Mỹ và T+ đe dọa với chiến tranh phủ đầu ở biển đông...thường hai võ sĩ trên võ đài cứ báo trước những cú đánh vào đâu, để địch thủ biết đỡ trước, thì đánh đấm làm gì, khán giả còn ai muốn xem ! cũng như phim ảnh đều do đạo diễn giàn dựng những pha nguy hiểm...ca sĩ hát nhép...!
Việt cộng đang ru ngủ người dân để đừng chống lại bọn chúng, vì đã có Mỹ bảo vệ, chuyện hoang đường chẳng có gì lợi cho Mỹ. phần tầu cộng dư biết khả năng của chúng chỉ bằng kiến đá voi mà tuyên truyền là vua của thằng tầu cộng và việt cộng, nên tin này là việt cộng nó đưa ra không có cơ sở, bộ quốc phòng, tổng thống Mỹ có làm chuyện gì đều rất minh bạch rõ ràng, rồi còn thông qua quốc hội, mà thông tin bên Mỹ chúng tôi chẳng nghe động tĩnh gì, đúng là CS tin vịt để lừa bịt người dân...
hien tai bay jo cac nuoc dong minh my ma ko dap thang tQ de no chuc nam sau no hùng mạnh con kho choi hon nua.my da bit truoc dieu nay.phai co chiến tranh day bao tQ mot bài học de doi moi duoc .no con toi tệ hon phatxic duc ngay xua.
Ảnh chụp đá Chữ Thập từ vệ tinh ngày 3/6. Ảnh: CSIS.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Nhà Trắng tháng 9/2015 đã trấn an Mỹ rằng "Trung Quốc không có ý định theo đuổi quân sự hóa", ở Trường Sa.
Tuy nhiên, hình ảnh chụp từ vệ tinh gần đây lại cho thấy Trung Quốc có
một kế hoạch khác. Các bức ảnh, do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và
Quốc tế (CSIS) ở Washington thu thập và nghiên cứu, cho thấy có hoạt
động xây dựng nghi là cải tạo nhà chứa máy bay trên đá Chữ Thập, đá Subi
và đá Vành Khăn.
Không có phi cơ quân sự nào xuất hiện vào thời điểm chụp ảnh nhưng CSIS
nhận định các nhà chứa trên ba đá đủ rộng để chứa "bất kỳ chiến đấu cơ
nào của không quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLA)", New York Times đưa tin.
Loại nhà chứa lớn hơn trên các đá có thể phục vụ oanh tạc cơ H-6, phi
cơ tiếp dầu H-6U, phi cơ vận tải Y-8 và một phi cơ Kiểm soát và Cảnh báo
sớm (AWACS) KJ200.
Ảnh chụp đá Subi từ vệ tinh ngày 24/7. Ảnh: CSIS.
Trung Quốc có thể biện hộ những kiến trúc này để phục vụ phi cơ dân sự
hoặc có chức năng phi quân sự khác nhưng hình ảnh vệ tinh cho thấy điều
ngược lại, theo CSIS. Những nhà chứa nhỏ nhất cũng rộng từ 18 đến 21 m,
thừa sức tiếp nhận chiến đấu cơ lớn nhất của Trung Quốc. Ngoài kích
thước, các dấu hiệu còn cho thấy có sự tăng cường về kết cấu.
"Chúng dày hơn nhiều để sử dụng cho mục đích dân sự", Gregory B.
Poling, giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI), CSIS, hôm
qua cho biết. "Chúng được gia cố để có thể chống chọi khi bị tấn công".
Nhà chứa lớn nhất, rộng 61 m, "thừa khả năng tiếp nhận các oanh tạc cơ
và máy bay tiếp nhiên liệu", ông Poling cho biết thêm. Nếu những phi cơ
này được triển khai, chúng sẽ làm phức tạp thêm tranh chấp giữa Trung
Quốc với Philippines và các nước khác trong khu vực, tăng thêm rủi ro
cho hoạt động tuần tra "tự do đi lại" của Mỹ trong khu vực.
Ngay cả trước khi các nhà chứa máy bay xuất hiện, giới phân tích quân
sự độc lập đã nhận định Trung Quốc muồn dùng những "đảo nhân tạo" để phô
diễn sức mạnh quân sự trong khu vực.
"Chúng tôi nhận ra từ ngày họ bắt đầu xây đường băng", ông Poling nói.
Trung Quốc khẳng định họ có ý định tốt giống như nói "xây cả biệt thự
nhưng chỉ ở tầng một" vậy.
Ảnh chụp đá Vành Khăn từ vệ tinh ngày 22/7. Ảnh: CSIS.
Bằng chứng về nhà chứa máy bay quân sự xuất hiện một tháng sau khi Tòa
Trọng tài ở The Hague, Hà Lan, lên án hành động của Trung Quốc ở Biển
Đông, trong đó có bồi đắp phi pháp các đá trong khu vực thành đảo nhân
tạo rồi xây dựng trên đó.
Phán quyết là kết quả trong vụ kiện Trung Quốc do Philippines đệ đơn
lên Tòa Trọng tài Thường trực. Trung Quốc tuyên bố sẽ phớt lờ phán
quyết. Một số nhà phân tích lưu ý các nhà chứa không phải là phản ứng
đáp trả phán quyết và chúng dường như đã được xây từ trước đó.
So sánh 7 đường băng trên quần đảo Trường Sa (Click và hình để xem). Đồ họa: Tiến Thành
"Phần móng có thể được xây từ vài tháng trước", M. Taylor Fravel, giáo
sư khoa học chính trị tại Viện Công nghệ Massachusetts, thành viên
Chương trình Nghiên cứu An ninh của viện, nhận định.
Ông Fravel cho rằng các nhà chứa đi ngược với những lời khẳng định của
chủ tịch Trung Quốc. "Trung Quốc tự cho mình chọn sử dụng các đá này làm
cơ sở quân sự nhưng chưa quyết định dùng chúng ở mức độ nào", ông nói.
Như Tâm Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/phan-tich/quy-mo-cua-nha-chua-may-bay-quan-su-trung-quoc-xay-o-truong-sa-3449569.html?utm_source=home&utm_medium=box_thegioi_home&utm_campaign=boxtracking
Nguyên Thạch (Danlambao)-Một
cách công minh mà phán xét vấn đề thì người ta có thể thông cảm ĐCSVN
cho vị thế hiện tại do ĐCSVN đã làm đất nước tụt hậu về mọi mặt, dẫn đến
sự thua kém về kinh tế và quân sự so với Trung cộng nên ĐCSVN đã không
còn sự lựa chọn nào khác hơn là Qui hàng giặc. Điều mà dân chúng muốn
nhấn mạnh ở đây là: Thái độ ác với dân của chế độ. Người dân đã rất bất mãn với đảng và nhà cầm quyền về thái độ dùng Côn an trị để đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bỏ tù những người dân yêu nước sẵn sàng đứng lên
khi Tổ Quốc lâm nguy. Trong hiện tình quá yếu ớt về nhiều mặt như vậy,
ĐCSVN còn làm những điều tồi tệ, xuẩn ngốc như hành hạ dân, xem dân như
kẻ thù… Những động thái này, đảng đã tự tách mình ra khỏi khối sức mạnh
của toàn dân. Một khối sức mạnh mà bất cứ thế lực nào dẫu hung hãn cũng
phải run sợ. Đồng thời đảng cũng cố tình phớt lờ không nghe theo lời
khuyên quí giá “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Cố tình không muốn đối mặt
với sự thật rằng triều đại nào rồi cũng phải đến lúc chấm dứt mà ĐCSVN
không phải là ngoại lệ.
*
Có muốn hay không muốn, có thích hay không thích thì hiện tại đảng cộng
sản Việt Nam (ĐCSVN) vẫn là một thực thể cầm quyền của một đất nước có
tên gọi Việt Nam. ĐCSVN là một đảng phái chính trị không do toàn dân
chọn lựa, đảng này đã dựng nên một nhà nước dưới cái gọi là Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), nhà nước này không do dân bầu ra để
đại diện cho người dân mà mọi việc từ ứng cử và bầu cử đều do đảng lựa
chọn đề cử và quyết định, người dân chỉ mỗi việc là đi bầu trong sự ép
buộc để gọi là hợp thức hóa một chính quyền.
Dưới các thể chế dân chủ khác, một chế độ hoàn toàn độc tài như
vậy thì không thể gọi dưới danh xưng “Chính Quyền” mà phải nên được gọi
là “Tà Quyền”. Đảng phái chính trị này lấy chủ thuyết Mác-Lê làm nền
tảng lý luận duy nhất cho mọi hoạt động của nhà cầm quyền và xã hội. Nhà
nước của chế độ chính trị này chọn giai cấp Công Nhân làm căn bản đại
diện cho mọi giai cấp, mọi thành phần trong xã hội, từ cơ bản đó, tự nó
đã ngấm ngầm gây nên sự phân biệt trầm trọng giữa giai cấp công nhân
(giai cấp lãnh đạo) với các giai cấp khác và đó là nguyên nhân tạo ra sự
cách biệt hoặc ngay cả sự thù hận giữa giai cấp này với các tầng lớp
khác mà hố sâu cách biệt đó là do người cộng sản tự cho mình cái danh
nghĩa đại diện cho giai cấp công nhân, một giai cấp có quyền lãnh đạo và
thống trị các giai cấp khác, chính từ tư duy biện chứng ấy đã gây ra sự
bất bình đẳng, chia rẽ và tạo ra bất ổn xã hội.
Dựa trên những lý luận cơ bản nêu trên, đảng CSVN sẽ không bao giờ qui
tụ được một Hội Nghị Diên Hồng như hội nghị năm 1284 do Thượng hoàng Trần Thánh Tông
triệu họp. Hội nghị diễn ra khi quân Nguyên âm mưu và đang chuẩn bị kéo
quân sang xâm lược nước ta lần thứ hai để trả thù cho lần thất bại đầu
tiên (1258), gỡ danh dự và uy thế của nước lớn. (1)
Trước khi Hội nghị bắt đầu, nhà Trần thăm dò và biết được quân Nguyên huy động một lực lượng rất lớn. Đại Việt sử ký toàn thư
ghi: số quân nhà Nguyên điều là 50 vạn từ phương Bắc tràn xuống; kết
hợp với cả gần 10 vạn quân của Toa Đô từ phía Nam (Champa) đánh lên; tin
rằng với sức mạnh như vậy sẽ nhanh chóng bóp nát nước Đại Việt. Đối phó
với đạo quân hùng mạnh như vậy, nhà Trần khôn khéo triệu tập hội nghị -
đầu tiên là Bình Than (1282) bàn về chiến lược đánh giặc của tướng soái
và quân nhà Trần. Ý thức được rằng, muốn chiến thắng được đội quân
khổng lồ của nhà Nguyên, phải cần có sự tham gia của toàn thể nhân dân.
Bao đề xuất về "Hòa Hợp Hòa Giải” và ngay cả Nghị quyết 36 của Bộ chính
trị cũng không được toàn dân Việt nội ngoại hưởng ứng. Do đó những năm
tháng gần đây, bọn bành trướng Bắc Kinh đã thực hiện tham vọng chiếm lấy
biển, đảo, đất liền và thôn tính Việt Nam một cách ngang ngược và trắng
trợn mà ĐCSVN không thể hợp lực cùng toàn dân chống trả lại những hành
vi xâm chiếm, chẳng những thế mà ngược lại là ĐCSVN sẵn sàng quỳ lạy
Trung cộng một cách nhu nhược đốn hèn.
Điểm lại những diễn tiến gần đây như: “Trung cộng dạy VN bài học 1979”
(2), Xung đột Việt–Trung 1979–1990 (3), Gạc Ma 1988, giàn khoan HD-981,
Đường phân khúc 9 đoạn (Đường lưỡi bò), Thực trạng 7 bãi đá Trung Quốc
cải tạo ở Trường Sa qua ảnh vệ tinh (4) và gần đây nhất là những vụ
Formosa thải chất độc giết cá chết hàng loạt, vụ SU-30MK2 và CASA 212 bị
bắn hạ cùng hàng loạt các vụ các tàu đánh cá của ngư dân VN bị tông
chìm, bắn giết v.v…người dân không còn nghi ngờ gì nữa về thái độ qui
hàng giặc ngoại bang của đảng và nhà cầm quyền CSVN. Hoa Nam đã ngang
nhiên khiêu khích bằng chuỗi hành động đã nêu trên để chẳng những nói
lên sự khinh thường đảng và Quân đội CSVN vì Trung Nam Hải đã nắm chắc
rằng Bộ chính trị là những con chó tuy hèn nhát nhưng rất trung thành,
mà họ còn thử thách để xem thái độ của toàn dân VN phản ứng như thế nào trước thời hạn của “Mật nghị Thành Đô” 2020.
Diện tích phần đất nhân tạo trên bãi đá Châu Viên được mở rộng tới
119.711 m2, tính đến ngày 14/3. Những công trình xuất hiện tại đây gồm
kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà hỗ trợ, cơ
sở quân sự, ăng ten liên lạc vệ tinh, radar. Ảnh: AMTI/Digital Globe.
Đá Chữ Thập có diện tích 960.000 m2, tính đến ngày 21/10/2014. Ngoài
đường băng, trên hòn đảo nhân tạo này còn có cảng biển đủ lớn để đón tàu
tiếp tế, tàu chiến đấu cỡ lớn, nhiều nhà máy xi măng, cơ sở hỗ trợ, cầu
cảng, súng phòng không, hệ thống chống người nhái, trang thiết bị liên
lạc, nhà kính, bãi đáp trực thăng. Ảnh: CSIS/AMTI.
Một cách công minh mà phán xét vấn đề thì người ta có thể thông cảm
ĐCSVN cho vị thế hiện tại do ĐCSVN đã làm đất nước tụt hậu về mọi mặt,
dẫn đến sự thua kém về kinh tế và quân sự so với Trung cộng nên ĐCSVN đã
không còn sự lựa chọn nào khác hơn là Qui hàng giặc. Điều mà dân chúng
muốn nhấn mạnh ở đây là: Thái độ ác với dân của chế độ. Người dân đã rất bất mãn với đảng và nhà cầm quyền về thái độ dùng Côn an trị để đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bỏ tù những người dân yêu nước sẵn sàng đứng lên khi
Tổ Quốc lâm nguy. Trong hiện tình quá yếu ớt về nhiều mặt như vậy,
ĐCSVN còn làm những điều tồi tệ, xuẩn ngốc như hành hạ dân, xem dân như
kẻ thù… Những động thái này, đảng đã tự tách mình ra khỏi khối sức mạnh
của toàn dân. Một khối sức mạnh mà bất cứ thế lực nào dẫu hung hãn cũng
phải run sợ. Đồng thời đảng cũng cố tình phớt lờ không nghe theo lời
khuyên quí giá “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Cố tình không muốn đối mặt
với sự thật rằng triều đại nào rồi cũng phải đến lúc chấm dứt mà ĐCSVN
không phải là ngoại lệ.
Thiếu Nhân Quyền, vắng bóng Tự Do, không Dân Chủ ắt sẽ dẫn đến độc tài và dần dà đưa đến toàn trị.
Tổ chức hệ thống cầm quyền và xã hội dưới chủ nghĩa cộng sản là những
cái vòng kim cô siết chặt trên đầu chẳng những người dân bình thường mà
còn siết ngay cả thành phần lãnh đạo. Tất cả tự trói mình trong cái vòng
ma lực khủng khiếp rùng rợn ấy mà mọi thành phần không thể tìm ra được
lối thoát.
Sở dĩ ĐCSVN chọn thái độ đối nghịch lại với dân tộc, coi toàn dân như
những kẻ thù vì ĐCSVN đã hiện nguyên hình là đám tôi tớ cho ngoại bang
Tàu cộng. Dân Việt nội ngoại còn chần chờ gì nữa mà không vùng lên trừ
khử đám Thái thú này để thoát vòng nô lệ, giữ gìn sự vẹn toàn và phát
triển của đất nước?.
Tay sai thì chưa thật đúng với bản chất của bọn Vẹm, mà phải gọi là
con đẻ của Tàu Cộng. Tay sai đôi lúc còn có ý kiến (feeding back), còn
con đẻ thì không.
https://youtu.be/e7ziphfmeJQAlex Tran (sacto, CA)•10 giờ trước
Đọc bài viết của anh Nguyên Thạch, tôi chợt nhớ phim tài liệu nói về
qua nhiều triều đại của Trung quốc, nhưng Việt nên xem và suy ngẩm.
Nhân một nhà văn lớn của miền Nam trước 1975 vừa qua đời…
Song Chi 2016-08-07
Những tạp chí văn học nghệ thuật trước 1975.
Courtesy of dcvonline.net
Sau 30/4/1975, nhiều người miền Bắc vào miền Nam và nhận ra mình bị
lừa, nhận ra sự dối trá của đảng và nhà nước cộng sản khi tận mắt chứng
kiến sự phồn thịnh, sung túc, tự do, thoải mái, văn minh tiến bộ hơn hẳn
của Sài Gòn và miền Nam. Nhưng đó chỉ mới là khía cạnh kinh tế và sự tự
do dân chủ. Còn những cái mất mát đáng tiếc nữa, nói lên sự ngu xuẩn,
tội ác của nhà cầm quyền và sự éo le của lịch sử khi một chế độ lạc hậu,
man rợ hơn lại thắng một chế độ văn minh hơn. Đó là sự mất mát của cả
một nền văn học nghệ thuật tự do, đầy sáng tạo, đầy tính nhân văn, một
nền giáo dục “nhân bản, dân tộc và khai phóng” hay một xã hội đã xây
dựng được tương đối một nền nếp đạo đức, quy củ, tôn trọng luật pháp…
Tịch thu, đốt phá các tác phẩm văn học nghệ thuật miền Nam
Riêng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, ngay sau tháng 4/1975, nhà
cầm quyền đã ra lệnh tịch thu, đốt phá cho bằng hết những sản phẩm văn
hóa “đồi trụy” của miền Nam. Cùng với một số lượng lớn quân nhân công
chức, trí thức của chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), nhiều văn nghệ sĩ
miền Nam cũng phải lên đường đi học tập cải tạo, những người còn lại hầu
hết buông bút, bị gạt ra ngoài lề xã hội, vất vả mưu sinh bằng những
công việc khác, chả liên quan gì đến nghiệp văn, như ra chợ trời bán
thuốc lá, bán đồ cũ, thậm chí làm ruộng, chăn dê (như nhà văn Nguyễn Thị
Thụy Vũ chẳng hạn). Rồi nhiều người trong số họ lần lượt phải từ bỏ đất
nước ra đi tìm tự do vì không chịu nổi đời sống tinh thần, chính trị,
sáng tác bức bối, kỳ thị ở Việt Nam (VN).
Hơn 41 năm sau, có lẽ chỉ có âm nhạc miền Nam là vẫn hiện diện thường
xuyên trong đời sống tinh thần của người Việt trong và ngoài nước. Dù
một số lượng tác phẩm và nghệ sĩ vẫn bị cấm biểu diễn, cấm phổ biến ở VN
nhưng với những ai yêu âm nhạc miền Nam thì người ta vẫn có thể tìm
nghe đủ hết, qua các kênh khác nhau. Nhiều ca sĩ, nhạc sĩ trong nước ra
bên ngoài biểu diễn và nhiều ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại trở về nước hát,
làm việc, ngay cả những người từng lớn tiếng chống Cộng hay tuyên bố
không bao giờ trở về khi chế độ cộng sản còn tồn tại…Nhưng văn chương
thì khó hơn nhiều. (Và điện ảnh chẳng hạn, tất nhiên càng không có cơ
hội). Hơn 41 năm, một nền văn chương miền Nam dưới chế độ VNCH cực kỳ
phong phú, đa dạng, tự do, sáng tạo, vẫn bị xem như chưa hề tồn tại.
Sự ngu xuẩn của nhà cầm quyền là ở chỗ trong khi Trung Cộng đã và vẫn
đang, sẽ là kẻ thù lâu dài của dân tộc VN, là mối đe dọa lớn nhất đối
với chủ quyền, độc lập toàn vẹn lãnh thổ, thì nhà cầm quyền lại tiếp
sức, tuyên truyền không công cho văn hóa của họ. Sách, tiểu thuyết Trung
Quốc được in đầy rẫy trong các nhà sách lớn nhỏ từ Nam ra Bắc, kể cả
những loại ngôn tình nhảm nhí cho tới những quyển sách ca ngợi Mao Trạch
Đông, ca ngợi Đặng Tiểu Bình - kẻ đã ra lệnh phát động cuộc chiến 1979
để “dạy cho VN một bài học”; phim truyền hình Trung Quốc chiếu tràn lan
dày đặc trên các kênh từ trung ương đến địa phương.
Tội ác của nhà cầm quyền là ở chỗ đã bức hại hàng trăm, hàng ngàn văn
nghệ sĩ miền Nam sau 1975 khiến họ phải đi học tập cải tạo, phải lăn
lộn với những công việc lao động vất vả để mưu sinh, khiến tài năng họ
mỏi mòn, thui chột, cho dù khi phải sống thầm lặng trên quê hương hay
khi phải lang bạt tha hương trên xứ người.
Nếu không có biến cố tháng 4/1975?
Đôi khi tôi cứ nghĩ, nếu không có biến cố tháng 4/1975 thì văn học dịch thuật, khảo cứu ở miền Nam còn tiến tới đâu?
Một buổi tuần hành bài trừ "văn hoá đồi truỵ Mĩ - Nguỵ". Courtesy of baotreonline.com
Những nhà thơ như Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi
Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Trần Tuấn Kiệt, Thanh Tâm Tuyền, Tô
Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; những nhà văn như
Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng,
Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ,
Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên…; hay mảng nghiên cứu,
phê bình, dịch thuật, triết học, phật giáo và công giáo với những cây
bút như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất
Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục
Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ
Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định…sẽ còn tiếp tục cho ra đời bao nhiêu
tác phẩm, công trình khác nữa?
Và chắc chắn với bầu không khí tự do, yêu chuộng văn chương học thuật
của miền Nam sẽ còn có rất nhiều gương mặt mới, thế hệ mới xuất hiện,
nhiều nhà sách, tạp chí, nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như đã có
nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Tinh -Việt văn - đoàn, Sống
Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió
Mới, Nghệ Thuật…Các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng,
Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao...,
và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan
Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn,
Nghệ Thuật, Tiếng Nói… không thể kể hết.
Gia tài văn học nghệ thuật của VN vốn đã mỏng, đã ít ỏi, lại còn bị triệt hạ, thủ tiêu tàn nhẫn bởi “bên thắng cuộc”.
Như nhà văn Dương Nghiễm Mậu, một nhà văn lớn của miền Nam vừa mới
qua đời tối ngày 2/8/2016 tại Sài Gòn, nếu không có biến cố 30/4/1975
chắc chắn số lượng tác phẩm và sức sáng tạo của ông đã không dừng ở đó.
Sau khi đi học tập cải tạo về, ông sống lặng lẽ bằng công việc vẽ tranh
sơn mài cho đến khi nằm xuống vĩnh viễn. Vậy mà năm 2007, khi công ty
Phương Nam và NXB Văn Nghệ tái bản bốn tập truyện của ông gồm: Nhan sắc, Đôi mắt trên trời, Tiếng sáo người em út, Cũng đành, ông vẫn bị “đấu tố” tưng bừng, bởi những cây bút đầy ghen tị, với nhân cách và tài năng “nhỏ bé” hơn ông.
Tính từ thế kỷ XX cho đến nay, lịch sử VN có quá nhiều biến cố bị che
dấu, bị bóp méo, thậm chí bị xóa trắng, mà các nhà văn nhà thơ, nhà
nghiên cứu cần tiếp tục viết nhiều, nhiều hơn nữa để cho các thế hệ sau
và thế giới hiểu được sự thật, hiểu được những năm tháng sai lầm, ngang
trái, bi kịch trên đất nước này.
Chỉ hy vọng rằng trong số những nhà văn còn lại của miền Nam phải im
lặng sống tại quê nhà bao nhiêu năm hay phải tha hương trên đất khách
vẫn giữ trong tim ngọn lửa văn chương chữ nghĩa, âm thầm viết để rồi một
ngày nào đó chúng ta sẽ được đọc những tác phẩm của họ. Và những nhà
văn thuộc thế hệ hôm nay, sinh ra, lớn lên sau chiến tranh, trong và
ngoài nước, nhưng canh cánh một tấm lòng đối với nước mẹ VN, cũng vậy.
Bởi đó là món nợ của văn nghệ sĩ trí thức đích thực đối với lịch sử và với đất nước. *Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm RFA. Nuồn: http://www.rfa.org/vietnamese/blog/blog-songchi-080716-08072016105314.html
30-4 Binh sĩ VNCH ngăn địch trên cầu xa lộ (Tân Cảng)
Năm 1964, 65 lợi dụng tình hình chính trị miền nam bất ổn, Hà Nội đưa
nhiều trung đoàn chính qui vào nam tấn công mạnh, VNCH có nguy cơ sụp
đổ.
Giữa năm 1965 TT Johnson bắt đầu đưa quân vào VN mà người Mỹ gọi là
can thiệp, số quân được tăng dần cho tới 1968 lên tới hơn nửa triệu
trong khi Cộng sản Bắc Việt cũng gia tăng xâm nhập. Mặc dù Mỹ có thắng
lợi nhiều về quân sự, gây tổn thất rất nặng cho địch khoảng trên mấy
trăm ngàn người nhưng đầu năm 1968, trận Mậu Thân đã làm tiêu tan hy
vọng chiến thắng. Người dân Mỹ không còn kiên nhẫn và chống đối rất
mạnh, đòi chính phủ phải rút khỏi VN, gió đã đổi chiều.
Đầu năm 1969, tân Tổng thống Nixon tìm hòa bình trong danh dự, cuộc
chiến có phần tàn khốc hơn trước nhưng không phải để thắng CS mà để chấm
dứt chiến tranh rút bỏ Đông Dương. Tác giả George Donelson Moss (trong
Vietnam, An American Ordeal) gọi cuộc chiến của Nixon là A war to end a
war, một cuộc chiến để chấm dứt chiến tranh.
Cuối tháng 1-1973, Hiệp định Paris được ký kết, mục đích của Mỹ để
rút hết quân lấy tù binh về nước, phía CSBV chờ Mỹ rút hết để tổng tấn
công chiếm miền nam, họ mở xa lộ Đông Trường Sơn vận chuyển vũ khí và
gia tăng xâm nhập để hoàn thành giấc mộng xâm lăng.
Sau khi ký Hiệp định khoảng một năm, Quốc hội Dân chủ Mỹ bắt đầu cắt
giảm quân viện VNCH mỗi năm khoảng 50%: Từ 2,1 tỷ tài khóa 1973 xuống
còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975, con số
này thực ra chỉ bằng 500 triệu vì dầu thô lên giá, tiền mất giá (theo
Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471). Quyết định cắt giảm ô nhục
của Quốc hội đưa tới tình trạng thê thảm, theo tiết lộ của ông Cao Văn
Viên (trong Những Ngày Cuối Của VNCH trang 86, 87) hậu quả là năm 1974
không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay vì thiếu nhiên liệu,
giảm số giờ bay yểm trợ, huấn luyện 50%, thám thính giảm 58%, phi vụ
trực thăng giảm 70%. Hải quân cũng cắt giảm hoạt động 50%, 600 giang
thuyền các loại nằm ụ.
Đạn dược chỉ còn đủ đánh tới tháng 4 /1975, năm 1972 ta xử dụng trên
69 ngàn tấn đạn một tháng, từ tháng 7/1974 đến tháng 3/1975 ta chỉ còn
xử dụng khoảng 19 ngàn tấn một tháng hoả lực giảm 70%. Tháng 2/1975 chỉ
còn đủ đạn tất cả các loại súng cho 30 ngày, tháng 4/1975 chỉ còn đủ đạn
đánh trong khoảng hai tuần (Sách đã dẫn trang 92).
Trung Tướng Trần Văn Minh, cựu Tư lệnh không quân cho biết máy bay
thiếu cơ phận thay thế, thiếu nhiên liệu nên phần nhiều năm ụ. Trong khi
ấy theo Kissinger (Years of Renewal trang 481) Hà nội đã xin được viện
trợ của Sô viết tăng gấp bội. Tháng 12- 1974, một viên chức cao cấp Nga
viếng Hà Nội lần đầu tiên kể từ sau ngày ký Hiệp định Paris. Tổng tham
mưu trưởng Nga Viktor Kulikov tới tham dự họp chiến lược với Bộ chính
trị BV, nay họ bãi bỏ hạn chế trước đây. Sô Viết đã chở vũ khí viện trợ
quân sự cho Hà Nội tăng gấp 4 lần trong những tháng sau đó. Nga khuyến
khích BV gây hấn.
Cuộc chiến VN là một cuộc chiến viện trợ tiếp liệu, cả hai bên đều
không tự sản xuất được vũ khí đạn dược mà phải tùy thuộc vào quân viện
nước ngoài, bên nào nhiều tiếp liệu, vũ khí đạn dược thì bên đó thắng. Tình hình tháng 3 tới giữa tháng 4-1975
Cuối tháng 3 năm 1975 Quân Khu I hoàn toàn thất thủ, Quân khu 2 chỉ
còn Phan Rang và Phan Thiết (trong tổng số 12 tỉnh), đến ngày 4-4 hai
tỉnh này được sáp nhập vào Quân khu III. Trên thực tế cả hai Vùng I và
II coi như đã mất vào tay CSBV, các Sư đoàn chủ lực của Quân khu II và
Quân khu I phần tan rã, phần đã bị thiệt hại nặng nề tới 1/2 hay 2/3 lực
lượng.
Cuộc triệt thoái Cao Nguyên đã khiến cho trên 75% chủ lực của Quân
đoàn II bị tan rã, Sư đoàn 23 và 7 Liên đoàn Biệt động quân mất gần hết
quân số. Sư đoàn 22 vùng duyên hải giao tranh dữ dội với các Sư đoàn BV
cuối tháng 3 tại Bình Định, khi được tầu Hải quân đến cứu tại Qui Nhơn
chỉ còn khoảng 2,000 người. Toàn bộ xe tăng và đại bác bị bỏ lại.
Các Sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn I và Sư đoàn TQLC đã bị
thiệt hại nặng trên đường triệt thoái, 90 ngàn chủ lực quân của Quân
đoàn chỉ có 16 ngàn được tầu vớt chở về miền Nam trong đó khoảng 6,000
TQLC (45% quân số của Sư đoàn)
Vì TT Thiệu sai lầm cho tái phối trí lực lượng đã làm cho tình hình
xấu đi một cách nhanh chóng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Cộng chiếm
nốt phần đất còn lại của miền Nam. Lần đầu tiên trong chiến tranh Đông
Dương hai Quân đoàn cùng triệt thoái giao lại đất cho địch.
CSBV bèn chớp thời cơ tập trung toàn bộ lực lượng tấn công chiếm Sài
Gòn, họ dốc toàn bộ lực lượng vào cái gọi là “Chiến dịch Hồ chí Minh
lịch sử”. Trong chiến dịch tháng 3 – 1975, Bắc Việt đưa vào hai Quân khu
I và II tổng cộng 14 Sư đoàn bộ binh, nay thấy thời cơ đã tới họ đưa
nốt 3 Sư đoàn tổng trừ bị ở ngoài Bắc (thuộc Quân đoàn I CSBV) vào cộng
với hơn mười Trung đoàn độc lập và đặc công đã đưa lực lượng tham gia
chiến dịch này lên tới khoảng 20 Sư đoàn bộ binh chưa kể sự yểm trợ của
hơn hai chục Trung đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không, công binh…
Tài liệu CS (hồi ký Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân) cho biết tại
phiên họp ngày 25-3, Bộ Chính Trị Trung ương đảng khẳng định thời cơ
chiến lược mới đã đến. Hà Nội có điều kiện sớm hoàn thành cuộc tổng tiến
công xâm lược, tập trung các lực lượng binh khí kỹ thuật giải phóng Sài
Gòn trước mùa mưa.
BV hối hả chuyên chở bằng cả ba phương tiện đường thủy, đường bộ,
đường hàng không để chuyển vận vũ khí, quân nhu, nhân lực … đánh một ván
bài chót
Tài liệu CS (hồi ký Văn Tiến Dũng, các Chương XI, XII, XIII) cho biết
Quân khu 5 của BV tổ chức một đoàn xe chở thẳng vào Nam bộ đạn dược
tiếp liệu cũng như chiến lợi phẩm vừa lấy được của VNCH, đoàn xe do
Thiếu Tướng Võ Thứ, phó Tư lệnh Quân khu V chỉ huy. Trong khi ấy các sân
bay Gia Lâm, Vĩnh Phú, Đồng Hới, Phú Bài, Đà Nẵng, Kontum…nhộn nhịp
khác thường, các loại máy bay lên thẳng, vận tải, chở khách đều được huy
động để chở người, súng đạn, vũ khí, chở sách báo phim ảnh, tranh, nhạc
.. mà còn chở hàng tấn bản đồ Sài Gòn – Gia Định vừa in xong ở xưởng in
Bộ Tổng tham mưu tại Hà Nội. Các bến sông Hồng, sông Gianh, sông Mã,
sông Hàn và các bến cảng Hải Phòng, Cửa Hội, Thuận An, Đà Nẵng ngày đêm
nhộn nhịp. Các mặt hàng quân sự được bốc xếp kịp thời lên các đoàn tầu
vận tải của Bộ Giao Thông vận tải và tầu Hải Quân nhân dân để đưa vào
Nam. Hà Nội huy động hết mọi phương tiện thủy bộ, hàng không để chuyển
ra mặt trận một số lượng quân đội và vũ khí lớn chưa từng có.
Ngày 4-4-1975 Phan Rang và Phan Thiết được sáp nhập vào Quân khu 3.
Tại Phan Rang lực lượng ta gồm 2 Trung đoàn bộ binh 4 và 5 thuộc Sư đoàn
2, 1 lữ đoàn Dù, 1 liên đoàn Biệt Động quân, 4 tiểu đoàn Địa phương
quân, Sư đoàn 6 Không quân, Hải quân gồm 2 khu trục hạm, một giang pháo
hạm, một hải vận hạm. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh tiền phương
Quân đoàn III đóng tại Tháp Chàm.
Phan Rang phố xá vắng tanh, dân di tản về Phan Thiết rất nhiều, ngày
14-4 Việt Cộng tấn công tuyến phòng thủ Phan Rang tại phi trường, một
tiểu đoàn Dù đụng độ Việt Cộng, địch bỏ xác cả 100 tên. Ngày 15-4 Phó
Thủ tướng đặc trách Quốc phòng Trần văn Đôn và Tướng Toàn thị sát mặt
trận. Khi phái đoàn vừa về thì Việt Cộng tấn công mạnh, địch tăng cường
Sư đoàn 325 và nhiều chiến xa. Quân đội VNCH phản công dữ dội nhưng
không thể chống lại lực lượng địch quá đông phải rút lui, Trung đoàn 4
và 5 tan rã. Khuya ngày 16-4 chỉ có 200 người thoát vòng vây, các sĩ
quan thuộc Bộ tư lệnh tiền phương và Sư đoàn 6 không quân bị bắt hết,
các đơn vị của VNCH tại đây coi như tan rã, BV chiếm được 40 máy bay tại
Phan Rang.
Hai hôm sau ngày 18-4 Phan Thiết cũng bị lọt vào tay Cộng quân.
Quân đoàn 4 CSBV gồm các đơn vị đã chiếm QK II VNCH theo Quốc lộ 1,
Quốc lộ 20 tiến về Sài Gòn, gần giao điểm của hai Quốc lộ này là Xuân
Lộc thuộc tỉnh Long khánh cách Sài Gòn 60 cây số, Xuân lộc giữ vị trí
quan trọng bảo vệ phi trường Biên Hoà.
Phạm vi trách nhiệm của Sư đoàn 18 là Long Khánh, phụ trách an ninh
phía Bắc căn cứ Long Bình, Quốc lộ 15 và căn cứ Không quân Biên Hoà.
CSBV huy động Sư đoàn 6, Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, Sư đoàn 1, Sư đoàn 325,
Trung đoàn biệt lập 95B.
BV đánh Xuân Lộc nhằm các mục tiêu.
-Tấn công tuyến phòng thủ then chốt phía đông như Xuân Lộc, Bà Rịa, Vũng Tầu.
-Kéo lực lượng VNCH ra ngoài để tiêu diệt, mở cửa lớn để vào Sài Gòn.
-Thu hút lực lượng VNCH vào phía Đông để đưa các lực lượng khác tới Bắc và Tây Bắc Sài Gòn.
Sư đoàn 18 VNCH và CSBV hỗn chiến dữ dội từ sáng 9-4 cho tới ngày
15-4 khi chiến đoàn 52 bị BV tràn ngập. Sáng ngày 16-4 Tướng Toàn cho
lệnh thả 2 trái bom Daisy Cutter tại Bắc Gầu Giây tiêu diệt nhiều đơn vị
bộ binh, thiết giáp, pháo binh địch. Ngày 20-4 Tướng Toàn bay trực
thăng vào Xuân Lộc gặp Tướng Đảo bàn kế hoạch lui binh. Sư đoàn 18 rút
lui vào lúc đêm vừa đánh vừa rút, giữ trật tự bình tĩnh, tối 20 trung
đoàn 48 về đến Long Giao đặt pháo binh yểm trợ tổng quát cho cuộc lui
binh, sau đó truyền tin, công binh, pháo binh, quân y… rút theo.
Sư đoàn 18 thiệt hại 30% quân số, Địa phương quân nghĩa quân bị thiệt hại nặng.
Từ ngày 8-4 -1975 Lê Đức Thọ, trùm CSBV chủ toạ phiên họp tại Lộc
Ninh với các cán bộ thuộc Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tổng tham mưu
CS. Thọ tuyên bố thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn Chợ
Lớn, Tư lệnh Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư Lệnh
Thượng Tướng Trần Văn Trà. Bộ Tư lệnh bàn kế hoạch đánh chiếm Bộ TTM,
dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ đô, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia,
Phi trường Tân Sơn Nhất. Những ngày cuối tháng Tư đen 1975.
Ngày 21-4, Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng thống tại dinh Độc lập để rồi mấy hôm sau lên máy bay ra khỏi nước.
Phó Tổng thống Trần văn Hương lên thay, trong khi ấy các nhà ngoại
giao quốc tế ra sức vận động hai bên để tránh cho Sài Gòn khỏi trở thành
bãi chiến trường. Mấy hôm sau Cộng quân bắn 4 trái hoả tiễn 120 ly vào
Khánh Hội làm cháy mấy chục căn nhà. Đài BBC nói BV cảnh cáo chính phủ
Trần Văn Hương phải bàn giao cho một chính quyền do họ chỉ định, người
ta hiểu ngay đó là nhóm chính khách thứ ba do ông Dương Văn Minh lãnh
đạo. Ngày 27-4 lưỡng viện Quốc Hội nhóm họp để biểu quyết việc trao
quyền cho Dương Văn Minh.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3 VNCH tổ chức phòng
thủ Sài Gòn trên 5 tuyến chính với khoảng cách tới trung tâm thành phố
xa hơn tầm pháo của đại bác 130 ly VC đồng thời bảo vệ các căn cứ quan
trọng tại Biên Hoà, Củ chi, Lai Khê, Long Bình. (Theo Nguyễn Đức Phương,
Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập)
Phía Tây Bắc là Tuyến Củ Chi với Sư đoàn 25 BB và hai Liên đoàn 8, 9
Biệt động quân. Tuyến Bình Dương ở phía Bắc với Sư đoàn 5 BB. Tuyến Biên
Hoà phía Đông Bắc với Sư đoàn 18 BB và lực lượng Xung kích Quân đoàn
III. Tuyến Vũng tầu và Quốc lộ 15 do Lữ đoàn 1 Dù cùng với một Tiểu đoàn
thuộc Sư đoàn 3 BB và các đơn vị Thiết giáp, Địa phương quân, Nghĩa
quân của Tiểu khu Phước Tuy phụ trách. Tuyến Long An phía Nam ngoài lực
lượng Địa phương quân, Nghĩa quân cơ hữu còn có Sư đoàn 22 BB phụ trách
cộng với sự tăng cường của Trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 7 BB, Trung đoàn
14 thuộc Sư đoàn 9 BB và Liên đoàn 6 BĐQ.
Năm tuyến phòng thủ chính của VNCH cũng trùng với 5 hướng tấn công
của năm Quân đoàn CSBV: Hướng Tây Nam là Đoàn 232, (Tư lệnh Trung Tướng
Lê Đức Anh, Chính Uỷ Thiếu Tướng Lê Văn Tưởng) với các Sư đoàn 3, 5, 8, 9
BB và Sư đoàn 27 đặc công cộng với 4 Trung đoàn độc lập 16, 24, 88, 71
và Trung đoàn phòng không tiến từ sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa. Quân
đoàn 3, (Tư lệnh Thiếu Tướng Vũ Lăng, Chính Uỷ Đại Tá Nguyễn Hiệp) gồm
các Sư đoàn 10, 316, 320 và 968 tiến về phía Tây Ninh. Phía Bắc là Quân
đoàn 1, (Tư lệnh là Thiếu Tướng Nguyễn Hoà, Chính Uỷ Thiếu Tướng Hoàng
Minh Thi) gồm các Sư đoàn 312, 320B và 308 từ Lộc Ninh và Phước Long
tiến về khu tập trung ở phía Nam sông Bé. Quân đoàn 4, (Tư lệnh Thiếu
Tướng Hoàng Cầm, Chính Uỷ Thiếu Tướng Hoàng Thế Thiện) gồm các Sư đoàn
6, 7 và 341 sau khi chiếm Xuân Lộc đang tiến về Trảng Bom. Mũi sau cùng
là Quân đoàn 2 (Tư lệnh Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Chính Uỷ Thiếu Tướng
Lê Linh) gồm các Sư đoàn 3 Sao vàng, 304, 324B, và 325 tiến đánh Long
Thành, Vũng Tầu, Phước Lễ. (dựa theo tác giả Nguyễn Đức Phương).
Kế hoạch CSBV như sau: Hướng Tây Bắc: Quân đoàn 3 và Địa phương quân
Tây Ninh, Củ Chi, các lực lượng đặc công biệt động, tăng pháo tiến đánh
căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 VNCH từ Củ Chi đến Trảng Bàng rồi
tiến đánh Tân sơn nhất, phối hợp với Quân đoàn 1 đánh Bộ Tổng Tham mưu
sau đó tiến về Dinh Độc Lập. Hướng Bắc và Đông Bắc Quân đoàn 1, được
tăng cường Trung đoàn 95 ( SĐ 325) cùng các lực lượng đặc công, pháo
binh, hoả tiễn.. bao vây căn cứ Bình Dương, Bến Cát rồi đánh BTTM, BTL
các binh chủng Gò gấp rồi tiến về dinh Độc Lập. Hướng Đông Quân đoàn 4
tiến đánh Biên Hoà, phi trường BH rồi tiến vào quận 1 Sài Gòn. Hướng
Đông Nam Quân đoàn 2 đánh Bà Rịa, Vũng Tầu để chặn đường rút lui của
VNCH, chiếm căn cứ Nước Trong Long thành, pháo kích phi trường Tân Sơn
Nhất, chiếm Long Bình. Hướng Tây, Tây Nam Đoàn 232 và Chủ Lực quân Quân
khu 8 đánh chiếm Hậu nghĩa, rồi tiến đánh Biệt Khu Thủ Đô, Tổng Nha Cảnh
Sát, bến cảng Bạch Đằng. Các Quân đoàn đều có nhiệm vụ chiếm Dinh Độc
Lập, Quân đoàn nào tới trước thì đánh trước.
Quân đội VNCH như chúng ta đã biết từ cuối tháng 3-1975 đã mất một
nửa lực lượng chủ lực quân. Tại Quân khu III miền Nam chỉ còn 3 Sư đoàn
25BB, 5BB, 18 BB và các đơn vị di tản từ miền Trung về với quân số thiếu
hụt, tổng cộng vào khoảng 5 Sư đoàn để đối đầu với khoảng 20 Sư đoàn
CSBV. Về lực lượng hai bên, tác giả Nguyễn Đức Phương (Chiến Tranh Việt
Nam Toàn Tập) đã nói.
“Về tương quan lực lượng giữa hai bên thì QLVNCH chỉ có 6 sư đoàn để
bảo vệ thủ đô chống lại một lực lượng đông đảo với quân số gần 20 sư
đoàn CSBV. Ba sư đoàn 7, 9 và 21 BB thuộc quân đoàn IV QLVNCH không thể
dùng để tiếp ứng do điều kiện an ninh lãnh thổ của vùng đồng bằng sông
Cửu Long”
Tac giả trích tài liệu CS như sau:
“CS cũng đã xác nhận cán cân lực lượng trong chiến dịch này như sau:
Ta: 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và 232 bao gồm 15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn
bộ binh biệt lập, 4 trung đoàn tăng thiết giáp và 6 trung đoàn đặc
công. Quân số tổng cộng khoảng 280 ngàn với 400 xe tăng và 420 pháo.
Địch: 5 sư đoàn bộ binh 5, 18, 22 và 25, sư đoàn TQLC, 2 lữ đoàn Dù, lữ
đoàn 3 Kỵ binh và 4 liên đoàn Biệt động quân. Quân số tổng cộng khoảng
240 ngàn với 625 xe tăng thiết giáp và 400 pháo”
Quân số của BV gồm 280 ngàn người trong đó đa số là thành phần tác
chiến, lính VC không có lương nên không có các đơn vị hành chánh tài
chánh, họ cũng không có cứu thương y tế nên nói chung thực lực đông đảo
hơn miền Nam. Sau khi chiếm được Quân Khu I và II VNCH, Cộng quân chỉ để
lại Địa phương quân và du kích cai quản và đưa toàn bộ Chủ lực quận vào
chiến dịch. Họ dốc toàn lực vào canh bạc cuối cùng này: 5 quân đoàn (1,
2, 3, 4 và 232) tổng cộng 15 Sư đoàn, công thêm trên 5 Trung đoàn độc
lập và 6 Trung đoàn đặc công toàn bộ lực lượng vào khoảng gần 20 Sư
đoàn.
Quân số của VNCH là 240 ngàn nhưng trong đó chỉ có khoảng 60 ngàn là
lính nhà nghề, còn lại là Địa phương quân, Nghĩa quân và các thành phần
không chiến đấu. BV có đầy đủ tiếp liệu đạn dược trong khi miền Nam đã
kiệt quệ về tiếp liệu đạn dược nhất là lính pháo binh phải đếm từng viên
đạn. Sau khi đoàn quân di tản từ miền Trung kéo vào Nam, Bộ Tổng tham
mưu đã mở kho vét hết súng đạn để tái trang bị. Ông Cao Văn Viên (Những
Ngày Cuối VNCH trang 92 ) cho biết đạn dược chỉ đủ xử dụng trong khoảng
hai tuần lễ. Lực lượng hai bên trên thực tế quá chênh lệch, ưu thế
nghiêng hẳn về phía Cộng quân.
Từ 26-4-1975 CSBV đã bắt đầu tấn công vào Trường Thiết Giáp Long
Thành, căn cứ Nước Trong, đặc công đánh Tân cảng , cầu xa lộ, đài ra đa
Phú Lâm nhưng thất bại bị đẩy lui. Bắc Việt đã cho mở chiến dịch Hồ Chí
Minh từ 26-4, hai ngày trước khi ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống,
họ không đếm xỉa gì tới việc thương thuyết.
Sáng ngày 27-4 Sư đoàn 3 BV tấn công chiếm Phước Lễ, Lữ đoàn Dù rút
về Vũng Tầu, Sư đoàn 18 được lệnh lui về giữ Trảng Bom. Phía Tây các căn
cứ dọc theo Vàm Cỏ Đông lần lượt bị chiếm. CSBV pháo phi trường Biên
Hoà dữ dội, Sư đoàn 3 Không quân phải di về Tân Sơn Nhất và Cần thơ.
Phía Tây Nam Đoàn 232 CSBV (gồm 3 Sư đoàn) cắt Quốc lộ 4 nhiều nơi để
chận viện binh từ Quân khu 4, phía Bắc Quân đoàn 1 BV tiến về Thủ Đầu
Một, phía Tây Bắc Quân đoàn 3 BV cắt Quốc lộ 1 và 21 để chặn đường rút
của Sư đoàn 25 BB.
Chiều ngày 28-4 ông Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng thống tại
dinh Độc Lập, chừng một tiếng sau, phi công nằm vùng trung úy Nguyễn
Thành Trung hướng dẫn năm phi cơ A-37 của VNCH do BV chiếm được ném bom
phi trường Tân Sơn Nhất rung chuyển trời đất khiến dân chúng Đô Thành
hốt hoảng. Tối hôm ấy BTL Quân đoàn 3 di chuyển từ Biên Hoà về Gò Vấp.
Tại Bộ TTM, từ chiều 28-4-1975 Đại tướng Cao Văn Viên và Chuẩn Tướng
Thọ đã ra đi. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng rời BTTM trưa
29-4. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Biệt khu Thủ đô cũng đã bỏ
đi. Đến trưa 29-4 các Tướng có thẩm quyền tại BTTM đã ra đi gần hết. Ông
Dương Văn Minh cử một số Tướng và cựu Tướng lãnh vào làm việc tại BTTM:
Trung Tướng Vĩnh Lộc Tổng tham mưu trưởng, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh
phụ tá, Lâm Văn Phát Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô. Chiều 29-4 Tướng Vĩnh Lộc
họp các Tướng lãnh, sĩ quan cao cấp còn sót lại và kêu gọi cố gắng hoàn
tất trách nhiệm. Tối 29-4 ông Dương Văn Minh vẫn kêu gọi trên đài phát
thanh, lời kêu gọi lập đi lập lại suốt đêm. “Các vị Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn hãy giữ vững vị trí và chờ lệnh mới”
Tân Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc lớn tiếng chỉ trích Thiệu và kêu gọi anh em binh sĩ giữ vững phòng tuyến.
“…Y đã để cho cả một đạo quân tháo chạy như một lũ chuột, chính y gây
ra thảm trạng này và bây giờ cũng chính y là người bỏ trốn…”
Từ 4 giờ sáng ngày 29-4 Bộ TTM, phi trường Tân Sơn nhất, BTL Hải quân
bị pháo kích dữ dội. Cộng quân chiếm được Nhơn Trạch đặt hai khẩu 130
ly và bắn 300 quả vào Tân Sơn Nhất gây nhiều thiệt hại, các bãi đậu phi
cơ, bồn chứa nhiên liệu, kho đạn bị trúng pháo kích gây nhiều đám cháy
lớn. Sư đoàn 325 BV chiếm Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, tiến về Cát Lái. Sư
đoàn 304 chiếm căn cứ Nước Trong.
Trong khi ấy ông Dương văn Minh cử ba người sứ giả đến trại David tại
Tân Sơn Nhất để thương thuyết ngưng bắn với phái đoàn Quân sự VC nhưng
bị Đại tá CS Võ Đông Giang bác bỏ.
Tại Biên Hòa lực lượng xung kích Quân đoàn III VNCH của Chuẩn Tướng
Trần quang Khôi (gồm các Chiến đoàn 315, 318, 322) vẫn giữ được phòng
tuyến. Buổi chiều Bộ Tư lệnh Hải quân và Không quân di tản. Một Liên
đoàn BĐQ tại Bến Tranh Bắc Mỹ Tho được lệnh trực thăng vận về Cần Đước
ngăn chận Việt Cộng trên liên tỉnh lộ 5A nhưng không có trực thăng, do
đó Chợ Lớn được coi như bỏ ngỏ. Đến tối Cộng quân đụng độ với các Chiến
đoàn 315, 322 tại hai hướng Đông Bắc thành phố. Trung Tướng Vĩnh Lộc,
tân Tổng Tham mưu trưởng lệnh cho Sư đoàn 18 BB rút về giữ khu vực nằm
giữa Thủ Đức và nghĩa trang Quân đội.
Phía Bắc, căn cứ Lai Khê của Sư đoàn 5 bị pháo kích dữ dội, quận Bến Cát bị tấn công.
Phía Tây 2 Liên đoàn 8, 9 BĐQ bị thiệt hại nặng, CSBV bỏ xác cả trăm
người cùng 18 xe tăng bị bắn cháy, Quốc lộ 1 giữa Sài Gòn và Củ Chi bị
gián đoạn.
Sư đoàn 22 BB vẫn làm chủ được tình hình phía Nam, mặc dù bị tấn công.
Chiều 29-4 Toà Đại sứ Mỹ bắt đầu di tản bằng trực thăng, sau 19 giờ
bay liên tục 80 trực thăng đã chở đi được hơn 1,000 người Mỹ và khoảng
6,000 người Việt Nam ra ngoài hạm đội.
Ngày 30-4 Trung đoàn 24 CSBV (SĐ 10) giao tranh ác liệt với quân Dù
tại Ngã Tư Bẩy Hiền và Lăng Cha Cả, BV bị thiệt hại nặng tới 50% quân
số. Cộng quân tấn công trại Hoàng Hoa Thám, BTL không quân, căn cứ Sư
đoàn 25 BB VNCH thất thủ, Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá bị bắt.
Cộng quân xâm nhập Ngã Tư Bẩy Hiền, trong vòng 15 phút có 6 chiến xa
bị Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù bắn hạ, lính BV bị chận đánh phải rút khỏi
ngã tư Bẩy Hiền.
Theo Tướng Hoàng Lạc, Đại tá Hà Mai Việt (Việt Nam 1954-1975, Những
Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990): TT Dương Văn Minh lại cử người tới
Tân Sơn Nhất để thương thuyết với phái đoàn CS xem có vớt vát được tí
nào không nhưng họ vẫn một mực đòi phải buông súng đầu hàng nếu không sẽ
pháo kích ồ ạt vào Thủ đô. Sài Gòn bây giờ đang nằm trong tầm pháo của
BV. Cộng quân đã vào sát thành phố, thấy không hy vọng cứu vãn được tình
thế, ông Dương Văn Minh bèn lên tiếng trên đài phát thanh vào lúc 10
giờ 30 sáng kêu gọi các vị Tướng lãnh, các cấp chỉ huy QĐVNCH hãy liên
lạc với các đơn vị Cộng Hoà Miền Nam nơi gần nhất giao nạp vũ khí thực
hiện ngưng bắn tại chỗ để tránh đổ máu vô ích. Khi ấy tiếng súng trận
khắp nơi đều đã im bặt.
Khi có lệnh ngưng bắn, Thiếu tá Phạm Châu Tài, Chiến đoàn trưởng Biệt
Cách Dù lấy xe Jeep vào Bộ TTM, lính gác cho biết ông Vĩnh Lộc đã ra đi
từ 6 giờ sáng, các Tướng lãnh, sĩ quan cao cấp không còn ai. Thiếu tá
Tài bèn gọi về phủ Tổng Thống xin nói chuyện với Đại Tướng Dương Văn
Minh. Tài nói các chiến sĩ của ông đang tử chiến với VC để bảo vệ BTTM
thì có lệnh ngưng bắn nhưng địch vẫn tiến vào, BTTM không còn ai, xin
Tổng thống quyết định.
“Tướng Minh trả lời “các em chuẩn bị bàn giao đi”.
Thiếu tá Tài ngạc nhiên hỏi lại “Bàn giao là như thế nào thưa Đại Tướng, có phải là đầu hàng không?
Tướng Minh đáp “Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập”.
Nghe Tướng Minh cho biết như vậy, Thiếu tá Tài nói ngay “Nếu xe tăng
Việt Cộng tiến vào Dinh Độc Lập, chúng tôi sẽ đến cứu Tổng thống”.
Tướng Minh suy nghĩ, Thiếu tá Tài nói tiếp “Tổng thống phải chịu
trách nhiệm trước hai ngàn cảm tử quân đang tử chiến với Cộng quân ở Bộ
Tổng tham mưu”
Tướng Minh trả lời “Tuỳ các anh em”.
(Vương Hồng Anh, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH Những Ngày Cuối Cùng.)
Ông Dương Văn Minh tuyên bố ngưng bắn thì Lê Đức Thọ ban lệnh cho các
Quân đoàn BV không chấp nhận đình chiến và cứ tiến thẳng vào Sài Gòn.
Cộng quân tiến vào Thủ Đô đang bỏ ngỏ làm bốn ngả: Cánh thứ nhất từ
Long Khánh theo xa lộ Biên Hoà, thứ hai từ Củ Chi qua Ngã Tư Bẩy Hiền,
thứ ba từ Long An kéo lên qua ngả Phú Lâm Chợ Lớn, cánh cuối cùng từ
Bình Dương theo xa lộ Đại Hàn vào Hàng Xanh.
Báo Sài Gòn Giải Phóng năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30-4
cho biết đoàn quân vào dinh Độc Lập trước nhất là cánh từ Long An, họ có
chụp hình những chiếc xe lội nước PT-76 vào sân dinh và bộ đội thiết
giáp CS trên xe nhẩy xuống. Theo tài liệu của ký giả ngoại quốc hoặc do
lời kể của các viên chức chính phủ trong dinh Độc Lập thì cánh quân từ
Biên Hoà cùng với các xe T-54 đã tiến chiếm dinh Độc Lập trước tiên.
Báo Sài Gòn Giải Phóng và Quân Đội Nhân Dân năm 1976 cho biết người
đi đầu là một viên đại uý, được các viên chức tiếp đón tại cửa vào, y
hỏi thăm đường lên lầu rồi vội kéo cờ vàng của VNCH xuống để treo cờ Mặt
trận lên để chứng tỏ giang sơn này, đất nước này đã hoàn toàn thuộc về
CS.
Quân đội CSBV bắt Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu
hàng. Theo lời kể của cựu dân biểu Lý Quí Chung thì cả những sĩ quan
cấp úy BV khi mới vào dinh cũng quát tháo những người cầm đầu chính phủ
và gọi họ bằng anh. “Các anh phải hàng hết”
Sau khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì các mặt trận quanh
Sài gòn đều im tiếng súng chỉ còn một vài trận lẻ tẻ như tại Hố Nai,
bốn tiếng sau lệnh đầu hàng, Thiếu Uý Tư, Biệt kích Dù và năm người lính
thân tín dùng súng chống chiến xa M-72 phục kích bắn cháy, lật một xe
Jeep, một T-54, 2 xe Molotova… rồi chạy thoát hết.
Nghe lệnh đầu hàng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân đoàn II và
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 tự sát. Quân khu IV vẫn còn
nguyên vẹn, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam không cho giật sập cầu Long An
như Tỉnh trưởng đề nghị. Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó tự tử
chiều tối 30-4, hôm sau 1-5 Tướng Nam tự sát lúc 7 giờ rưỡi sáng, Chuẩn
tướng Trần Văn Hai Tư lệnh Sư đoàn 7 cũng tự vẫn. Ngoài ra có nhiều
người tuẫn tiết trước ngày tàn của đất nước như Thiếu tá Đặng Sĩ Vinh
thuộc BTL Cảnh sát Quốc gia tự sát lúc 2 giờ chiều 30-4 cùng vợ và 7
người con tại nhà riêng. Trung tá Vũ đình Duy, Trung tá Nguyễn Văn Hoàn
thuộc Đơn vị 101 tự sát… Nhiều quân nhân Biệt kích Dù cũng như nhiều
binh chủng khác đã mở lựu đạn tự tử thất vọng chán nản vì mất nước.
Nhiều người tự sát ngoài mặt trận như Trung tá Nguyễn Hữu Thống Trung
đoàn trưởng Trung đoàn 42 (Sư đoàn 22) khi tầu Hải quân vào Qui Nhơn cứu
đám tàn quân của Sư đoàn cuối tháng 3-75 , Trung tá Thống từ chối di
tản ở lại tự sát.
Tháng 4 năm 2006 một cựu sĩ quan tham mưu của Quân đoàn IV (VNCH)
tiết lộ ngày 30-4-1975 họ đã dự định hành quân qua Miên sang Thái Lan
hoặc ra Phú Quốc lập phòng tuyến chống lại CS, cũng có người cho rằng
Quân khu IV chờ chính phủ Sài Gòn dời xuống để tiếp tục chiến đấu nhưng
TT Dương Văn Minh lại đầu hàng địch. Theo lời kể của Trung uý Danh, tuỳ
viên của Tướng Nam thì ông là người nhân ái, sùng đạo Phật không muốn đổ
máu.
“Là một tư lệnh Quân đoàn, đã nắm trong tay nhiều đơn vị trung thành,
tướng Nguyễn Khoa Nam có thể ra lệnh tiếp tục chiến đấu, nhưng là vị
tướng có lòng nhân ái, không muốn binh sĩ và đồng bào đổ máu vô ích, ông
không cho phá cầu, ông không muốn có người chết thêm”
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bút ký của Trung úy Lê Ngọc Danh.
Nhận xét về Tướng Dương Văn Minh nhiều người hồi đó cũng như bây giờ
chỉ trích chê bai ông là kẻ đầu hàng địch, dâng nước cho CSBV, nhưng
cũng có nhiều người tán đồng quyết định củaTướng Minh cho rằng tiếp tục
chiến đấu sẽ chỉ gây thêm tang tóc đổ máu vô ích không hy vọng gì cứu
vãn tình thế. Sau khi ra định cư tại Hải ngoại, Tướng Dương Văn Minh đã
trả lời phỏng vấn: “Tôi không cứu được nước nhưng tôi phải cứu dân”.
Theo Tướng Vanuxem, sáng 30-4-1975 Trung Tướng Vĩnh Lộc báo cáo với
ông Dương Văn Minh tình hình mặt trận, ông xoè bàn tay cho biết đã hỏng
hết rồi, Sư đoàn 25 tại Củ Chi và Sư đoàn 18 tại Thủ Đức bị tan rã hoặc
rút lui, các lữ đoàn Dù và TQLC tại Vũng Tầu mất liên lạc, Sư đoàn 5 tại
Lai Khê đang bị bao vây… Cộng quân đã vào tới Ngã Tư Bảy Hiền đang giao
tranh với Biệt Cách Dù.
Sau 30-4-1975, Thủ trưởng trường học tập cải tạo Long Thành cho biết
Dương Văn Minh đầu hàng vì ông đã thua hết cả, nếu lực lượng còn mạnh
chưa chắc ông ta đã chịu cho buông súng.
BV bắt đầu mở chiến dịch tấn công Sài Gòn từ 26-4- 1975, bốn ngày sau
phòng tuyến của VNCH sụp đổ. Trước khi Tướng Dương Văn Minh lên làm
Tổng Thống người ta đã đoán biết công việc của ông chỉ là để đầu hàng.
Một viên chức hành chánh thân cận của ông Trần Văn Hương sau này tiết lộ
hồi đó ông Hương cho biết người ta đã sắp đặt sẵn để ông Thiệu bàn giao
cho ông Hương rồi ông Hương bàn giao cho ông Minh, ngay cả việc Dương
Văn Minh yêu cầu cơ quan Tuỳ viên quân sự DAO Mỹ rút lui cũng là do
người ta sắp đặt cả.
Khi Dương Văn Minh đang làm lễ bàn giao ngày 28-4 thì đài BBC đã nói.
“Hôm nay tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh được cử giữ chức vụ Quyền
Tổng thống do ông Trần Văn Hương trao lại để chuẩn bị cho một cuộc đầu
hàng”
Trong phim VietNam a Television History (Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình)
do các ký giả, sử gia Mỹ, Anh, Pháp thực hiện đã được chiếu ở VN giữa
thập niên 80, Chuẩn Tướng không quân Phan Phu Tiên trả lời phỏng vấn và
kết luận. “Chúng tôi là cấp lớn mà bỏ chạy đi như thế này thì cũng nhục nhã
lắm nhưng mọi việc người ta đã sắp đặt sẵn cả rồi, dẫu muốn gì cũng
đành bó tay không thể làm hơn được”
Khi hai ông Thiệu và Khiêm ra đi hôm 24-4-1975, quân dân hoàn toàn
thất vọng , họ thừa hiểu số phận của miền Nam như thế nào, lại nữa hai
hôm sau, Tổng Thống Trần Văn Hương hiệu triệu đồng bào về tình hình vô
cùng bi đát của đất nước, ông đã khóc lóc trên làn sóng điện về viễn ảnh
“núi xương sông máu của thành phố Sài Gòn” khiến cho người dân ai nấy
hồn lạc phách siêu, chuyện bí mật Quốc gia đã được công khai tuyên bố
trên đài phát thanh.
Quân đội VNCH không đủ lực lượng để chống lại gần 20 Sư đoàn Cộng
quân và vì tiếp liệu đạn dược kiệt quệ. Đài BBC Luân Đôn cũng tuyên
truyền phá hoại khiến binh sĩ thất vọng. Lực lượng phòng thủ dần dần rã
ngũ, một số đơn vị cảm tử chiến đấu tới cùng nhưng cũng không thể chống
nổi lực lượng quá đông đảo của BV.
Trận đánh cuối cùng đã kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương chỉ kéo
dài có mấy ngày từ 26-4 cho tới 30-4 -1975, cũng vào ngày này 30 năm
trước đó, năm 1945 tại Bá Linh quân Đức đầu hàng Nga. Sài Gòn tái diễn
lịch sử nước Đức Thế Chiến Thứ Hai, có khác chăng tại Bá Linh giới lãnh
đạo không bỏ trốn và ép buộc quân đội của họ chiến đấu tới người lính
cuối cùng.
Kể từ ngày Cộng quân đánh chiếm quận Đức Lập ngày 9-3-1975 và Ban Mê
Thuột ngày 10-3 để mở đầu cuộc Tổng tấn công cho tới ngày 30-4-1975,
ngày kết thúc chỉ vỏn vẹn có năm mươi mấy ngày.
Võ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công quân Pháp tại Hà Nội nửa đêm
19-12-1946 là ngày khởi đầu cuộc chiến tranh dài nhất của thế kỷ đến
trưa ngày 30-4-1975 là ngày kết thúc tính ra đã được ba mươi năm và Việt
Nam đã trở thành bãi chiến trường tan nát vì bom đạn.
Những kẻ đã gây lên cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn núi xương sống máu sẽ đời đời đắc tội với Non sông Tổ quốc. Trận chiến tại Cầu Tân Cảng ngày 28-4-1975
https://youtu.be/S3T9sLq6Jwk
Trọng Đạt
Tham Khảo
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam.
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.
Đoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990.
Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng, Nam Việt 2006
Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.
Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.
Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing
Dương Đình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi dậy Mùa Xuân 1975, Nhà xuất bản Tổng Hợp T.P.H.C.M 2005.
Văn Tiến Dũng: Đại thắng Mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HàNội 2005
Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 2005.
Trần Quang Khôi: Chiến Đấu Đến Cùng: Vai Trò Của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và
Lực Lượng Xung Kích QĐ III Trong Năm Ngày Cuối Của Cuộc Chiến Việt Nam.
Nguoivietboston.com .
Phạm Bá Hoa: Giờ Thứ 25, Người Việt Dallas, số ngày 21-8-2009.
Trần Văn Đôn: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối, Trích trong Hồi ký Việt nam Nhân Chúng.
Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.
Motgoctroi.com: Đài VOA Ngày 2-7-2007: Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ
(Laird) :Việt Nam Cộng Hoà Thua Trận Vì Bị Mỹ Cằt Viện Trợ.
Motgoctroi.com: Vương Hồng Anh: Những Ngày Cuối CủaViệt Nam Cộng Hoà,
Nghệ sĩ Kim Tuyến: "Tôi chọn tự do và không hối tiếc" (Phần 1)
Nhạc sĩ Tuấn Khanh 2016-08-07
Nghệ sĩ Kim Tuyến.
Youtube screenshot
Tình cờ gặp được chị Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới
biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát
Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng
Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài
năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh
Hoa… Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên
sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó
khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.
Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim
Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ
bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính
nằm vùng.
Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ
chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi
khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm
suy nghĩ. Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không
bao giờ có thể lành.
Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một
đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu
dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh
phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và
mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều
người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim
Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà
Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng
trong chế độ XHCN.
Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn
kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là
phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người
và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn
ấy.
Tôi giữ lại câu chuyện này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu
bối, và cũng sẵn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính
khác gửi đến, trong tinh thần sẵn sàng rộng đường dư luận.
Chạy trốn văn nghệ
Tuấn Khanh: Thật bất ngờ khi gặp lại chị ở Mỹ, đặc biệt là
qua trường hợp chị nói rất thẳng thắn với nghệ sĩ Kim Cương, về những
hoạt động không có tính cách văn nghệ của bà. Có vẻ như còn rất nhiều
thứ về cuộc đời mình mà chị chưa có dịp chia sẻ với khán giả. Nếu không
bất tiện, chị có thể cho biết sau ngày 30-4-1975, cột mốc của đời chị đã
như thế nào?
Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp
cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước
đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước??? - Nghệ sĩ Kim Tuyến
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kêu
gọi của Đài Phát Thanh Sài Gòn (quân cán chính phải đến trình diện), tôi
đến sở làm là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị trình diện. Đến nơi
tôi thấy một đống rác khổng lồ ngay lối cổng ra vào và đầy cả trong sân.
Bỗng có người nói: "Không phải ở đây mà phải trình diện ở Tổng Cục
Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) ở đường Thống Nhất".
Đến Tổng Cục CTCT, anh Vân Sơn (ban AVT) giúp tôi lấy tờ đơn khai lý
lịch từ một cán bộ cộng sản đưa cho tôi. Tôi đang điền vào thì một cán
bộ khác bước ra nói: "Các ban nhạc trong Nam này chỉ có vài nhạc công,
ngoài Bắc chúng tôi có cả trăm nhạc công ấy." Tôi hơi bực nói : "Nhưng
sao ca sĩ các anh hát giống tiếng Tàu quá, chỉ nghe chí chí chéo chéo
không hà, chúng tôi không hiểu gì cả."
Nhìn vào tờ khai lý lịch, tôi nhanh trí điền vào hai chữ “tài xế” ở
phần nghề nghiệp. Xong mọi thủ tục, anh Vân Sơn đưa tôi đến trước cổng
Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Anh Vân
Sơn chào từ giã với gương mặt thật buồn. Về sau tôi được tin anh Vân Sơn
đã nhảy xuống sông Thị Nghè tự tử vì bất mãn với chế độ.
Sau đó theo lời kêu gọi của chị Kim Cương, tôi đến họp tại Hội Nghệ
Sĩ. Rất đông các cô chú và anh chị nghệ sĩ tân cổ tụ tập bên hông trụ sở
và phía sân sau. Khi thấy tôi và nghệ sĩ Tùng Lâm ngồi trò chuyện, chị
Kim Cương ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói "Chị ơi em buồn quá". Chị Kim
Cương kéo đầu tôi ngả vào vai chị, một tay vuốt tóc vỗ về: "Đừng buồn
em, chị em mình rồi sẽ được giải phóng ra khỏi bốn bức tường". Tôi sững
sờ nhìn chú Tùng Lâm. Chị Kim Cương nói lớn "Mọi người vào trong, đến
giờ họp. Chị nắm tay tôi, kéo tôi theo chị vào phòng họp. Chị ngồi vào
đầu bàn chủ tọa. Chị dõng dạc tuyên bố: "Ngày xưa bọn Thiệu Kỳ bán nước
còn hiện diện trên quê hương ta, tôi phải núp dưới danh nghĩa Làng Cô
Nhi Long Thành. Hôm nay chúng ta đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Tôi ra
lệnh cho anh Nguyễn Đức (nhạc sĩ) lập những tiểu tổ để chúng ta thành
lập Biệt Đội Văn Nghệ ..." Chú Tùng Lâm nghiêng đầu nói nhỏ vào tai tôi:
"Tuyến, khóc nữa đi con, mầy khóc nữa đi con".
Tôi thất vọng não nề. Trong khi chị Kim Cương thao thao bất tuyệt,
tôi không còn nghe hay không muốn nghe gì nữa cả. Trời ơi, thần tượng
sụp đổ! Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt
miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt
vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước???
Vài tuần sau, tôi gặp bác Bảy Nam, mẹ của chị Kim Cương, đi xích lô
máy ngừng trước nhà. Thấy tôi Bác hỏi : "Kim Tuyến, con đi đâu đây?".
Tôi chào Bác và trả lời "Dạ, đây là nhà con". Bác nói tiếp: "Bác vào
thăm ông Trần Tấn Quốc, vì nghe ổng sắp dọn về Cao Lãnh ẩn dật. À, con
có nhận được thơ của chị Kim mời con tham gia ban kịch không? Chị Kim
thích con đóng kịch với chị lắm. Ngày phát role (*chọn người vào vai) chị Kim chờ con quá trời". Tôi chỉ còn biết đáp: "Dạ... Dạ... tại con bịnh".
Sau đó mấy ngày Má Bảy Phùng Há nhắn tôi đến nhà. Bà mặc áo dài chờ
tôi, Bà cho biết Bà muốn đưa tôi lên Sở Thông Tin Văn Hóa trình diện để
hát cho đoàn Sài Gòn 1 với nghệ sĩ Thành Được. Trước đó tôi luôn được Má
Bảy mời hát chánh cho ban cải lương Phụng Hảo và Vân Kiều trên TV với
anh Thanh Sang, và lần sau cùng với anh Thành Được tuồng Cạm Bẫy Đô
Thành của soạn giả Ngọc Điệp. Má Bảy bảo tôi về thay áo dài cho đàng
hoàng, "cách mạng không thích ăn mặc như vậy đâu con", vì tôi đang mặc
quần ống loa và áo thun màu vàng với chữ Have a nice day, áo bỏ trong
quần, đeo dây belt to tướng. Tôi chào Má Bảy, trở về nhà tôi, và trốn
luôn Má Bảy.
Cuộc sống nghệ sĩ sau 30/4/1975
Tuấn Khanh:Nhưng rồi sau 1975, chị có tiếp tục sinh hoạt văn nghệ bình thường không? Những ngày đó như thế nào? Nghệ sĩ Kim Tuyến: Sau ngày 30/04/1975, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ
miền Nam hầu như thất nghiệp hết. Cứ một hoặc hai ngày là có ba người bộ
đội mang dép râu đi vào nhà tôi, ngang nhiên đi từ trước ra sau, rồi
ngồi chồm hổm trên salon và nói là "Chúng con đến thăm Mạ (Mẹ tôi)". Lần
lượt cán bộ, rồi tới 'Cách Mạng 30' (*thành phần hưởng ứng với chế độ mới ngay sau ngày 30-4)
kéo tới nhà tôi kêu gọi tôi tham gia. Họ bảo: "Chị là nghệ sĩ nên sẽ có
tác động lớn đối với quần chúng, chị sẽ ca hát và hướng dẫn quần chúng.
Mới giải phóng nên cách mạng còn nghèo. Chúng tôi sẽ cấp cho chị một
chỗ ngủ nghỉ tại trụ sở ngoài đường Lê Quang Định, nơi chúng tôi tịch
thu của bọn bám chân đế quốc Mỹ, chúng tôi cung cấp cho chị một bữa ăn
cho một ngày..." Tiền lương thì không có.
Họ yêu cầu tôi theo họ ra Quận và định chở tôi bằng xe đạp. Tôi bảo
họ cứ đi trước, tôi sẽ chạy xe theo. Quận của họ là bãi đất trống ngay
ngã 5 Bình Hòa. Một nhóm người, già trẻ bé lớn đứng bao quanh một thanh
niên nhỏ con, ốm nhách đang ôm cây đàn, vừa hát vừa chỉ dẫn tất cả hát
và diễn tả bằng chân: "Ta lên giây đàn... từng tưng...". Mọi người nhìn
theo anh này, cùng hát cùng co chân, đưa đầu gối cao ngang bụng, hai tay
cũng làm bộ như đang cầm cây đàn. Tôi thầm nghĩ “trình diễn kiểu gì mà
giống như một bầy khỉ đột vậy?” Tôi cảm thấy xấu hổ cho cậu thanh niên,
và tội nghiệp cho những người dân đang bị bắt làm những trò quái đản.
Mặt tôi nóng bừng, tay chân tôi lạnh, chắc là bị lên máu. Tôi nói với
anh cán bộ là tôi bị bệnh rồi và tôi phải về nhà chữa bệnh gấp.
Cả xóm nhà vùng tôi ở rất bực mình vì những cái loa tuyên truyền láo
khoét. Mới hừng sáng loa phát rùm lên kêu mọi người thức dậy tập thể
dục, nghe rất chói tai nhức óc. Có lần họ cho người đến từng nhà trong
xóm kiểm kê xem nhà có cầu tiêu không? Loại nào? Ngồi bàn hay ngồi chồm
hổm có cái lỗ? Tuấn Khanh:Hoàn cảnh chị như vậy, nhưng bạn bè quen
biết trong nghề thì thế nào? Họ có gặp những nghịch cảnh như chị không
hay mọi thứ dễ dàng hòa nhập hơn?
Người Việt tị nạn trên
một tàu hải quân Mỹ ngoài khơi bờ biển của Việt Nam vào cuối cuộc chiến
tranh Việt Nam. Ảnh phát hành vào ngày 5 Tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO.
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Tôi có người bạn tên Mai, nhà chị ở đường
Ngô Tùng Châu, Gia Định. Một dịp tôi đến nhà chị thì thấy một nhóm công
an phường ngồi đầy nhà. Chị nói nhỏ với tôi là họ ngang nhiên vào nhà,
họ còn tự động lấy thức ăn trong tủ lạnh. Tôi bênh bạn nói: "Chị này ở
một mình, không có chồng, tại sao các anh tự nhiên vào nhà người ta
vậy?" Họ đáp "À, thì chỉ là đến thăm chị Mai thôi". Tôi chợt nhớ đến chị
bạn có chồng nhạc sĩ cổ nhạc đang là quân nhân của Biệt Đoàn Văn Nghệ
Trung Ương và đang có nhà trong khu gia binh, tôi hỏi: "Mấy gia đình vợ
con lính VNCH sống trong trại gia binh, bây giờ có được tiếp tục ở
không?" Tên Ba Tấn, mặt mày gian ác, trả lời: "Chúng đã tiếp tay cho bọn
Thiệu Kỳ bán nước, chúng không có quyền ở". Tôi hỏi: "Vậy ai sẽ ở?" Hắn
đáp: "Chúng tôi, những người có công với cách mạng". Tôi nói tiếp:
"Theo tôi, các anh là cách mạng giải phóng miền Nam, nên dành những căn
nhà đó và các biệt thự của cái bọn mà các anh cho là bám chân đế quốc Mỹ
bỏ lại, đem cấp cho các người nghèo khổ đang ở gầm cầu xó chợ. Còn các
anh nên che chòi ở thì dân chúng sẽ phục các anh vô cùng. Các anh vào ở
các nhà này tôi e dân chúng sẽ nghĩ lầm về cái từ giải phóng của các
anh. Còn xe tăng, xe nhà binh, máy bay của đế quốc Mỹ bỏ lại, các anh
nên bắt chước Campuchia đốt bỏ hết đi, đừng nên xài bất cứ cái gì của Mỹ
Ngụy để lại".
Ba Tân tức giận gọi đồng bọn. Mấy chiếc xe mô tô hụ còi rầm rộ chạy
đến, chĩa súng bắt tôi giải đi về phường. Đến chiều, một thanh niên trẻ
ôm 1 tập giấy tờ mở cửa sắt vào gặp tôi. Em có vẻ ngạc nhiên nói: "Trời!
Chị Tuyến, sao chị vào đây? Em là Đạt bạn của thằng em chị, em học ở
Đạt Đức. Em có đến nhà chị hoài mà không gặp chị, chị đi hát hoài nên
không biết em". Rồi Đạt hỏi tôi chuyện gì xảy ra và Đạt đề nghị tôi viết
vào một tờ giấy, nhận rằng mình không hiểu rõ đường lối của cách mạng,
xin lỗi cách mạng, ký tên, rồi Đạt sẽ trình cấp trên và họ sẽ thả tôi.
Tôi không chịu viết vì nghĩ mình không có tội gì cả. Đạt khuyên tôi: "Họ
đã ghi vào hồ sơ và buộc chị vào tội phản động, họ sẽ đưa chị đi xa
lắm... Hay là vầy, em viết gì kệ em, chị chỉ ký tên vào, họ sẽ thả chị
ra". Nghĩ đến con, đến Má tôi và các em rất cần tôi, tôi ứa nước mắt ký
vào.
Vài ngày sau, anh Vinh từng là quản lý của các đoàn cải lương trước
1975 đến nhà tôi và cho biết Cục An Ninh Nội Chính mời tôi về làm đào
chánh cho đoàn. Tôi nói với anh Vinh: "Nếu thương em, xin anh về nói với
họ là em đang bệnh. Anh biết không, vì cái cục R này mà em bị lên tăng
xông, bệnh gần chết".
Vài tuần sau, chị Bạch Lan Thanh đến nhà mời tôi đi hát với nghệ sĩ
Tùng Lâm và anh Giang Tử, do anh Tony Quang ảo thuật gia tổ chức. Chương
trình văn nghệ bỏ túi có ca tân cổ, có kịch, có ảo thuật và xiệc. Trong
đêm trình diễn ở 1 quận ở miền Tây, có cả bộ đội mang dép râu, ngồi
chồm hổm trên những băng ghế dài bằng cây, xem có vẽ thích thú vỗ tay và
yêu cầu tôi hát tân cổ bản "Những Đồi Hoa Sim", rồi "Tình Đầu Tình
Cuối", và "Tình Đời" song ca với Giang Tử. Sau đó là phần ảo thuật và
hài kịch.
Vãn hát xong, thì Thông Tin Văn Hóa xuống họp với chúng tôi. Một cán
bộ với giọng Bắc nói: "Sao tên của Tùng Lâm và Kim Tuyến to thế? Ngoài
Bắc chúng tôi không có cá nhân đấy nhé. Yêu cầu anh Tùng Lâm đừng diễu
nữa nhé". Tôi nghĩ thầm: “Danh hài mà không cho diễu là sao?”Mọi người
yên lặng, tôi lên tiếng: "Xin lỗi anh, anh tên gì?" Anh ta đáp: "Chị cứ
gọi tôi là anh Ba". Tôi nói tiếp: "Anh Ba, theo tôi có lẽ ca nghệ sĩ văn
công ở ngoài Bắc hát được nhà nước trả lương. Nhưng ở đây là do tư nhân
tổ chức, cần bán vé vào cửa, nên phải quảng cáo tên nghệ sĩ để khán giả
biết mà mua vé vào xem, nhờ đó chúng tôi mới có chén cơm". Anh Ba nhìn
tôi lên giọng: "Yêu cầu chị Kim Tuyến và anh Giang Tử không được mặc đồ
Mỹ Ngụy mà phải mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn giống Bác ấy". Trước khi
ra về, có hai cán bộ đứng dậy đặt tấm giấy lên bàn, nghiêm giọng nói:
"Yêu cầu chị Kim Tuyến hát bài này". Tôi nhìn vào, thấy dòng chữ: Vọng
Cổ Bà Mẹ Việt Nam bắn Mỹ cứu quốc. Khi họ đi rồi tôi nói: "Chú Lâm, chắc
con nghỉ hát". Các em trong ban nhạc nhốn nháo: "Chị Tuyến về, tụi em
cũng ôm đàn về luôn".
Tối hôm đó tôi trở về căn nhà của dân do Tony Quang mướn. Bước ra
phía sau nhà, tôi thấy chú Tùng Lâm ngồi bó gối trầm ngâm bên chai rượu
dưới ánh trăng. Tôi ngồi xuống, bưng chai rượu uống một hơi, dù tôi
không hề biết uống rượu, uống để chia sớt nỗi đau với chú, và uống để
cho vơi đi nỗi uất hận và tủi nhục mà kẻ chiến thắng muốn áp đặt quyền
dạy dỗ chúng tôi. Niềm đau tủi đã dâng trào... Hai chú cháu gục đầu vào
nhau khóc nức nở. Hôm sau tôi từ giã chú Lâm, về lại Sài Gòn và tìm cách
vượt biên.
Những ngày đầu sau 30 tháng Tư, tôi thấy TV phát hình vở cải lương hồ
quảng của các nghệ sĩ miền Bắc. Họ không có đôi hài để mang, họ mang
dép râu, trang phục rất nghèo nàn. Có một vở kịch mà diễn viên mặc áo
đầm Liên Xô nói về điện Cẩm Linh chiếu trên TV và các ca nghệ sĩ phải
chào cờ của Liên Xô. So sánh với miền Nam, các nghệ sĩ cải lương hồ
quảng ăn mặc rất đẹp. Các kịch sĩ không hề diễn kịch về Tòa Bạch Ốc và
chúng tôi không hề phải chào cờ Mỹ. Chúng tôi làm việc cho Ban văn Nghệ
Hoa Tình Thương/ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và cơ quan thông tin
JUSPAO, chúng tôi chỉ hát những bài ca ngợi quê hương, tình yêu và ca
ngợi sư hy sinh của những chiến sĩ VNCH, chứ không hề có những bài ca
sắc máu kiểu Cộng Sản "Thề phanh thây uống máu quân thù". Tuấn Khanh:Với nghệ sĩ thì như vậy, chung quanh
chị, còn những người Sài Gón khác ra sao? Chị có còn nhớ một vài điều gì
đáng nhớ vào thời điểm đó?
Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá
nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản. Tôi cảm thấy xa lạ và
cô đơn trên chính quê hương của mình. - Nghệ sĩ Kim Tuyến
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Một buổi trưa, nằm nghe tiếng hát lạ: "Thăm
thẳm chiều trôi... khuya anh đi rồi sao trời đưa lối..." tiếng hát đầy
xúc cảm như muốn xé cả ruột gan. Tôi bước ra lan can nhìn xuống đường
ngay gốc cây trước nhà tôi, một người đàn ông mặc quần lính VNCH và
chiếc áo thun cũ, cụt 2 chân, đang ôm đàn hát... Tôi xúc động rơi nước
mắt nhớ lại những ngày hát cho các anh chiến sĩ tại các tiền đồn Pleiku,
Kontum, Bệnh Viện Cộng Hòa, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh... Hình ảnh quá đau
xót của những thương phế binh bị đuổi khỏi bệnh viện đi qua nhà tôi
trong buổi chiều 30/04/1975, hình ảnh một người đàn ông ngã quỵ trước
cửa trong đêm tối, tôi và các em tôi phụ đưa anh vào nhà, nấu nước trà
gừng và pha sữa, rồi cạo gió cho anh, lúc anh tỉnh dậy chúng tôi mới
biết anh là lính VNCH. Hôm sau, lại một phụ nữ ngã gục trước nhà tôi vì
đói quá, chúng tôi giúp chị qua cơn đói.
“Xa lạ và cô đơn trên chính quê hương mình”
Tuấn Khanh:Được biết chị vượt biển đi từ rất sớm, đến Mỹ, chị có gặp lại đồng nghiệp và nối lại nghề diễn của mình? Nghệ sĩ Kim Tuyến: Tôi vượt biên vào cuối năm 1978 với gia
đình, đứa con nhỏ nhất của tôi mới 10 ngày tuổi. Chuyến vượt biển hãi
hùng như bao nhiêu nạn nhân vượt biển khác. Cuối cùng chiếc tàu nhỏ bị
lật vì sóng to và đụng đá ngầm trước khi vào đến bờ biển Mã Lai, làm cho
một số người chết. Gia đình tôi may mắn được cứu thoát và sau đó được
định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.
Những ngày đầu đến Mỹ, tôi cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, được
chính phủ Mỹ giúp đỡ. Tôi đến trường học tiếng Anh. Chị Túy Hồng là
người đầu tiên mời tôi hát trên đất Mỹ. Tôi dành một buổi hát tại Los
Angeles cho anh Bảo Ân. Sau đó lịch trình diễn của tôi khá bận rộn: hát
gây quỹ cho Chùa, Nhà Thờ, Kháng Chiến... hát cho các phòng trà, vũ
trường, đại nhạc hội... thu video cho nhiều vở kịch và tuồng cải lương
và các bài tân nhạc, trình diễn nhạc kịch cho NS Hoàng Thi Thơ, trình
diễn văn nghệ tại Âu Châu và các nước Canada, Nhật Bản, Úc… Tuấn Khanh:Đã có lúc nào chị quay lại Việt Nam, để nhìn lại, nhớ lại? Nghệ sĩ Kim Tuyến: Tôi có trở về Việt Nam sau khi Mẹ tôi mất
năm 2010, lý do là lo giải quyết tro cốt của Ba tôi để lại từ năm 1973.
Trong thâm tâm tôi nguyện lo xong là không bao giờ muốn trở về khi chế
độ cộng sản vẫn còn trên quê hương Việt Nam. Trong chuyến đi này tôi có
gặp lại vài người bạn thân quen từ thuở nhỏ, những người bà con và vài
người bạn đồng nghiệp. Lúc tạm trú tại một khách sạn tại Sài Gòn tôi gặp
những người làm việc ở đó nói toàn giọng Bắc mới sau 1975 rất khó nghe.
Hầu như những người Bắc 75 đã vào chiếm cứ hết những căn nhà mặt
đường khu thương mại của Sài Gòn, trong đó có ngôi nhà trước kia của
tôi. Sài Gòn trở nên quá chật chội, lưu thông tắc nghẽn, khói bụi mịt
mù, không tôn trọng luật lệ, cảnh sát giao thông làm tiền trắng trợn.
Đạo đức suy đồi, tham nhũng tràn lan. Không có một quốc gia nào trên thế
giới mà muốn vào hoặc ra khỏi phi trường là phải nộp tiền mãi lộ nếu
muốn được yên thân. Đi đâu tôi cũng thấy biểu ngữ: "Quyết tâm làm sạch
đường phố"... hết 'quyết tâm' này đến 'quyết tâm' kia, hết 'phường văn
hóa' đến 'khóm văn hóa', mà cán bộ và công an thì đối xử với dân rất vô
văn hóa. Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân
như Việt Nam Cộng Sản. Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê
hương của mình. *Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm RFA. Biến cố 30 Tháng 4 qua âm nhạc https://youtu.be/B6GbhRNcOAM
Nhận xét • 21