Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

Bà quả phụ 'Mũ Đỏ tên Đương' tìm về Đồi 31 Hạ Lào.

 Hành quân Lam Sơn 719 Nam Hạ Lào

Đại Úy Đương: "Anh không chết đâu em! " - Thanh Lan & Nhật Trường 

https://youtu.be/YzdYKqfGS0U


Bà quả phụ 'Mũ Đỏ tên Đương' tìm về Đồi 31 Hạ Lào.
Huỳn Mai St.8872- Chiến hữu cùng chiến tuyến, mặt trân Hạ Lào

Xin cảm tạ ơn bà đã đưa tôi trở lại' chiến trường năm xưa '. Qua đoạn Video clip, cảnh vật hoang vắng, và địa hình hiểm trở chết người vẫn còn đó, nhưng người chiếm sĩ năm xưa đã chết rồi...!. Bà ơi!, năm xưa các chiến hữu tôi gọi là là ' đồi máu ', Chúng tôi đã bắt tay nhau...khi tái chiếm lại ngọn đồi, nhưng không còn gặp mặt lại Đại Úy Đương- Người chịu trách nhiệm pháo hành yểm trợ cách quân tấn công của tôi, cho sự san bằng lô cốt, bải mìn của quân đội Mỹ...đã để lại cho Cộng quân Bắc Việt trong đợt bàn giao lầm lộn căn cứ Hỏa lực 6 , theo kế hoạch " Việt Nam hóa chiếm tranh " Dù, vô tình, hay có tính toán, thì quân đội Mỹ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước cái chết, cũa cố Đại Úy Đương do hành vi phản chiến..' .thiếu tư cách quân sự ' của đồng minh phản bội Hoa Kỳ.?!!
Đại Úy Đương, xin anh hãy yên nghỉ. Lịch sử còn đó, và mọi người dân Miền Nam VN không bao giờ lãng quên anh- " Anh Không chết đâu anh " khi dân còn thiết tha với Tụ Do VN. Xin được hãnh diện chia sẻ cùng bà quả phụ tên Đương... Đã cống hiến cho Tụ Do Việt Nam một người chồng; một người cha " Ngàn đời Tự Do Việt Nam !!! "- Huỳnh Mai St.8872 { Trên cùng chiến tuyến mặt trân Hạ Lào }
 https://youtu.be/JCFi2UoFdoQ

 Nguoi-Viet
Hôm qua lúc 12:28 ·

Sau khi được cộng đồng người Việt ở hải ngoại giúp đỡ, trưa 12 Tháng Tư, 2016, bà quả phụ cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, tức Trần Thị Mai, và người con trai út Nguyễn Viết Xa đã có chuyến đi từ Sài Gòn đến đồi 31, Hạ Lào, nơi “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương” hy sinh.

Buổi trưa hôm ấy, anh Nguyễn Viết Xa cũng chay xe ôm, nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay anh chở vị khách đặc biệt, là mẹ của mình, thẳng tiến phi trường Tân Sơn Nhất, bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn để sang vùng đất nơi thân phụ mình nằm lại.

Máy bay vừa cất cánh, bà Mai quay sang chúng tôi nở nụ cười: “Ðây là lần đầu cô đi máy bay, nên cảm giác hơi run. Nhưng cứ nghĩ sắp được đến Hạ Lào là vui lắm.”

Ngồi bên cạnh bà Mai, anh Nguyễn Viết Xa cũng vậy. Khuôn mặt hiền lành, nhìn cái gì trên máy bay cũng đều lạ lẫm. Có lẽ suốt hàng chục năm qua, ước mơ một lần được ngồi máy bay của vợ con người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương mới thành hiện thực.

Tỉnh Quảng Trị có ranh giới với Hạ Lào, không có phi trường, chúng tôi mua vé bay ra phi trường Phú Bài của Huế, rồi từ đó bắt xe đi Quảng Trị, men theo đường tỉnh lộ 9 sang biên giới nước Lào qua cửa khẩu Lao Bảo.

Ðón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là hai người quen mà phóng viên Người Việt đã liên lạc từ trước. Họ đều là người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở Lào và nói được tiếng Lào sành sỏi. Khi nghe tin báo Người Việt đề cập đến việc đưa bà Mai sang vùng Hạ Lào, họ vui vẻ bỏ công việc và bắt xe để giúp đỡ cuộc hành trình mà chúng tôi đang hướng đến.

Ðường đến Hạ Lào


Từ Phú Bài, Huế, đến cửa khẩu Lao Bảo khoảng 200km, chiếc xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên quốc lộ 1A, đi tới địa phận tỉnh Quảng Trị, qua con sông lịch sử Thạch Hãn khoảng 20km là có con đường số 9, bên tay trái. Rẽ vào đó và thẳng tiến khoảng 90km là đến cửa khẩu Lao Bảo.

Trên đoạn đường số 9 này, đoàn chúng tôi ghé lại khu vực Khe Sanh, nơi chiến trường khốc liệt trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, thắp nén nhang tưởng niệm các tử sĩ VNCH, cũng như các quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở khu vực đồi núi này.

Con đường 9 ngoằn ngoèo, băng qua những vùng đồi núi trập trùng đầy cây xanh. Ðến cửa khẩu Lao Bảo đã 5 giờ chiều, làm thủ tục xuất và nhập cảnh xong là trời tối đen như mực. Hạ Lào đón chúng tôi bằng một cơn mưa tầm tã.

Hạ Lào là một vùng quê miền núi nghèo khó, nguồn thu nhập của người dân ở đây chủ yếu từ cây chuối. Tìm một khách sạn đầy đủ tiện nghị ở đây còn khó hơn lên trời. Chúng tôi tìm mãi mới ra được một khách sạn, hay nói đúng hơn là một nhà nghỉ ven đường, vì phòng chỉ có một chiếc quạt gọi là& tiện nghi. Ngoài ra không có vật dụng gì khác.

Thời tiết ở đây khắc nghiệt, ban đêm trời lạnh và ẩm ướt bởi sương mù. Nhưng ban ngày rất nóng bởi ánh nắng mặt trời và nguồn gió Lào khô khan.

Ðêm đó, nói chuyện với chủ khách sạn, chúng tôi biết được 2 ngày nữa là ngày Tết chính thức của người Lào. Người dân đang chuẩn bị đón tết, nên chợ búa, hàng quán không buôn bán gì. Bởi vậy việc tìm khách sạn đã khó, mà việc tìm thức ăn còn khó hơn.

Cuối cùng mọi người ăn món “xôi hấp thịt gà nướng,” món đặc trưng của người dân nơi đây. Bà Mai lại là người ăn chay trường, bởi vậy chỉ có thể ăn một ít xôi với phần lương khô chay, mà bà đã chuẩn bị sẵn mang theo.

Gian khó là vậy, nhưng khi được hỏi “cô có mệt không?” Bà trả lời: “Có gì đâu mà mệt, cứ nghĩ sáng mai được đến đồi 31 là hết mệt. Cảm xúc của cô bây giờ cứ vui buồn lẫn lộn. Vui vì sắp được chứng kiến nơi anh Ðương đã hy sinh. Nhưng buồn vì có lẽ khó mà tìm được xương cốt của ảnh.”

Rồi bà tiếp tục cầm tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Tôi nhìn bà, nét khắc khổ hiền hòa của người phụ nữ miền Nam. Trong thời chiến, họ hy sinh ở nhà chăm sóc con cái cho chồng ra chiến trận. Thời bình, họ đứng trước cảnh mất chồng, các con thơ còn quá nhỏ. Thế nhưng họ không bỏ cuộc, tiếp tục cuộc mưu sinh, nuôi dạy con khôn lớn.


Ðồi 31, nơi người lính không về!


Sáng 13 Tháng Tư, đúng vào 30 Tết của người Lào, cả khu thị trấn Tchepone-Hạ Lào vắng hoe. Chúng tôi ghé một quán cà phê cóc ven đường, tình cờ gặp anh Kha, một người Việt đang làm ăn sinh sống ở đây.

Khi được hỏi về đồi 31 Hạ Lào, anh Kha cho biết: “Người dân ở đây gọi vùng đất này là Nam Lào, tôi chỉ biết là có một ngọn đồi, trước 1975 là nơi đóng quân của lính VNCH và lính Mỹ. Hiện nay họ đã làm một viện bảo tàng. Nhưng không biết đây là đồi 30 hay 31.”

Rồi anh chỉ đường cho chúng tôi. Ðó là một ngọn đồi rộng khoảng 10 hecta. Bên ngoài cổng có tấm biển ghi bằng tiếng Lào và tiếng Anh, tạm dịch sang tiếng Việt là “Bảo tàng di sản chiến tích chiến tranh Việt Nam-Lào trên đường 9.”

Khung cảnh hoang vắng, không một bóng người. Nơi đây vẫn còn lưu giữ những chiếc trực thăng của Mỹ, Xe chở quân đội VNCH, súng ống đại bác... Tại đây chúng tôi gặp được anh Xê Phảnh, người Lào, là người bảo vệ ở khu vực này.

Khi được hỏi về đồi 31, anh cho biết: “Ở đây là khu vực đồi 30, khu vực của quân đội Mỹ và VNCH đóng quân trước đây, thuộc huyện Sepone, tỉnh Savannakhet. Còn đồi 31 cách đây khoảng 7km, cũng sát bên đường 9, nó thuộc bản Skiphine.”

“Hiện nay bên đồi 31 chỉ có một cái miếu thờ, người ta đã xây hàng rào bao xung quanh, phải có chìa khóa mới vào bên trong được.” Anh Xê Phảnh vừa nói, vừa chỉ tay sang khu vực vùng đồi 31.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày về mục đích đi đến đây, anh Xê Phảnh ngạc nhiên: “Tôi làm việc ở đây đã hơn 15 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy một phái đoàn thuộc lính VNCH ngày xưa sang đây thắp hương.”

“Các cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam hàng năm vẫn đến đây viếng thăm, nhưng phía VNCH thì không thấy ai? Có lẽ quí vị là người đầu tiên thuộc lính VNCH tìm đến đây để viếng?”

Anh Xê Phảnh cho biết thêm: “Ðồi 31 chủ yếu là lính miền Bắc Việt Nam, chết rất nhiều. Vì Mỹ cho B52 rải thảm ở khu vực đó. Bởi vậy bên đó người ta xây đền thờ lính miền Bắc với dòng chữ ‘Tổ quốc ghi công’. Còn lính miền Nam cũng có chết ở đó, nhưng rất ít.”

Khi chúng tôi đề cập đến việc dẫn phái đoàn qua thăm đồi 31, anh Xê Phảnh tỏ ra lo ngại: “Thật tình mà nói, nếu sếp tôi có ở đây thì các bạn khó mà tự do đến đó (chính quyền đang quản lý khu đồi 31 hiện nay là Ðảng nhân dân cách mạng Lào, rất thân với Ðảng CSVN). Nhưng nay là dịp Tết của người Lào, nên ông ta đã về Viêng Chăn ăn tết cùng gia đình.”

Nghe xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu đi qua Lào vào ngày khác, có lẽ khó mà vào được đồi 31.

Anh Xê Phảnh đưa chúng tôi sang đồi 31. Từ đồi 30, men theo đường 9, hướng về cửa khẩu Lao Bảo-Việt Nam khoảng 7km, sẽ bắt gặp một ngọn miếu thờ bên phía tay trái nằm trên một ngọn đồi hiu quạnh.

Ðồi 31 nằm sát ngay đường 9, khu đất này cao hơn mặt đường khoảng 10m. Tấm bảng bên ngoài bức tường rào, ngay cổng lối đi vào khu đền thờ, ghi bằng cả chữ Lào và Việt Nam với lời lẽ đầy phân biệt đối với chính quyền VNCH.


'Mong anh hãy theo mẹ con em về Việt Nam'


Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.

Cầm tấm hình cố Ðại Úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi cô ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.

Chưa đi tới cổng vào, tự nhiên một trái táo trong món đồ cúng mang theo rơi xuống đất. Bà Mai giật mình đứng lại, hai tay chắp lại, quì xuống vái lạy và miệng lẩm nhẩm: “Anh Ðương ơi, có phải anh muốn báo nơi anh mất chính là ở đây?” Rồi bà òa khóc nức nở.

Thấy thế, anh Nguyễn Viết Xa cũng chạy đến bên mẹ, và hỏi: “Hay là mình cúng ở đây đi mẹ à.” “Ừ, đúng rồi, mình làm lễ thắp hương ở đây đi con. Mẹ cảm nhận cha con đã hi sinh ở nơi này.” Bà Mai trả lời.

Rồi bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”

“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.”

Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về Việt Nam.

Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”

“Khi ba mất con còn quá nhỏ. Bởi vậy con không nhớ gì về thời gian ba còn sống bên con. Chỉ nghe mẹ nói trong 4 anh chị em, ba thương con nhất. Con mong ba hãy an nghỉ, bởi còn có rất nhiều người quí mến ba. Họ đã giúp đỡ con và mẹ rất nhiều trong thời gian qua.”

Trong khi ấy, bà Mai sụt sịt khóc: “Mong anh hãy tha lỗi cho em, vì em chưa làm tròn bổn phận của người vợ. Tâm nguyện của anh, em cũng không hoàn thành. Vì đời sống quá khó khăn, bốn đứa con không đứa nào được ăn học đàng hoàng. Hai đứa cũng đã mất rồi anh à...”

Rồi bà cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.

Sau nghi thức cúng vái, bà Mai đi thắp nhang khắp nơi, xung quanh ngọn đồi 31. Bà đi mà không biết mệt giữa cái nắng chói chang và từng cơn gió Lào nóng khô khốc, hất vào mặt, từng cơn, từng cơn...

“Cô phải thắp càng nhiều càng tốt, không những cho anh Ðương mà còn các đồng đội của anh nữa con à. Họ cũng lạnh lẽo lắm, bao năm qua không ai nhang khói hết!”

Sau đó, bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại Úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Tại đây bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây, trong đó có cả lính bộ đội Bắc Việt.

Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.”


“Tuy khác chiến tuyến, nhưng các anh đều đã hy sinh ở cùng một nơi này. Âu cũng là số phận. Bởi vậy ở thế giới bên kia, mong các anh hãy là những người bạn tốt của nhau, chứ đừng cầm súng mà chĩa vào nhau nữa. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.” Bà Mai gửi lời đến các vong linh.


Mong vợ chồng được ở mãi bên nhau


Sau nghi thức cúng viếng ở đồi 31, mọi người bắt đầu ra về. Bà Mai vui hẳn: “Cô vui vì cô tin là anh Ðương sẽ theo cô về Việt Nam.”

Khi được hỏi, lúc còn sống kỷ niệm nào về Ðại Úy Ðương khiến bà nhớ nhất, bà cho hay: “Tính anh Ðương hay ‘nổ’ (nói dóc) lắm con à. Cô nhớ trước khi đi chiến dịch Lam Sơn, anh Ðương có nói là đợt này đi xong chiến dịch là anh sẽ lên lon thiếu tá.”

“Hồi đó cô nghe chỉ cho vui, cứ nghĩ ổng lại ‘nổ’ nữa rồi. Ai ngờ ổng lên thiếu tá thật. Nhưng có điều sau khi mất mới được vinh thăng. Có lẽ đây là lời ‘nổ’ chính xác nhất của anh Ðương.”

Những mẩu chuyện vừa vui vừa buồn theo suốt chiều dài cuộc hành trình từ Hạ Lào về lại Huế. Chúng tôi lưu trú lại thành phố Huế một đêm.

Ðêm duy nhất ở Cố Ðô, chúng tôi lại có một kỷ niệm đẹp khi mọi người cùng đi ăn tối. Chúng tôi bất ngờ được anh Lê Quýnh, một người gốc Huế, nhận ra bà Mai và chủ động tới bắt chuyện.

“Tôi biết được câu chuyện của cô khi vô tình đọc được bài viết trên báo Người Việt Online. Không ngờ được gặp cô nơi đây. Bản thân tôi rất yêu thích bản nhạc ‘Anh Không Chết Ðâu Anh’ và quí mến, nể trọng Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.” Rồi anh lấy Guitar, tự đàn hát ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để tặng mọi người.

Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại Sài Gòn và đi thẳng đến một ngôi Chùa mà bà Mai đã đặt trước am thờ và nhờ thầy tụng kinh niệm Phật.

“Sau này cô mất, cô mong muốn được thiêu và mang tro cốt đặt bên cạnh Ðại Úy Ðương nơi đây. Ðể con cháu có thể dễ dàng đến thắp nhang cúng viếng. Và cũng để vợ chồng cô mãi mãi được bên nhau,” bà Mai tâm sự.

Nếu không vào được trang mạng Người Việt, độc giả vào đường link sau để xem hết nguyên bài: https://do6d8m1wu3q4.cloudfront.net/…/templates/viewNVOface…

hashtag của Người Việt online: ‪#‎nguoivietonline‬ ‪#‎tintuc‬ ‪#‎phongsu‬ ‪#‎vietnam‬

http://www.nguoi-viet.com/absoluten…/…/viewarticlesNVO.aspx…

    Bà quả phụ anh hùng 'Mũ Ðỏ tên Ðương' tìm về Ðồi 31 Hạ Lào

   Nguồn Nguoi-Viet
Hôm qua lúc 12:28 ·

Sau khi được cộng đồng người Việt ở hải ngoại giúp đỡ, trưa 12 Tháng Tư, 2016, bà quả phụ cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, tức Trần Thị Mai, và người con trai út Nguyễn Viết Xa đã có chuyến đi từ Sài Gòn đến đồi 31, Hạ Lào, nơi “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương” hy sinh.

Buổi trưa hôm ấy, anh Nguyễn Viết Xa cũng chay xe ôm, nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay anh chở vị khách đặc biệt, là mẹ của mình, thẳng tiến phi trường Tân Sơn Nhất, bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn để sang vùng đất nơi thân phụ mình nằm lại.

Máy bay vừa cất cánh, bà Mai quay sang chúng tôi nở nụ cười: “Ðây là lần đầu cô đi máy bay, nên cảm giác hơi run. Nhưng cứ nghĩ sắp được đến Hạ Lào là vui lắm.”

Ngồi bên cạnh bà Mai, anh Nguyễn Viết Xa cũng vậy. Khuôn mặt hiền lành, nhìn cái gì trên máy bay cũng đều lạ lẫm. Có lẽ suốt hàng chục năm qua, ước mơ một lần được ngồi máy bay của vợ con người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương mới thành hiện thực.

Tỉnh Quảng Trị có ranh giới với Hạ Lào, không có phi trường, chúng tôi mua vé bay ra phi trường Phú Bài của Huế, rồi từ đó bắt xe đi Quảng Trị, men theo đường tỉnh lộ 9 sang biên giới nước Lào qua cửa khẩu Lao Bảo.

Ðón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là hai người quen mà phóng viên Người Việt đã liên lạc từ trước. Họ đều là người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở Lào và nói được tiếng Lào sành sỏi. Khi nghe tin báo Người Việt đề cập đến việc đưa bà Mai sang vùng Hạ Lào, họ vui vẻ bỏ công việc và bắt xe để giúp đỡ cuộc hành trình mà chúng tôi đang hướng đến.

Ðường đến Hạ Lào


Từ Phú Bài, Huế, đến cửa khẩu Lao Bảo khoảng 200km, chiếc xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên quốc lộ 1A, đi tới địa phận tỉnh Quảng Trị, qua con sông lịch sử Thạch Hãn khoảng 20km là có con đường số 9, bên tay trái. Rẽ vào đó và thẳng tiến khoảng 90km là đến cửa khẩu Lao Bảo.

Trên đoạn đường số 9 này, đoàn chúng tôi ghé lại khu vực Khe Sanh, nơi chiến trường khốc liệt trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, thắp nén nhang tưởng niệm các tử sĩ VNCH, cũng như các quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở khu vực đồi núi này.

Con đường 9 ngoằn ngoèo, băng qua những vùng đồi núi trập trùng đầy cây xanh. Ðến cửa khẩu Lao Bảo đã 5 giờ chiều, làm thủ tục xuất và nhập cảnh xong là trời tối đen như mực. Hạ Lào đón chúng tôi bằng một cơn mưa tầm tã.

Hạ Lào là một vùng quê miền núi nghèo khó, nguồn thu nhập của người dân ở đây chủ yếu từ cây chuối. Tìm một khách sạn đầy đủ tiện nghị ở đây còn khó hơn lên trời. Chúng tôi tìm mãi mới ra được một khách sạn, hay nói đúng hơn là một nhà nghỉ ven đường, vì phòng chỉ có một chiếc quạt gọi là& tiện nghi. Ngoài ra không có vật dụng gì khác.

Thời tiết ở đây khắc nghiệt, ban đêm trời lạnh và ẩm ướt bởi sương mù. Nhưng ban ngày rất nóng bởi ánh nắng mặt trời và nguồn gió Lào khô khan.

Ðêm đó, nói chuyện với chủ khách sạn, chúng tôi biết được 2 ngày nữa là ngày Tết chính thức của người Lào. Người dân đang chuẩn bị đón tết, nên chợ búa, hàng quán không buôn bán gì. Bởi vậy việc tìm khách sạn đã khó, mà việc tìm thức ăn còn khó hơn.

Cuối cùng mọi người ăn món “xôi hấp thịt gà nướng,” món đặc trưng của người dân nơi đây. Bà Mai lại là người ăn chay trường, bởi vậy chỉ có thể ăn một ít xôi với phần lương khô chay, mà bà đã chuẩn bị sẵn mang theo.

Gian khó là vậy, nhưng khi được hỏi “cô có mệt không?” Bà trả lời: “Có gì đâu mà mệt, cứ nghĩ sáng mai được đến đồi 31 là hết mệt. Cảm xúc của cô bây giờ cứ vui buồn lẫn lộn. Vui vì sắp được chứng kiến nơi anh Ðương đã hy sinh. Nhưng buồn vì có lẽ khó mà tìm được xương cốt của ảnh.”

Rồi bà tiếp tục cầm tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Tôi nhìn bà, nét khắc khổ hiền hòa của người phụ nữ miền Nam. Trong thời chiến, họ hy sinh ở nhà chăm sóc con cái cho chồng ra chiến trận. Thời bình, họ đứng trước cảnh mất chồng, các con thơ còn quá nhỏ. Thế nhưng họ không bỏ cuộc, tiếp tục cuộc mưu sinh, nuôi dạy con khôn lớn.


Ðồi 31, nơi người lính không về!


Sáng 13 Tháng Tư, đúng vào 30 Tết của người Lào, cả khu thị trấn Tchepone-Hạ Lào vắng hoe. Chúng tôi ghé một quán cà phê cóc ven đường, tình cờ gặp anh Kha, một người Việt đang làm ăn sinh sống ở đây.

Khi được hỏi về đồi 31 Hạ Lào, anh Kha cho biết: “Người dân ở đây gọi vùng đất này là Nam Lào, tôi chỉ biết là có một ngọn đồi, trước 1975 là nơi đóng quân của lính VNCH và lính Mỹ. Hiện nay họ đã làm một viện bảo tàng. Nhưng không biết đây là đồi 30 hay 31.”

Rồi anh chỉ đường cho chúng tôi. Ðó là một ngọn đồi rộng khoảng 10 hecta. Bên ngoài cổng có tấm biển ghi bằng tiếng Lào và tiếng Anh, tạm dịch sang tiếng Việt là “Bảo tàng di sản chiến tích chiến tranh Việt Nam-Lào trên đường 9.”

Khung cảnh hoang vắng, không một bóng người. Nơi đây vẫn còn lưu giữ những chiếc trực thăng của Mỹ, Xe chở quân đội VNCH, súng ống đại bác... Tại đây chúng tôi gặp được anh Xê Phảnh, người Lào, là người bảo vệ ở khu vực này.

Khi được hỏi về đồi 31, anh cho biết: “Ở đây là khu vực đồi 30, khu vực của quân đội Mỹ và VNCH đóng quân trước đây, thuộc huyện Sepone, tỉnh Savannakhet. Còn đồi 31 cách đây khoảng 7km, cũng sát bên đường 9, nó thuộc bản Skiphine.”

“Hiện nay bên đồi 31 chỉ có một cái miếu thờ, người ta đã xây hàng rào bao xung quanh, phải có chìa khóa mới vào bên trong được.” Anh Xê Phảnh vừa nói, vừa chỉ tay sang khu vực vùng đồi 31.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày về mục đích đi đến đây, anh Xê Phảnh ngạc nhiên: “Tôi làm việc ở đây đã hơn 15 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy một phái đoàn thuộc lính VNCH ngày xưa sang đây thắp hương.”

“Các cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam hàng năm vẫn đến đây viếng thăm, nhưng phía VNCH thì không thấy ai? Có lẽ quí vị là người đầu tiên thuộc lính VNCH tìm đến đây để viếng?”

Anh Xê Phảnh cho biết thêm: “Ðồi 31 chủ yếu là lính miền Bắc Việt Nam, chết rất nhiều. Vì Mỹ cho B52 rải thảm ở khu vực đó. Bởi vậy bên đó người ta xây đền thờ lính miền Bắc với dòng chữ ‘Tổ quốc ghi công’. Còn lính miền Nam cũng có chết ở đó, nhưng rất ít.”

Khi chúng tôi đề cập đến việc dẫn phái đoàn qua thăm đồi 31, anh Xê Phảnh tỏ ra lo ngại: “Thật tình mà nói, nếu sếp tôi có ở đây thì các bạn khó mà tự do đến đó (chính quyền đang quản lý khu đồi 31 hiện nay là Ðảng nhân dân cách mạng Lào, rất thân với Ðảng CSVN). Nhưng nay là dịp Tết của người Lào, nên ông ta đã về Viêng Chăn ăn tết cùng gia đình.”

Nghe xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu đi qua Lào vào ngày khác, có lẽ khó mà vào được đồi 31.

Anh Xê Phảnh đưa chúng tôi sang đồi 31. Từ đồi 30, men theo đường 9, hướng về cửa khẩu Lao Bảo-Việt Nam khoảng 7km, sẽ bắt gặp một ngọn miếu thờ bên phía tay trái nằm trên một ngọn đồi hiu quạnh.

Ðồi 31 nằm sát ngay đường 9, khu đất này cao hơn mặt đường khoảng 10m. Tấm bảng bên ngoài bức tường rào, ngay cổng lối đi vào khu đền thờ, ghi bằng cả chữ Lào và Việt Nam với lời lẽ đầy phân biệt đối với chính quyền VNCH.


'Mong anh hãy theo mẹ con em về Việt Nam'


Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.

Cầm tấm hình cố Ðại Úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi cô ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.

Chưa đi tới cổng vào, tự nhiên một trái táo trong món đồ cúng mang theo rơi xuống đất. Bà Mai giật mình đứng lại, hai tay chắp lại, quì xuống vái lạy và miệng lẩm nhẩm: “Anh Ðương ơi, có phải anh muốn báo nơi anh mất chính là ở đây?” Rồi bà òa khóc nức nở.

Thấy thế, anh Nguyễn Viết Xa cũng chạy đến bên mẹ, và hỏi: “Hay là mình cúng ở đây đi mẹ à.” “Ừ, đúng rồi, mình làm lễ thắp hương ở đây đi con. Mẹ cảm nhận cha con đã hi sinh ở nơi này.” Bà Mai trả lời.

Rồi bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”

“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.”

Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về Việt Nam.

Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”

“Khi ba mất con còn quá nhỏ. Bởi vậy con không nhớ gì về thời gian ba còn sống bên con. Chỉ nghe mẹ nói trong 4 anh chị em, ba thương con nhất. Con mong ba hãy an nghỉ, bởi còn có rất nhiều người quí mến ba. Họ đã giúp đỡ con và mẹ rất nhiều trong thời gian qua.”

Trong khi ấy, bà Mai sụt sịt khóc: “Mong anh hãy tha lỗi cho em, vì em chưa làm tròn bổn phận của người vợ. Tâm nguyện của anh, em cũng không hoàn thành. Vì đời sống quá khó khăn, bốn đứa con không đứa nào được ăn học đàng hoàng. Hai đứa cũng đã mất rồi anh à...”

Rồi bà cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.

Sau nghi thức cúng vái, bà Mai đi thắp nhang khắp nơi, xung quanh ngọn đồi 31. Bà đi mà không biết mệt giữa cái nắng chói chang và từng cơn gió Lào nóng khô khốc, hất vào mặt, từng cơn, từng cơn...

“Cô phải thắp càng nhiều càng tốt, không những cho anh Ðương mà còn các đồng đội của anh nữa con à. Họ cũng lạnh lẽo lắm, bao năm qua không ai nhang khói hết!”

Sau đó, bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại Úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Tại đây bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây, trong đó có cả lính bộ đội Bắc Việt.

Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.”


“Tuy khác chiến tuyến, nhưng các anh đều đã hy sinh ở cùng một nơi này. Âu cũng là số phận. Bởi vậy ở thế giới bên kia, mong các anh hãy là những người bạn tốt của nhau, chứ đừng cầm súng mà chĩa vào nhau nữa. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.” Bà Mai gửi lời đến các vong linh.


Mong vợ chồng được ở mãi bên nhau


Sau nghi thức cúng viếng ở đồi 31, mọi người bắt đầu ra về. Bà Mai vui hẳn: “Cô vui vì cô tin là anh Ðương sẽ theo cô về Việt Nam.”

Khi được hỏi, lúc còn sống kỷ niệm nào về Ðại Úy Ðương khiến bà nhớ nhất, bà cho hay: “Tính anh Ðương hay ‘nổ’ (nói dóc) lắm con à. Cô nhớ trước khi đi chiến dịch Lam Sơn, anh Ðương có nói là đợt này đi xong chiến dịch là anh sẽ lên lon thiếu tá.”

“Hồi đó cô nghe chỉ cho vui, cứ nghĩ ổng lại ‘nổ’ nữa rồi. Ai ngờ ổng lên thiếu tá thật. Nhưng có điều sau khi mất mới được vinh thăng. Có lẽ đây là lời ‘nổ’ chính xác nhất của anh Ðương.”

Những mẩu chuyện vừa vui vừa buồn theo suốt chiều dài cuộc hành trình từ Hạ Lào về lại Huế. Chúng tôi lưu trú lại thành phố Huế một đêm.

Ðêm duy nhất ở Cố Ðô, chúng tôi lại có một kỷ niệm đẹp khi mọi người cùng đi ăn tối. Chúng tôi bất ngờ được anh Lê Quýnh, một người gốc Huế, nhận ra bà Mai và chủ động tới bắt chuyện.

“Tôi biết được câu chuyện của cô khi vô tình đọc được bài viết trên báo Người Việt Online. Không ngờ được gặp cô nơi đây. Bản thân tôi rất yêu thích bản nhạc ‘Anh Không Chết Ðâu Anh’ và quí mến, nể trọng Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.” Rồi anh lấy Guitar, tự đàn hát ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để tặng mọi người.

Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại Sài Gòn và đi thẳng đến một ngôi Chùa mà bà Mai đã đặt trước am thờ và nhờ thầy tụng kinh niệm Phật.

“Sau này cô mất, cô mong muốn được thiêu và mang tro cốt đặt bên cạnh Ðại Úy Ðương nơi đây. Ðể con cháu có thể dễ dàng đến thắp nhang cúng viếng. Và cũng để vợ chồng cô mãi mãi được bên nhau,” bà Mai tâm sự.

Phản hồi

Xin chúc mừng Bà Quả Phụ Nguyễn Văn Đương đã được toại ý . Đến Hạ Lào , Căn cứ Hỏa Lực 31 để viếng thăm nơi cố Thiếu Tá Nguyễn Văn Đương đã tự sát và mang nắm đất về Saigon thờ phượng .
Đọc bài viết trên tường thuật về chuyến đi đến căn cứ Hỏa Lực 31 tôi e rằng đã có sự lầm lẫn . Hơn 40 năm biết bao là "Thương Hải Biến Vi Tang Điền " địa thế hoang vu rừng rậm rất khó để đến được đồi 31 CCHL . Từ Lao Bảo đến Tchepone khoảng 40 cây số nằm trên đường số 9 . Bản Đông tên ngụy danh là A lưới khoảng giữa đường từ Lao Bảo đến Tchepone . Từ Ban Đông đi về hướng Bắc khỏang 6 cây số đường rừng là CCHL 31 . Từ căn cứ HL31 đi về hướng biên giới VN-Lào chừng 6-7 km là CCHL 30 .
Trong bài viết phái đoàn Bà Quả Phụ Nguyễn Văn Đương đã tới thị trấn Tchepone và qua đêm ở đấy là đã đi quá xa CCHL 31 và không đúng hướng. Lại cho rằng CCHL 30 và 31 ở gần đường số 9 thì quá sai . Căn cứ 31 nằm cách BanĐông 6km cho nên không nằm gần đường số 9 . Từ Lao Bảo đi về hướng Tchepone có căn cứ Bravo rồi tới Alpha rồi mới tới Bản Đông . Như vậy thì theo bài tường thuật thì phái đoàn Bà Quả Phụ Nguyễn Văn Đương có thể đã đến CCHL Bravo và Alpha chứ không phải là CCHL 31 và 30 .
Những chi tiết nầy căn cứ vào phóng đồ Hành Quân Lam Sơn 719 và những bài viết liên quan đến cuộc hành quân LS 719 Hạ Lào
Xin được gửi lời tri ân đến quý ân nhân và Thị Trưởng Trí Tạ đã tạo điều kiện cho gia đình quả phụ của một anh hùng thực hiện được ước mơ đi đến nơi mà những chiến sĩ QLVNCH đã chiến đấu và anh dũng hy sinh cho Tổ Quốc


Nếu không vào được trang mạng Người Việt, độc giả vào đường link sau để xem hết nguyên bài: https://do6d8m1wu3q4.cloudfront.net/…/templates/viewNVOface…

hashtag của Người Việt online: ‪#‎nguoivietonline‬ ‪#‎tintuc‬ ‪#‎phongsu‬ ‪#‎vietnam‬

http://www.nguoi-viet.com/absoluten…/…/viewarticlesNVO.aspx…

https://www.facebook.com/NguoiVietOnline/posts/10153605286966964


Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Facebook là nghĩa địa của tương lai

Facebook là nghĩa địa của tương lai

  • 24 tháng 4 2016
Image copyright Getty
Image caption Dù người thân đã ra đi, họ vẫn "sống" trên Facebook 

Ngày dì tôi qua đời, tôi phát hiện bà đã viết cho tôi một đoạn dễ thương trên trang đầu của tuyển tập Shakespeare mà bà tặng tôi. "Dì biết những chữ viết này quan trọng với con," bà viết. "Đây là món quà dì tặng con."
"Với tất cả tình yêu dành cho con"
"Dì Jackie"
Vô cùng xúc động, tôi mở máy tính ra và vào trang Facebook của bà. Tôi nghĩ mình sẽ được an ủi đôi chút khi xem ảnh của dì, đọc một vài câu dí dỏm của dì trong các bài đã đăng, và tưởng tượng dì đang nói bằng chất giọng giọng vang vang, rõ ràng âm điệu vùng Baltimore.
Trên đầu trang Facebook của dì là một video do người anh họ tôi đăng, với hai con voi đang nghịch nước. (Dì tôi rất yêu voi. Bà có hàng ngàn món đồ về voi chưng khắp nhà.) Bên dưới đó là những lời thương tiếc của sinh viên cũ, và bài cáo phó mà người chị chồng bà đăng lên.
Tôi tiếp tục kéo xuống.
Theo Facebook, dì Jackie học ngành Sư phạm Tiếng Anh ở Đại học Bang Frostburg. Bà từng là trưởng ban tiếng Anh của Trường Baltimore City, và bà đang sống ở Baltimore, bang Maryland.
"Đang sống à?" tôi nghĩ.
Bà đâu còn sống ở đâu nữa. Bà đã qua đời rồi.
Nhưng nếu bạn chỉ lướt qua Facebook của bà và không kéo xuống phần cáo phó, bạn có thể không biết bà đã mất.
Bà vẫn ở đó, theo cách nào đó, còn sống. Bà sẽ... ở đây. Trên Facebook.
Tôi nhớ lại cái đêm gia đình tôi đứng quanh dì Jackie, cả người nối đầy những dây nhợ bệnh viện, và chúng tôi nhìn dì qua đời.
Quan sát hiện tượng đó là một điều kỳ lạ. Dì ở đó, người thân yêu của bạn - bạn đang nói chuyện với dì, nắm chặt tay dì, nhìn đường điện tâm đồ màu xanh chậm dần, chậm dần - và rồi dì không còn nữa.
Một cái máy khác, trong khi đó, vẫn đang duy trì sự sống của dì: Một cái máy chủ ở xa xôi đâu đó vẫn giữ lại ý nghĩ của dì, ký ức và cả các mối quan hệ của dì.
Rõ ràng là một người không còn sau khi cơ thể họ đã chết đi, nhưng nhìn theo một cách khác thì họ vẫn tồn tại trong thế giới ảo kỹ thuật số. Mọi người vẫn thấy là người đó còn sống, còn tiếp tục online trên mạng.
Việc chúng ta tiếp tục hiện diện trong thế giới ảo đã thay đổi cách ta chết đi thế nào? Với những người đã khóc thương trong ngày ta chết đi, điều này có ý nghĩa gì?

Tài khoản Facebook của những người đã chết

Số người chết trên Facebook đang tăng nhanh.
Image copyright AFP
 
Image caption Những dữ liệu của người chết vẫn hiện diện trên mạng xã hội
Vào năm 2012, tám năm sau khi mạng xã hội này ra đời, có 30 triệu người dùng có tài khoản Facebook đã chết. Con số đó vẫn tiếp tục tăng lên. Một số ước tính cho biết mỗi ngày có hơn 8.000 người dùng Facebook từ trần.
Đến một lúc nào đó, trên Facebook sẽ có nhiều người chết hơn người sống. Facebook đã trở thành một nghĩa địa liên tục mở rộng và đông đúc thêm.
Rất nhiều tài khoản Facebook công bố người chủ sở hữu đã qua đời, họ được "tưởng nhớ".
Tài khoản của họ được gắn một nhãn với từ "Tưởng nhớ" và các tài khoản này sẽ không còn xuất hiện ở nhiều vị trí thường thấy như "Người bạn có thể biết" hay trong lời nhắc chúc mừng sinh nhật nữa.
Nhưng không phải mọi người dùng Facebook qua đời đều được tưởng nhớ.
Kerry, một trong những bạn chung ký túc xá của tôi thời đại học, tự tử cách đây vài năm. Vợ anh, gia đình và bạn bè vẫn tiếp tục đăng tải cập nhật trên tường nhà anh. Và khi họ làm vậy, tên Kerry vẫn tiếp tục xuất hiện trên tường Facebook nhà tôi.
Cả Kerry lẫn dì Jackie của tôi đều không được tưởng nhớ.
Nghĩa là, dù cho với lý do hay mục đích gì, sự ra đi của họ vẫn không được Facebook công nhận. Danh tính trên mạng của họ vẫn tiếp tục tồn tại.

Di sản để lại

Mạng xã hội đã dạy cho ta hiểu về sức mạnh của khoảnh khắc - kết nối và tiếp cận dễ dàng với mọi người vòng quanh thế giới. Nhưng giờ đây, có lẽ đã đến lúc để xem xét cuối cùng điều còn lại là gì: di sản của chúng ta.
Trước đây, chỉ có những người nổi bật mới có di sản, thường bởi vì họ có để lại những ghi chép cho các tiền bối, hay bởi vì những người thế hệ sau tò mò ghi chép lại cho họ. Nhưng thời đại kỹ thuật số đã thay đổi điều đó. Giờ đây, mỗi chúng ta đều dành nhiều giờ mỗi tuần, thường là hơn 12 tiếng, theo một khảo sát gần đây, để viết tiểu sử của chính mình.
Tôi nói với mẹ tôi là các cháu của tôi có lẽ sẽ biết thêm về bà bằng cách xem Facebook của bà.
Nếu như mạng xã hội này tồn tại dài lâu, lũ trẻ sẽ không chỉ biết về những sự kiện quan trọng trong đời vốn được ghi trong tiểu sử chính thức của mẹ tôi.
Chúng sẽ còn được biết thêm những chi tiết nhỏ nhặt hàng ngày của bà: những cái hình meme khiến bà cười, các bức ảnh lan truyền mà bà chia sẻ, nhà hàng nào bà và cha tôi thích đi ăn cùng nhau, câu châm ngôn tôn giáo hài hước nào mà bà thích.
Và tất nhiên, sẽ có rất nhiều ảnh cho các cháu xem cùng với sự kiện. Bằng cách xem những thông tin này, các cháu của tôi có thể biết về bà cố của chúng.
Chúng ta có thể cho rằng những dữ liệu trên mạng xã hội mà ta đăng công khai cũng giống như những linh hồn kỹ thuật số: bởi ai đọc Facebook tôi có thể biết niềm tin tôn giáo của tôi là gì, quan điểm chính trị của tôi ra sao, biết về người yêu của tôi, về cách hành văn của tôi.
Nếu ngày mai tôi có chết đi, linh hồn kỹ thuật số của tôi vẫn tiếp tục tồn tại.
Image copyright Getty
 
Image caption Từ một "không gian khác", thế hệ tương lai của chúng ta có thể tương tác với người đã chết?

Thay đổi để thích nghi với thời kỹ thuật số

Vậy thì, nếu cuối cùng một người thân yêu của ta tiếp tục được sống, thì điều đó sẽ thay đổi sự thương tiếc vì mất người thân ra sao?
Một trong những văn bản tiên phong từ năm 1969 của tác giả Elisabeth Kubler-Ross nói về sự thương tiếc trong quyển "Về cái chết và sự chết đi". Quyển sách của bà chia quá trình thương tiếc thành năm bước: từ chối, giận dữ, thỏa hiệp, tuyệt vọng, chấp nhận.
Từ khi quyển sách được xuất bản, những chuyên gia hiện đại đã đặt câu hỏi và phê phán nội dung cốt lõi của nó, chủ yếu là để hiểu về quá trình người còn sống sẽ đau khổ và thương tiếc, sau đó chấp nhận sự thật người mất ra đi và họ sống tiếp.
Ngày nay, rất nhiều nhà tư vấn giúp người chịu tang nhận ra người thân yêu của họ vẫn tiếp tục ở bên họ, theo một cách nào đó, dù người ấy đã chết đi.
Tuy nhiên, một phần của quá trình thương tiếc bắt buộc phải diễn ra, và thật vậy, là sẽ phải có sự quên đi, theo một cách nào đó. Không phải là ta phải quên đi người thân yêu của mình đã từng tồn tại, mà là quên đi cách họ hiện diện với ta trong cuộc sống này.
Đó là điều mới trong thế giới của chúng ta: Dữ liệu số không cho phép ta quên đi.
Trong tác phẩm xuất bản vào năm 2009 có tựa: "Nút xoá (Delete): Đức hạnh của việc lãng quên trên thế giới số", tác giả Viktor Mayer-Schonberger tranh luận mạnh mẽ rằng cốt lõi của con người là khả năng lãng quên.
Khả năng này cho phép chúng ta "hành động trong hiện tại, dù hiểu biết về quá khứ nhưng không bị kìm kẹp bởi nó." Ông viết, lãng quên cho phép chúng ta "sống và hành động vững vàng trong hiện tại".
Mayer-Schonberger đề cập đến truyện ngắn "Funes, người cường ức" của nhà văn Jorge Luis Borges với nhân vật trung tâm mất khả năng lãng quên sau một tai nạn xe hơi thảm khốc. Funes có khả năng đọc lại đầy đủ mọi quyển sách mà anh từng đọc, và có thể nhắc lại từng chi tiết rõ nét về mỗi ngày anh từng trải qua.
Image copyright iStock
 
Image caption Kết nối với bộ nhớ không hề phai nhòa của máy tính khiến những người chết như vẫn hiện diện
Nhưng khả năng này cũng trở thành một lời nguyền với Funes: trí nhớ của mình, như anh thừa nhận, "giống như một bãi rác".
Tên của nhân vật là Funes, dịch ra có nghĩa là "xấu số", là một chỉ dấu cho thấy Borges thương xót cho nhân vật của ông, người mà, như Donna Miller Watts nhận định, là một "kẻ tàng trữ cưỡng bách, một gã đồng nát của tâm trí".
Cuối cùng, anh lạc lối trong những từ ngữ trong đầu, không thể tổng hợp hay phác họa điều gì bởi "nghĩ là bỏ qua (hoặc quên đi) sự khác biệt".
Với Watts, tình trạng tâm trí của Funes gợi lại việc "hàng loạt thông tin" đã từng "được đưa lên thế giới kỹ thuật số" cũng không bao giờ bị quên lãng.
Mayer-Schonberger viết, bài học là "một sự gợi nhớ quá hoàn hảo có thể dẫn chúng ta đến tình trạng bị mắc kẹt trong ký ức, không thể bỏ quá khứ lại sau lưng."
Kỹ thuật số buộc chúng ta phải nhớ về người đã chết. Như nhà xã hội học Jean Baudrillard cảnh báo, sự trả đũa của họ chính là việc chúng ta bị ám ảnh về sự vắng mặt của chính họ.
Trong quá khứ, việc tưởng nhớ người đã khuất là đi kèm với một hành động thực sự. Bạn phải đi đến nơi nào đó để tưởng nhớ người thân, như là nghĩa trang, nhà thờ, đến nơi tưởng niệm. Hoặc bạn phải lấy hộp ảnh cũ, album ảnh hay những video quay trong lễ tang ra xem. Bạn phải tốn thời gian để có thể hồi tưởng quá khứ, về lịch sử của mình, thời gian mình trải qua với người đó.
Nhưng trên Facebook, mọi nơi mọi chốn đều hiện diện còn mọi thời điểm đều là ở thời hiện tại. Dì Jackies của tôi vẫn tồn tại trên mạng xã hội, hệt như tôi.
Theo cách nào đó, tôi vẫn sẽ sống tiếp từng ngày với dì, với với hàng triệu người đã chết trên Facebook.
Image copyright AFP
 
Image caption Dự cảm lặp lại xuất hiện khi ta xem lại hình ảnh của những người thân đã chết trên mạng xã hội
Một trong những câu chuyện kinh dị nhất tôi từng nghe do một chú hề ở rạp xiếc tên là Dooby kể. Trước khi anh lên sân khấu diễn, anh nghe một đoạn thư thoại từ người ông đang hấp hối. Ông nói ông yêu anh và rằng họ sẽ nói chuyện sau. Thời điểm Dooby nghe đoạn thư thoại, ông của anh đã qua đời.
Một chú hề nghe giọng nói của người đã chết - đó có lẽ là cách duy nhất tôi có thể mô tả giống với cảm giác khi xem Facebook của dì Jackie của tôi. Dì đang ở cùng không gian tôi hiện diện, mà tôi biết dì đã qua đời.
Có một từ để nói về cảm giác ta biết điều gì đó tồi tệ đang xảy ra, đó là dự cảm, cũg có hàm nghĩa là "cảnh báo".
Xem Facebook của một người đã chết không khác gì cảm giác đó, nhưng có một điều khác biệt quan trọng: Chúng ta đã biết có điều gì đó tồi tệ sẽ xảy ra vào lúc nào. Chúng ta có thể gọi cảm giác này là dự cảm lặp lại, như thế đó là lời nhắc nhở mà ta đã được cảnh báo.
Dĩ nhiên là, chẳng có giải pháp nào tốt cho các dữ liệu đã chết, hay các con ma kỹ thuật số. Hy vọng duy nhất là đến một lúc nào đó, trí nhớ của internet rồi cũng sẽ phai mờ.
"Sự thật là" nhà văn Borges viết, "chúng ta sống tiếp bằng cách bỏ mọi thứ lại sau lưng".
Bản tiếng Anh của bài này đã đăng trên BBC Future

Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese/culture_social/2016/04/160424_the-unstoppable-rise-of-the-facebook-dead_vert_fut

Người Mỹ lại đi tìm ẩn số cho “Chiến tranh Việt Nam”?

Người Mỹ lại đi tìm ẩn số cho “Chiến tranh Việt Nam”?

Bác Sĩ Mã Xái (Danlambao) - Lịch sử “Chiến tranh Việt Nam” tưởng chừng như đã chìm vào dĩ vãng đối với chính giới Hoa kỳ, nhưng không, “The Vietnam War Summit” (Thượng đỉnh về Chiến tranh Việt Nam) đã được khơi lại nơi Thư viện Tổng thống Lyndon B.Johnson (Austin,Texas) vào những ngày cuối tháng Tư năm 2016, chung quanh Ngày Quốc Hận 30-04-75, ngày mà nhân dân Miền Nam sẽ không bao giờ quên sự bội tín của đồng minh Hoa Kỳ đưa tới sự sụp đổ của VNCH.
Cuộc Hội luận ba ngày gọi là để giải mã những ẩn số cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cùng những bài học và di sản của nó (nguồn:vietnamwarsummit.org) Hội nghị có dành phần nghi lễ vinh danh các người đã phục vụ cuộc chiến. “Chiến tranh Việt Nam” là theo cách gọi của người Mỹ, nhiều tài liệu sách khác còn gọi là “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai”. Đã có nhiều viện nghiên cứu chính trị, các Đại Học, các sử gia, tướng lãnh cả Mỹ, lẫn Việt Nam đã nhiều lần đóng góp về nguyên nhân và hệ luỵ của cuộc chiến Việt Nam; khá nhiều hồi ký do các viên chức cao cấp VNCH làm sáng tỏ thêm nguyên nhân chung quanh cuộc việc sụp đổ VNCH. Pentagon Papers và trong những năm gần đây, các tài liệu giải mật về Chiến tranh Việt Nam giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp tục phân tích về sách lược mà cường quốc Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Cộng trong việc giải quyết cuộc chiến.
Đây cũng là lúc người quốc gia chúng ta nên tiếp tục vạch trần sự gian trá, lừa đảo của tập đoàn Cộng sản Hà Nội đã bóp méo lịch sử tranh đấu cho chính nghĩa của VNCH, cộng sản cũng đã lừa được một số chính khách người Mỹ và vài giới truyền thông theo đóm ăn tàn, ca ngợi cuộc chiến diệt chủng của cộng sản Bắc Việt dựa trên chủ nghĩa Mác Lê và cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cộng đồng người Việt quốc gia hải ngoại đã thể hiện lập trường và hành động thích nghi với “Thượng đỉnh về Chiến Tranh Việt Nam” ngay nơi hội nghị (Austin, Texas)
Những ai đi tìm ẩn số cho bài toán? Không thấy sự hiện diện những người Việt Nam đã sống và chiến đấu cho lý tưởng tự do trong hàng ngũ VNCH, ngoại trừ ông Hubert Võ là Dân biểu Tiểu Bang Texas, riêng danh sách tham dự viên (participants) người Mỹ, trên dưới năm sáu mươi học giả, sử gia, văn nghệ sĩ, giới truyền thông, các ký giả của thời chiến, các cựu chiến binh Hoa Kỳ; có sự hiện diện của Ngoại trưởng John Kerry, diễn giả chánh cho buổi hội luận, ông là người đã từng tham chiến tại Việt Nam, và từng là phát ngôn viên của phong trào chống chiến tranh, có diễn giả Henry Kissinger, và Đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ Phạm Quang Vinh với bài thuyết trình “America and Vietnam in the 21st Century: A New Beginning như để bổ túc bài phát biểu của ông John Kerry nói về bang giao Việt Mỹ và các chuyển biến chính trị và xã hội Việt Nam kể từ ngày ông Kerry có mặt tại chiến trường; những tài liệu mới về cuộc chiến được giải mật cho thấy cựu ngoại trưởng Kissinger đã một mình thao túng, đạo diễn chính sách Hoa Kỳ về Việt Nam và là người trách nhiệm bán đứng Miền Nam cho Cộng Sản Hà Nội, gây nên thảm trạng Quốc Hận 30-4-75. Kissinger được khen là đóng góp phần tạo nên không khí “détente” với Liên Xô, và tách rời được liên minh LX-TC, nhưng khi Nixon-Kissinger bắt tay với Mao Trạch Đông (tháng Hai năm 1972) là Hoa Kỳ đã đơn phương khép cánh cửa tiền đồn thế giới tự do của VNCH, chuẩn bị cho một chuyển hướng chiến lược mới; Hoa Kỳ ngày nay chắc cũng thắm đòn khi giúp Bắc Kinh mở cửa để trở thành cường quốc kinh tế, Hoa Kỳ đã giúp Tập Cận Bình củng cố chế độ độc tài toàn trị bành trướng về phương nam, lấn chiếm Biển Đông, kềm kẹp Hà Nội vào con đường” Bắc thuộc mới”, cản trở chính sách Chuyển trục/Tái Cân bằng của chánh phủ Obama. Tham dự còn có nhà làm phim Ken Burns, người thực hiện phim tài liệu gồm 10 phần Phim Vietnam War sẽ ra mắt năm 2017.
Trước kia, phần lớn những tham dự viên trong buổi hội luận nhìn cuộc chiến Việt Nam một cách tiêu cực, giờ đây, mong họ sau khi chứng kiến việc cộng sản Hà Nội cưởng chiếm Miền Nam, vi phạm Hiệp định Paris 1973 và cung cách cai trị độc tài toàn trị trên toàn cỏi Việt Nam, lại vừa hèn với Trung Cộng, ác với dân, chắc họ đã phải thấy rõ nhân dân Miền Nam đã phải dấn thân vào cuộc chiến Quốc Cộng hoàn toàn vì lý do tự vệ; Miền Nam vừa xây dựng nền dân chủ pháp trị vừa phải luôn chống trả sự xâm lăng liên tục của CS Bắc Việt, với sự hổ trợ của khối cộng sản quốc tế.
Lý do người Mỹ can dự vào chiến cuộc Đông Dương bao gồm Việt Nam bắt nguồn từ chánh sách chống chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua các đời Tổng thống Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon,Ford với chiến lược be bờ ngăn chặn sự làn sóng đỏ Liên xô, Trung Cộng xuống ĐNA’, nhưng chính sách ngăn ngừa sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản được thực hiện tuỳ theo đường lối riêng của mỗi Tổng thống trước tình huống, dựa theo quyền lợi quốc gia, tình hình quốc tế, quốc nội, áp lực quần chúng, truyền thông, báo chí, các viện nghiên cứu chính trị, thời gian bầu cử tổng thống và tiếng nói quyết định là quốc hội. Một cách tổng quan, sự can dự chính thức của người Mỹ vào lúc Hoa Kỳ tuyên bố sự hổ trợ nền Đệ Nhứt VNCH, sau những ngày ký kết Hiệp định Geneve 1954.
Lịch sử cho thấy ý đồ xâm lăng Miền Nam Việt Nam đã được ban lãnh đạo Hội nghị trung ương ĐCSVN lần thứ 6 (tháng 07/1954) quyết định từ Hà Nội trước ngày ký HĐ Geneve-54 là “chĩa mũi nhọn vào đế quốc Mỹ”; chiến tranh không phải xuất phát từ Miền Nam mà cũng không do người Mỹ khởi xướng. Hà Nội cài cán bộ ở lại Miền Nam sau HD Geneve, thiết lập lực lượng vũ trang, và cho xâm nhập quân đội vào Nam, rồi năm 1960 Hà Nội cho thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam; đảng cộng sản chủ trương chiến tranh du kích, khủng bố, và trận địa chiến. Vào giữa tháng 11/1965 lực lượng chánh qui Bắc Việt (Quân đội Nhân dân) đã dàn mặt trận đánh lớn (Battle of Ia Drang Valley) với Quân đội Mỹ.
Những quyết định của mỗi tổng thống có ảnh hưởng đến hướng đi của lịch sử Hoa Kỳ và đã tác động mạnh đến số phần của Miền Nam vì VNCH quá tin cậy vào đồng minh.
Hoa kỳ đã có ý định can dự quân sự vào thời Đệ nhất VNCH, nhưng TT Ngô đình Diệm cho rằng điều đó sẽ làm mất chánh nghĩa quốc gia, và quân đội Mỹ không được tổ chức thích hợp cho chiến tranh du kích; quan điểm bất đồng này đã đưa đến cuộc đảo chánh 1963. Khi cường độ chiến tranh lên cao, Tổng thống Johnson lần đầu tiên đã phải cho TQLC đổ bộ vào Đà Nẵng (6/3/1965) và gần đến Tết Mậu Thân (1968) thì quân lực Hoa Kỳ đã trên nửa triệu mà tướng Westmoreland vẫn thấy chưa đủ để thực hiện kế hoạch “truy lùng và diệt địch”(search and destroy).
Trong cuộc chiến Việt Nam, Nhà Trắng toàn quyền trực tiếp điều động cuộc chiến; chủ động chiến trường, cho đến khi chuẩn bị rút lui thì Nixon mới đưa ra chương trình Việt Nam Hóa cuộc chiến (1969) giúp tân trang và huấn luyện quân đội VNCH. Quân đội vừa đánh lại rụt rè lo sợ gây nên một cuộc chiến với Liên Xô và Trung Cộng, nên chỉ đánh cầm chừng, không phải để thắng; vừa đánh vừa đàm, đàm với Liên Xô, đàm với Trung Cộng, và còn cả đi đêm với Hà Nội; đàm với cộng sản thì thất bại khó tránh khỏi.
Một đánh giá sai lầm của chính khách chủ bại và giới truyền thông ở Hoa thịnh Đốn: cuộc tổng nổi đậy Tết Mậu Thân là một thất bại năng nề cho Cộng sản về mặt chiến thuật, quân đội VNCH và Hoa Kỳ đã hốt gần hết địch quân (gồm chính qui Bắc Việt và bộ đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) xuất đầu lộ diện ra thành phố từ các chiến khu, rừng núi; nhưng TT Johnson cũng không đạt thêm những thắng lợi sau đó, khiến dư luận mất niềm tin, thiếu kiên nhẫn khi số thương vong của binh sĩ Hoa Kỳ là yếu tố quan trọng, khiến TT Johnson quyết định bỏ ý định tái tranh cử (31/03/1968) để đối phó với cuộc chiến.
Dù sao, vụ Tết Mậu Thân đánh đấu một bước ngoặt quan trọng định hướng giải quyết cuộc chiến; những mật đàm giữa Kissinger và Cộng sản Hà Nội đã sau cùng đưa đến Hiệp định Paris ký ngày 27/01/1973 hoàn toàn có lợi cho Bắc Việt nhưng nó thỏa mãn hai việc riêng cho Kissinger/Nixon là “rút quân trong danh dự”, trong vòng 60 ngày cùng với việc trao trả tù binh. Quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại Miền Nam cùng với bộ đội của Chánh phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (do Hà Nội dựng lên). Nixon hứa hẹn với Tổng Thống Thiệu là sẽ trả đũa nếu Hà Nội vi phạm hiệp định. Nhưng ai cũng thấy được sau ngày Hoa Kỳ hoàn tất việc rút quân 27/03/1973 thì việc sụp đổ của VNCH chỉ là vấn đề thời gian vì Hoa Kỳ cắt hết nguồn viện trợ, trong khi Bắc Việt được khối cộng sản đồng minh tiếp tục cung cấp đầy đủ phương tiện để chiến thắng. Không có việc Hoa Kỳ trả đũa khi Hà Nội vi phạm trầm trọng HĐ Paris.
Hệ luỵ của “Rút quân trong danh dự”:
Hoa Kỳ can dự vào “ Chiến tranh Việt Nam” với mục tiêu chống chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua các đời tổng thống nhằm ngăn chặn làn sóng đỏ xuống ĐNA’ nhưng chiến lược đã đổi hướng trong thời kỳ Nixon dưới ảnh hưởng của ngoại trưởng Kissinger; lúc bấy giờ nhân dân Hoa Kỳ không còn kiên nhẫn với càng ngày càng tăng con số tử vong binh sĩ Hoa Kỳ với những hình ảnh chiến tranh trên TV ngay trong phòng khách, lại được thổi phồng do phong trào phản chiến mà người phát ngôn lúc bấy giờ mà ai cũng biết là đương kim Ngoại Trưởng John Kerry, nên Tổng thống Nixon dứt khoát chủ trương rút quân và dứt khoát bỏ rơi Miền Nam với bất cứ giá nào và như theo một vài nhà phân tích, để đổi hướng chiến lược về Trung Đông để giữ tiền đồn dầu lửa! Quyền lợi của Hoa Kỳ ở Miền Nam theo nhận định của Kissinger không còn nữa, Hoa Kỳ có thể đóng cửa “tiền đồn của thế giới tự do” ở Miền Nam, quyết định sai trái này gây không biết bao nhiêu hệ luỵ cho đến ngày nay và ai cũng thấy rõ, tiền đồn đó nay đã nhuộm đỏ nằm trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Tổng thống Obama sắp đến thăm vào cuối tháng năm này, có Ngoại trưởng Kerry tháp tùng.
Chấm dứt chiến tranh Việt Nam không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà; mục tiêu can dự vào Việt Nam chưa đạt được mà còn làm tình hình xấu đi, chánh quyền Hoa Kỳ đã phản bội anh lính 58 ngàn quân sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở Việt Nam để bảo vệ tiền đồn chống CS, nhiều người mang thương tật, mất tích. Hoa Kỳ đã phản bội đồng minh VNCH; bao nhiêu triệu người Việt Nam đã chết vì cuộc chiến; cái giá đầy khổ đau, bất hạnh mà nhân dân Việt Nam phải trả cho loại hòa bình đó, sau 30-4-1975, dưới chế độ cộng sản, độc tài, toàn trị; nhân dân Việt Nam trân trọng tri ơn chiến binh Hoa Kỳ và đồng minh và quân cán chính VNCH đã dũng cảm chiến đấu cho lý tưởng tự do; những người Việt Nam tị nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới sẽ ghi tạc lòng thiện tâm của nhân dân Hoa Kỳ và thế giới đã cưu mang họ, họ đã và sẽ đóng góp công sức đáng kể cho những quốc gia đã mở rộng vòng tay tiếp nhận họ; những người tị nạn cộng sản đó là những nhân chứng trung thực về chế độ tàn bạo và gian dối CSVN, họ là những người cần có mặt trong ”Vietnam War Summit” đang tổ chức tại Thư Viện Tổng thống Lyndon Baines Johnson.
Thay lời kết:
* Chúng ta muốn nói với chính phủ Hoa Kỳ rằng “Chiến tranh Việt Nam” đối với Hoa Kỳ đã chấm dứt sau ngày người quân nhân Hoa Kỳ cuối cùng rút khỏi Việt Nam (ngày 29/03/1973) chiếu theo HĐ Paris 1973, nhưng đối với nhân dân Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại cuộc tranh đấu vẫn tiếp tục cho sự sống còn của dân tộc Việt, cho một Việt Nam tự do, dân chủ pháp trị, thịnh vượng, cho sự vẹn toàn lãnh thổ; chế độ toàn trị độc tài phải bị giải thể, đảng CSVN phải ra đi.
* Trong chiến tranh Việt Nam, trong cuộc chiến quốc – cộng, Việt Nam Cộng Hòa chỉ chiến đấu để tự vệ trước chủ trương xâm lăng và cưởng chiếm Miền Nam của đảng cộng sản Bắc Việt.
* Chúng ta hoan nghinh sự can dự Hoa Kỳ vào cuộc chiến Việt Nam để hổ trợ VNCH cùng bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do; tiếc thay chính phủ Nixon-Kissinger đã thay đổi mục tiêu của cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản, lại thỏa hiệp với cộng sản, chỉ để được rút quân và đã phản bội lại lời hứa với VNCH, và phản bội với vong linh 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ chiến đấu cho lý tưởng tự do. Hơn bốn mươi năm đi qua, cái tiền đồn đó vẫn nhuộm đỏ, nơi đây tổng thống Obama và Ngoại trưởng Kerry sẽ đến thăm vào cuối tháng 5- 2016, để lại rao giảng giá trị Hoa Kỳ nhưng hai nhiệm kỳ tổng thống sắp đi qua vẫn chưa tách nổi cộng sản Hà Nội ra khỏi quỷ đạo Bắc Kinh, ngược lại chỉ tổ làm giàu tư bản đỏ để tập đoàn CSVN củng cố quyền lực và chế độ toàn trị, nhờ chui vào được TPP; chiến lược chuyển trục /tái cân bằng của Obama sẽ ra sao khi Tập Cận Bình gần như hoàn tất kế hoạch khống chế Biển Đông.
* Chúng ta ghi ơn người chiến sĩ VNCH cùng sự hy sinh của quân cán chính để bảo vệ quê hương, xây dựng chế độ dân chủ cho Miền Nam dù chưa hoàn hảo trong vòng hai thập niên nhưng người dân được sống an cư lạc nghiệp hạnh phúc, hơn hẳn cái xã hội tụt hậu Cộng hòa XHCN.
Cuộc tranh đấu tất nhiên còn khó khăn, nhưng nhân dân Việt Nam nhứt quyết không bỏ cuộc. Chính nghĩa tất thắng.
Hoa Kỳ 23/4/2016

Nguồn:

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

Đài Á Châu Tự Do (RFA) công nhận cờ đỏ sao vàng CSVN làm icon App Smart Phone

Đài Á Châu Tự Do (RFA) công nhận cờ đỏ sao vàng CSVN làm icon App Smart Phone

Email In

Đài Á Châu Tự Do (RFA) công nhận cờ đỏ sao vàng CSVN làm icon App Smart Phone

Kính gởi để kính tường và xin nhờ phổ biến. Xin cám ơn.
Ngô Kỷ

Icon của chương trình Tiếng Việt Đài Á Châu Tự Do (RFA) là hình lá cờ máu cộng sản Việt Nam, màu đỏ sao vàng, đã công khai xuất hiện trên App Smart Phone hệ thống Android.

Inline image 1
Ngô Kỷ tìm chút "bình yên" bên ly cà phê tại phố Bolsa, Little Saigon 16-4-2016
Kính thưa Quý Đồng Hương,

Tôi xin khẩn báo đến quý vị là tối hôm qua, thứ Tư ngày 20 tháng 4 năm 2016, trong khi truy cập vào một số đài phát thanh trên Smart Phone, thì tôi phát giác rằng cái icon của chương trình Tiếng Việt Đài Á Châu Tự Do (RFA) là hình lá cờ máu cộng sản Việt Nam, màu đỏ sao vàng, đã công khai xuất hiện trên App Smart Phone hệ thống Android.

Đây là một bằng chứng rõ ràng mà với tư cách giám đốc chương trình Tiếng Việt Đài Á Châu Tự Do, Nguyễn Văn Khanh không thể biện hộ hay chối cãi được, vì chỉ có Nguyễn Văn Khanh mới có toàn quyền quyết định cái mẫu hình ảnh icon trong App Smart Phone cho chương trình Việt ngữ của Đài Á Châu Tự Do (RFA) mà thôi.

Mỗi ngày có hàng ngàn người tại Hoa Kỳ và thế giới, và chắc chắn có cả Nguyễn Văn Khanh và các nhân viên của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cũng vào App Smart Phone để theo dõi chương trình phát thanh của chương trình Tiếng Việt Đài Á Châu Tự Do (RFA,) và dĩ nhiên những người này đều có thấy cái icon cờ máu cộng sản Việt Nam màu đỏ sao vàng này. Sự kiện trắng trợn xử dụng lá cờ máu cộng sản Việt Nam màu đỏ sao vàng là icon chính thức của chương trình Tiếng Việt Đài Á Châu Tự Do đã chứng tỏ rõ ràng rằng Nguyễn Văn Khanh công khai công nhận làm tay sai cho Việt cộng, và ra mặt khinh thường sức mạnh chống cộng của tập thể người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại, cũng như thách đố phản ứng của cộng đồng người Việt Quốc Gia.

Vào tối nay, thứ Năm ngày 21 tháng 4 năm 2016, cũng còn thấy cái icon cờ máu cộng sản Việt Nam, màu đỏ sao vàng của cộng sản Việt Nam tiếp tục xuất hiện trong App của chương trình Tiếng Việt Đài Á Châu Tự Do (RFA) trên Smart Phone.

Tôi có viết một bài khá dài với đầy đủ bằng chứng nhằm tố giác và lột mặt nạ phản quốc của tên Việt gian Nguyễn Văn Khanh, nhưng vì thấy trong cộng đồng có lắm vị "tai to mặt lớn" đứng ra bao che và a tòng theo y, nên tôi thấy chưa tiện phổ biến, vì e ngại trong lúc này tôi chưa đủ sức để chống chọi lại các thế lực đứng sau Nguyễn Văn Khanh. "Lực bất tòng tâm," vì phải đấu tranh trong thế cô, nên tôi cần phải lượng sức mình và rất cẩn trọng, cân đo trước khi "ra quân" đối đầu với đối phương.

Tôi không chủ trương ý kiến dài dòng trong bài viết này, tôi chỉ xin phép thông báo đến quý vị lãnh đạo cộng đồng, các tổ chức đấu tranh, các lực lượng quân nhân VNCH, các đảng phái chống cộng, các cơ quan báo chí truyền thông, quý đồng hương... về sự kiện lá cờ máu cộng sản Việt Nam màu đỏ sao vàng đang ngang nhiên xuất hiện ngay trước mắt, trước mũi cộng đồng, để từ đó quý vị tùy nghi đối phò và giải quyết. Là người dân Việt tỵ nạn bé nhỏ trong cộng đồng, tôi xin sẵn sàng tiếp tay với quý vị trong khả năng hạn hẹp có thể của tôi. Tôi đang chờ đợi để biết phản ứng và hành động đối phó của quý vị.

Vì đề tài hôm nay có liên quan đến Đài Á Châu Tự Do (RFA,) nên nhân dịp này tôi xin chia sẻ đến quý vị một số tài liệu cũ, mà năm 1991 tôi từng có cơ hội ra điều trần trước Ủy Ban Chính Phủ Hoa Kỳ để xin chính phủ chấp thuận thiết lập Đài Á Châu Tự Do (RFA.) Xin bấm vào Link này để kính tường:


Trân trọng,

Ngô Kỷ
 
 Nguồn:http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=10394%3Aai-a-chau-t-do-rfa-cong-nhn-c--sao-vang-csvn-lam-icon-app-smart-phone&catid=34%3Adin-an-c-gi&Itemid=53

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016

Ai Tự Do Nhân Đạo ? Ai Khát Máu Bạo Tàn ? ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?

Ai Tự Do Nhân Đạo ? Ai Khát Máu Bạo Tàn ? ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?

Email In
BBT: Bài này đã từng được đăng trên BCT mấy năm trước, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy cần thiết cho đăng lại vì hàng năm những lớp trẻ non dại đã trưởng thành và cần biết những kinh nghiệm của quá khứ, đồng thời lớp người lớn tuổi đã có lắm kẻ vướng bệnh lãng quên hoặc suy nhược thần kinh nên đã quên mất những vết thẹo đau thương đang hằn lên cơ thể cũng trí não của họ, họ cần phải được nhắc nhở mãi mãi để đừng đánh mất giá trị con người tỵ nạn của họ là không được hèn hạ lòn cúi những lớp người đã từng xem họ như những con vật cần bỏ đói để buộc họ phải trở thành nô lệ bò lết dưới chân chúng.

Ai Tự Do Nhân Đạo ? Ai Khát Máu Bạo Tàn ?
ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?

Ðặng Xuân Khánh (Sinh viên trẻ đang sống trong thiên đàng XHCNVN) Source: Trúc Lâm Yến tử Posted on: 2016-04-19
Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Ðông Dương lần thứ II (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).
Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Diệm”, “miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v…
Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để “giải phóng miền Nam” thoát khỏi sự “kìm kẹp của Mỹ, Ngụy” v.v giải thích giùm:
1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp” mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM ? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi !
Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của chủ tịch HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp”? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà??
2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội “giải phóng” thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội “giải phóng”? Nếu dân miền Nam bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp”, cần phải được “giải phóng”, thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các “đồng chí bộ đội”, tay bắt mặt mừng và cám ơn “được giải phóng”, chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các “đồng chí” ấy? Ðua nhau chạy về phía có lính miền Nam để tiếp tục bị “kìm kẹp”, không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp” chứ không muốn được “giải phóng” à?
3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, “bộ đội giải phóng” chiếm toàn bộ miền Nam, đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Ðông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Ðỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?
Bia Đài tưởng niệm những đồng bào chết trên đường vượt biển bị Cộng sản Việt Nam cho người đập phá. Giống như các Đài tưởng niệm đồng bào ở Huế bị Việt cộng thảm sát Tết Mậu Thân 1968
Đài tưởng niệm, Bia khắc tên những nạn nhân bị Việt cộng thảm sát tại KHE ĐÁ MÀI đã bị CS đập phá cũng như tất cả những nghĩa trang chôn tập thể ở Huế ngay từ những ngày đầu 30 tháng 4 1975.
Việt Nam Cộng Hòa - Cộng sản. Ai "Tự-Do Nhân-Đạo" ? Ai "Khát máu, Bạo Tàn" .?.?.. ĐÂU LÀ SỰ THẬT?
Chúng tôi đã được học tập là “Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam”, nào là “bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu”, nào là “ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với Diệm hay Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày “Giải phóng” 30/4/1975 - 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền Nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên?


Tù binh Bô đội CS biểu tình đòi ở lại miền Nam vì "được" trả tự do để trở về Bắc và xin được hồi chánh VNCH.
Người dân miền Nam, thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam “giải phóng”, lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Ðảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN “tươi đẹp”?


Phụ nữ Việt Nam xếp hàng trước Lãnh sự Hàn Quốc ..
Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam???


Du học: 'Đã sang đến Mỹ rồi, sao lại về?' Ở lại các nước tư bản để bị bóc lột nhưng vẫn tươi cười chấp nhận! Ấy mới lạ chứ !!
4. Năm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam ??


Thanh niên VN xin đi lao động nước ngoài


Gái Việt được buôn bán ra ngoại quốc để được làm vợ người ta
Việc Thạc sĩ Tin học Nguyễn Tiến Trung Du học sinh đậu Ưu hạng, sau khi trở về quê hương được Nhà nước tuyển dụng gấp vào Quân đội Nhân dân Việt Nam là một "bước tiến mới" của chế độ


Thạc sĩ tin học Nguyễn Tiến Trung du học tại Pháp được trọng dụng khi về nước, được đẩy vào bộ đội để chùi súng AK cho phai mùi tự do tư bản
5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để “bám gót đế quốc”, là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”, là “thành phần phản động”, là “những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn” như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là “Việt kiều yêu nước”, “khúc ruột ngàn dặm”? Có đúng họ “yêu nước” không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???
6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi Ngô Ðình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá …
Mỹ chỉ bắt đầu đưa lính vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết Ngô Ðình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960 ???
"KHÁT MÁU"


Khủng bố đồng nghĩa với Việt cộng.
Khủng bố đồng nghĩa với "hoạt động cách mạng"
Khủng bố đồng nghĩa với Hồ Chí Minh


"Quân đội nhâan dânTrung Quốc sát cánh cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi đế quốc Mỹ tàn bạo, bất lương"


HỒ đang học MAO sách lược sử dụng trẻ em làm vật TẾ THẦN = VÔ NHÂN
CHÍNH SÁCH TỰ DO NHÂN ÁI CỦA VNCH VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO TRONG LÒNG NGƯỜI LÍNH MIỀN NAM TỰ DO


(Hình :Tù binh Cộng sản Bắc Việt (Các em xếp hàng mặc áo trắng) đang chuẩn bị được VNCH trao trả về miền Bắc)


Tù binh CS biểu tình đòi ở lại miền Nam vì được thả tự do để trở về miền Bắc và xin được hồi chánh (Nếu trao trả cho cộng sản thì chúng tôi tự sát tập thể) 

Nguồn:
http://www.bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=10359:ai-t-do-nhan-o-ai-khat-mau-bo-tan-au-la-s-tht-&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2016

Lễ vinh danh lịch sử Cựu Chiến Binh Úc và Việt Nam Cộng Hoà


Lễ vinh danh lịch sử Cựu Chiến Binh Úc và Việt Nam Cộng Hoà
Trần Bá Nguyệt hình ảnh Trần Văn Minh4/14/2016

(Melbourne – 14/4/2016) Hơn 100 cựu chiến binh Úc-Việt, quý vị đại diện tôn giáo, đoàn thể đã có mặt tại Quốc Hội Tiểu Bang Victoria sáng thứ năm, 14/4/16 để tham dự một sự kiện mà mọi người đã mong đợi từ 50 năm nay. Đó là Lễ Vinh Danh những chiến binh Úc-Việt đã chiến đấu trong cuộc chiến tại Việt Nam lần đầu tiên trong lịch sử Tiểu Bang Victoria, Úc.

Mời xem hình- https://www.flickr.com/photos/136258308@N06/25816382994/in/album-72157666986115772/

Đúng 9 giờ 30, Thủ Hiến Daniel Andrews đã cùng quan khách có mặt nói vắn gọn về quyết định mang tính lịch sử của Tiểu Bang Victoria. Ông Daniel Andrews nói: nhân dịp kỷ niệm 50 năm trận đánh Long Tân, hôm nay Quốc Hội Victoria sẽ chính thức tuyên xưng những đóng góp cho cuộc chiến chống Cộng Sản và bảo vệ tự do của những người lính Úc-Việt trong cuộc chiến Việt Nam hơn 40 năm trước. Đây là một việc làm mà các cựu quân nhân Úc-Việt đã không nhận được suốt trong thời gian 50 năm qua. Những quân nhân Úc Đại Lợi đã bị coi thường và sỉ nhục khi họ trở về từ cuộc chiến và họ chưa từng bao giờ được lấy lại danh dự của những người đã hy sinh bảo vệ tự do, dân chủ cho miền Nam Việt Nam. Ông cũng đã chụp hình kỷ niệm cùng quan khách Việt Nam trước khi mời mọi người vào dự thính trong phòng họp của lưỡng viện Quốc Hội Victoria.

Đúng 10 giờ, các cựu quân nhân Úc-Việt đã được mời vào trong nghị trường để tham dự những phát biểu chính thức của các dân biểu nghị sĩ hai viện Quốc Hội Tiểu Bang Victoria.

Từng vị đại diện dân cử đã tuyên đọc những nhận định và quyết định tôn vinh những chiến sĩ Úc-Việt trong cuộc chiến Việt Nam và những đóng góp của Cộng Đồng người Việt cho xã hội Úc. Các phát biểu có thể tóm gọn là những lời tôn vinh các chiến công của các cựu quân nhân Úc-Việt trong việc bảo vệ và xây dựng tự do suốt thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai. Thay mặt cho người dân Victoria, họ nói lên sự công nhận và biết ơn về những hy sinh, đóng góp và xương máu của các quân nhân Úc-Việt. Sau lễ tôn vinh, mọi người được mời ra trước tiền đình tòa nhà Quốc Hội để cùng các dân biểu, nghị sĩ chụp hình kỷ niệm đánh dấu sự kiện lịch sử của tiểu bang.

10:30, trong buổi tiếp tân sau đó tại Toà Nhà ANZAC House gần bên Quốc Hội, đại diện Cộng Đồng Người Việt Tự Do (CĐNVTD) Victoria (Cô Phượng Vỹ, Chủ Tịch), Ông Võ Trí Dũng (Chủ tịch CĐNVTD Úc Châu từ Sydney đến), Ông Albert Le (một người trẻ trong BCH CĐ NVTD Victoria), Ông Bob Elworthy (Chủ Tịch Hội Cựu Chiến Binh Úc tại Victoria), Ông Nguyễn Công Minh (Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà Liên Bang kiêm Tiểu Bang Vic) đã nói lên những cố gắng vận động của Cộng Đồng NVTD để hôm nay Chính Phủ và Quốc Hội Tiếu Bang Victoria chính thức tôn vinh các Cựu Quân Nhân Úc-Việt về những đóng góp của họ trong thời chiến cũng như sau chiến tranh tại quê hương thứ hai là nước Úc Đại Lợi. Các đại biểu cũng hân hoan chào đón quyết định tôn vinh các Cựu Chiến Binh Úc-Việt của chính phủ và Quốc Hội Victoria. Đây là một quyết định mang tính lịch sử mà người lính Úc-Việt mong đợi từ hơn 40 năm qua.

Một buổi tiệc trà tiếp tân thân mật diễn ra sau đó. Đến 11:45, một cuộc họp báo đã được tổ chức tại Quốc Hội Tiểu Bang để ghi nhận sự kiện quan trọng này.

Thông Cáo Báo Chí về ngày Tôn Vinh Cựu Quân Nhân Úc-Việt tại Victoria

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm trận đánh Long Tân tại Việt Nam trong đó 108 chiến binh Úc Đại Lợi đã đánh tan một đoàn quân hơn 1.500 người của Cộng Sản Bắc Việt, các cựu quân nhân Úc-Việt lần đầu tiên sẽ sát cánh trong cuộc diễn hành tại thành phố Melbourne ngày ANZAC Day, 25/4/2016. Cuộc chiến tại Việt Nam ghi nhận một sự xung đột tại xã hội Úc kéo dài nhất trong thế kỷ 20. Gần 60.000 (sáu mươi ngàn) quân nhân Úc đã tham chiến tại Việt Nam và 521 người đã tử trận trên mảnh đất đó để bảo vệ tự do và dân chủ cho người Việt.

Bộ Trưởng Cựu Quân Nhân John Eren và Bộ Trưởng Sắc Tộc Sự Vụ Robin Scott hôm nay đã cùng các cựu quân nhân Úc-Việt tham dự buổi lễ tôn vinh những chiến sĩ Úc-Việt đã sát cánh trong cuộc hy sinh gian khổ bảo vệ tự do. Hơn 100 cựu quân nhân Úc-Việt đã có mặt tại Quốc Hội trong buổi lễ tưởng niệm long trọng tại Quốc Hội Tiểu Bang hôm nay. Người Cựu Quân Nhân hôm nay đã lấy lại được danh dự của mình. Danh dự ấy đã bị làm hoen ố và cướp mất sau khi họ trở về từ cuộc chiến vì những cuộc biểu tình chống chiến tranh và những âm mưu chính trị thù hận. Các cựu quân nhân Úc đã không được đón tiếp như những anh hùng mà phải chịu những sự chỉ trích cùng hổ thẹn khi trở về từ cuộc chiến. Hôm
nay danh dự của họ đã được trả lại đúng như lịch sử mong muốn.

Bộ Trưởng John Eren nói: “Tình bằng hữu giữa người dân Victoria và người lính VNCH đã được hun đúc trong trận chiến gian khổ. Tình bạn đó đã lớn lên khi hàng ngàn người Việt đã chọn Victoria làm quê hương thứ hai của mình. Họ đã có những đóng góp tuyệt vời cho nước Úc hôm nay. Khi chúng ta tạm dừng lại để tưởng niệm cuộc chiến Long Tân 50 năm trước, chúng ta lại một lần nữa sát cánh trong cuộc diễn hành long trọng ngày ANZAC Day sắp tới.”

Bộ Trưởng Robin Scott nói: “Suốt trong hơn 40 năm qua, người Việt tại Victoria đã đóng góp rất nhiều cho tiểu bang và cho nước Úc nói chung. Chúng tôi ghi nhận những những thành tựu của các gia đình Việt Nam khi họ di cư đến đây và những hy sinh gian khổ mà họ đã phải gánh chịu trong cuộc đấu tranh vì tự do. Cộng Đồng VN đã có những đóng góp bằng cách làm việc hết sức và sự cống hiến của cộng đồng người Việt thật to lớn cũng như sự chia sẻ những nét đẹp văn hoá và truyền thống của cộng đồng với các sắc dân khác tại nước Úc này.”
Nguồn:  http://www.vietcatholic.net/News/Html/182515.htm

LỄ VINH DANH CỰU CHIẾN BINH ÚC VÀ CỰU QUÂN NHÂN QLVNCH ĐÃ HY SINH BẢO VỆ MIỀN NAM VIỆT NAM.

Tin Úc Châu – Thứ Năm ngày 14 tháng 4 Quốc Hội tiểu bang Victoria Úc Đại Lợi đã tổ chức Lễ chính thức công nhận, vinh danh và tri ân những cựu chiến binh Úc tham chiến tại miền Nam Việt Nam và các cựu quân nhân QLVNCH những người đã sát cánh bảo vệ miền Nam Việt Nam tự do.
Buổi lễ cũng đánh dấu 50 năm trận chiến Long Tân trận đánh nổi tiếng nhất của quân đội Úc khi tham chiến tại Việt Nam. Trận chiến diễn ra trong hai ngày 18 và 19/8/1966 có sự tham dự của đơn vị biệt đội Delta 6RAR với 18 binh sĩ Úc thiệt mạng, 24 người bị thương.
Trên 100 cựu chiến binh Úc – Việt và đại diện các hội đoàn tham dự buổi lễ vinh dự này. Buổi lễ đã được ông Thủ Hiến Daniel Andrews khai mạc với sự tham dự của một số Bộ Trưởng chính phủ ông Luke Donnellan Bộ Giao Thông, ông John Eren Bộ trưởng Bộ Cựu Chiến binh và ông Robin Scott Bộ trưởng Bộ Sắc Tộc .
Những quan khách tham dự Lễ Vinh Danh được chia ra làm 2 nhóm để tham dự cả Hạ viện và Thượng viện. Ở mỗi Viện chừng 10 dân biểu và nghị sỹ mỗi người có 90 giây để tuyên bố ghi nhận sự kiện. Đây là 1 sự kiện lịch sử vì lần đầu tiên cả Lưỡng Viện Quốc Hội Úc vinh danh các cựu chiến binh anh dũng bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam. Được biết Cộng đồng đang vận động một buổi lễ tương tự tại Quốc Hội Liên Bang.
Sau buổi lễ là buổi tiếp tân liên hoan tại ANZAC HOUSE với sự phát biểu của bà Nguyễn Phượng Vỹ chủ tịch CĐNVTD Victoria, ông Võ Trí Dũng chủ tịch CĐNVTD Úc châu, ông Albert Lê Phụ Tá Phó Chủ Tịch Nội vụ CĐNVTD Victoria, ông Bob Elworthy Chủ tịch Hội Cựu Chiến Binh Úc và ông Nguyễn Công Minh Chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân Úc châu và Victoria.
Sau cùng là một cuộc họp báo cho hai ông Bộ trưởng Bộ Cựu Chiến binh John Eren và Bộ trưởng Bộ Sắc Tộc Robin Scott.
LỄ VINH DANH CỰU CHIẾN BINH ÚC VÀ CỰU QUÂN NHÂN QLVNCH ĐÃ HY SINH BẢO VỆ MIỀN NAM VIỆT NAM.
vinh danh uc 1
Nguyễn Quang Duy
Melbourne Úc Đại Lợi
15-4-2016
Ngồn:http://thoibao.com/le-vinh-danh-cuu-chien-binh-uc-va-cuu-quan-nhan-qlvnch-da-hy-sinh-bao-ve-mien-nam-viet-nam/