Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

Tin MOI - Mỹ Ra Lệnh TẤN CÔNG PHỦ ĐẦU Trung Quốc Nếu Bị ép

Tin MOI - Mỹ Ra Lệnh TẤN CÔNG PHỦ ĐẦU Trung Quốc Nếu Bị ép

3
Xuất bản 8 thg 8, 2016
Tin MOI - Mỹ Ra Lệnh TẤN CÔNG PHỦ ĐẦU Trung Quốc Nếu Bị ép
 https://youtu.be/qr1M9IiJH-U

Nhận xét • 21

5.812 lượt xem
 
Minh nguyễn tấn
Mỹ ra lệnh nha ad. Không có thằng nào ra lệnh được cho mỸ hết. Sửa lại tiêu đề đi
News4U Channel
+Minh nguyễn tấn okie friend.
News4U Channel
+Minh nguyễn tấn thanks ban nhe
nguyễn bằng Dzuc
Mỹ và T+ đe dọa với chiến tranh phủ đầu ở biển đông...thường hai võ sĩ trên võ đài cứ báo trước những cú đánh vào đâu, để địch thủ biết đỡ trước, thì đánh đấm làm gì, khán giả còn ai muốn xem ! cũng như phim ảnh đều do đạo diễn giàn dựng những pha nguy hiểm...ca sĩ hát nhép...!
 
Mỹ chỉ cần 02 quả bom nguyên tử thì Trung Quốc hết lên mặt, tung gián điệp khử Tập Cận Bình là xong
Linh Tran Thi To
qua hung manh ? dung co dai ma thach thuc nuoc my ? biet minh la ai? doi dau voi my la dung voi mot qua nui da .....
XSTANDEE .COM
XL ai lệnh được cho Mỹ
Manh Nguyen
Việt cộng đang ru ngủ người dân để đừng chống lại bọn chúng, vì đã có Mỹ bảo vệ, chuyện hoang đường chẳng có gì lợi cho Mỹ. phần tầu cộng dư biết khả năng của chúng chỉ bằng kiến đá voi mà tuyên truyền là vua của thằng tầu cộng và việt cộng, nên tin này là việt cộng nó đưa ra không có cơ sở, bộ quốc phòng, tổng thống Mỹ có làm chuyện gì đều rất minh bạch rõ ràng, rồi còn thông qua quốc hội, mà thông tin bên Mỹ chúng tôi chẳng nghe động tĩnh gì, đúng là CS tin vịt để lừa bịt người dân...
Dinh Nguyen
Đúng là tin vịt, nghe cứ như là thiệt ! Chỉ có những kẻ u mê mới tin bọn CSVN nói ! Bạn có nhận xét thật sáng suốt.
tuan nguyen
dit me bon phan dong dit me bon trung quoc
xuan phuong ho
bon phan dong,phan quoc la bon cong san viet nam.
Su Trùm PY
xàm lồn quá... thằg cs cút đi
Vanthai Dang
danh chẹt me trung quốc đi may con cho
toyota Tundra
DIT LON ME BE LU DCSVN CHO DE,,,MOT BE LU DE HEN,VA KHIEP NHUOCCUA DCSVN SUC VAT...DIT LON ME BE LU DCSVN LA MOT BAY KHI DOI LOP NGUOI...
Quang Đáng Bùi
tiêu diệt TQ đi có gì phải sơ
Giabao Vu
hien tai bay jo cac nuoc dong minh my ma ko dap thang tQ de no chuc nam sau no hùng mạnh con kho choi hon nua.my da bit truoc dieu nay.phai co chiến tranh day bao tQ mot bài học de doi moi duoc .no con toi tệ hon phatxic duc ngay xua.
tuan nguyen
dit me bon phan dong dit me bon trung quoc
Tam Vo
my nen cam van thag trug cog tham lam cho no biet the nao la dau kho
Vanthai Dang
dkm bon phan dong

Quy mô của nhà chứa máy bay quân sự Trung Quốc xây ở Trường Sa

Thứ ba, 9/8/2016 | 09:23 GMT+7

Quy mô của nhà chứa máy bay quân sự Trung Quốc xây ở Trường Sa

Hình ảnh vệ tinh mới cho thấy Trung Quốc tiếp tục xây các nhà chứa máy bay đủ lớn cho bất kỳ loại chiến đấu cơ nào trên ba đá ở Trường Sa.

Ảnh chụp đá Chữ Thập từ vệ tinh ngày 3/6. Ảnh: CSIS.
Ảnh chụp đá Chữ Thập từ vệ tinh ngày 3/6. Ảnh: CSIS.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Nhà Trắng tháng 9/2015 đã trấn an Mỹ rằng "Trung Quốc không có ý định theo đuổi quân sự hóa", ở Trường Sa.
Tuy nhiên, hình ảnh chụp từ vệ tinh gần đây lại cho thấy Trung Quốc có một kế hoạch khác. Các bức ảnh, do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington thu thập và nghiên cứu, cho thấy có hoạt động xây dựng nghi là cải tạo nhà chứa máy bay trên đá Chữ Thập, đá Subi và đá Vành Khăn.
Không có phi cơ quân sự nào xuất hiện vào thời điểm chụp ảnh nhưng CSIS nhận định các nhà chứa trên ba đá đủ rộng để chứa "bất kỳ chiến đấu cơ nào của không quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLA)", New York Times đưa tin.
Loại nhà chứa lớn hơn trên các đá có thể phục vụ oanh tạc cơ H-6, phi cơ tiếp dầu H-6U, phi cơ vận tải Y-8 và một phi cơ Kiểm soát và Cảnh báo sớm (AWACS) KJ200.
quy-mo-cua-nha-chua-may-bay-quan-su-trung-quoc-xay-o-truong-sa-1
Ảnh chụp đá Subi từ vệ tinh ngày 24/7. Ảnh: CSIS.
Trung Quốc có thể biện hộ những kiến trúc này để phục vụ phi cơ dân sự hoặc có chức năng phi quân sự khác nhưng hình ảnh vệ tinh cho thấy điều ngược lại, theo CSIS. Những nhà chứa nhỏ nhất cũng rộng từ 18 đến 21 m, thừa sức tiếp nhận chiến đấu cơ lớn nhất của Trung Quốc. Ngoài kích thước, các dấu hiệu còn cho thấy có sự tăng cường về kết cấu.
"Chúng dày hơn nhiều để sử dụng cho mục đích dân sự", Gregory B. Poling, giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI), CSIS, hôm qua cho biết. "Chúng được gia cố để có thể chống chọi khi bị tấn công".
Nhà chứa lớn nhất, rộng 61 m, "thừa khả năng tiếp nhận các oanh tạc cơ và máy bay tiếp nhiên liệu", ông Poling cho biết thêm. Nếu những phi cơ này được triển khai, chúng sẽ làm phức tạp thêm tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines và các nước khác trong khu vực, tăng thêm rủi ro cho hoạt động tuần tra "tự do đi lại" của Mỹ trong khu vực.
Ngay cả trước khi các nhà chứa máy bay xuất hiện, giới phân tích quân sự độc lập đã nhận định Trung Quốc muồn dùng những "đảo nhân tạo" để phô diễn sức mạnh quân sự trong khu vực.
"Chúng tôi nhận ra từ ngày họ bắt đầu xây đường băng", ông Poling nói. Trung Quốc khẳng định họ có ý định tốt giống như nói "xây cả biệt thự nhưng chỉ ở tầng một" vậy.
quy-mo-cua-nha-chua-may-bay-quan-su-trung-quoc-xay-o-truong-sa-2
Ảnh chụp đá Vành Khăn từ vệ tinh ngày 22/7. Ảnh: CSIS.
Bằng chứng về nhà chứa máy bay quân sự xuất hiện một tháng sau khi Tòa Trọng tài ở The Hague, Hà Lan, lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó có bồi đắp phi pháp các đá trong khu vực thành đảo nhân tạo rồi xây dựng trên đó.
Phán quyết là kết quả trong vụ kiện Trung Quốc do Philippines đệ đơn lên Tòa Trọng tài Thường trực. Trung Quốc tuyên bố sẽ phớt lờ phán quyết. Một số nhà phân tích lưu ý các nhà chứa không phải là phản ứng đáp trả phán quyết và chúng dường như đã được xây từ trước đó.
quy-mo-cua-nha-chua-may-bay-quan-su-trung-quoc-xay-o-truong-sa-3
So sánh 7 đường băng trên quần đảo Trường Sa (Click và hình để xem)Đồ họa: Tiến Thành
"Phần móng có thể được xây từ vài tháng trước", M. Taylor Fravel, giáo sư khoa học chính trị tại Viện Công nghệ Massachusetts, thành viên Chương trình Nghiên cứu An ninh của viện, nhận định.
Ông Fravel cho rằng các nhà chứa đi ngược với những lời khẳng định của chủ tịch Trung Quốc. "Trung Quốc tự cho mình chọn sử dụng các đá này làm cơ sở quân sự nhưng chưa quyết định dùng chúng ở mức độ nào", ông nói.
Như Tâm
Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/phan-tich/quy-mo-cua-nha-chua-may-bay-quan-su-trung-quoc-xay-o-truong-sa-3449569.html?utm_source=home&utm_medium=box_thegioi_home&utm_campaign=boxtracking

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016

ĐCSVN một thế lực tay sai của Tàu cộng

ĐCSVN một thế lực tay sai của Tàu cộng

Nguyên Thạch (Danlambao) - Một cách công minh mà phán xét vấn đề thì người ta có thể thông cảm ĐCSVN cho vị thế hiện tại do ĐCSVN đã làm đất nước tụt hậu về mọi mặt, dẫn đến sự thua kém về kinh tế và quân sự so với Trung cộng nên ĐCSVN đã không còn sự lựa chọn nào khác hơn là Qui hàng giặc. Điều mà dân chúng muốn nhấn mạnh ở đây là: Thái độ ác với dân của chế độ. Người dân đã rất bất mãn với đảng và nhà cầm quyền về thái độ dùng Côn an trị để đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bỏ tù những người dân yêu nước sẵn sàng đứng lên khi Tổ Quốc lâm nguy. Trong hiện tình quá yếu ớt về nhiều mặt như vậy, ĐCSVN còn làm những điều tồi tệ, xuẩn ngốc như hành hạ dân, xem dân như kẻ thù… Những động thái này, đảng đã tự tách mình ra khỏi khối sức mạnh của toàn dân. Một khối sức mạnh mà bất cứ thế lực nào dẫu hung hãn cũng phải run sợ. Đồng thời đảng cũng cố tình phớt lờ không nghe theo lời khuyên quí giá “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Cố tình không muốn đối mặt với sự thật rằng triều đại nào rồi cũng phải đến lúc chấm dứt mà ĐCSVN không phải là ngoại lệ.

*
Có muốn hay không muốn, có thích hay không thích thì hiện tại đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) vẫn là một thực thể cầm quyền của một đất nước có tên gọi Việt Nam. ĐCSVN là một đảng phái chính trị không do toàn dân chọn lựa, đảng này đã dựng nên một nhà nước dưới cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), nhà nước này không do dân bầu ra để đại diện cho người dân mà mọi việc từ ứng cử và bầu cử đều do đảng lựa chọn đề cử và quyết định, người dân chỉ mỗi việc là đi bầu trong sự ép buộc để gọi là hợp thức hóa một chính quyền.
Dưới các thể chế dân chủ khác, một chế độ hoàn toàn độc tài như vậy thì không thể gọi dưới danh xưng “Chính Quyền” mà phải nên được gọi là “Tà Quyền”. Đảng phái chính trị này lấy chủ thuyết Mác-Lê làm nền tảng lý luận duy nhất cho mọi hoạt động của nhà cầm quyền và xã hội. Nhà nước của chế độ chính trị này chọn giai cấp Công Nhân làm căn bản đại diện cho mọi giai cấp, mọi thành phần trong xã hội, từ cơ bản đó, tự nó đã ngấm ngầm gây nên sự phân biệt trầm trọng giữa giai cấp công nhân (giai cấp lãnh đạo) với các giai cấp khác và đó là nguyên nhân tạo ra sự cách biệt hoặc ngay cả sự thù hận giữa giai cấp này với các tầng lớp khác mà hố sâu cách biệt đó là do người cộng sản tự cho mình cái danh nghĩa đại diện cho giai cấp công nhân, một giai cấp có quyền lãnh đạo và thống trị các giai cấp khác, chính từ tư duy biện chứng ấy đã gây ra sự bất bình đẳng, chia rẽ và tạo ra bất ổn xã hội.
Dựa trên những lý luận cơ bản nêu trên, đảng CSVN sẽ không bao giờ qui tụ được một Hội Nghị Diên Hồng như hội nghị năm 1284 do Thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu họp. Hội nghị diễn ra khi quân Nguyên âm mưu và đang chuẩn bị kéo quân sang xâm lược nước ta lần thứ hai để trả thù cho lần thất bại đầu tiên (1258), gỡ danh dự và uy thế của nước lớn. (1)
Trước khi Hội nghị bắt đầu, nhà Trần thăm dò và biết được quân Nguyên huy động một lực lượng rất lớn. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: số quân nhà Nguyên điều là 50 vạn từ phương Bắc tràn xuống; kết hợp với cả gần 10 vạn quân của Toa Đô từ phía Nam (Champa) đánh lên; tin rằng với sức mạnh như vậy sẽ nhanh chóng bóp nát nước Đại Việt. Đối phó với đạo quân hùng mạnh như vậy, nhà Trần khôn khéo triệu tập hội nghị - đầu tiên là Bình Than (1282) bàn về chiến lược đánh giặc của tướng soái và quân nhà Trần. Ý thức được rằng, muốn chiến thắng được đội quân khổng lồ của nhà Nguyên, phải cần có sự tham gia của toàn thể nhân dân.
Bao đề xuất về "Hòa Hợp Hòa Giải” và ngay cả Nghị quyết 36 của Bộ chính trị cũng không được toàn dân Việt nội ngoại hưởng ứng. Do đó những năm tháng gần đây, bọn bành trướng Bắc Kinh đã thực hiện tham vọng chiếm lấy biển, đảo, đất liền và thôn tính Việt Nam một cách ngang ngược và trắng trợn mà ĐCSVN không thể hợp lực cùng toàn dân chống trả lại những hành vi xâm chiếm, chẳng những thế mà ngược lại là ĐCSVN sẵn sàng quỳ lạy Trung cộng một cách nhu nhược đốn hèn.
Điểm lại những diễn tiến gần đây như: “Trung cộng dạy VN bài học 1979” (2), Xung đột Việt–Trung 1979–1990 (3), Gạc Ma 1988, giàn khoan HD-981, Đường phân khúc 9 đoạn (Đường lưỡi bò), Thực trạng 7 bãi đá Trung Quốc cải tạo ở Trường Sa qua ảnh vệ tinh (4) và gần đây nhất là những vụ Formosa thải chất độc giết cá chết hàng loạt, vụ SU-30MK2 và CASA 212 bị bắn hạ cùng hàng loạt các vụ các tàu đánh cá của ngư dân VN bị tông chìm, bắn giết v.v…người dân không còn nghi ngờ gì nữa về thái độ qui hàng giặc ngoại bang của đảng và nhà cầm quyền CSVN. Hoa Nam đã ngang nhiên khiêu khích bằng chuỗi hành động đã nêu trên để chẳng những nói lên sự khinh thường đảng và Quân đội CSVN vì Trung Nam Hải đã nắm chắc rằng Bộ chính trị là những con chó tuy hèn nhát nhưng rất trung thành, mà họ còn thử thách để xem thái độ của toàn dân VN phản ứng như thế nào trước thời hạn của “Mật nghị Thành Đô” 2020.

Diện tích phần đất nhân tạo trên bãi đá Châu Viên được mở rộng tới 119.711 m2, tính đến ngày 14/3. Những công trình xuất hiện tại đây gồm kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà hỗ trợ, cơ sở quân sự, ăng ten liên lạc vệ tinh, radar. Ảnh: AMTI/Digital Globe.

Đá Chữ Thập có diện tích 960.000 m2, tính đến ngày 21/10/2014. Ngoài đường băng, trên hòn đảo nhân tạo này còn có cảng biển đủ lớn để đón tàu tiếp tế, tàu chiến đấu cỡ lớn, nhiều nhà máy xi măng, cơ sở hỗ trợ, cầu cảng, súng phòng không, hệ thống chống người nhái, trang thiết bị liên lạc, nhà kính, bãi đáp trực thăng. Ảnh: CSIS/AMTI.
Một cách công minh mà phán xét vấn đề thì người ta có thể thông cảm ĐCSVN cho vị thế hiện tại do ĐCSVN đã làm đất nước tụt hậu về mọi mặt, dẫn đến sự thua kém về kinh tế và quân sự so với Trung cộng nên ĐCSVN đã không còn sự lựa chọn nào khác hơn là Qui hàng giặc. Điều mà dân chúng muốn nhấn mạnh ở đây là: Thái độ ác với dân của chế độ. Người dân đã rất bất mãn với đảng và nhà cầm quyền về thái độ dùng Côn an trị để đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bỏ tù những người dân yêu nước sẵn sàng đứng lên khi Tổ Quốc lâm nguy. Trong hiện tình quá yếu ớt về nhiều mặt như vậy, ĐCSVN còn làm những điều tồi tệ, xuẩn ngốc như hành hạ dân, xem dân như kẻ thù… Những động thái này, đảng đã tự tách mình ra khỏi khối sức mạnh của toàn dân. Một khối sức mạnh mà bất cứ thế lực nào dẫu hung hãn cũng phải run sợ. Đồng thời đảng cũng cố tình phớt lờ không nghe theo lời khuyên quí giá “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Cố tình không muốn đối mặt với sự thật rằng triều đại nào rồi cũng phải đến lúc chấm dứt mà ĐCSVN không phải là ngoại lệ.
Thiếu Nhân Quyền, vắng bóng Tự Do, không Dân Chủ ắt sẽ dẫn đến độc tài và dần dà đưa đến toàn trị. Tổ chức hệ thống cầm quyền và xã hội dưới chủ nghĩa cộng sản là những cái vòng kim cô siết chặt trên đầu chẳng những người dân bình thường mà còn siết ngay cả thành phần lãnh đạo. Tất cả tự trói mình trong cái vòng ma lực khủng khiếp rùng rợn ấy mà mọi thành phần không thể tìm ra được lối thoát.
Sở dĩ ĐCSVN chọn thái độ đối nghịch lại với dân tộc, coi toàn dân như những kẻ thù vì ĐCSVN đã hiện nguyên hình là đám tôi tớ cho ngoại bang Tàu cộng. Dân Việt nội ngoại còn chần chờ gì nữa mà không vùng lên trừ khử đám Thái thú này để thoát vòng nô lệ, giữ gìn sự vẹn toàn và phát triển của đất nước?.
________________Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2016/08/csvn-mot-luc-tay-sai-cua-tau-cong.html#more

16 comments 
Một người giết một đảng viên
Không còng lưng cõng, heo điên của Tàu
[Sát Cộng đếm từng thằng một, không để thoát]

LM Nguyễn Văn Khải- Việt cộng tiếp tay Trung cộng xâm lăng Việt Nam.
 https://youtu.be/UpQL2dBhCzs 
Một lực lượng mạnh nhất của Trung quốc đang hoạt động tại Việt Nam!!!???
dannews.info/2015/07/24/luc-lu...

Tay sai thì chưa thật đúng với bản chất của bọn Vẹm, mà phải gọi là con đẻ của Tàu Cộng. Tay sai đôi lúc còn có ý kiến (feeding back), còn con đẻ thì không.
 
Đọc bài viết của anh Nguyên Thạch, tôi chợt nhớ phim tài liệu nói về qua nhiều triều đại của Trung quốc, nhưng Việt nên xem và suy ngẩm.
 https://youtu.be/KiTFy7akdnQ
Còn nũa...

Nhân một nhà văn lớn của miền Nam trước 1975 vừa qua đời…


Nhân một nhà văn lớn của miền Nam trước 1975 vừa qua đời…

Song Chi
2016-08-07
baomiennam11.jpg
Những tạp chí văn học nghệ thuật trước 1975.
Courtesy of dcvonline.net
Sau 30/4/1975, nhiều người miền Bắc vào miền Nam và nhận ra mình bị lừa, nhận ra sự dối trá của đảng và nhà nước cộng sản khi tận mắt chứng kiến sự phồn thịnh, sung túc, tự do, thoải mái, văn minh tiến bộ hơn hẳn của Sài Gòn và miền Nam. Nhưng đó chỉ mới là khía cạnh kinh tế và sự tự do dân chủ. Còn những cái mất mát đáng tiếc nữa, nói lên sự ngu xuẩn, tội ác của nhà cầm quyền và sự éo le của lịch sử khi một chế độ lạc hậu, man rợ hơn lại thắng một chế độ văn minh hơn. Đó là sự mất mát của cả một nền văn học nghệ thuật tự do, đầy sáng tạo, đầy tính nhân văn, một nền giáo dục “nhân bản, dân tộc và khai phóng” hay một xã hội đã xây dựng được tương đối một nền nếp đạo đức, quy củ, tôn trọng luật pháp…

Tịch thu, đốt phá các tác phẩm văn học nghệ thuật miền Nam

Riêng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, ngay sau tháng 4/1975, nhà cầm quyền đã ra lệnh tịch thu, đốt phá cho bằng hết những sản phẩm văn hóa “đồi trụy” của miền Nam. Cùng với một số lượng lớn quân nhân công chức, trí thức của chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), nhiều văn nghệ sĩ miền Nam cũng phải lên đường đi học tập cải tạo, những người còn lại hầu hết buông bút, bị gạt ra ngoài lề xã hội, vất vả mưu sinh bằng những công việc khác, chả liên quan gì đến nghiệp văn, như ra chợ trời bán thuốc lá, bán đồ cũ, thậm chí làm ruộng, chăn dê (như nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ chẳng hạn). Rồi nhiều người trong số họ lần lượt phải từ bỏ đất nước ra đi tìm tự do vì không chịu nổi đời sống tinh thần, chính trị, sáng tác bức bối, kỳ thị ở Việt Nam (VN).
Hơn 41 năm sau, có lẽ chỉ có âm nhạc miền Nam là vẫn hiện diện thường xuyên trong đời sống tinh thần của người Việt trong và ngoài nước. Dù một số lượng tác phẩm và nghệ sĩ vẫn bị cấm biểu diễn, cấm phổ biến ở VN nhưng với những ai yêu âm nhạc miền Nam thì người ta vẫn có thể tìm nghe đủ hết, qua các kênh khác nhau. Nhiều ca sĩ, nhạc sĩ trong nước ra bên ngoài biểu diễn và nhiều ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại trở về nước hát, làm việc, ngay cả những người từng lớn tiếng chống Cộng hay tuyên bố không bao giờ trở về khi chế độ cộng sản còn tồn tại…Nhưng văn chương thì khó hơn nhiều. (Và điện ảnh chẳng hạn, tất nhiên càng không có cơ hội). Hơn 41 năm, một nền văn chương miền Nam dưới chế độ VNCH cực kỳ phong phú, đa dạng, tự do, sáng tạo, vẫn bị xem như chưa hề tồn tại.
Sự ngu xuẩn của nhà cầm quyền là ở chỗ trong khi Trung Cộng đã và vẫn đang, sẽ là kẻ thù lâu dài của dân tộc VN, là mối đe dọa lớn nhất đối với chủ quyền, độc lập toàn vẹn lãnh thổ, thì nhà cầm quyền lại tiếp sức, tuyên truyền không công cho văn hóa của họ. Sách, tiểu thuyết Trung Quốc được in đầy rẫy trong các nhà sách lớn nhỏ từ Nam ra Bắc, kể cả những loại ngôn tình nhảm nhí cho tới những quyển sách ca ngợi Mao Trạch Đông, ca ngợi Đặng Tiểu Bình - kẻ đã ra lệnh phát động cuộc chiến 1979 để “dạy cho VN một bài học”; phim truyền hình Trung Quốc chiếu tràn lan dày đặc trên các kênh từ trung ương đến địa phương.
Tội ác của nhà cầm quyền là ở chỗ đã bức hại hàng trăm, hàng ngàn văn nghệ sĩ miền Nam sau 1975 khiến họ phải đi học tập cải tạo, phải lăn lộn với những công việc lao động vất vả để mưu sinh, khiến tài năng họ mỏi mòn, thui chột, cho dù khi phải sống thầm lặng trên quê hương hay khi phải lang bạt tha hương trên xứ người.

Nếu không có biến cố tháng 4/1975?

Đôi khi tôi cứ nghĩ, nếu không có biến cố tháng 4/1975 thì văn học dịch thuật, khảo cứu ở miền Nam còn tiến tới đâu?
vh-miennam-02.jpg
Một buổi tuần hành bài trừ "văn hoá đồi truỵ Mĩ - Nguỵ". Courtesy of baotreonline.com
Những nhà thơ như Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Trần Tuấn Kiệt, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; những nhà văn như Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên…; hay mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học, phật giáo và công giáo với những cây bút như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định…sẽ còn tiếp tục cho ra đời bao nhiêu tác phẩm, công trình khác nữa?
Và chắc chắn với bầu không khí tự do, yêu chuộng văn chương học thuật của miền Nam sẽ còn có rất nhiều gương mặt mới, thế hệ mới xuất hiện, nhiều nhà sách, tạp chí, nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như đã có nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Tinh -Việt văn - đoàn, Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…Các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao..., và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… không thể kể hết.
Gia tài văn học nghệ thuật của VN vốn đã mỏng, đã ít ỏi, lại còn bị triệt hạ, thủ tiêu tàn nhẫn bởi “bên thắng cuộc”.
Như nhà văn Dương Nghiễm Mậu, một nhà văn lớn của miền Nam vừa mới qua đời tối ngày 2/8/2016 tại Sài Gòn, nếu không có biến cố 30/4/1975 chắc chắn số lượng tác phẩm và sức sáng tạo của ông đã không dừng ở đó. Sau khi đi học tập cải tạo về, ông sống lặng lẽ bằng công việc vẽ tranh sơn mài cho đến khi nằm xuống vĩnh viễn. Vậy mà năm 2007, khi công ty Phương Nam và NXB Văn Nghệ tái bản bốn tập truyện của ông gồm: Nhan sắc, Đôi mắt trên trời, Tiếng sáo người em út, Cũng đành, ông vẫn bị “đấu tố” tưng bừng, bởi những cây bút đầy ghen tị, với nhân cách và tài năng “nhỏ bé” hơn ông.
Tính từ thế kỷ XX cho đến nay, lịch sử VN có quá nhiều biến cố bị che dấu, bị bóp méo, thậm chí bị xóa trắng, mà các nhà văn nhà thơ, nhà nghiên cứu cần tiếp tục viết nhiều, nhiều hơn nữa để cho các thế hệ sau và thế giới hiểu được sự thật, hiểu được những năm tháng sai lầm, ngang trái, bi kịch trên đất nước này.
Chỉ hy vọng rằng trong số những nhà văn còn lại của miền Nam phải im lặng sống tại quê nhà bao nhiêu năm hay phải tha hương trên đất khách vẫn giữ trong tim ngọn lửa văn chương chữ nghĩa, âm thầm viết để rồi một ngày nào đó chúng ta sẽ được đọc những tác phẩm của họ. Và những nhà văn thuộc thế hệ hôm nay, sinh ra, lớn lên sau chiến tranh, trong và ngoài nước, nhưng canh cánh một tấm lòng đối với nước mẹ VN, cũng vậy.
Bởi đó là món nợ của văn nghệ sĩ trí thức đích thực đối với lịch sử và với đất nước.
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm RFA.
Nuồn: http://www.rfa.org/vietnamese/blog/blog-songchi-080716-08072016105314.html

Trận đánh cuối cùng: Sài Gòn thất thủ

Trận đánh cuối cùng: Sài Gòn thất thủ

30-4 Binh sĩ VNCH ngăn địch trên cầu xa lộ (Tân Cảng)
30-4 Binh sĩ VNCH ngăn địch trên cầu xa lộ (Tân Cảng)
Năm 1964, 65 lợi dụng tình hình chính trị miền nam bất ổn, Hà Nội đưa nhiều trung đoàn chính qui vào nam tấn công mạnh, VNCH có nguy cơ sụp đổ.
Giữa năm 1965 TT Johnson bắt đầu đưa quân vào VN mà người Mỹ gọi là can thiệp, số quân được tăng dần cho tới 1968 lên tới hơn nửa triệu trong khi Cộng sản Bắc Việt cũng gia tăng xâm nhập. Mặc dù Mỹ có thắng lợi nhiều về quân sự, gây tổn thất rất nặng cho địch khoảng trên mấy trăm ngàn người nhưng đầu năm 1968, trận Mậu Thân đã làm tiêu tan hy vọng chiến thắng. Người dân Mỹ không còn kiên nhẫn và chống đối rất mạnh, đòi chính phủ phải rút khỏi VN, gió đã đổi chiều.
Đầu năm 1969, tân Tổng thống Nixon tìm hòa bình trong danh dự, cuộc chiến có phần tàn khốc hơn trước nhưng không phải để thắng CS mà để chấm dứt chiến tranh rút bỏ Đông Dương. Tác giả George Donelson Moss (trong Vietnam, An American Ordeal) gọi cuộc chiến của Nixon là A war to end a war, một cuộc chiến để chấm dứt chiến tranh.
Cuối tháng 1-1973, Hiệp định Paris được ký kết, mục đích của Mỹ để rút hết quân lấy tù binh về nước, phía CSBV chờ Mỹ rút hết để tổng tấn công chiếm miền nam, họ mở xa lộ Đông Trường Sơn vận chuyển vũ khí và gia tăng xâm nhập để hoàn thành giấc mộng xâm lăng.
Sau khi ký Hiệp định khoảng một năm, Quốc hội Dân chủ Mỹ bắt đầu cắt giảm quân viện VNCH mỗi năm khoảng 50%: Từ 2,1 tỷ tài khóa 1973 xuống còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975, con số này thực ra chỉ bằng 500 triệu vì dầu thô lên giá, tiền mất giá (theo Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471). Quyết định cắt giảm ô nhục của Quốc hội đưa tới tình trạng thê thảm, theo tiết lộ của ông Cao Văn Viên (trong Những Ngày Cuối Của VNCH trang 86, 87) hậu quả là năm 1974 không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay vì thiếu nhiên liệu, giảm số giờ bay yểm trợ, huấn luyện 50%, thám thính giảm 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Hải quân cũng cắt giảm hoạt động 50%, 600 giang thuyền các loại nằm ụ.
Đạn dược chỉ còn đủ đánh tới tháng 4 /1975, năm 1972 ta xử dụng trên 69 ngàn tấn đạn một tháng, từ tháng 7/1974 đến tháng 3/1975 ta chỉ còn xử dụng khoảng 19 ngàn tấn một tháng hoả lực giảm 70%. Tháng 2/1975 chỉ còn đủ đạn tất cả các loại súng cho 30 ngày, tháng 4/1975 chỉ còn đủ đạn đánh trong khoảng hai tuần (Sách đã dẫn trang 92).
Trung Tướng Trần Văn Minh, cựu Tư lệnh không quân cho biết máy bay thiếu cơ phận thay thế, thiếu nhiên liệu nên phần nhiều năm ụ. Trong khi ấy theo Kissinger (Years of Renewal trang 481) Hà nội đã xin được viện trợ của Sô viết tăng gấp bội. Tháng 12- 1974, một viên chức cao cấp Nga viếng Hà Nội lần đầu tiên kể từ sau ngày ký Hiệp định Paris. Tổng tham mưu trưởng Nga Viktor Kulikov tới tham dự họp chiến lược với Bộ chính trị BV, nay họ bãi bỏ hạn chế trước đây. Sô Viết đã chở vũ khí viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp 4 lần trong những tháng sau đó. Nga khuyến khích BV gây hấn.
Cuộc chiến VN là một cuộc chiến viện trợ tiếp liệu, cả hai bên đều không tự sản xuất được vũ khí đạn dược mà phải tùy thuộc vào quân viện nước ngoài, bên nào nhiều tiếp liệu, vũ khí đạn dược thì bên đó thắng.
Tình hình tháng 3 tới giữa tháng 4-1975
Cuối tháng 3 năm 1975 Quân Khu I hoàn toàn thất thủ, Quân khu 2 chỉ còn Phan Rang và Phan Thiết (trong tổng số 12 tỉnh), đến ngày 4-4 hai tỉnh này được sáp nhập vào Quân khu III. Trên thực tế cả hai Vùng I và II coi như đã mất vào tay CSBV, các Sư đoàn chủ lực của Quân khu II và Quân khu I phần tan rã, phần đã bị thiệt hại nặng nề tới 1/2 hay 2/3 lực lượng.
Cuộc triệt thoái Cao Nguyên đã khiến cho trên 75% chủ lực của Quân đoàn II bị tan rã, Sư đoàn 23 và 7 Liên đoàn Biệt động quân mất gần hết quân số. Sư đoàn 22 vùng duyên hải giao tranh dữ dội với các Sư đoàn BV cuối tháng 3 tại Bình Định, khi được tầu Hải quân đến cứu tại Qui Nhơn chỉ còn khoảng 2,000 người. Toàn bộ xe tăng và đại bác bị bỏ lại.
Các Sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn I và Sư đoàn TQLC đã bị thiệt hại nặng trên đường triệt thoái, 90 ngàn chủ lực quân của Quân đoàn chỉ có 16 ngàn được tầu vớt chở về miền Nam trong đó khoảng 6,000 TQLC (45% quân số của Sư đoàn)
Vì TT Thiệu sai lầm cho tái phối trí lực lượng đã làm cho tình hình xấu đi một cách nhanh chóng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Cộng chiếm nốt phần đất còn lại của miền Nam. Lần đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương hai Quân đoàn cùng triệt thoái giao lại đất cho địch.
CSBV bèn chớp thời cơ tập trung toàn bộ lực lượng tấn công chiếm Sài Gòn, họ dốc toàn bộ lực lượng vào cái gọi là “Chiến dịch Hồ chí Minh lịch sử”. Trong chiến dịch tháng 3 – 1975, Bắc Việt đưa vào hai Quân khu I và II tổng cộng 14 Sư đoàn bộ binh, nay thấy thời cơ đã tới họ đưa nốt 3 Sư đoàn tổng trừ bị ở ngoài Bắc (thuộc Quân đoàn I CSBV) vào cộng với hơn mười Trung đoàn độc lập và đặc công đã đưa lực lượng tham gia chiến dịch này lên tới khoảng 20 Sư đoàn bộ binh chưa kể sự yểm trợ của hơn hai chục Trung đoàn xe tăng, pháo binh, phòng không, công binh…
Tài liệu CS (hồi ký Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân) cho biết tại phiên họp ngày 25-3, Bộ Chính Trị Trung ương đảng khẳng định thời cơ chiến lược mới đã đến. Hà Nội có điều kiện sớm hoàn thành cuộc tổng tiến công xâm lược, tập trung các lực lượng binh khí kỹ thuật giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.
BV hối hả chuyên chở bằng cả ba phương tiện đường thủy, đường bộ, đường hàng không để chuyển vận vũ khí, quân nhu, nhân lực … đánh một ván bài chót
Tài liệu CS (hồi ký Văn Tiến Dũng, các Chương XI, XII, XIII) cho biết Quân khu 5 của BV tổ chức một đoàn xe chở thẳng vào Nam bộ đạn dược tiếp liệu cũng như chiến lợi phẩm vừa lấy được của VNCH, đoàn xe do Thiếu Tướng Võ Thứ, phó Tư lệnh Quân khu V chỉ huy. Trong khi ấy các sân bay Gia Lâm, Vĩnh Phú, Đồng Hới, Phú Bài, Đà Nẵng, Kontum…nhộn nhịp khác thường, các loại máy bay lên thẳng, vận tải, chở khách đều được huy động để chở người, súng đạn, vũ khí, chở sách báo phim ảnh, tranh, nhạc .. mà còn chở hàng tấn bản đồ Sài Gòn – Gia Định vừa in xong ở xưởng in Bộ Tổng tham mưu tại Hà Nội. Các bến sông Hồng, sông Gianh, sông Mã, sông Hàn và các bến cảng Hải Phòng, Cửa Hội, Thuận An, Đà Nẵng ngày đêm nhộn nhịp. Các mặt hàng quân sự được bốc xếp kịp thời lên các đoàn tầu vận tải của Bộ Giao Thông vận tải và tầu Hải Quân nhân dân để đưa vào Nam. Hà Nội huy động hết mọi phương tiện thủy bộ, hàng không để chuyển ra mặt trận một số lượng quân đội và vũ khí lớn chưa từng có.
Ngày 4-4-1975 Phan Rang và Phan Thiết được sáp nhập vào Quân khu 3. Tại Phan Rang lực lượng ta gồm 2 Trung đoàn bộ binh 4 và 5 thuộc Sư đoàn 2, 1 lữ đoàn Dù, 1 liên đoàn Biệt Động quân, 4 tiểu đoàn Địa phương quân, Sư đoàn 6 Không quân, Hải quân gồm 2 khu trục hạm, một giang pháo hạm, một hải vận hạm. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh tiền phương Quân đoàn III đóng tại Tháp Chàm.
Phan Rang phố xá vắng tanh, dân di tản về Phan Thiết rất nhiều, ngày 14-4 Việt Cộng tấn công tuyến phòng thủ Phan Rang tại phi trường, một tiểu đoàn Dù đụng độ Việt Cộng, địch bỏ xác cả 100 tên. Ngày 15-4 Phó Thủ tướng đặc trách Quốc phòng Trần văn Đôn và Tướng Toàn thị sát mặt trận. Khi phái đoàn vừa về thì Việt Cộng tấn công mạnh, địch tăng cường Sư đoàn 325 và nhiều chiến xa. Quân đội VNCH phản công dữ dội nhưng không thể chống lại lực lượng địch quá đông phải rút lui, Trung đoàn 4 và 5 tan rã. Khuya ngày 16-4 chỉ có 200 người thoát vòng vây, các sĩ quan thuộc Bộ tư lệnh tiền phương và Sư đoàn 6 không quân bị bắt hết, các đơn vị của VNCH tại đây coi như tan rã, BV chiếm được 40 máy bay tại Phan Rang.
Hai hôm sau ngày 18-4 Phan Thiết cũng bị lọt vào tay Cộng quân.
Quân đoàn 4 CSBV gồm các đơn vị đã chiếm QK II VNCH theo Quốc lộ 1, Quốc lộ 20 tiến về Sài Gòn, gần giao điểm của hai Quốc lộ này là Xuân Lộc thuộc tỉnh Long khánh cách Sài Gòn 60 cây số, Xuân lộc giữ vị trí quan trọng bảo vệ phi trường Biên Hoà.
Phạm vi trách nhiệm của Sư đoàn 18 là Long Khánh, phụ trách an ninh phía Bắc căn cứ Long Bình, Quốc lộ 15 và căn cứ Không quân Biên Hoà. CSBV huy động Sư đoàn 6, Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, Sư đoàn 1, Sư đoàn 325, Trung đoàn biệt lập 95B.
BV đánh Xuân Lộc nhằm các mục tiêu.
-Tấn công tuyến phòng thủ then chốt phía đông như Xuân Lộc, Bà Rịa, Vũng Tầu.
-Kéo lực lượng VNCH ra ngoài để tiêu diệt, mở cửa lớn để vào Sài Gòn.
-Thu hút lực lượng VNCH vào phía Đông để đưa các lực lượng khác tới Bắc và Tây Bắc Sài Gòn.
Sư đoàn 18 VNCH và CSBV hỗn chiến dữ dội từ sáng 9-4 cho tới ngày 15-4 khi chiến đoàn 52 bị BV tràn ngập. Sáng ngày 16-4 Tướng Toàn cho lệnh thả 2 trái bom Daisy Cutter tại Bắc Gầu Giây tiêu diệt nhiều đơn vị bộ binh, thiết giáp, pháo binh địch. Ngày 20-4 Tướng Toàn bay trực thăng vào Xuân Lộc gặp Tướng Đảo bàn kế hoạch lui binh. Sư đoàn 18 rút lui vào lúc đêm vừa đánh vừa rút, giữ trật tự bình tĩnh, tối 20 trung đoàn 48 về đến Long Giao đặt pháo binh yểm trợ tổng quát cho cuộc lui binh, sau đó truyền tin, công binh, pháo binh, quân y… rút theo.
Sư đoàn 18 thiệt hại 30% quân số, Địa phương quân nghĩa quân bị thiệt hại nặng.
Từ ngày 8-4 -1975 Lê Đức Thọ, trùm CSBV chủ toạ phiên họp tại Lộc Ninh với các cán bộ thuộc Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tổng tham mưu CS. Thọ tuyên bố thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn Chợ Lớn, Tư lệnh Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư Lệnh Thượng Tướng Trần Văn Trà. Bộ Tư lệnh bàn kế hoạch đánh chiếm Bộ TTM, dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ đô, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Phi trường Tân Sơn Nhất.
Những ngày cuối tháng Tư đen 1975.
Ngày 21-4, Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng thống tại dinh Độc lập để rồi mấy hôm sau lên máy bay ra khỏi nước.
Phó Tổng thống Trần văn Hương lên thay, trong khi ấy các nhà ngoại giao quốc tế ra sức vận động hai bên để tránh cho Sài Gòn khỏi trở thành bãi chiến trường. Mấy hôm sau Cộng quân bắn 4 trái hoả tiễn 120 ly vào Khánh Hội làm cháy mấy chục căn nhà. Đài BBC nói BV cảnh cáo chính phủ Trần Văn Hương phải bàn giao cho một chính quyền do họ chỉ định, người ta hiểu ngay đó là nhóm chính khách thứ ba do ông Dương Văn Minh lãnh đạo. Ngày 27-4 lưỡng viện Quốc Hội nhóm họp để biểu quyết việc trao quyền cho Dương Văn Minh.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3 VNCH tổ chức phòng thủ Sài Gòn trên 5 tuyến chính với khoảng cách tới trung tâm thành phố xa hơn tầm pháo của đại bác 130 ly VC đồng thời bảo vệ các căn cứ quan trọng tại Biên Hoà, Củ chi, Lai Khê, Long Bình. (Theo Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập)
thelastbattlessaigon
Phía Tây Bắc là Tuyến Củ Chi với Sư đoàn 25 BB và hai Liên đoàn 8, 9 Biệt động quân. Tuyến Bình Dương ở phía Bắc với Sư đoàn 5 BB. Tuyến Biên Hoà phía Đông Bắc với Sư đoàn 18 BB và lực lượng Xung kích Quân đoàn III. Tuyến Vũng tầu và Quốc lộ 15 do Lữ đoàn 1 Dù cùng với một Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 3 BB và các đơn vị Thiết giáp, Địa phương quân, Nghĩa quân của Tiểu khu Phước Tuy phụ trách. Tuyến Long An phía Nam ngoài lực lượng Địa phương quân, Nghĩa quân cơ hữu còn có Sư đoàn 22 BB phụ trách cộng với sự tăng cường của Trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 7 BB, Trung đoàn 14 thuộc Sư đoàn 9 BB và Liên đoàn 6 BĐQ.
Năm tuyến phòng thủ chính của VNCH cũng trùng với 5 hướng tấn công của năm Quân đoàn CSBV: Hướng Tây Nam là Đoàn 232, (Tư lệnh Trung Tướng Lê Đức Anh, Chính Uỷ Thiếu Tướng Lê Văn Tưởng) với các Sư đoàn 3, 5, 8, 9 BB và Sư đoàn 27 đặc công cộng với 4 Trung đoàn độc lập 16, 24, 88, 71 và Trung đoàn phòng không tiến từ sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa. Quân đoàn 3, (Tư lệnh Thiếu Tướng Vũ Lăng, Chính Uỷ Đại Tá Nguyễn Hiệp) gồm các Sư đoàn 10, 316, 320 và 968 tiến về phía Tây Ninh. Phía Bắc là Quân đoàn 1, (Tư lệnh là Thiếu Tướng Nguyễn Hoà, Chính Uỷ Thiếu Tướng Hoàng Minh Thi) gồm các Sư đoàn 312, 320B và 308 từ Lộc Ninh và Phước Long tiến về khu tập trung ở phía Nam sông Bé. Quân đoàn 4, (Tư lệnh Thiếu Tướng Hoàng Cầm, Chính Uỷ Thiếu Tướng Hoàng Thế Thiện) gồm các Sư đoàn 6, 7 và 341 sau khi chiếm Xuân Lộc đang tiến về Trảng Bom. Mũi sau cùng là Quân đoàn 2 (Tư lệnh Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Chính Uỷ Thiếu Tướng Lê Linh) gồm các Sư đoàn 3 Sao vàng, 304, 324B, và 325 tiến đánh Long Thành, Vũng Tầu, Phước Lễ. (dựa theo tác giả Nguyễn Đức Phương).
Kế hoạch CSBV như sau: Hướng Tây Bắc: Quân đoàn 3 và Địa phương quân Tây Ninh, Củ Chi, các lực lượng đặc công biệt động, tăng pháo tiến đánh căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 VNCH từ Củ Chi đến Trảng Bàng rồi tiến đánh Tân sơn nhất, phối hợp với Quân đoàn 1 đánh Bộ Tổng Tham mưu sau đó tiến về Dinh Độc Lập. Hướng Bắc và Đông Bắc Quân đoàn 1, được tăng cường Trung đoàn 95 ( SĐ 325) cùng các lực lượng đặc công, pháo binh, hoả tiễn.. bao vây căn cứ Bình Dương, Bến Cát rồi đánh BTTM, BTL các binh chủng Gò gấp rồi tiến về dinh Độc Lập. Hướng Đông Quân đoàn 4 tiến đánh Biên Hoà, phi trường BH rồi tiến vào quận 1 Sài Gòn. Hướng Đông Nam Quân đoàn 2 đánh Bà Rịa, Vũng Tầu để chặn đường rút lui của VNCH, chiếm căn cứ Nước Trong Long thành, pháo kích phi trường Tân Sơn Nhất, chiếm Long Bình. Hướng Tây, Tây Nam Đoàn 232 và Chủ Lực quân Quân khu 8 đánh chiếm Hậu nghĩa, rồi tiến đánh Biệt Khu Thủ Đô, Tổng Nha Cảnh Sát, bến cảng Bạch Đằng. Các Quân đoàn đều có nhiệm vụ chiếm Dinh Độc Lập, Quân đoàn nào tới trước thì đánh trước.
Quân đội VNCH như chúng ta đã biết từ cuối tháng 3-1975 đã mất một nửa lực lượng chủ lực quân. Tại Quân khu III miền Nam chỉ còn 3 Sư đoàn 25BB, 5BB, 18 BB và các đơn vị di tản từ miền Trung về với quân số thiếu hụt, tổng cộng vào khoảng 5 Sư đoàn để đối đầu với khoảng 20 Sư đoàn CSBV. Về lực lượng hai bên, tác giả Nguyễn Đức Phương (Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập) đã nói.
“Về tương quan lực lượng giữa hai bên thì QLVNCH chỉ có 6 sư đoàn để bảo vệ thủ đô chống lại một lực lượng đông đảo với quân số gần 20 sư đoàn CSBV. Ba sư đoàn 7, 9 và 21 BB thuộc quân đoàn IV QLVNCH không thể dùng để tiếp ứng do điều kiện an ninh lãnh thổ của vùng đồng bằng sông Cửu Long”
Tac giả trích tài liệu CS như sau:
“CS cũng đã xác nhận cán cân lực lượng trong chiến dịch này như sau:
Ta: 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và 232 bao gồm 15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 trung đoàn tăng thiết giáp và 6 trung đoàn đặc công. Quân số tổng cộng khoảng 280 ngàn với 400 xe tăng và 420 pháo.
Địch: 5 sư đoàn bộ binh 5, 18, 22 và 25, sư đoàn TQLC, 2 lữ đoàn Dù, lữ đoàn 3 Kỵ binh và 4 liên đoàn Biệt động quân. Quân số tổng cộng khoảng 240 ngàn với 625 xe tăng thiết giáp và 400 pháo”
Quân số của BV gồm 280 ngàn người trong đó đa số là thành phần tác chiến, lính VC không có lương nên không có các đơn vị hành chánh tài chánh, họ cũng không có cứu thương y tế nên nói chung thực lực đông đảo hơn miền Nam. Sau khi chiếm được Quân Khu I và II VNCH, Cộng quân chỉ để lại Địa phương quân và du kích cai quản và đưa toàn bộ Chủ lực quận vào chiến dịch. Họ dốc toàn lực vào canh bạc cuối cùng này: 5 quân đoàn (1, 2, 3, 4 và 232) tổng cộng 15 Sư đoàn, công thêm trên 5 Trung đoàn độc lập và 6 Trung đoàn đặc công toàn bộ lực lượng vào khoảng gần 20 Sư đoàn.
Quân số của VNCH là 240 ngàn nhưng trong đó chỉ có khoảng 60 ngàn là lính nhà nghề, còn lại là Địa phương quân, Nghĩa quân và các thành phần không chiến đấu. BV có đầy đủ tiếp liệu đạn dược trong khi miền Nam đã kiệt quệ về tiếp liệu đạn dược nhất là lính pháo binh phải đếm từng viên đạn. Sau khi đoàn quân di tản từ miền Trung kéo vào Nam, Bộ Tổng tham mưu đã mở kho vét hết súng đạn để tái trang bị. Ông Cao Văn Viên (Những Ngày Cuối VNCH trang 92 ) cho biết đạn dược chỉ đủ xử dụng trong khoảng hai tuần lễ. Lực lượng hai bên trên thực tế quá chênh lệch, ưu thế nghiêng hẳn về phía Cộng quân.
Từ 26-4-1975 CSBV đã bắt đầu tấn công vào Trường Thiết Giáp Long Thành, căn cứ Nước Trong, đặc công đánh Tân cảng , cầu xa lộ, đài ra đa Phú Lâm nhưng thất bại bị đẩy lui. Bắc Việt đã cho mở chiến dịch Hồ Chí Minh từ 26-4, hai ngày trước khi ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống, họ không đếm xỉa gì tới việc thương thuyết.
Sáng ngày 27-4 Sư đoàn 3 BV tấn công chiếm Phước Lễ, Lữ đoàn Dù rút về Vũng Tầu, Sư đoàn 18 được lệnh lui về giữ Trảng Bom. Phía Tây các căn cứ dọc theo Vàm Cỏ Đông lần lượt bị chiếm. CSBV pháo phi trường Biên Hoà dữ dội, Sư đoàn 3 Không quân phải di về Tân Sơn Nhất và Cần thơ. Phía Tây Nam Đoàn 232 CSBV (gồm 3 Sư đoàn) cắt Quốc lộ 4 nhiều nơi để chận viện binh từ Quân khu 4, phía Bắc Quân đoàn 1 BV tiến về Thủ Đầu Một, phía Tây Bắc Quân đoàn 3 BV cắt Quốc lộ 1 và 21 để chặn đường rút của Sư đoàn 25 BB.
Chiều ngày 28-4 ông Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng thống tại dinh Độc Lập, chừng một tiếng sau, phi công nằm vùng trung úy Nguyễn Thành Trung hướng dẫn năm phi cơ A-37 của VNCH do BV chiếm được ném bom phi trường Tân Sơn Nhất rung chuyển trời đất khiến dân chúng Đô Thành hốt hoảng. Tối hôm ấy BTL Quân đoàn 3 di chuyển từ Biên Hoà về Gò Vấp.
Tại Bộ TTM, từ chiều 28-4-1975 Đại tướng Cao Văn Viên và Chuẩn Tướng Thọ đã ra đi. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng rời BTTM trưa 29-4. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Biệt khu Thủ đô cũng đã bỏ đi. Đến trưa 29-4 các Tướng có thẩm quyền tại BTTM đã ra đi gần hết. Ông Dương Văn Minh cử một số Tướng và cựu Tướng lãnh vào làm việc tại BTTM: Trung Tướng Vĩnh Lộc Tổng tham mưu trưởng, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh phụ tá, Lâm Văn Phát Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô. Chiều 29-4 Tướng Vĩnh Lộc họp các Tướng lãnh, sĩ quan cao cấp còn sót lại và kêu gọi cố gắng hoàn tất trách nhiệm. Tối 29-4 ông Dương Văn Minh vẫn kêu gọi trên đài phát thanh, lời kêu gọi lập đi lập lại suốt đêm.
“Các vị Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn hãy giữ vững vị trí và chờ lệnh mới”
Tân Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc lớn tiếng chỉ trích Thiệu và kêu gọi anh em binh sĩ giữ vững phòng tuyến.
“…Y đã để cho cả một đạo quân tháo chạy như một lũ chuột, chính y gây ra thảm trạng này và bây giờ cũng chính y là người bỏ trốn…”
Từ 4 giờ sáng ngày 29-4 Bộ TTM, phi trường Tân Sơn nhất, BTL Hải quân bị pháo kích dữ dội. Cộng quân chiếm được Nhơn Trạch đặt hai khẩu 130 ly và bắn 300 quả vào Tân Sơn Nhất gây nhiều thiệt hại, các bãi đậu phi cơ, bồn chứa nhiên liệu, kho đạn bị trúng pháo kích gây nhiều đám cháy lớn. Sư đoàn 325 BV chiếm Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, tiến về Cát Lái. Sư đoàn 304 chiếm căn cứ Nước Trong.
Trong khi ấy ông Dương văn Minh cử ba người sứ giả đến trại David tại Tân Sơn Nhất để thương thuyết ngưng bắn với phái đoàn Quân sự VC nhưng bị Đại tá CS Võ Đông Giang bác bỏ.
Tại Biên Hòa lực lượng xung kích Quân đoàn III VNCH của Chuẩn Tướng Trần quang Khôi (gồm các Chiến đoàn 315, 318, 322) vẫn giữ được phòng tuyến. Buổi chiều Bộ Tư lệnh Hải quân và Không quân di tản. Một Liên đoàn BĐQ tại Bến Tranh Bắc Mỹ Tho được lệnh trực thăng vận về Cần Đước ngăn chận Việt Cộng trên liên tỉnh lộ 5A nhưng không có trực thăng, do đó Chợ Lớn được coi như bỏ ngỏ. Đến tối Cộng quân đụng độ với các Chiến đoàn 315, 322 tại hai hướng Đông Bắc thành phố. Trung Tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng Tham mưu trưởng lệnh cho Sư đoàn 18 BB rút về giữ khu vực nằm giữa Thủ Đức và nghĩa trang Quân đội.
Phía Bắc, căn cứ Lai Khê của Sư đoàn 5 bị pháo kích dữ dội, quận Bến Cát bị tấn công.
Phía Tây 2 Liên đoàn 8, 9 BĐQ bị thiệt hại nặng, CSBV bỏ xác cả trăm người cùng 18 xe tăng bị bắn cháy, Quốc lộ 1 giữa Sài Gòn và Củ Chi bị gián đoạn.
Sư đoàn 22 BB vẫn làm chủ được tình hình phía Nam, mặc dù bị tấn công.
Chiều 29-4 Toà Đại sứ Mỹ bắt đầu di tản bằng trực thăng, sau 19 giờ bay liên tục 80 trực thăng đã chở đi được hơn 1,000 người Mỹ và khoảng 6,000 người Việt Nam ra ngoài hạm đội.
Ngày 30-4 Trung đoàn 24 CSBV (SĐ 10) giao tranh ác liệt với quân Dù tại Ngã Tư Bẩy Hiền và Lăng Cha Cả, BV bị thiệt hại nặng tới 50% quân số. Cộng quân tấn công trại Hoàng Hoa Thám, BTL không quân, căn cứ Sư đoàn 25 BB VNCH thất thủ, Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá bị bắt.
Cộng quân xâm nhập Ngã Tư Bẩy Hiền, trong vòng 15 phút có 6 chiến xa bị Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù bắn hạ, lính BV bị chận đánh phải rút khỏi ngã tư Bẩy Hiền.
Theo Tướng Hoàng Lạc, Đại tá Hà Mai Việt (Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990): TT Dương Văn Minh lại cử người tới Tân Sơn Nhất để thương thuyết với phái đoàn CS xem có vớt vát được tí nào không nhưng họ vẫn một mực đòi phải buông súng đầu hàng nếu không sẽ pháo kích ồ ạt vào Thủ đô. Sài Gòn bây giờ đang nằm trong tầm pháo của BV. Cộng quân đã vào sát thành phố, thấy không hy vọng cứu vãn được tình thế, ông Dương Văn Minh bèn lên tiếng trên đài phát thanh vào lúc 10 giờ 30 sáng kêu gọi các vị Tướng lãnh, các cấp chỉ huy QĐVNCH hãy liên lạc với các đơn vị Cộng Hoà Miền Nam nơi gần nhất giao nạp vũ khí thực hiện ngưng bắn tại chỗ để tránh đổ máu vô ích. Khi ấy tiếng súng trận khắp nơi đều đã im bặt.
Khi có lệnh ngưng bắn, Thiếu tá Phạm Châu Tài, Chiến đoàn trưởng Biệt Cách Dù lấy xe Jeep vào Bộ TTM, lính gác cho biết ông Vĩnh Lộc đã ra đi từ 6 giờ sáng, các Tướng lãnh, sĩ quan cao cấp không còn ai. Thiếu tá Tài bèn gọi về phủ Tổng Thống xin nói chuyện với Đại Tướng Dương Văn Minh. Tài nói các chiến sĩ của ông đang tử chiến với VC để bảo vệ BTTM thì có lệnh ngưng bắn nhưng địch vẫn tiến vào, BTTM không còn ai, xin Tổng thống quyết định.
“Tướng Minh trả lời “các em chuẩn bị bàn giao đi”.
Thiếu tá Tài ngạc nhiên hỏi lại “Bàn giao là như thế nào thưa Đại Tướng, có phải là đầu hàng không?
Tướng Minh đáp “Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập”.
Nghe Tướng Minh cho biết như vậy, Thiếu tá Tài nói ngay “Nếu xe tăng Việt Cộng tiến vào Dinh Độc Lập, chúng tôi sẽ đến cứu Tổng thống”.
Tướng Minh suy nghĩ, Thiếu tá Tài nói tiếp “Tổng thống phải chịu trách nhiệm trước hai ngàn cảm tử quân đang tử chiến với Cộng quân ở Bộ Tổng tham mưu”
Tướng Minh trả lời “Tuỳ các anh em”.
(Vương Hồng Anh, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH Những Ngày Cuối Cùng.)
Ông Dương Văn Minh tuyên bố ngưng bắn thì Lê Đức Thọ ban lệnh cho các Quân đoàn BV không chấp nhận đình chiến và cứ tiến thẳng vào Sài Gòn.
Cộng quân tiến vào Thủ Đô đang bỏ ngỏ làm bốn ngả: Cánh thứ nhất từ Long Khánh theo xa lộ Biên Hoà, thứ hai từ Củ Chi qua Ngã Tư Bẩy Hiền, thứ ba từ Long An kéo lên qua ngả Phú Lâm Chợ Lớn, cánh cuối cùng từ Bình Dương theo xa lộ Đại Hàn vào Hàng Xanh.
Báo Sài Gòn Giải Phóng năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30-4 cho biết đoàn quân vào dinh Độc Lập trước nhất là cánh từ Long An, họ có chụp hình những chiếc xe lội nước PT-76 vào sân dinh và bộ đội thiết giáp CS trên xe nhẩy xuống. Theo tài liệu của ký giả ngoại quốc hoặc do lời kể của các viên chức chính phủ trong dinh Độc Lập thì cánh quân từ Biên Hoà cùng với các xe T-54 đã tiến chiếm dinh Độc Lập trước tiên.
Báo Sài Gòn Giải Phóng và Quân Đội Nhân Dân năm 1976 cho biết người đi đầu là một viên đại uý, được các viên chức tiếp đón tại cửa vào, y hỏi thăm đường lên lầu rồi vội kéo cờ vàng của VNCH xuống để treo cờ Mặt trận lên để chứng tỏ giang sơn này, đất nước này đã hoàn toàn thuộc về CS.
Quân đội CSBV bắt Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng. Theo lời kể của cựu dân biểu Lý Quí Chung thì cả những sĩ quan cấp úy BV khi mới vào dinh cũng quát tháo những người cầm đầu chính phủ và gọi họ bằng anh.
“Các anh phải hàng hết”
Sau khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì các mặt trận quanh Sài gòn đều im tiếng súng chỉ còn một vài trận lẻ tẻ như tại Hố Nai, bốn tiếng sau lệnh đầu hàng, Thiếu Uý Tư, Biệt kích Dù và năm người lính thân tín dùng súng chống chiến xa M-72 phục kích bắn cháy, lật một xe Jeep, một T-54, 2 xe Molotova… rồi chạy thoát hết.
Nghe lệnh đầu hàng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân đoàn II và Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 tự sát. Quân khu IV vẫn còn nguyên vẹn, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam không cho giật sập cầu Long An như Tỉnh trưởng đề nghị. Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó tự tử chiều tối 30-4, hôm sau 1-5 Tướng Nam tự sát lúc 7 giờ rưỡi sáng, Chuẩn tướng Trần Văn Hai Tư lệnh Sư đoàn 7 cũng tự vẫn. Ngoài ra có nhiều người tuẫn tiết trước ngày tàn của đất nước như Thiếu tá Đặng Sĩ Vinh thuộc BTL Cảnh sát Quốc gia tự sát lúc 2 giờ chiều 30-4 cùng vợ và 7 người con tại nhà riêng. Trung tá Vũ đình Duy, Trung tá Nguyễn Văn Hoàn thuộc Đơn vị 101 tự sát… Nhiều quân nhân Biệt kích Dù cũng như nhiều binh chủng khác đã mở lựu đạn tự tử thất vọng chán nản vì mất nước. Nhiều người tự sát ngoài mặt trận như Trung tá Nguyễn Hữu Thống Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 (Sư đoàn 22) khi tầu Hải quân vào Qui Nhơn cứu đám tàn quân của Sư đoàn cuối tháng 3-75 , Trung tá Thống từ chối di tản ở lại tự sát.
Tháng 4 năm 2006 một cựu sĩ quan tham mưu của Quân đoàn IV (VNCH) tiết lộ ngày 30-4-1975 họ đã dự định hành quân qua Miên sang Thái Lan hoặc ra Phú Quốc lập phòng tuyến chống lại CS, cũng có người cho rằng Quân khu IV chờ chính phủ Sài Gòn dời xuống để tiếp tục chiến đấu nhưng TT Dương Văn Minh lại đầu hàng địch. Theo lời kể của Trung uý Danh, tuỳ viên của Tướng Nam thì ông là người nhân ái, sùng đạo Phật không muốn đổ máu.
“Là một tư lệnh Quân đoàn, đã nắm trong tay nhiều đơn vị trung thành, tướng Nguyễn Khoa Nam có thể ra lệnh tiếp tục chiến đấu, nhưng là vị tướng có lòng nhân ái, không muốn binh sĩ và đồng bào đổ máu vô ích, ông không cho phá cầu, ông không muốn có người chết thêm”
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bút ký của Trung úy Lê Ngọc Danh.
Nhận xét về Tướng Dương Văn Minh nhiều người hồi đó cũng như bây giờ chỉ trích chê bai ông là kẻ đầu hàng địch, dâng nước cho CSBV, nhưng cũng có nhiều người tán đồng quyết định củaTướng Minh cho rằng tiếp tục chiến đấu sẽ chỉ gây thêm tang tóc đổ máu vô ích không hy vọng gì cứu vãn tình thế. Sau khi ra định cư tại Hải ngoại, Tướng Dương Văn Minh đã trả lời phỏng vấn:
“Tôi không cứu được nước nhưng tôi phải cứu dân”.
Theo Tướng Vanuxem, sáng 30-4-1975 Trung Tướng Vĩnh Lộc báo cáo với ông Dương Văn Minh tình hình mặt trận, ông xoè bàn tay cho biết đã hỏng hết rồi, Sư đoàn 25 tại Củ Chi và Sư đoàn 18 tại Thủ Đức bị tan rã hoặc rút lui, các lữ đoàn Dù và TQLC tại Vũng Tầu mất liên lạc, Sư đoàn 5 tại Lai Khê đang bị bao vây… Cộng quân đã vào tới Ngã Tư Bảy Hiền đang giao tranh với Biệt Cách Dù.
Sau 30-4-1975, Thủ trưởng trường học tập cải tạo Long Thành cho biết Dương Văn Minh đầu hàng vì ông đã thua hết cả, nếu lực lượng còn mạnh chưa chắc ông ta đã chịu cho buông súng.
BV bắt đầu mở chiến dịch tấn công Sài Gòn từ 26-4- 1975, bốn ngày sau phòng tuyến của VNCH sụp đổ. Trước khi Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống người ta đã đoán biết công việc của ông chỉ là để đầu hàng. Một viên chức hành chánh thân cận của ông Trần Văn Hương sau này tiết lộ hồi đó ông Hương cho biết người ta đã sắp đặt sẵn để ông Thiệu bàn giao cho ông Hương rồi ông Hương bàn giao cho ông Minh, ngay cả việc Dương Văn Minh yêu cầu cơ quan Tuỳ viên quân sự DAO Mỹ rút lui cũng là do người ta sắp đặt cả.
Khi Dương Văn Minh đang làm lễ bàn giao ngày 28-4 thì đài BBC đã nói.
“Hôm nay tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh được cử giữ chức vụ Quyền Tổng thống do ông Trần Văn Hương trao lại để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng”
Trong phim VietNam a Television History (Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình) do các ký giả, sử gia Mỹ, Anh, Pháp thực hiện đã được chiếu ở VN giữa thập niên 80, Chuẩn Tướng không quân Phan Phu Tiên trả lời phỏng vấn và kết luận.
“Chúng tôi là cấp lớn mà bỏ chạy đi như thế này thì cũng nhục nhã lắm nhưng mọi việc người ta đã sắp đặt sẵn cả rồi, dẫu muốn gì cũng đành bó tay không thể làm hơn được”
Khi hai ông Thiệu và Khiêm ra đi hôm 24-4-1975, quân dân hoàn toàn thất vọng , họ thừa hiểu số phận của miền Nam như thế nào, lại nữa hai hôm sau, Tổng Thống Trần Văn Hương hiệu triệu đồng bào về tình hình vô cùng bi đát của đất nước, ông đã khóc lóc trên làn sóng điện về viễn ảnh “núi xương sông máu của thành phố Sài Gòn” khiến cho người dân ai nấy hồn lạc phách siêu, chuyện bí mật Quốc gia đã được công khai tuyên bố trên đài phát thanh.
Quân đội VNCH không đủ lực lượng để chống lại gần 20 Sư đoàn Cộng quân và vì tiếp liệu đạn dược kiệt quệ. Đài BBC Luân Đôn cũng tuyên truyền phá hoại khiến binh sĩ thất vọng. Lực lượng phòng thủ dần dần rã ngũ, một số đơn vị cảm tử chiến đấu tới cùng nhưng cũng không thể chống nổi lực lượng quá đông đảo của BV.
Trận đánh cuối cùng đã kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương chỉ kéo dài có mấy ngày từ 26-4 cho tới 30-4 -1975, cũng vào ngày này 30 năm trước đó, năm 1945 tại Bá Linh quân Đức đầu hàng Nga. Sài Gòn tái diễn lịch sử nước Đức Thế Chiến Thứ Hai, có khác chăng tại Bá Linh giới lãnh đạo không bỏ trốn và ép buộc quân đội của họ chiến đấu tới người lính cuối cùng.
Kể từ ngày Cộng quân đánh chiếm quận Đức Lập ngày 9-3-1975 và Ban Mê Thuột ngày 10-3 để mở đầu cuộc Tổng tấn công cho tới ngày 30-4-1975, ngày kết thúc chỉ vỏn vẹn có năm mươi mấy ngày.
Võ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công quân Pháp tại Hà Nội nửa đêm 19-12-1946 là ngày khởi đầu cuộc chiến tranh dài nhất của thế kỷ đến trưa ngày 30-4-1975 là ngày kết thúc tính ra đã được ba mươi năm và Việt Nam đã trở thành bãi chiến trường tan nát vì bom đạn.
Những kẻ đã gây lên cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn núi xương sống máu sẽ đời đời đắc tội với Non sông Tổ quốc.
Trận chiến tại Cầu Tân Cảng ngày 28-4-1975
 https://youtu.be/S3T9sLq6Jwk

Trọng Đạt
Tham Khảo
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam.
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.
Đoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990.
Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng, Nam Việt 2006
Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.
Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.
Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing
Dương Đình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi dậy Mùa Xuân 1975, Nhà xuất bản Tổng Hợp T.P.H.C.M 2005.
Văn Tiến Dũng: Đại thắng Mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HàNội 2005
Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 2005.
Trần Quang Khôi: Chiến Đấu Đến Cùng: Vai Trò Của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và Lực Lượng Xung Kích QĐ III Trong Năm Ngày Cuối Của Cuộc Chiến Việt Nam. Nguoivietboston.com .
Phạm Bá Hoa: Giờ Thứ 25, Người Việt Dallas, số ngày 21-8-2009.
Trần Văn Đôn: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối, Trích trong Hồi ký Việt nam Nhân Chúng.
Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.
Motgoctroi.com: Đài VOA Ngày 2-7-2007: Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ (Laird) :Việt Nam Cộng Hoà Thua Trận Vì Bị Mỹ Cằt Viện Trợ.
Motgoctroi.com: Vương Hồng Anh: Những Ngày Cuối CủaViệt Nam Cộng Hoà,
Nguồn: http://namviet.net/blog-thoisu/tran-danh-cuoi-cung-sai-gon-that-thu/#.V6iYsRJPSaQ

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2016

Nghệ sĩ Kim Tuyến: "Tôi chọn tự do và không hối tiếc" (Phần 1)

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
2016-08-07

hqdefault.jpg
Nghệ sĩ Kim Tuyến.
Youtube screenshot
Tình cờ gặp được chị Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa… Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.
Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính nằm vùng.
Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm suy nghĩ. Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không bao giờ có thể lành.
Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng trong chế độ XHCN.
Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn ấy.
Tôi giữ lại câu chuyện này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu bối, và cũng sẵn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính khác gửi đến, trong tinh thần sẵn sàng rộng đường dư luận.

Chạy trốn văn nghệ

Tuấn Khanh: Thật bất ngờ khi gặp lại chị ở Mỹ, đặc biệt là qua trường hợp chị nói rất thẳng thắn với nghệ sĩ Kim Cương, về những hoạt động không có tính cách văn nghệ của bà. Có vẻ như còn rất nhiều thứ về cuộc đời mình mà chị chưa có dịp chia sẻ với khán giả. Nếu không bất tiện, chị có thể cho biết sau ngày 30-4-1975, cột mốc của đời chị đã như thế nào?
Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước???
- Nghệ sĩ Kim Tuyến
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kêu gọi của Đài Phát Thanh Sài Gòn (quân cán chính phải đến trình diện), tôi đến sở làm là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị trình diện. Đến nơi tôi thấy một đống rác khổng lồ ngay lối cổng ra vào và đầy cả trong sân. Bỗng có người nói: "Không phải ở đây mà phải trình diện ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) ở đường Thống Nhất".
Đến Tổng Cục CTCT, anh Vân Sơn (ban AVT) giúp tôi lấy tờ đơn khai lý lịch từ một cán bộ cộng sản đưa cho tôi. Tôi đang điền vào thì một cán bộ khác bước ra nói: "Các ban nhạc trong Nam này chỉ có vài nhạc công, ngoài Bắc chúng tôi có cả trăm nhạc công ấy." Tôi hơi bực nói : "Nhưng sao ca sĩ các anh hát giống tiếng Tàu quá, chỉ nghe chí chí chéo chéo không hà, chúng tôi không hiểu gì cả."
Nhìn vào tờ khai lý lịch, tôi nhanh trí điền vào hai chữ “tài xế” ở phần nghề nghiệp. Xong mọi thủ tục, anh Vân Sơn đưa tôi đến trước cổng Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Anh Vân Sơn chào từ giã với gương mặt thật buồn. Về sau tôi được tin anh Vân Sơn đã nhảy xuống sông Thị Nghè tự tử vì bất mãn với chế độ.
Sau đó theo lời kêu gọi của chị Kim Cương, tôi đến họp tại Hội Nghệ Sĩ. Rất đông các cô chú và anh chị nghệ sĩ tân cổ tụ tập bên hông trụ sở và phía sân sau. Khi thấy tôi và nghệ sĩ Tùng Lâm ngồi trò chuyện, chị Kim Cương ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói "Chị ơi em buồn quá". Chị Kim Cương kéo đầu tôi ngả vào vai chị, một tay vuốt tóc vỗ về: "Đừng buồn em, chị em mình rồi sẽ được giải phóng ra khỏi bốn bức tường". Tôi sững sờ nhìn chú Tùng Lâm. Chị Kim Cương nói lớn "Mọi người vào trong, đến giờ họp. Chị nắm tay tôi, kéo tôi theo chị vào phòng họp. Chị ngồi vào đầu bàn chủ tọa. Chị dõng dạc tuyên bố: "Ngày xưa bọn Thiệu Kỳ bán nước còn hiện diện trên quê hương ta, tôi phải núp dưới danh nghĩa Làng Cô Nhi Long Thành. Hôm nay chúng ta đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Tôi ra lệnh cho anh Nguyễn Đức (nhạc sĩ) lập những tiểu tổ để chúng ta thành lập Biệt Đội Văn Nghệ ..." Chú Tùng Lâm nghiêng đầu nói nhỏ vào tai tôi: "Tuyến, khóc nữa đi con, mầy khóc nữa đi con".
Tôi thất vọng não nề. Trong khi chị Kim Cương thao thao bất tuyệt, tôi không còn nghe hay không muốn nghe gì nữa cả. Trời ơi, thần tượng sụp đổ! Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước???
Vài tuần sau, tôi gặp bác Bảy Nam, mẹ của chị Kim Cương, đi xích lô máy ngừng trước nhà. Thấy tôi Bác hỏi : "Kim Tuyến, con đi đâu đây?". Tôi chào Bác và trả lời "Dạ, đây là nhà con". Bác nói tiếp: "Bác vào thăm ông Trần Tấn Quốc, vì nghe ổng sắp dọn về Cao Lãnh ẩn dật. À, con có nhận được thơ của chị Kim mời con tham gia ban kịch không? Chị Kim thích con đóng kịch với chị lắm. Ngày phát role (*chọn người vào vai) chị Kim chờ con quá trời". Tôi chỉ còn biết đáp: "Dạ... Dạ... tại con bịnh".
Sau đó mấy ngày Má Bảy Phùng Há nhắn tôi đến nhà. Bà mặc áo dài chờ tôi, Bà cho biết Bà muốn đưa tôi lên Sở Thông Tin Văn Hóa trình diện để hát cho đoàn Sài Gòn 1 với nghệ sĩ Thành Được. Trước đó tôi luôn được Má Bảy mời hát chánh cho ban cải lương Phụng Hảo và Vân Kiều trên TV với anh Thanh Sang, và lần sau cùng với anh Thành Được tuồng Cạm Bẫy Đô Thành của soạn giả Ngọc Điệp. Má Bảy bảo tôi về thay áo dài cho đàng hoàng, "cách mạng không thích ăn mặc như vậy đâu con", vì tôi đang mặc quần ống loa và áo thun màu vàng với chữ Have a nice day, áo bỏ trong quần, đeo dây belt to tướng. Tôi chào Má Bảy, trở về nhà tôi, và trốn luôn Má Bảy.

Cuộc sống nghệ sĩ sau 30/4/1975

Tuấn Khanh: Nhưng rồi sau 1975, chị có tiếp tục sinh hoạt văn nghệ bình thường không? Những ngày đó như thế nào?
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Sau ngày 30/04/1975, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ miền Nam hầu như thất nghiệp hết. Cứ một hoặc hai ngày là có ba người bộ đội mang dép râu đi vào nhà tôi, ngang nhiên đi từ trước ra sau, rồi ngồi chồm hổm trên salon và nói là "Chúng con đến thăm Mạ (Mẹ tôi)". Lần lượt cán bộ, rồi tới 'Cách Mạng 30' (*thành phần hưởng ứng với chế độ mới ngay sau ngày 30-4) kéo tới nhà tôi kêu gọi tôi tham gia. Họ bảo: "Chị là nghệ sĩ nên sẽ có tác động lớn đối với quần chúng, chị sẽ ca hát và hướng dẫn quần chúng. Mới giải phóng nên cách mạng còn nghèo. Chúng tôi sẽ cấp cho chị một chỗ ngủ nghỉ tại trụ sở ngoài đường Lê Quang Định, nơi chúng tôi tịch thu của bọn bám chân đế quốc Mỹ, chúng tôi cung cấp cho chị một bữa ăn cho một ngày..." Tiền lương thì không có.
Họ yêu cầu tôi theo họ ra Quận và định chở tôi bằng xe đạp. Tôi bảo họ cứ đi trước, tôi sẽ chạy xe theo. Quận của họ là bãi đất trống ngay ngã 5 Bình Hòa. Một nhóm người, già trẻ bé lớn đứng bao quanh một thanh niên nhỏ con, ốm nhách đang ôm cây đàn, vừa hát vừa chỉ dẫn tất cả hát và diễn tả bằng chân: "Ta lên giây đàn... từng tưng...". Mọi người nhìn theo anh này, cùng hát cùng co chân, đưa đầu gối cao ngang bụng, hai tay cũng làm bộ như đang cầm cây đàn. Tôi thầm nghĩ “trình diễn kiểu gì mà giống như một bầy khỉ đột vậy?” Tôi cảm thấy xấu hổ cho cậu thanh niên, và tội nghiệp cho những người dân đang bị bắt làm những trò quái đản. Mặt tôi nóng bừng, tay chân tôi lạnh, chắc là bị lên máu. Tôi nói với anh cán bộ là tôi bị bệnh rồi và tôi phải về nhà chữa bệnh gấp.
Cả xóm nhà vùng tôi ở rất bực mình vì những cái loa tuyên truyền láo khoét. Mới hừng sáng loa phát rùm lên kêu mọi người thức dậy tập thể dục, nghe rất chói tai nhức óc. Có lần họ cho người đến từng nhà trong xóm kiểm kê xem nhà có cầu tiêu không? Loại nào? Ngồi bàn hay ngồi chồm hổm có cái lỗ?
Tuấn Khanh: Hoàn cảnh chị như vậy, nhưng bạn bè quen biết trong nghề thì thế nào? Họ có gặp những nghịch cảnh như chị không hay mọi thứ dễ dàng hòa nhập hơn?
000_ARP4137967.jpg
Người Việt tị nạn trên một tàu hải quân Mỹ ngoài khơi bờ biển của Việt Nam vào cuối cuộc chiến tranh Việt Nam. Ảnh phát hành vào ngày 5 Tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO.

Nghệ sĩ Kim Tuyến: Tôi có người bạn tên Mai, nhà chị ở đường Ngô Tùng Châu, Gia Định. Một dịp tôi đến nhà chị thì thấy một nhóm công an phường ngồi đầy nhà. Chị nói nhỏ với tôi là họ ngang nhiên vào nhà, họ còn tự động lấy thức ăn trong tủ lạnh. Tôi bênh bạn nói: "Chị này ở một mình, không có chồng, tại sao các anh tự nhiên vào nhà người ta vậy?" Họ đáp "À, thì chỉ là đến thăm chị Mai thôi". Tôi chợt nhớ đến chị bạn có chồng nhạc sĩ cổ nhạc đang là quân nhân của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và đang có nhà trong khu gia binh, tôi hỏi: "Mấy gia đình vợ con lính VNCH sống trong trại gia binh, bây giờ có được tiếp tục ở không?" Tên Ba Tấn, mặt mày gian ác, trả lời: "Chúng đã tiếp tay cho bọn Thiệu Kỳ bán nước, chúng không có quyền ở". Tôi hỏi: "Vậy ai sẽ ở?" Hắn đáp: "Chúng tôi, những người có công với cách mạng". Tôi nói tiếp: "Theo tôi, các anh là cách mạng giải phóng miền Nam, nên dành những căn nhà đó và các biệt thự của cái bọn mà các anh cho là bám chân đế quốc Mỹ bỏ lại, đem cấp cho các người nghèo khổ đang ở gầm cầu xó chợ. Còn các anh nên che chòi ở thì dân chúng sẽ phục các anh vô cùng. Các anh vào ở các nhà này tôi e dân chúng sẽ nghĩ lầm về cái từ giải phóng của các anh. Còn xe tăng, xe nhà binh, máy bay của đế quốc Mỹ bỏ lại, các anh nên bắt chước Campuchia đốt bỏ hết đi, đừng nên xài bất cứ cái gì của Mỹ Ngụy để lại".
Ba Tân tức giận gọi đồng bọn. Mấy chiếc xe mô tô hụ còi rầm rộ chạy đến, chĩa súng bắt tôi giải đi về phường. Đến chiều, một thanh niên trẻ ôm 1 tập giấy tờ mở cửa sắt vào gặp tôi. Em có vẻ ngạc nhiên nói: "Trời! Chị Tuyến, sao chị vào đây? Em là Đạt bạn của thằng em chị, em học ở Đạt Đức. Em có đến nhà chị hoài mà không gặp chị, chị đi hát hoài nên không biết em". Rồi Đạt hỏi tôi chuyện gì xảy ra và Đạt đề nghị tôi viết vào một tờ giấy, nhận rằng mình không hiểu rõ đường lối của cách mạng, xin lỗi cách mạng, ký tên, rồi Đạt sẽ trình cấp trên và họ sẽ thả tôi. Tôi không chịu viết vì nghĩ mình không có tội gì cả. Đạt khuyên tôi: "Họ đã ghi vào hồ sơ và buộc chị vào tội phản động, họ sẽ đưa chị đi xa lắm... Hay là vầy, em viết gì kệ em, chị chỉ ký tên vào, họ sẽ thả chị ra". Nghĩ đến con, đến Má tôi và các em rất cần tôi, tôi ứa nước mắt ký vào.
Vài ngày sau, anh Vinh từng là quản lý của các đoàn cải lương trước 1975 đến nhà tôi và cho biết Cục An Ninh Nội Chính mời tôi về làm đào chánh cho đoàn. Tôi nói với anh Vinh: "Nếu thương em, xin anh về nói với họ là em đang bệnh. Anh biết không, vì cái cục R này mà em bị lên tăng xông, bệnh gần chết".
Vài tuần sau, chị Bạch Lan Thanh đến nhà mời tôi đi hát với nghệ sĩ Tùng Lâm và anh Giang Tử, do anh Tony Quang ảo thuật gia tổ chức. Chương trình văn nghệ bỏ túi có ca tân cổ, có kịch, có ảo thuật và xiệc. Trong đêm trình diễn ở 1 quận ở miền Tây, có cả bộ đội mang dép râu, ngồi chồm hổm trên những băng ghế dài bằng cây, xem có vẽ thích thú vỗ tay và yêu cầu tôi hát tân cổ bản "Những Đồi Hoa Sim", rồi "Tình Đầu Tình Cuối", và "Tình Đời" song ca với Giang Tử. Sau đó là phần ảo thuật và hài kịch.
Vãn hát xong, thì Thông Tin Văn Hóa xuống họp với chúng tôi. Một cán bộ với giọng Bắc nói: "Sao tên của Tùng Lâm và Kim Tuyến to thế? Ngoài Bắc chúng tôi không có cá nhân đấy nhé. Yêu cầu anh Tùng Lâm đừng diễu nữa nhé". Tôi nghĩ thầm: “Danh hài mà không cho diễu là sao?”Mọi người yên lặng, tôi lên tiếng: "Xin lỗi anh, anh tên gì?" Anh ta đáp: "Chị cứ gọi tôi là anh Ba". Tôi nói tiếp: "Anh Ba, theo tôi có lẽ ca nghệ sĩ văn công ở ngoài Bắc hát được nhà nước trả lương. Nhưng ở đây là do tư nhân tổ chức, cần bán vé vào cửa, nên phải quảng cáo tên nghệ sĩ để khán giả biết mà mua vé vào xem, nhờ đó chúng tôi mới có chén cơm". Anh Ba nhìn tôi lên giọng: "Yêu cầu chị Kim Tuyến và anh Giang Tử không được mặc đồ Mỹ Ngụy mà phải mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn giống Bác ấy". Trước khi ra về, có hai cán bộ đứng dậy đặt tấm giấy lên bàn, nghiêm giọng nói: "Yêu cầu chị Kim Tuyến hát bài này". Tôi nhìn vào, thấy dòng chữ: Vọng Cổ Bà Mẹ Việt Nam bắn Mỹ cứu quốc. Khi họ đi rồi tôi nói: "Chú Lâm, chắc con nghỉ hát". Các em trong ban nhạc nhốn nháo: "Chị Tuyến về, tụi em cũng ôm đàn về luôn".
Tối hôm đó tôi trở về căn nhà của dân do Tony Quang mướn. Bước ra phía sau nhà, tôi thấy chú Tùng Lâm ngồi bó gối trầm ngâm bên chai rượu dưới ánh trăng. Tôi ngồi xuống, bưng chai rượu uống một hơi, dù tôi không hề biết uống rượu, uống để chia sớt nỗi đau với chú, và uống để cho vơi đi nỗi uất hận và tủi nhục mà kẻ chiến thắng muốn áp đặt quyền dạy dỗ chúng tôi. Niềm đau tủi đã dâng trào... Hai chú cháu gục đầu vào nhau khóc nức nở. Hôm sau tôi từ giã chú Lâm, về lại Sài Gòn và tìm cách vượt biên.
Những ngày đầu sau 30 tháng Tư, tôi thấy TV phát hình vở cải lương hồ quảng của các nghệ sĩ miền Bắc. Họ không có đôi hài để mang, họ mang dép râu, trang phục rất nghèo nàn. Có một vở kịch mà diễn viên mặc áo đầm Liên Xô nói về điện Cẩm Linh chiếu trên TV và các ca nghệ sĩ phải chào cờ của Liên Xô. So sánh với miền Nam, các nghệ sĩ cải lương hồ quảng ăn mặc rất đẹp. Các kịch sĩ không hề diễn kịch về Tòa Bạch Ốc và chúng tôi không hề phải chào cờ Mỹ. Chúng tôi làm việc cho Ban văn Nghệ Hoa Tình Thương/ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và cơ quan thông tin JUSPAO, chúng tôi chỉ hát những bài ca ngợi quê hương, tình yêu và ca ngợi sư hy sinh của những chiến sĩ VNCH, chứ không hề có những bài ca sắc máu kiểu Cộng Sản "Thề phanh thây uống máu quân thù".
Tuấn Khanh: Với nghệ sĩ thì như vậy, chung quanh chị, còn những người Sài Gón khác ra sao? Chị có còn nhớ một vài điều gì đáng nhớ vào thời điểm đó?
Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản. Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê hương của mình.
- Nghệ sĩ Kim Tuyến
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Một buổi trưa, nằm nghe tiếng hát lạ: "Thăm thẳm chiều trôi... khuya anh đi rồi sao trời đưa lối..." tiếng hát đầy xúc cảm như muốn xé cả ruột gan. Tôi bước ra lan can nhìn xuống đường ngay gốc cây trước nhà tôi, một người đàn ông mặc quần lính VNCH và chiếc áo thun cũ, cụt 2 chân, đang ôm đàn hát... Tôi xúc động rơi nước mắt nhớ lại những ngày hát cho các anh chiến sĩ tại các tiền đồn Pleiku, Kontum, Bệnh Viện Cộng Hòa, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh... Hình ảnh quá đau xót của những thương phế binh bị đuổi khỏi bệnh viện đi qua nhà tôi trong buổi chiều 30/04/1975, hình ảnh một người đàn ông ngã quỵ trước cửa trong đêm tối, tôi và các em tôi phụ đưa anh vào nhà, nấu nước trà gừng và pha sữa, rồi cạo gió cho anh, lúc anh tỉnh dậy chúng tôi mới biết anh là lính VNCH. Hôm sau, lại một phụ nữ ngã gục trước nhà tôi vì đói quá, chúng tôi giúp chị qua cơn đói.

“Xa lạ và cô đơn trên chính quê hương mình”

Tuấn Khanh: Được biết chị vượt biển đi từ rất sớm, đến Mỹ, chị có gặp lại đồng nghiệp và nối lại nghề diễn của mình?
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Tôi vượt biên vào cuối năm 1978 với gia đình, đứa con nhỏ nhất của tôi mới 10 ngày tuổi. Chuyến vượt biển hãi hùng như bao nhiêu nạn nhân vượt biển khác. Cuối cùng chiếc tàu nhỏ bị lật vì sóng to và đụng đá ngầm trước khi vào đến bờ biển Mã Lai, làm cho một số người chết. Gia đình tôi may mắn được cứu thoát và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.
Những ngày đầu đến Mỹ, tôi cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Tôi đến trường học tiếng Anh. Chị Túy Hồng là người đầu tiên mời tôi hát trên đất Mỹ. Tôi dành một buổi hát tại Los Angeles cho anh Bảo Ân. Sau đó lịch trình diễn của tôi khá bận rộn: hát gây quỹ cho Chùa, Nhà Thờ, Kháng Chiến... hát cho các phòng trà, vũ trường, đại nhạc hội... thu video cho nhiều vở kịch và tuồng cải lương và các bài tân nhạc, trình diễn nhạc kịch cho NS Hoàng Thi Thơ, trình diễn văn nghệ tại Âu Châu và các nước Canada, Nhật Bản, Úc…
Tuấn Khanh: Đã có lúc nào chị quay lại Việt Nam, để nhìn lại, nhớ lại?
Nghệ sĩ Kim Tuyến: Tôi có trở về Việt Nam sau khi Mẹ tôi mất năm 2010, lý do là lo giải quyết tro cốt của Ba tôi để lại từ năm 1973. Trong thâm tâm tôi nguyện lo xong là không bao giờ muốn trở về khi chế độ cộng sản vẫn còn trên quê hương Việt Nam. Trong chuyến đi này tôi có gặp lại vài người bạn thân quen từ thuở nhỏ, những người bà con và vài người bạn đồng nghiệp. Lúc tạm trú tại một khách sạn tại Sài Gòn tôi gặp những người làm việc ở đó nói toàn giọng Bắc mới sau 1975 rất khó nghe.
Hầu như những người Bắc 75 đã vào chiếm cứ hết những căn nhà mặt đường khu thương mại của Sài Gòn, trong đó có ngôi nhà trước kia của tôi. Sài Gòn trở nên quá chật chội, lưu thông tắc nghẽn, khói bụi mịt mù, không tôn trọng luật lệ, cảnh sát giao thông làm tiền trắng trợn. Đạo đức suy đồi, tham nhũng tràn lan. Không có một quốc gia nào trên thế giới mà muốn vào hoặc ra khỏi phi trường là phải nộp tiền mãi lộ nếu muốn được yên thân. Đi đâu tôi cũng thấy biểu ngữ: "Quyết tâm làm sạch đường phố"... hết 'quyết tâm' này đến 'quyết tâm' kia, hết 'phường văn hóa' đến 'khóm văn hóa', mà cán bộ và công an thì đối xử với dân rất vô văn hóa. Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản. Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê hương của mình.
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm RFA.
 Biến cố 30 Tháng 4 qua âm nhạc
https://youtu.be/B6GbhRNcOAM

 

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/blog/blog-tuankhanh-080716-08072016132959.html