng khi Nixon-Kissinger bắt tay với Mao Trạch Đông (tháng Hai năm 1972) là Hoa Kỳ đã đơn phương khép cánh cửa tiền đồn thế giới tự do của VNCH, chuẩn bị cho một chuyển hướng chiến lược mới; Hoa Kỳ ngày nay chắc cũng thắm đòn khi giúp Bắc Kinh mở cửa để trở thành cường quốc kinh tế, Hoa Kỳ đã giúp Tập Cận Bình củng cố chế độ độc tài toàn trị bành trướng về phương nam, lấn chiếm Biển Đông, kềm kẹp Hà Nội vào con đường” Bắc thuộc mới”, cản trở chính sách Chuyển trục/Tái Cân bằng của chánh phủ Obama. Tham dự còn có nhà làm phim Ken Burns, người thực hiện phim tài liệu gồm 10 phần Phim Vietnam War sẽ ra mắt năm 2017.
Trước kia, phần lớn những tham dự viên trong buổi hội luận nhìn cuộc chiến Việt Nam một cách tiêu cực, giờ đây, mong họ sau khi chứng kiến việc cộng sản Hà Nội cưởng chiếm Miền Nam, vi phạm Hiệp định Paris 1973 và cung cách cai trị độc tài toàn trị trên toàn cỏi Việt Nam, lại vừa hèn với Trung Cộng, ác với dân, chắc họ đã phải thấy rõ nhân dân Miền Nam đã phải dấn thân vào cuộc chiến Quốc Cộng hoàn toàn vì lý do tự vệ; Miền Nam vừa xây dựng nền dân chủ pháp trị vừa phải luôn chống trả sự xâm lăng liên tục của CS Bắc Việt, với sự hổ trợ của khối cộng sản quốc tế.
Lý do người Mỹ can dự vào chiến cuộc Đông Dương bao gồm Việt Nam bắt nguồn từ chánh sách chống chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua các đời Tổng thống Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon,Ford với chiến lược be bờ ngăn chặn sự làn sóng đỏ Liên xô, Trung Cộng xuống ĐNA’, nhưng chính sách ngăn ngừa sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản được thực hiện tuỳ theo đường lối riêng của mỗi Tổng thống trước tình huống, dựa theo quyền lợi quốc gia, tình hình quốc tế, quốc nội, áp lực quần chúng, truyền thông, báo chí, các viện nghiên cứu chính trị, thời gian bầu cử tổng thống và tiếng nói quyết định là quốc hội. Một cách tổng quan, sự can dự chính thức của người Mỹ vào lúc Hoa Kỳ tuyên bố sự hổ trợ nền Đệ Nhứt VNCH, sau những ngày ký kết Hiệp định Geneve 1954.
Lịch sử cho thấy ý đồ xâm lăng Miền Nam Việt Nam đã được ban lãnh đạo Hội nghị trung ương ĐCSVN lần thứ 6 (tháng 07/1954) quyết định từ Hà Nội trước ngày ký HĐ Geneve-54 là “chĩa mũi nhọn vào đế quốc Mỹ”; chiến tranh không phải xuất phát từ Miền Nam mà cũng không do người Mỹ khởi xướng. Hà Nội cài cán bộ ở lại Miền Nam sau HD Geneve, thiết lập lực lượng vũ trang, và cho xâm nhập quân đội vào Nam, rồi năm 1960 Hà Nội cho thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam; đảng cộng sản chủ trương chiến tranh du kích, khủng bố, và trận địa chiến. Vào giữa tháng 11/1965 lực lượng chánh qui Bắc Việt (Quân đội Nhân dân) đã dàn mặt trận đánh lớn (Battle of Ia Drang Valley) với Quân đội Mỹ.
Những quyết định của mỗi tổng thống có ảnh hưởng đến hướng đi của lịch sử Hoa Kỳ và đã tác động mạnh đến số phần của Miền Nam vì VNCH quá tin cậy vào đồng minh.
Hoa kỳ đã có ý định can dự quân sự vào thời Đệ nhất VNCH, nhưng TT Ngô đình Diệm cho rằng điều đó sẽ làm mất chánh nghĩa quốc gia, và quân đội Mỹ không được tổ chức thích hợp cho chiến tranh du kích; quan điểm bất đồng này đã đưa đến cuộc đảo chánh 1963. Khi cường độ chiến tranh lên cao, Tổng thống Johnson lần đầu tiên đã phải cho TQLC đổ bộ vào Đà Nẵng (6/3/1965) và gần đến Tết Mậu Thân (1968) thì quân lực Hoa Kỳ đã trên nửa triệu mà tướng Westmoreland vẫn thấy chưa đủ để thực hiện kế hoạch “truy lùng và diệt địch”(search and destroy).
Trong cuộc chiến Việt Nam, Nhà Trắng toàn quyền trực tiếp điều động cuộc chiến; chủ động chiến trường, cho đến khi chuẩn bị rút lui thì Nixon mới đưa ra chương trình Việt Nam Hóa cuộc chiến (1969) giúp tân trang và huấn luyện quân đội VNCH. Quân đội vừa đánh lại rụt rè lo sợ gây nên một cuộc chiến với Liên Xô và Trung Cộng, nên chỉ đánh cầm chừng, không phải để thắng; vừa đánh vừa đàm, đàm với Liên Xô, đàm với Trung Cộng, và còn cả đi đêm với Hà Nội; đàm với cộng sản thì thất bại khó tránh khỏi.
Một đánh giá sai lầm của chính khách chủ bại và giới truyền thông ở Hoa thịnh Đốn: cuộc tổng nổi đậy Tết Mậu Thân là một thất bại năng nề cho Cộng sản về mặt chiến thuật, quân đội VNCH và Hoa Kỳ đã hốt gần hết địch quân (gồm chính qui Bắc Việt và bộ đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) xuất đầu lộ diện ra thành phố từ các chiến khu, rừng núi; nhưng TT Johnson cũng không đạt thêm những thắng lợi sau đó, khiến dư luận mất niềm tin, thiếu kiên nhẫn khi số thương vong của binh sĩ Hoa Kỳ là yếu tố quan trọng, khiến TT Johnson quyết định bỏ ý định tái tranh cử (31/03/1968) để đối phó với cuộc chiến.
Dù sao, vụ Tết Mậu Thân đánh đấu một bước ngoặt quan trọng định hướng giải quyết cuộc chiến; những mật đàm giữa Kissinger và Cộng sản Hà Nội đã sau cùng đưa đến Hiệp định Paris ký ngày 27/01/1973 hoàn toàn có lợi cho Bắc Việt nhưng nó thỏa mãn hai việc riêng cho Kissinger/Nixon là “rút quân trong danh dự”, trong vòng 60 ngày cùng với việc trao trả tù binh. Quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại Miền Nam cùng với bộ đội của Chánh phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (do Hà Nội dựng lên). Nixon hứa hẹn với Tổng Thống Thiệu là sẽ trả đũa nếu Hà Nội vi phạm hiệp định. Nhưng ai cũng thấy được sau ngày Hoa Kỳ hoàn tất việc rút quân 27/03/1973 thì việc sụp đổ của VNCH chỉ là vấn đề thời gian vì Hoa Kỳ cắt hết nguồn viện trợ, trong khi Bắc Việt được khối cộng sản đồng minh tiếp tục cung cấp đầy đủ phương tiện để chiến thắng. Không có việc Hoa Kỳ trả đũa khi Hà Nội vi phạm trầm trọng HĐ Paris.
Hệ luỵ của “Rút quân trong danh dự”:
Hoa Kỳ can dự vào “ Chiến tranh Việt Nam” với mục tiêu chống chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua các đời tổng thống nhằm ngăn chặn làn sóng đỏ xuống ĐNA’ nhưng chiến lược đã đổi hướng trong thời kỳ Nixon dưới ảnh hưởng của ngoại trưởng Kissinger; lúc bấy giờ nhân dân Hoa Kỳ không còn kiên nhẫn với càng ngày càng tăng con số tử vong binh sĩ Hoa Kỳ với những hình ảnh chiến tranh trên TV ngay trong phòng khách, lại được thổi phồng do phong trào phản chiến mà người phát ngôn lúc bấy giờ mà ai cũng biết là đương kim Ngoại Trưởng John Kerry, nên Tổng thống Nixon dứt khoát chủ trương rút quân và dứt khoát bỏ rơi Miền Nam với bất cứ giá nào và như theo một vài nhà phân tích, để đổi hướng chiến lược về Trung Đông để giữ tiền đồn dầu lửa! Quyền lợi của Hoa Kỳ ở Miền Nam theo nhận định của Kissinger không còn nữa, Hoa Kỳ có thể đóng cửa “tiền đồn của thế giới tự do” ở Miền Nam, quyết định sai trái này gây không biết bao nhiêu hệ luỵ cho đến ngày nay và ai cũng thấy rõ, tiền đồn đó nay đã nhuộm đỏ nằm trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Tổng thống Obama sắp đến thăm vào cuối tháng năm này, có Ngoại trưởng Kerry tháp tùng.
Chấm dứt chiến tranh Việt Nam không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà; mục tiêu can dự vào Việt Nam chưa đạt được mà còn làm tình hình xấu đi, chánh quyền Hoa Kỳ đã phản bội anh lính 58 ngàn quân sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở Việt Nam để bảo vệ tiền đồn chống CS, nhiều người mang thương tật, mất tích. Hoa Kỳ đã phản bội đồng minh VNCH; bao nhiêu triệu người Việt Nam đã chết vì cuộc chiến; cái giá đầy khổ đau, bất hạnh mà nhân dân Việt Nam phải trả cho loại hòa bình đó, sau 30-4-1975, dưới chế độ cộng sản, độc tài, toàn trị; nhân dân Việt Nam trân trọng tri ơn chiến binh Hoa Kỳ và đồng minh và quân cán chính VNCH đã dũng cảm chiến đấu cho lý tưởng tự do; những người Việt Nam tị nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới sẽ ghi tạc lòng thiện tâm của nhân dân Hoa Kỳ và thế giới đã cưu mang họ, họ đã và sẽ đóng góp công sức đáng kể cho những quốc gia đã mở rộng vòng tay tiếp nhận họ; những người tị nạn cộng sản đó là những nhân chứng trung thực về chế độ tàn bạo và gian dối CSVN, họ là những người cần có mặt trong ”Vietnam War Summit” đang tổ chức tại Thư Viện Tổng thống Lyndon Baines Johnson.
Thay lời kết:
Chúng ta muốn nói với chính phủ Hoa Kỳ rằng “Chiến tranh Việt Nam” đối với Hoa Kỳ đã chấm dứt sau ngày người quân nhân Hoa Kỳ cuối cùng rút khỏi Việt Nam (ngày 29/03/1973) chiếu theo HĐ Paris 1973, nhưng đối với nhân dân Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại cuộc tranh đấu vẫn tiếp tục cho sự sống còn của dân tộc Việt, cho một Việt Nam tự do, dân chủ pháp trị, thịnh vượng, cho sự vẹn toàn lãnh thổ; chế độ toàn trị độc tài phải bị giải thể, đảng CSVN phải ra đi.
* Trong chiến tranh Việt Nam, trong cuộc chiến quốc – cộng, Việt Nam Cộng Hòa chỉ chiến đấu để tự vệ trước chủ trương xâm lăng và cưởng chiếm Miền Nam của đảng cộng sản Bắc Việt.
* Chúng ta hoan nghinh sự can dự Hoa Kỳ vào cuộc chiến Việt Nam để hổ trợ VNCH cùng bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do; tiếc thay chính phủ Nixon-Kissinger đã thay đổi mục tiêu của cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản, lại thỏa hiệp với cộng sản, chỉ để được rút quân và đã phản bội lại lời hứa với VNCH, và phản bội với vong linh 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ chiến đấu cho lý tưởng tự do. Hơn bốn mươi năm đi qua, cái tiền đồn đó vẫn nhuộm đỏ, nơi đây tổng thống Obama và Ngoại trưởng Kerry sẽ đến thăm vào cuối tháng 5- 2016, để lại rao giảng giá trị Hoa Kỳ nhưng hai nhiệm kỳ tổng thống sắp đi qua vẫn chưa tách nổi cộng sản Hà Nội ra khỏi quỷ đạo Bắc Kinh, ngược lại chỉ tổ làm giàu tư bản đỏ để tập đoàn CSVN củng cố quyền lực và chế độ toàn trị, nhờ chui vào được TPP; chiến lược chuyển trục /tái cân bằng của Obama sẽ ra sao khi Tập Cận Bình gần như hoàn tất kế hoạch khống chế Biển Đông.
Chúng ta ghi ơn người chiến sĩ VNCH cùng sự hy sinh của quân cán chính để bảo vệ quê hương, xây dựng chế độ dân chủ cho Miền Nam dù chưa hoàn hảo trong vòng hai thập niên nhưng người dân được sống an cư lạc nghiệp hạnh phúc, hơn hẳn cái xã hội tụt hậu Cộng hòa XHCN.
Cuộc tranh đấu tất nhiên còn khó khăn, nhưng nhân dân Việt Nam nhứt quyết không bỏ cuộc. Chính nghĩa tất thắng.
Hoa Kỳ 23/4/2016
Bác Sĩ Mã Xái
danlambaovn.blogspot.com
Nguồn:  https://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=10427:ngi-m-li-i-tim-n-s-cho-chin-tranh-vit-nam&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

Bí ẩn lịch sử - Hồ sơ mật CIA về ngày 30 tháng 4 (6)

Bí ẩn lịch sử - Hồ sơ mật CIA về ngày 30 tháng 4 (6)


Kỳ VI: Mật trình của tướng Weyand
Ngày 28/3/1975 Đại tướng Fred Weyand Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ đến Sài Gòn để thị sát  tình hình VNCH theo yêu cầu của Tổng thống Mỹ Ford. 
Trở về Mỹ ông làm một bản phúc trình đặc biệt lên Tổng thống Ford về tình hình thực tế của VNCH  kèm theo những đề nghị khẩn cấp để cứu nguy cho chính quyền Sài Gòn.

Trong một bản phúc trình của tướng Weyand lên Tổng thống
Ford

Sau khi thị sát chiến trường Nam Việt Nam và họp với chính quyền VNCH tướng Weyand soạn một bản báo cáo dài 14 trang để phúc trình cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Schlesinger.

Ngày 5/4/1975 (tức ngày 6/4 giờ Sài Gòn) đang trên đường  bay về Washington tướng Weyand được lệnh đổi hướng bay thẳng về Palm Springs (bang Nevada) để phúc trình ngay về tình hình VNCH cho Tổng thống Ford và Ngoại trưởng Kissinger đang đợi tại đó.
Nghe thuyết trình của Weyand xong Kissinger đi họp báo. Trên đường tới Trung tâm báo chí Kissinger buột miệng: "Sao chúng không chết phứt cho rồi? Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng"! (nguyên văn  tiếng Anh: Why don t these people die fast? The worst thing that could happen would be for them to linger on").
Trong tóm lược của bản phúc trình về tình hình  Nam Việt Nam và đề nghị những biện pháp hỗ trợ khẩn cấp của Nhà Trắng cho chính quyền Thiệu tướng Weyand viết:Tướng Weyand từng có mặt ở chiến trường Nam Việt Nam với nhiều chức vụ khác nhau: Tư lệnh sư đoàn 25 Mỹ Tư lệnh Bộ Chỉ huy Tiền phương Lực lượng Đặc nhiệm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh Quân Viễn chinh Mỹ tại VNCH và sau cùng là Tư lệnh  Bộ Chỉ huy Yểm trợ Mỹ (MACV) tại Việt Nam trước khi về Mỹ sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973). Tướng Weyand thăm và tìm hiểu tình hình VNCH từ ngày 28/3 đến 4/4/1975."Tình hình quân sự hiện nay đang nguy ngập... Chính phủ VNCH đang cận kề một thất bại quân sự hoàn toàn. Tuy nhiên VNCH đang lên kế hoạch tiếp tục chống giữ với những nguồn lực còn lại của họ và nếu có được một thời gian để lấy lại sức họ sẽ xây dựng lại được khả năng của họ tương xứng với sự hỗ trợ vật chất của Mỹ. Tôi tin rằng chúng ta thiếu họ món nợ hỗ trợ đó... Chúng ta đã giơ tay ra cho Nam Việt Nam và họ đã nắm lấy. Giờ đây họ đang cần đến bàn tay giúp đỡ ấy nhiều hơn bao giờ hết...
"Uy tín của Mỹ trên cương vị là một nước đồng minh của VNCH đang bị thử thách tại Nam Việt Nam. Để giữ được uy tín đó ta phải làm một nỗ lực tối đa để hỗ trợ cho miền Nam Việt Nam trong lúc này. (Bản phân tích chi tiết hơn được trình bày trong phúc trình đính kèm). Kính trình. Fred C. Weyand".
Mỹ bỏ rơi Thiệu?
Mở đầu bản phúc trình chi tiết tướng Weyand viết: "Tôi đã hoàn tất công việc   đã phân tích những dự tính của chính quyền VNCH để có thể phản công  Bắc Việt đã cam kết với Tổng thống Thiệu về sự hậu thuẫn kiên trì của Tổng thống trong cơn khủng hoảng này và đã  xem xét cân nhắc các lựa chọn và các cách thức hành động mà Mỹ có thể thực hiện để trợ giúp VNCH.
Tình hình quân sự của VNCH đang lâm vào tình trạng nguy ngập và sự tồn tại của Nam Việt Nam là rất mong manh. Chính quyền VNCH đang bên bờ vực của một thất bại quân sự hoàn toàn. Tuy nhiên VNCH dự tính tiếp tục chống cự với phương tiện có trong tay và   nếu có thời gian lấy lại sức có thể tái tạo khả năng chiến đấu tùy thuộc vào sự viện trợ khẩn cấp về trang bị vũ khí khí tài của  phía Mỹ. Tôi cam đoan  là chúng ta có bổn phận phải cống hiến sự hỗ trợ này cho họ".
Và tướng Weyand đề xuất "mức độ hỗ trợ hiện tại của Mỹ chắc chắn dẫn đến  sự thất bại của chính quyền VNCH. Nếu muốn đạt một cơ hội thành công cần có thêm ngay lập tức 722 triệu dollar để giúp VNCH có được thế phòng thủ tối thiểu chống lại sự tấn công của quân đội Bắc Việt. Sự viện trợ bổ sung này của Mỹ là phù hợp với tinh thần của Hiệp định Paris.
Việc sử dụng hỏa lực của không quân Mỹ để tăng cường khả năng cho Nam Việt Nam chống lại cuộc tấn công của Bắc Việt sẽ đem lại sự hỗ trợ trên cả hai bình diện quân sự và tâm lý đối với VNCH đồng thời sẽ mang lại một thế hòa hoãn cần thiết trên chiến trường".
Đặc biệt về các lựa chọn hành động của Mỹ   tướng Weyand phân tích: "Điều mà Mỹ làm hoặc  có thể không làm trong những ngày tới đều sẽ  định đoạt những biến cố sẽ xảy ra trong vài tuần tới.  Một mình Mỹ không thể cứu vãn được Nam Việt Nam nhưng Mỹ cũng có thể cho dù có vô tình đẩy VNCH xuống hố chôn".
Weyand đề nghị cụ thể với Nhà Trắng hai loại hành động. Những hành động ngắn hạn- một phần về mặt vật chất nhưng chủ yếu là về mặt tâm lý - cần thiết để nâng tinh thần Nam Việt Nam và   nếu có thể ép được Bắc Việt tạm ngừng tấn công.
Điều này chỉ mua được thời giờ nhưng trong tình thế hiện tại thời giờ là điều tối cần. Những hành động dài hạn - về mặt vật chất nhưng lại có khía cạnh tâm lý mạnh mẽ- nếu muốn VNCH có hy vọng tồn tại hoặc thương thảo một hiệp ước khác thay vì đầu hàng.
Điều kiện tiên quyết và cấp bách theo tướng Weyand là Nam Việt Nam phải cảm thấy được Mỹ ủng hộ. "Cảm giác này rất quan trọng về mọi mặt. Cảm giác người Mỹ giảm thiểu ủng hộ hay nói cách khác bỏ rơi Nam Việt Nam sẽ khuyến khích Bắc Việt tiếp tục tấn công. Chính cảm giác này khiến quân đội VNCH bắt đầu triệt thoái một cách lộ liễu tại các tỉnh phía bắc.
Cảm giác này là do ngay sau khi ký kết Hiệp định Paris 1 6 tỷ dollar được đệ trình Quốc hội về viện trợ  cho Nam Việt Nam cho năm tài khóa 1974 chỉ được giải ngân có 1 tỷ 126 triệu dollar (bằng 70 phần trăm yêu cầu);  500 triệu dollar còn lại bị Quốc hội khước từ.
Đối với tài khóa năm 1975 này khoản viện trợ 1 6 tỷ dollar được đề nghị để duy trì khả năng tự vệ của quân đội VNCH nhưng cũng chỉ có 700 triệu dollar được chấp thuận (chỉ bằng 44 phần trăm yêu cầu). Những hành động này đã làm phát sinh khủng hoảng lòng tin vào Mỹ của VNCH"-Weyand viết.
Ý định mang B-52 vào lại Nam Việt Nam

Tướng Weyand - Tham mưu trưởng
Lục quân Mỹ

Tướng Weyand kết luận điều then chốt cho sự tồn tại sống còn của VNCH nằm trong khả năng của chính quyền Thiệu có ổn định được tình thế và đem các nguồn lực quân sự chống lại sức tấn công của Bắc Việt hay không.

Song khả năng này  lại tùy thuộc  phần lớn  vào khả năng thuyết phục giới quân sự và dân sự là chưa đến nỗi mất tất cả và còn có thể chặn đứng được Bắc Việt.
"Tuy đó là trách nhiệm  chính của chính phủ VNCH các hành động của Mỹ lại mang tính quyết định trong việc lấy lại niềm tin. Hành động mà Mỹ có thể làm để gây nên ấn tượng tức khắc cho cuộc chiến Việt Nam là sử dụng không quân Mỹ để chặn đứng thế tấn công hiện tại của Bắc Việt.
Cho dù chỉ giới hạn trên phần đất Nam Việt Nam và chỉ thực hiện trong một thời gian giới hạn sự tấn công này sẽ gây tổn thất lớn cho quân đội Bắc Việt và sẽ tạo một chấn động về mặt tâm lý đối với họ. Cuộc không kích này cũng sẽ khiến Hà Nội phải suy nghĩ lại.
Tướng lĩnh quân đội VNCH  mọi cấp bậc đều lặp đi lặp lại mức độ quan trọng của việc Mỹ cho sử dụng pháo đài bay B-52 phản công chống lại quân đội Bắc Việt   và quan điểm này hợp lý về mặt quân sự. Tôi ý thức được các khó khăn về mặt pháp lý và chính trị gây nên bởi việc thi hành biện pháp không kích này"-Tướng Weyand đề xuất với Tổng thống Ford.
Về kế hoạch di tản tướng Weyand đề nghị do có những  biến chuyển cực kỳ nhanh chóng từ các biến cố ở Nam Việt Nam Tổng thống cần phải quan tâm tới một vấn đề khác. Dựa trên các lý do thận trọng Mỹ phải lập tức có ngay một kế hoạch di tản đại qui mô cho 6.000 người Mỹ đang có mặt ở Nam Việt Nam và hàng vạn người Việt trong chính quyền Thiệu mà chúng ta có bổn phận phải bảo vệ.
"Bài học tại Đà Nẵng cho thấy việc di tản này đòi hỏi tối thiểu một sư đoàn lính Mỹ được  yểm trợ bởi không quân tác chiến để đập tan pháo binh và hỏa lực phòng không của Bắc Việt.
Khi tình thế đòi hỏi một lời xác định công khai về chính sách này phải được công bố và Bắc Việt phải được cảnh cáo một cách rõ ràng  về ý định của Mỹ sẽ dùng tới vũ lực để đảm bảo tính mạng cho số người (cả Mỹ và Việt) được di tản.
Nhà Trắng  phải được Quốc hội Mỹ cho toàn quyền sử dụng các hình phạt quân sự chống lại Bắc Việt nếu họ cản trở công việc di tản. Thế giới vẫn  đánh giá sự trung tín của Mỹ với  tư cách là đồng minh của VNCH.  Nhưng để duy trì sự tin tưởng đó chúng ta phải thực hiện một nỗ lực tối đa trong việc hỗ trợ cho Nam Việt Nam ngay" - Tướng Weyand viết.
Nhưng ở thời điểm đó ông Ford khó mà làm được những điều tướng Weyand đề xuất ngoại trừ kế hoạch di tản. Ông ta đang phải sửa soạn một chiến dịch để ra tranh cử chức tổng thống vào năm 1976 và  các cố vấn của ông Ford tại Nhà Trắng đều khuyên ông: "Hãy đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến Việt Nam".
Ông Ford chắc phải nghe cố vấn vì có lẽ ông ta mặc cảm là chưa hề được dân chúng Mỹ bầu lên vị trí người đứng đầu cơ quan hành pháp Mỹ - chức Tổng thống.
Từ một Hạ nghị sĩ ông Ford được Nixon cất nhắc lên làm Phó Tổng thống tháng 12/1973 sau khi Phó Tổng thống Agnew từ chức.Sau đó ông nhảy vọt lên chức Tổng thống khi Nixon phải ra đi do vụ scandal Watergate vào tháng 9/1974.
Tô Nam lược dịch - Báo Tiền Phong

Nguồn: http://ttnv.vnweblogs.com/a150433/bi-an-lich-su-ho-so-mat-cia-ve-ngay-30-thang-4-6.html

Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam

Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam
Tác Giả: Huỳnh Kim Quang – Việt Báo – 24/04/2015
american ally
Năm nay 2015, đánh dấu 40 năm (1975-2015) ngày Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến Việt Nam dù đã kết thúc trên chiến trường bom đạn nhưng những hệ lụy đau thương của nó còn kéo dài cho đến nay!
Trong số những hệ lụy trở thành vết hằn khó xóa trên thân phận nghiệt ngã của người dân Miền Nam là chiến dịch sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Cộng Sản đẩy hơn một triệu trí thức, văn nghệ sĩ và quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vào các trại tù khổ sai mà Cộng Sản gọi một cách mị dân là “trại học tập cải tạo.” Trong những trại tù khổ sai đó, nhiều người đã bị thủ tiêu bí mật, bị xử tử công khai, bị buộc phải làm việc cật lực trong điều kiện đói khát, đau bịnh, không thuốc men, không chăm sóc, bị đối xử bất công và tàn bạo không tình người. Nhiều người đã phải ngồi tù lâu hơn 20 năm. Sau khi được thả ra, hầu hết đều mang thân tật bệnh, suy nhược, quản thúc, theo dõi, thất nghiệp, nghèo đói, và xem như bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Trong khi đó, hàng triệu thân nhân, gồm cha mẹ, vợ con của những người tù chính trị này đã phải sống trong hoàn cảnh vô cùng đau khổ bên ngoài trại tù để tranh đấu cho sự sống còn của bản thân và gia đình trong sự bức bách của chính quyền Cộng Sản và sự kỳ thị của xã hội.
Bức tranh toàn cảnh về thân phận bi đát của những người tù chính trị Việt Nam Cộng Hòa dưới chế độ Cộng Sản sau năm 1975 tại Miền Nam đã được nhiều người Việt, gồm những nạn nhân mà cũng là chứng nhân, viết lên trong nhiều thập niên qua. Nhưng số lượng sách bằng tiếng Anh do người Mỹ viết về biến cố này thì vẫn còn quá ít ỏi. Đặc biệt là loại tài liệu nghiên cứu đến nơi đến chốn, chẳng hạn, đến gặp trực tiếp, phỏng vấn và nghe chính các nạn nhân cựu tù chính trị VNCH kể lại đầy đủ chi tiết, do người Mỹ viết bằng tiếng Anh thì lại càng hiếm hơn.
Trong số tài liệu hiếm quý đó có tác phẩm “A Gift of Barbed Wire – America’s Allies Abandoned in South Vietnam” [Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai: Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam] của tác giả Robert S. McKelvey. Sách do Nhà Xuất Bản University of Washington Press ấn hành tại Seattle của Hoa Kỳ và London của Anh Quốc lần đầu vào năm 2002. Sách in bìa cứng, dày trên 260 trang.
Tựa đề tiếng Anh của cuốn sách là dịch từ câu thơ trong bài “Tặng Vật Tỏ Tình” của nhà thơ Trần Dạ Từ sáng tác vào năm 1964 tại Việt Nam:
“Tặng cho em cuộn dây thép gai
Thứ dây leo của thời đại mới.”
(I give you a gift of barbed wire,
Some creeping vine of this new age.)
Ngoài Lời Nói Đầu, Giới Thiệu và Kết Luận, tác phẩm “A Gift of Barbed Wire” của Robert S. McKelvey gồm 2 phần chính: Phần I gồm 4 truyện nói về bản thân của những cựu tù chính trị VNCH; Phần II gồm 10 truyện nói về bản thân những cựu tù chính trị và cha mẹ, vợ con của họ.
Tác giả Robert S. Mckelvey là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam từ năm 1969 tới 1970 trong nhiệm vụ sĩ quan Dân Vụ hoạt động tại phía tây bắc thành phố Đà Nẵng, theo ông cho biết trong Lời Nói Đầu của cuốn sách. Ông hiện là giáo sư về môn tâm phân học trẻ em và thanh thiếu niên tại Đại Học Oregon Health and Science University ở Portland. Ông là tác giả của các tác phẩm “The Dust of Life: America’s Children Abandoned in Vietnam” [Bụi Đời: Những Đứa Trẻ Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Việt Nam], và “A Gift of Barbed Wire: America’s Allies Abandoned in South Vietnam” [Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai: Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam].
Mắt Thấy Tai Nghe
Để viết cuốn sách này, tác giả Robert S. McKelvey đã thực hiện nhiều chuyến đi đến Việt Nam trong thập niên 1980s tiếp xúc trực tiếp và phỏng vấn cũng như chính mắt chứng kiến cuộc sống vất vả khổ cực trăm bề của các cựu tù chính trị VNCH và thân nhân ngay trên mảnh đất quê hương của họ. Trong Lời Nói Đầu của tác phẩm “A Gift of Barbed Wire,” tác giả đã kể sơ về thân thế và sự nghiệp của ông cùng với mối quan hệ của ông với đất nước và người dân Việt.
 “Giữa năm 1969 và 1970 tôi phục vụ tại Việt Nam trong nhiệm vụ một đại úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tôi được phân công làm sĩ quan Dân Vụ, chịu trách nhiệm với “việc chiến thắng trái tim và tâm thức” của người Việt Nam trong khu vực hoạt động của chúng tôi ở phía tây bắc của thành phố Đà Nẵng thuộc miền trung Việt Nam. Công việc này đưa tôi vào việc tiếp xúc hàng ngày với thường dân Việt Nam, hầu hết là nông dân, và đã cung cấp cho tôi quan điểm khác về cuộc chiến hơn là trong trường hợp tôi ở trong trung đội bộ binh, một khẩu đội pháo binh, hay một đơn vị không quân. Trong một ý nghĩa nào đó, tôi hành xử chức năng như một binh sĩ tình nguyện Thủy Quân Lục Chiến hơn là một người lính bộ binh, làm cho tôi dễ hiểu và cảm thông với sự đau khổ của những người Việt Nam bị mắc kẹt giữa các lực lượng đánh nhau.
Sau khi rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1970 tôi trở về nhà để bắt đầu nghề nghiệp mới của một bác sĩ. Tôi học xong trường y khoa năm 1974 và hoàn tất việc huấn luyện làm một bác sĩ tâm thần và bác sĩ nhi đồng vào năm 1979. Trong những năm bận rộn đó tôi ít suy nghĩ về các kinh nghiệm thời chiến tranh của tôi. Rồi trong thập niên 1980s nhiều cuốn sách, phim ảnh, và thảo luận nhằm khảo sát vai trò của Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam đã đánh thức sự thích thú của tôi, và làm cho tôi nhớ lại, Việt Nam. Tôi bắt đầu tìm kiếm cách trở lại Việt Nam và làm việc với người Việt Nam, lần này như là một bác sĩ tâm thần. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tại Trung Tâm Chuyển Tiếp Tị Nạn Phi Luật Tân, và tại Hoa Kỳ, tôi nghiên cứu về đời sống của những người Mỹ Á Châu gốc Việt, từ những đứa trẻ sinh ra trong thời chiến tranh tới những người đàn ông Mỹ và phụ nữ Việt Nam.(2) Sau đó tôi nới rộng mục tiêu của mình để bao gồm những trẻ em Việt Nam tại Úc, Hoa Kỳ, và Hà Nội, thủ đô của Việt Nam.”
Cũng trong Lời Nói Đầu của “A Gift of Barbed Wire,” Robert S. McKelvey kể lại về các chuyến đi Việt Nam để sưu tập tài liệu và gặp gỡ phỏng vấn các cựu tù chính trị VNCH và ấn tượng đầu tiên khi chứng kiến tình cảnh bi thương của những cựu tù chính trị.
“Vào năm 1990, thời gian đầu tiên tôi trở lại thăm Việt Nam kể từ lúc phục vụ trong quân đội ở đó, tôi đã mua 2 bức tranh sơn mài.(3) Chúng miêu tả một cách trừu tượng những người đàn bà thanh lịch với mái tóc đen dài phủ xuống chiếc áo dài có hoa màu tím và xanh lá cây, y phục Việt Nam truyền thống. Người bán hàng nói với tôi rằng họa sĩ vẽ bức tranh đó sống gần đây. Tôi quyết định đến thăm ông ấy. Sau khi đi tìm một hay hai giờ đồng hồ qua các đường phố đông đúc và dơ dáy của Thành Phố Hồ Chí Minh, cuối cùng tôi đã tìm ra căn chung cư nhỏ hai tầng vừa là chỗ ở vừa là phòng vẽ tranh của ông ấy. Vợ ông ấy mở cửa và, sau khi xác minh rằng tôi đến đó để xem và có thể mua một vài bức tranh của chồng bà, đã mời tôi vào nhà.

Bà ấy đóng vai trò như là người quản trị phòng trưng bày tranh và dẫn tôi đi xem một vòng, giải thích cách những bức tranh được vẽ và miêu tả một số chủ đề của tranh ảnh. Tôi ngưỡng mộ tác phẩm của chồng bà bao nhiêu, nhiều bức tranh mà sau đó tôi đã mua, thì tôi càng bị quyến rũ bởi cặp mắt sâu và đẹp của bà ấy bấy nhiêu. Với tôi cặp mắt ấy có vẻ được đong đầy với nỗi buồn đau vô hạn. Khi hỏi về bối cảnh hội họa của chồng bà, tôi biết được rằng ông ấy đã từng phục vụ là một sĩ quan Lục Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau chiến thắng năm 1975 của Cộng Sản, chính quyền mới đã bắt bỏ tù ông. Khi tôi hỏi tại sao, bà cho biết rằng đây đã là số phận của nhiều người từng làm việc cho chính quyền cũ. Bà cũng nói vắn tắt về cuộc đời của bà trong thời gian năm năm vắng chồng, mô tả tình cảnh nghèo khổ và bị xã hội cô lập mà bà đã phải chịu đựng và sự chiến đấu sau đó của họ để xây dựng lại cuộc sống sau khi ông được ra tù. Lắng nghe bà kể chuyện tôi bắt đầu hiểu đôi chút về nỗi buồn trong đôi mắt của bà.

Đây là kinh nghiệm đầu tiên của tôi với cựu tù chính trị Việt Nam và gia đình của họ. Tôi đã từng không biết rằng sau khi Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn một triệu người là cựu đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta, trong số hai mươi triệu dân, đã bị đẩy vào các trại học tập cải tạo.(4) Ở đó họ bị bắt buộc đào hào và kênh dẫn nước, trồng trọt, và xây nhà làm đường. Họ được nuôi bằng những khẩu phần chết đói – hai chén cơm, một ít muối, và một chút xíu canh cải mỗi ngày. Vào ban đêm, sau một ngày làm việc cực nhọc, họ bị lên lớp về những lỗi lầm của chính quyền cũ và người Mỹ, về các lý thuyết Mác-Lê, và về những vinh quang của chế độ Cộng Sản mới, được mô tả bởi những cai tù như là “chính quyền tốt nhất thế giới.” Họ cũng bị đòi hỏi phải thú tội về những tội ác quá khứ của họ như là một phần của quá trình học tập cải tạo để lấy cớ là sẽ “chuyển” họ thành “người mới.”(5) Điều đó đã không được tiết lộ với họ cho đến về sau mà những thú tội này tạo thành cơ bản cho những buộc tội thêm nữa để chống lại họ và ngay cả bỏ tù họ lâu hơn.
Cuối cùng được thả từ những trại học tập cải tạo sau khi đã bị bỏ tù từ một tới hơn hai mươi năm, các cựu tù nhân trở về nhà như những người đàn ông chỉ còn da bọc xương. Họ kiệt sức, bệnh tật, và chán ngán sâu sắc chính quyền mới và những ý định thực sự của nó. Có rất ít người, như nhà họa sĩ mà tôi đã gặp, tìm ra được công việc làm đúng với nghề nghiệp mà họ đã từng được đào tạo. Tuy nhiên, hầu hết đã phải sinh sống bằng bất cứ công việc gì mà họ có thể tìm ra, một thứ giai cấp thấp bị khinh khi của những người đàn ông có học thức cao và thông minh với không còn triển vọng cho một tương lai phát đạt tại Việt Nam với chính họ hay với con cháu của họ.
Tôi đã gặp một trong nhiều cựu tù chính trị kém may mắn trong thời gian chuyến thăm Việt Nam sau này. Ông ấy đã từng là một thiếu tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng vào lúc tôi gặp ông năm 1993 thì ông là một người đạp xích lô tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Công việc của ông là đạp xích lô chở những du khách Tây Phương từ các khách sạn sang trọng quanh khu vực thương mại trung tâm qua những chuyến mua sắm hay tham quan. Trong thời gian thực hiện cuốn phim Pháp Indochine (Đông Dương) ông đã là một phu xích lô cho nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve. Nếu được hỏi, ông sẽ đưa ra một tờ giấy copy được ép nylon của hình bìa tạp chí Paris Match mà ông đã được chụp trong lúc chở nữ tài tử Deneuve trên chiếc xe xích lô của ông. Ông ấy cùng tuổi tôi, và mỗi ngày khi tôi quan sát cái tướng gầy gò mà phải ráng gân cốt để đẩy chiếc xe nặng chở những du khách Mỹ và Pháp to con qua các con đường đông nghẹt người của thành phố, tôi suy nghĩ về những khác biệt trong số phận của chúng ta.
Trong những năm sau khi họ được thả từ các trại học tập cải tạo hầu hết cựu tù nhân đều quyết định rời Việt Nam. Một số đã vượt biên như thuyền nhân hay đi đường bộ xuyên qua Cam Bốt và Thái Lan, trong khi những người khác thì rời khỏi nước theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (ODP).(6) Đến được Hoa Kỳ thì họ lại đối diện thử thách, đặc biệt khó khăn với người già, về việc thích ứng với một quốc gia với các truyền thống văn hóa khác nhau quá lớn. Họ thường không nói được tiếng Anh nhiều và cũng hay bị kỳ thị chủng tộc, định kiến, và kỳ thị trong việc làm. Không như các cựu chiến binh Việt Nam của chúng ta, có ít người Mỹ biết hay quan tâm đến những câu chuyện của họ.

Chẳng có cuốn phim nào nói về cuộc đời họ. Những cuốn sách mà họ đã viết về các kinh nghiệm của  họ thì không nằm trong các danh sách bán chạy nhất.(7) Không có phim Miss Saigon để giúp chúng ta hiều sự đau khổ của họ. Ngay cả tài liệu khoa học cũng chỉ viết vài trang trình bày về các vấn đề của họ.(8) Tôi tự hỏi, bằng cách nào họ và những người vợ của họ có thể chịu đựng nhiều thập niên đau khổ kéo dài và lập đi lập lại như thế? Sự đau khổ đó ảnh hưởng đến phát triển nhân cách, sức khỏe tâm thần và triển vọng cuộc sống của họ ra sao? Cái gì còn lại của hy vọng và ước mơ thời trai trẻ của họ? Đây là một số nghi vấn mà tôi tìm kiếm câu trả lời trong tác phẩm này.
Khi tôi bắt đầu tìm hiểu về những cựu tù chính trị của Việt Nam tôi đã biết trước rằng tôi sẽ gặp những người tuyệt vọng và đau khổ đang đau buồn đối với quá khứ và phẫn uất vì tất cả những gì họ đã mất mát. Sau nhiều giờ gặp họ, lắng nghe những trải nghiệm của họ, và rồi suy ngẫm và viết về họ tôi đã, với sự ngạc nhiên của mình, phát giác điều gì đó khác hẳn. Trong khi một vài người trong số mà tôi biết là đau khổ, không có vẻ gì tuyệt vọng, và hầu hết tất cả đều cho thấy khả năng hồi phục rất lớn trên gương mặt của những người dường như bị chấn thương nặng nề.” (Robert S. McKelvey, A Gift of Barbed Wire, University of Washington Press,  Seattle and London, 2002, Lời Nói Đầu, trang XI, XII, XIII, XIV)
Đó chỉ là sơ lược về tình cảnh sống của vài cựu tù chính trị VNCH trong số rất nhiều người mà tác giả Robert S. McKelvey đã gặp trong những chuyến đi Việt Nam để chuẩn bị cho cuốn sách này. Phần nội dung dày hơn 260 trang sau đó của cuốn sách mới là những câu chuyện về người thật và việc thật của các cựu tù chính trị VNCH từ lúc gia nhập Quân Lực VNCH chiến đấu bên cạnh đồng minh Mỹ để bảo vệ tự do, dân chủ, cho đến khi Miền Nam sụp đổ, rồi vào tù Cộng Sản sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ra tù, sống lây lất khổ sở, sau cùng đi Mỹ và đối diện những va chạm khắc nghiệt của cuộc sống mới.
Robert S. McKelvey nêu ra 7 trường hợp tiêu biểu cho hàng trăm ngàn cựu tù chính trị VNCH để kể chuyện về họ và thân nhân của họ trong tác phẩm “A Gift of Barbed Wire” gồm, cuộc đời của một bác sĩ, một kỹ sư, một thợ hớt tóc, một gián điệp, một phi công, một thầy giáo, và một chính trị gia. Vì tôn trọng một vài trường hợp mà trong đó người được McKelvey phỏng vấn không muốn nêu danh tánh thực và cũng để giữ sự an toàn cho những người còn lại trong nước, đặc biệt tình hình an ninh khắc nghiệt của người dân tại Việt Nam vào thập niên 1980s, tác giả đã chọn cách không nêu danh tánh thật của tất cả cựu tù chính trị VNCH được kể trong sách này.
Ngày 30 Tháng 4 và Lời Hứa Cuội Của Cộng Sản
Người dân miền Nam, đặc biệt những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những người còn ở lại Việt Nam và chứng kiến sự kiện miền Nam bị Cộng Sản chiếm, có cảm nghĩ như thế nào trong ngày 30 tháng 4 năm 1975? McKelvey thuật lại lời kể của một cựu phi công Không Quân VNCH tên là Trà kể rằng, “Đó là một ngày kinh hoàng. Chúng tôi mất mọi thứ. Chúng tôi không biết phải làm gì. Một số đơn vị đã chiến đấu đến cùng; những đơn vị khác không tuân lệnh tổng thống Nam Việt Nam [Dương Văn Minh để đầu hàng]. Tôi không biết hàng xóm của tôi là Cộng Sản hay không và không biết họ sẽ làm gì, vì vậy tôi quyết định ở lại với một người bạn ít ngày trước khi về nhà chỉ để thấy điều gì đã xảy ra. Tôi nói với vợ tôi là nơi nào tôi nên ở để vợ tôi không lo ngại. Đêm 30 rất là yên lặng — thật đáng sợ.” Đêm trước thì có nhiều hỏa tiễn và tiếng nổ, nhưng cái đêm đó thì không có hỏa tiễn. Im lặng đáng sợ bởi vì chúng tôi không biết cái gì xảy ra. Sau hai ngày vợ tôi khuyến khích tôi về nhà. Không có gì xảy ra. Tôi không biết làm gì. Tôi không hiểu phải giúp gia đình tôi bằng cách nào.” (Sách đã dẫn, trang 112)
Bi kịch làm thay đổi cả cuộc đời của các quân cán chính VNCH trong các trại tù lao động khổ sai kéo dài hàng chục năm bắt đầu với lời hứa gian dối của chế độ Cộng Sản về thời gian đi học tập cải tạo từ 3 ngày đến 30 ngày. McKelvey thuật lại lời kể của cựu phi công VNCH Thọ như sau:
“Có thông báo [trên đài phát thanh và những cái loa chát chúa] rằng tất cả quân nhân của chế độ cũ đểu phải đi học tập cải tạo. Bạn đựợc cho biết đến văn phòng chính quyền hay trường học và viết lý lịch của bạn, một loại sơ yếu lý lịch. Rồi bạn về nhà và chờ. Sau một tháng có thông báo khác bảo bạn trình diện đi học tập cải tạo. Các sĩ quan, hạ sĩ quan, và những cấp bậc thấp hơn thì được cho biết việc học tập cải tạo của họ sẽ kéo dài 3 ngày và họ có thể về nhà mỗi đêm. Các sĩ quan cấp bậc cao hơn, cấp tá tới tướng, và viên chức chính quyền cao hơn được cho biết việc học tập cải tạo của họ kéo dài lâu hơn và họ phải trình diện tại trường trung học hay đại học gần đó với đầy đủ lương thực và quần áo cho 30 ngày.” (Sđd., trang 112, 113.)
Nhưng rồi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đã phải ngồi tù lao động khổ sai tới cả chục năm, có người ở tù tới 21 năm, như trường hợp nhà tình báo Sang đã bị bắt ở tù học tập cải tạo từ tháng 3 năm 1975 cho đến năm 1996 mới được thả (Sđd., trang 71).
Những Năm Tháng Trong Tù
Ở tù là một khổ nạn, nhưng ngồi tù Cộng Sản thì lại càng là cực hình khốn khổ không thể tả! Những năm sau 1975 cho đến giữa thập niên 1980s, Việt Nam là một đất nước nghèo đói, lạc hậu và khép kín với thế giới bên ngoài. Vì vậy, chế độ Cộng Sản đã cai trị dân bằng luật rừng, đặc biệt là chế độ đối với các tù chính trị. Các cựu tù chính trị VNCH phải tự xây cất nhà tù để giam cầm chính họ, tự canh tác hoa màu đủ thứ và sung túc nhưng lại bị buộc sống chết đói, và gánh chịu bao nhiêu tàn ác, dã man của chế độ tù Cộng Sản.
Nói về việc ăn uống trong tù McKelvey thuật lời kể của cựu phi công VNCH Thọ như sau: “Trong thời gian năm đầu tại miền Nam chúng tôi ăn cơm độn bo bo. Đó không phải là bo bo bình thường, mà chỉ là loại thô cũ. Chúng tôi cố nấu cho mềm, nhưng nó không ngon chút nào. Qua năm thứ hai tại miền Bắc chúng tôi ăn cơm độn với bắp. Năm thứ ba chúng tôi có sắn khô và đôi khi ăn cơm vào những lễ lớn như Tết. Năm 1978 và 1979 là tệ nhất. Thiếu thực phẩm trên cả nước và nhiều người chết. Vì thiếu thực phẩm họ bắt đầu để gia đình đến thăm nuôi chúng tôi tại các trại tù để họ có thể bổ sung khẩu phần ăn của chúng tôi. Các thân nhân đã mang cho tù gạo, lương khô, và thuốc men.” (Sđd., trang 117)
Ở trong tù, các cựu tù chính trị VNCH không những làm việc cực nhọc, ăn uống thiếu thốn khổ sở mà còn bị đánh đập, hành hạ, và thậm chí giết chết. McKelvey ghi lại lời của cựu phi công Thọ như sau: “Họ nhốt tù trong “chuồng cọp” [một hộp thiết nhỏ giống như cái thùng chở hàng hóa], để nó ra giữa trời dưới ánh nắng mặt trời, và chỉ cho tù một chút thức ăn – 2 ca nước và một tô sắn 2 lần một ngày. Hay họ còng tù vào tường ở cổ tay và mắt cá. Thật là không thoải mái chút nào!” (Sđd., trang 116)
Cựu phi công Thọ còn chứng kiến 2 lần Cộng Sản giết tù chính trị VNCH. McKelvey thuật lại lời Thọ như sau: “Hai lần. Lần thứ nhất là lúc ở trong Nam tại Biên Hòa. Một ông cố trốn trại ban đêm nhưng bị bắt. Ngày hôm sau họ đã xử tội ông. Họ buộc chúng tôi phải nghe phiên xử qua tiếng loa bự. Một giờ sau chấm dứt họ bắn chết ông ấy. Lần thứ hai lúc đã ra Bắc. Ba hay bốn người trốn trại. Sau vài ngày họ bị bắt lại và bị mang trở về trại. Họ đánh một trong những người đó tới chết. Những  người khác thì bị đưa đi trại khác.” (Sđd., trang 116)
McKelvey thuật lại lời của cựu tù chính trị là nhà chính trị VNCH tên Hung (tác giả không đánh dấu) kể rằng, “Tôi hỏi có người nào chết trong tù không. “Nhiều! Đói khát và làm việc nặng nhọc làm cho nhiều người bị bệnh. Rất dễ chết. Không phải là tình trạng tinh thần hay cá tính của người tù. Chỉ là không có đủ để ăn và không có thuốc men.” (Sđd., trang 187)
Cựu tù chính trị VNCH là nhà chính trị Hung còn kể chuyện Cộng Sản cực kỳ hung ác hơn nữa với tù chính trị VNCH. Mckelvey thuật lại lời kể của Hung rằng, “Lúc đó chúng tôi ở trại không xa biên giới Cam Bốt. Đó là thời gian Chiến Tranh Việt-Miên. Việt Cộng đặt mìn Claymore [mìn chống cá nhân] chung quanh trại tù. Chúng tôi nghĩ là họ bảo vệ chúng tôi, nhưng họ nhắm mục tiêu mìn Claymore vào chúng tôi! Họ cho biết rằng nếu Cam Bốt tấn công, họ sẽ giết chúng tôi trước bởi vì chúng tôi cũng là kẻ thù của họ.” (Sđd., trang 208, 209)
Sự bức bách và tàn ác của chế độ tù Cộng Sản đã khiến cho người tù chính trị VNCH có lúc không thể im lặng chịu đựng và đứng lên chống lại. McKelvey thuật lại lời kể của một cựu tình báo VNCH là cựu tù chính trị tên Sang về tình trạng nghiêm trọng tại trại tù Hàm Tân vào những năm từ 1976 đến 1980, như sau: “Một ngày kia chúng tôi đi ra ngoài lao động trong một nhóm 40 người tù với một cai tù và 2 người lính. 12 người chúng tôi khống chế cai tù và lấy vũ khí của họ. Chúng tôi có 2 khẩu súng M-16 và một khẩu K-54. Chúng tôi vào rừng đế đến mật khu của những nhóm chống chính quyền đã xây dựng căn cứ cho chúng tôi. Cộng Sản phái 2 trung đoàn lính tới và công an tủa ra 2 tỉnh, Thuận Hải và Đồng Nai, để tìm chúng tôi. Sau 6 ngày tôi bị bắt đầu tiên. 4 ngày sau 9 người khác bị bắt và 2 người bị bắn chết.” (Sđd., trang 85)
Hoàn Cảnh Vợ Con Người Tù Chính Trị VNCH
Các quân cán chính VNCH bị Cộng Sản bắt đi tù học tập cải tạo tất nhiên là chịu rất nhiều thống khổ và đau thương trong những nhà tù nhỏ, nhưng vợ con và thân nhân của họ ở bên ngoài cũng không khác gì một nhà tù lớn với vô vàn gian nan, khổ cực và tủi nhục. Họ vừa phải gánh vác trách nhiệm thế cha và làm mẹ nuôi dạy con cái và buôn bán tảo tần, vừa phải đối mặt với những áp bức của chế độ Cộng Sản và sự kỳ thị của xã hội.
Tác giả Robert S. Mckelvey đã trực tiếp phỏng vấn và ghi lại nhiều trường hợp rất thương tâm của những người vợ con của cựu tù chính trị VNCH. McKelvey thuật lại lời của người vợ của một chính trị gia tên Hung là bà Tho (tác giả cũng không bỏ dấu) kể tình cảnh gia đình sau khi chồng bị bắt đi học tập cải tạo như sau:
“Sau khi ông nhà tôi đi tù tôi phải chăm sóc 7 đứa con của chúng tôi và tiệm chụp hình. Cửa tiệm làm ăn không khá. Chồng tôi là người chính yếu gánh vác việc ấy trước đây, và sau khi ông ấy đi không ai trong chúng tôi biết làm sao để tiếp tục điều hành. Người ta cũng sợ không dám ủng hộ cửa tiệm bởi vì chồng tôi là người đi tù học tập cải tạo. Ngay cả những thân nhân của chúng tôi và người bạn thân nhất của chồng tôi cũng tránh xa. Nó giống như là chúng tôi mắc bịnh nguy hiểm, một thứ bệnh lây nhiễm, và người ta sợ chúng có thể lây lan họ. Họ không muốn dính dáng tới và vướng vào phiền phức với chính quyền.” (Sđd., trang 196)
Những người vợ con cựu tù chính trị VNCH còn phải bị bắt học tập cải tạo tại địa phương. Bà Tho kể với McKelvey rằng, “Mỗi tháng tất cả những bà vợ của những người đàn ông bị tù học tập cải tạo bị đòi hỏi phải đến họp. Mục đích là để cải tạo chúng tôi tại nhà. Họ bảo chúng tôi không được buôn bán và tận dụng lợi thế của người dân. Thực tế họ muốn chúng tôi ở nhà và làm ruộng.” (Sđd., trang 197)
Những người vợ cựu tù chính trị VNCH khóc hết nước mắt hàng đêm vì hoàn cảnh bế tắc và vì Cộng Sản áp bức người quá đáng.  Bà Tho kể với McKelvey rằng, “Mỗi đêm tôi đợi mấy đứa con đi ngủ và không thể nghe được, thì tôi khóc bởi vì chúng tôi không có đủ tiền cho tôi đi thăm nuôi chồng tôi. Một ngày sau khi chồng tôi đi tù những người từ chính quyền đến và liệt kê mọi thứ chúng tôi có. Họ lấy một số đồ đạc như máy truyền hình và quần áo của thằng con trai đi lính của chúng tôi. Họ nói rằng đó là “tài sản của nhân dân.” Khi chồng tôi là người chủ gia đình đi rồi, tôi đã bán những gì chúng tôi có để nuôi gia đình. Tôi bán nồi và chảo trước nhà. Ngay cả vậy mà cũng không có gì nhiều để ăn. Thịt và cá thì hiếm khi có. Chúng tôi trộn cà chua với cơm chỉ để làm đầy bao tử.” (Sđd., trang 197)
Điều cực kỳ bất công mà Cộng Sản đã làm với những gia đình cựu tù chính trị VNCH là không cho con cái họ đi học. McKelvey thuật lại lời bà Tho kể rằng, “Thực tế con cái không được phép đi học bởi vì địa vị của cha chúng nó trong chính quyền cũ. Chẳng hạn, con gái của tôi học rất giỏi ở trung học. Sau khi tốt nghiệp cháu muốn vào đại học. Ở đó có danh sách ưu tiên để quyết định ai được nhận. Nếu gia đình bạn là Cộng Sản, bạn đứng đầu danh sách. Nếu họ làm việc cho chính quyền cũ, thì bạn đứng đội sổ. Bởi vì cha và anh của cháu đều đi tù học tập cải tạo, nên cháu đã không được nhận.” (Sđd., trang 198)
Ra Tù, Về Nhà, Đi Vượt Biên
Ra khỏi những nhà tù nhỏ là các trại tù học tập cải tạo, các cựu tù chính trị VNCH tường có thể bước qua được khúc quanh nghiệt ngã này để bắt đầu làm lại cuộc đời. Nhưng, không, họ chỉ mới bước chân vào cái nhà tù lớn của xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản với vô số khổ sở và trớ trêu khác đang chờ chực.
Đúng vậy, như lời kể của một cựu kỹ sư và thầy giáo thời  VNCH đi tù học tập cải tạo về mà McKelvey thuật lại như sau: “Ngày đầu về nhà tôi lo sợ về an ninh. Tôi phải đem giấy chứng nhận ra tù học tập cải tạo đến văn phòng an ninh phường, văn phòng hành chánh phường, và ty an ninh tỉnh để ký xác nhận. Trong tháng đầu sau khi tôi về nhà tôi cũng phải có mặt ở những buổi họp trong xóm mỗi đêm. Chúng giống y chang những buổi họp trong trại tù. Tôi phải đứng dậy và thú tội trước 15, 20 người láng giềng của tôi đang có mặt trong buổi họp. Mỗi lần như thế tôi đều phải bắt đầu bằng câu, “Tôi biết ơn Cộng Sản.” Sau một tháng như vậy tôi mới nhận được giấy nói rằng tôi đã trở lại làm công dân Việt Nam. Rất là quan trọng để tờ giấy đó được ký chứng nhận bởi công an địa phương. Nếu bạn phạm trọng tội, thì họ sẽ lấy lại [giấy tờ và quyền công dân của bạn].” (Sđd., trang 47)
Một cựu tù chính trị VNCH khác là cựu đại tá và chỉ huy Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn tên Bích kể cho McKelvey nghe ngày từ trại tù trở về nhà như sau: “Hơi là lạ. Ban đầu, mấy đứa con không nhận ra tôi bởi vì tôi rất ốm. Tôi đi lại khó khăn bởi vì vấn đề dinh dưỡng. Tôi rất yếu. Tất cả trừ đứa con trai út của tôi đều đã đi thăm nuôi tôi ở ngoài Bắc với vợ tôi. Trải qua 2 năm đầu chúng tôi không được phép nhận thư từ gia đình, và qua 3 năm đầu chúng tôi không được thăm nuôi. Sau đó họ có thể thăm nuôi mỗi 6 tháng, nhưng vợ tôi không có tiền để đi thăm nuôi tôi đều như thế. Bà chỉ đi thăm tôi mỗi năm 1 lần hay 2 năm một lần.” (Sđd., trang 65)
Còn cựu tù chính trị VNCH là nhà tình báo Sang thì kể như sau, theo McKelvey, “Khi tôi trở về nhà một số người sợ tôi và không muốn liên hệ với tôi. Những người khác thì thông cảm, nhưng tôi không muốn họ gặp rắc rối vì tôi gần gũi với họ, do đó tôi sống rất cô độc. Sauk hi trở về nhà nhiều cựu tù chính trị sống cô độc. Nhiều bà vợ bỏ  họ trong lúc họ còn trong tù. Nhiều người khác về nhà bị rồi loạn thần kinh mà một thời gian ngắn sau đó họ đã ly dị. Hầu hết họ đều không có việc làm. Những nào người ở tù nhiều năm có con lớn lên và khó hiểu biết chúng. Những đức con độc lập, và không có sự gần gũi giữa chúng và người cha đi tù. Khi những cựu tù ly di với các bà vợ thì những đứa con cảm thấy vô vọng.” (Sđd., trang 95)
Giáp mặt với cuộc sống khó khăn mọi mặt ở nhà như thế, nhiều cựu tù chính trị VNCH đã tìm đường vượt biên.
Nhà tình báo Sang kể tiếp cho McKelvey nghe, “Hầu hết mọi người tù trong các trại tù cải tạo đều hy vọng trở thành những người tị nạn tại một quốc gia khác.” (Sđd., trang 95)
Cựu tù chính trị VNCH nguyên là phi công tên Tra (tác giả không bỏ dấu) kể về chuyện vượt biên của ông cho McKelvey nghe rằng, “Tôi cố vượt biên bằng thuyền nhiều lần, nhưng đều bị gạt, họ bỏ tôi ở lại. Lần cuối cùng tôi cố vượt biên với mấy người bạn và tôi mua thuyền. Kế hoạch là chúng tôi phải neo thuyền ngoài khơi. Chúng tôi đi ra thuyền đó bằng ghe nhỏ. Nhưng người lái ghe nhỏ của tôi đã bị lạc, và tôi không bao giờ thực hiện được việc đó. 2 người bạn khác của tôi thì đã thành công lái tàu tới Mã Lai Á.” (Sđd., trang 120)
Qua Mỹ Và Những Khó Khăn Của Cuộc Sống Mới
Ra khỏi Việt Nam đối với các cựu tù chính trị VNCH là một nhu cầu để được sống tự dọ và hạnh phúc, nhất là qua Mỹ. Nhưng trước khi tới Mỹ, không một cựu tù chính trị VNCH nào hình dung ra được những hoàn cảnh thế nào mà họ sẽ phải đối diện mỗi ngày. Vì thế, qua Mỹ là một trong những bước ngoặc lớn trong cuộc đời của một cựu tù chính trị VNCH.
Chúng ta hãy nghe lại lời kể của cựu phi công Tra về những khó khăn nào mà ông gặp phải khi qua Mỹ, “Chúng tôi có nhiều khó khan. Đôi khi tôi nghĩ chúng tôi không tạo nên nó. Sau khi chúng tôi gặp lại nhau vài năm thì bà [vợ] nói với tôi, “Anh biết đó, chúng ta vẫn còn đang thích nghi. Vẫn còn khoảng cách giữa chúng ta.l” Tại Việt Nam, là người chồng, tôi chăm sóc mọi thứ. Ở đây tôi không có gì, không việc làm và không tiền bạc. Bà ấy cho tôi mọi thứ. Tôi cảm thấy bị coi thường. Bà ấy nói rằng, “Hãy ở nhà và nghỉ ngơi.” Tôi nói, “Không, tôi muốn đi làm ngay nếu được.” Vì thế bà đi và bảo với người quản trị của hãng xưởng nơi bà ấy làm việc. Ông ấy cho tôi một việc làm lắp ráp điện tử vào năm 1991, và từ đó tôi làm việc ở đó tới nay.” (Sđd., trang 121)
Trường hợp của bà Oanh là vợ của cựu phi công Tra là một điển hình của những người vợ cựu tù chính trị VNCH đã đến Mỹ trước và phải đấu tranh sinh tồn rất khổ cực để vừa nuôi con vừa nuôi chồng trong một đất nước hoàn toàn xa lại. Bà Oanh kể với McKelvey như sau:
“Tôi không biết mặt mũi của tôi ra sao trong thời gian đó. Tôi rất bận rộn đến nỗi không có thì giờ để soi gương. Điều duy nhất mà tôi nghĩ về là kiếm tiền. Tôi có việc làm trong khâu dây chuyền lắp ráp. Tôi chỉ kiếm được 3.25 đô la một giờ, và vì vậy tôi tới sở xã hội để xin giúp đỡ. Người phụ nữ ở đó cũng là một người Việt. Bà ấy rất khinh khỉnh. Bà nói rằng, “Bạn kiếm được 3.25 đô la một giờ, vậy mà bạn vẫn còn đi xin giúp đỡ hà? Tiền nhà của cô chắc là quá cao. Tại sao bạn không dời tới [một chương trình trợ cấp nhà ở rõ rang mà nơi đó có nhiều người tị nạn Việt Nam mới tới ở]? Tôi rất giận. Tôi không biết phải nói gì. Tôi chỉ khóc và bỏ đi.” (Sđd., trang 127)
Còn một khó khăn khác mà nhiều cựu tù chính trị VNCH khi qua Mỹ gặp phải đó là sự cách biệt giữa cha mẹ và con cái lớn lên bên này đã trở thành xung đột khó giải kết trong gia đình. Tác giả Robert S. McKelvey nêu ra trường hợp con cái trong gia đình của cựu phi công là cựu tù chính trị VNCH qua lời kể của người con gái tên Phuong (tác giả không đánh dầu), như sau:
“Tôi nhớ căng thẳng giữa ba tôi và người em gái của tôi. Lúc đó em gái út của tôi và tôi ở nhà và 2 đứa em gái khác ở đại học. Tôi không nhớ căng thẳng nhiều tới mức nào giữa ba tôi và tôi, nhưng ba tôi bị bực mình với em gái út của tôi bởi vì nó quá bướng bỉnh. Họ không hạp nhau. Ba tôi thì rất truyền thống và đối xử với con cái theo cách ở Việt Nam. Em gái út tôi là con gái Mỹ. Nó nói những gì nó suy nghĩ và hành động độc lập. Ông còn nhớ sự kiện ba mẹ tôi kể cho ông nghe về việc em gái tôi lái xe lui ra quá nhanh? Ba tôi nói rằng, “Tôi rất giận đứa con gái đó.” Tại Việt Nam bạn không thể hành động như vậy, ngay dù bạn đang giận dữ. Bây giờ em gái tôi cho rằng, “Ba không thích em – Em là đồ rác.” (Sđd., trang 139)
Kết Luận
Ông Quyet (tác giả không đánh dấu) là một học giả có bằng thạc sĩ tại Hoa Kỳ và dạy tiếng Anh tại Học Viện Quân Sự Quốc Gia Việt Nam (VNCH) trước năm 1975. Sau năm 1975 Quyet đi tù học tập cải tạo. Quyet đã trình bày bằng văn bản ba điều với McKelvey về quan điểm của ông đối với chế độ Cộng Sản Việt Nam. Trong đó ông chỉ trích chính sách tàn ác của Cộng Sản đối với dân quân miền Nam và cho rằng chính quyền CSVN còn nợ người dân miền Nam lời xin lỗi.
Điều thứ ba của văn bản của Quyet viết rằng, “Thứ ba, các anh [Cộng Sản] lớn tiếng kêu gọi mọi người “tha thứ và quên đi.” Hãy để tôi nói rõ rằng chúng tôi đã không, và đang không, mắc nợ các anh bất cứ điều gì [đối với những gì chúng tôi đã làm]. Hầu hết chúng tôi chiến đấu dũng cảm đơn giản là để tự bảo vệ. Không có gì sai với điều đó cả. Khi chiến tranh chấm dứt quá khứ nên để lại sau. Chúng tôi có thể đã là bạn bè của các anh và cùng nhau làm việc với các anh để xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, nhưng các anh đã chọn ôm giữ ác cảm chống lại chúng tôi và đối xử với chúng tôi tồi tệ hơn với thú vật. Các anh mới chính là người nợ chúng tôi một lời xin lỗi [cho điều đó] và đặc biệt đối với việc [các anh] làm ô nhiễm nơi an nghỉ thiêng liêng của những chiến sĩ đã nằm xuống của chúng tôi.” (Sđd., trang 168)
Trong phần kết luận cuốn sách, tác giả Robert S. McKelvey rút ra 5 nhận định từ những kinh nghiệm và bài học của chiến tranh Việt Nam, của các cựu tù chính trị VNCH mà người Mỹ và chính quyền Mỹ cần đặc biệt quan tâm.
Một, nạn nhân của chiến tranh là những con người nhạy cảm, tế nhị và dễ bị tổn thương nên, người Mỹ cần đối xử công bằng với các đồng minh của mình. Hai, sự đau khổ của các nạn nhân chiến tranh không chấm dứt sau khi ký hiệp định hòa bình và rút quân [Mỹ] về nước. Do vậy, việc điều trị vết thương chiến tranh cần thời gian dài sau đó. Ba, Hoa Kỳ cần cẩn thận cách can thiệp trên thế giới, mà cụ thể là cần lắng nghe nguyện vọng của các đồng minh. Bốn, Hoa Kỳ cần có trách nhiệm với các đồng minh hay quốc gia mà mình can thiệp bằng chiến tranh. Và năm, người Mỹ cần nhận thức rõ là họ chiến tranh vì cái gì. Nên nhớ, chuyện mở cuộc chiến tranh không giống như chuyện trong phim, vì nó sẽ để lại nhiều đau khổ cho vô số người trong nhiều thập niên sau đó.
Dù cuốn “A Gift of Barbed Wire” đã được xuất bản cách nay 13 năm, nhưng những điều mà tác phẩm này nói đến vẫn còn là các bài học giá trị mà các chính quyền tại Việt Nam và Hoa Kỳ cần phải học lại kỹ lưỡng để tránh gây đau thương cho cả một dân tộc. Đối với người Việt trong và ngoài nước, tác phẩm này chắc chắn là một kho tàng ký ức sâu đậm của một thời lịch sử không thể quên. Khi có dịp gợi lại thì thấy rằng nó vẫn còn nguyên ở đó.
Xin cám ơn tác giả Robert S. McKelvey.
Chú thích:
(2) R. S. McKelvey, The Dust of Life: America’s Children Abandoned in Vietnam [Bụi Đời: Những Đứa Trẻ Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Việt Nam] (University of Washington Press, Seattle, 1999).
(3) Tranh sơn mài là hình thức hội họa truyền thống Việt Nam được đưa tới Việt Nam từ Trung Quốc vào thế kỷ thứ 15. Sơn mài màu cứng được dung cho gỗ mềm, được đánh bóng cho thật là láng như đồ sứ, và rồi được trang trí hay sơn với những sơn mài màu sắc khác nhau (P. Huard và M. Durand, Viet Nam: Civilization and Culture [Việt Nam: Văn Minh và Văn Hóa], tái bản lần thứ 2 [École Francaise d’Extréme Orient, Hà Nội, 1994], trang 204-7).
(4) N. L. Jamieson, Understanding Vietnam [Hiểu Việt Nam] (University of California Press, Berkeley và Los Angeles, 1993), trang 363.
(5) Sách đã dẫn trên, trang 364.
(6) Chương Trình ODP là sự thỏa thuận song phương đạt được và tháng 7 năm 1979 giữa chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam cho phép sự nhập cư của người Việt vào Hoa Kỳ hợp pháp và an toàn.
(7) Chẳng hạn, xin xem, T. T. Vu, Lost Years: My 1,632 Days in Vietnamese Reeducation Camps [Những Năm Mất Mát: 1,632 Ngày Của Tôi Trong Các Trại Học Tập Cải Tạo Của Việt Nam] (Institute of East Asian Studies, University of California, Berkeley, 1988); T. V. Doan và D. Chanoff, The Vietnamese Gulag [Trại Tù Chính Trị Việt Nam] (Simon and Schuster, New York, 1986).
(8) Thí Dụ, xin xem, M. C. Smith-Fawzi, E. Murphy, T. Pham, L. Lin, C. Poole, và R. F. Mollice, “The Validity of Screening for Post-Traumatic Stress Disorder and Major Depression among Vietnamese Former Political Prisioners” [Giá Trị Của Việc Kiểm Tra Đối Với Chứng Bất An Và Trầm Cảm Nặng Do Căng Thẳng Bởi Hậu Chấn Thương Trong Số Những Cựu Tù Chính Trị Việt Nam], Acta Psychiatrica Scandinavica (1997: 96): trang 87-93; R. F. Mollica, K. McInnes, T. Pham, M. C. Smith-Fawzi, E. Murphy, và L. Lin, “The Dose-Effect Relationships between Torture and Psychiatric Symptons in Vietnamese Ex-Political Detainees and a Comparison Group” [Các Mối Quan Hệ Hiệu Quả Liều Lượng Giữa Tra Tấn và Các Triệu Chứng Tâm Thần Trong Các Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam và Một Nhóm So Sánh], Journal of Nervous and Mental Disorder (1998: 186): trang 543-53.

Nguồn: http://www.gocnhinalan.com/nhung-cuon-sach-hay/nhung-dong-minh-cua-bi-bo-roi-tai-mien-nam-viet-nam.html

Những chân dài trong biệt đội “Thiên Nga”


Những chân dài trong biệt đội “Thiên Nga”

11:10 07/10/2013

Trước năm 1975, có một số cơ sở cách mạng và cán bộ mật nằm vùng của ta bị địch phát hiện bắt bớ, tù đày do bị chỉ điểm, chiêu hồi mà không xác định được đối tượng tình nghi. Hoạt động này do một tổ chức mang tên biệt đội “Thiên Nga” thuộc Tư lệnh Cảnh sát đô thành Sài Gòn, được CIA Mỹ huấn luyện và đào tạo rất công phu sử dụng làm gián điệp, chỉ điểm trà trộn vào trong dân và vùng kháng chiến của ta để phát hiện tung tích cán bộ nằm vùng và đầu độc cán bộ. Nguy hiểm nhất của đội quân này là chúng biến những người phụ nữ thôn quê, những thanh nữ bình thường chân yếu tay mềm, hiền lành chất phác, lam lũ thành những con rắn độc để giết hại đồng bào của mình, phản bội lại Tổ quốc Việt Nam.

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Philippines dọa rút khỏi LHQ, cùng Trung Quốc lập tổ chức mới

Philippines dọa rút khỏi LHQ, cùng Trung Quốc lập tổ chức mới

Tổng thống Philippines chỉ trích Liên Hợp Quốc vì bình luận về chiến dịch trấn áp tội phạm của Manila, dọa sẽ rút khỏi tổ chức này và mời Trung Quốc cùng các nước châu Phi thiết lập một cơ quan toàn cầu mới.

Tồng thống Philippines Rodrigo Duterte. Ảnh: Reuters.
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte. Ảnh: Reuters.
Hai chuyên gia về nhân quyền của Liên Hợp Quốc tuần trước kêu gọi Philippines chấm dứt chiến dịch tiêu diệt những kẻ ngoài vòng pháp luật do Tổng thống Rodrigo Duterte triển khai từ khi lên nắm quyền. Khoảng 900 người nghi buôn lậu ma túy đã thiệt mạng.
Agnes Callamard, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc, tố ông Duterte cam kết miễn trách nhiệm và trao tiền thưởng cho lực lượng an ninh tiêu diệt nghi phạm buôn ma túy, gọi đây là hành động vi phạm luật quốc tế.
Ông Duterte ngày 19/8 phủ nhận chính phủ Philippines phải chịu trách nhiệm. Trong cuộc họp báo sáng sớm nay ở thành phố Davao, ông nói những cái chết nêu trên không phải công việc của cảnh sát và mời các chuyên gia Liên Hợp Quốc đến Philippines tự điều tra.
"Tôi sẽ chứng minh cho thế giới thấy đó là một chuyên gia rất ngu ngốc", ông nói, kêu gọi họ đừng chỉ đếm số người chết liên quan đến ma túy mà hãy tính cả những người vô tội thiệt mạng vì ma túy, theo trang GMA News.
Tổng thống Duterte sau đó công kích Liên Hợp Quốc và các nước thành viên, bao gồm cả Mỹ, đồng minh của Philippines, cho rằng tổ chức này không thể hoàn thành nghĩa vụ của mình nhưng "vẫn lo lắng đến đống xương tội phạm đang ngày càng cao".
"Tôi không muốn công kích các bạn. Có thể chúng tôi phải quyết định rời Liên Hợp Quốc", ông Duterte nói. "Tại sao các bạn lại lắng nghe thứ ngớ ngẩn đó?".
Ông lên án Liên Hợp Quốc vì chưa làm đủ để giải quyết nạn đói và chủ nghĩa khủng bố, không làm được gì cho Syria và Iraq, để các cường quốc ném bom nhiều ngôi làng, khiến dân thường thiệt mạng. Ông cho biết sẽ mời Trung Quốc cùng những quốc gia châu Phi khác lập ra tổ chức toàn cầu mới.
"Liên Hợp Quốc à, nếu bạn nói xấu tôi một, tôi có thể nói xấu lại 10. Để tôi nói với bạn rằng, bạn là tổ chức vô dụng. Bởi nếu thực sự làm tốt nghĩa vụ của bạn thì tất cả chiến tranh và giết chóc kể trên đã chấm dứt", ông nói.
Khi được hỏi về những hậu quả có thể gây ra từ bình luận của mình, Duterte trả lời ông "không thèm để ý đến chúng". Ông kêu gọi Liên Hợp Quốc hãy làm việc đúng nghi thức ngoại giao, cử ai đó đến trao đổi với ông.
"Đừng ở yên một chỗ và ra thông báo nhảm nhí về một quốc gia", ông Duterte cho biết.
Martin Andanar, Bộ trưởng phụ trách văn phòng truyền thông tổng thống, nói ông không rõ về mức độ "nghiêm túc" trong bình luận của ông Duterte và sẽ nêu lại vấn đề này trong cuộc họp nội các chính phủ ngày 22/8.
Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/philippines-doa-rut-khoi-lhq-cung-trung-quoc-lap-to-chuc-moi-3456025.html

Như Tâm