Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Chủ Nghĩa Be-Bờ & Chiến Tuyến Việt Nam

Chủ Nghĩa Be-Bờ & Chiến Tuyến Việt Nam: Từ Chiến Lược Không “Đánh Thực”, “Không-Cốt-Thắng” Tới Ngày QUỐC HẬN

Căn Bản của Chủ Nghĩa Be-bờ
Chủ Nghĩa Be-bờ [Containment Doctrine][1] là nền tảng của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ dùng áp lực quân sự và ảnh hưởng kinh tế để “ngăn chặn” sự bành trướng của chế độ Cộng sản trên thế giới, không khác mấy việc “kiểm dịch” [quarantine][2] ngăn cản việc lây nhiễm của một căn bệnh hiểm nghèo.  Chính sách này nhằm một mặt gia tăng an ninh cho Hoa Kỳ và mặt khác tránh “hiệu ứng Domino” [“domino effect”][3] gây cảnh các quốc gia tuần tự đổ theo khi một quốc gia lân cận bị cộng sản chiếm đoạt.  Chủ nghĩa Be-bờ do nhà ngoại giao Hoa Kỳ George F. Kennan[4] khơi thuật từ năm 1947[5] và đã ảnh hưởng tới đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ kể từ thời Tổng Thống Harry S Truman.[6] 
Chủ Nghĩa Be-bờ căn cứ vào những nhận định sau:[7]
  • Xôviết cộng sản luôn luôn ở thế chiến đấu trường kỳ chống đối tư bản;
  • Xôviết cộng sản tìm mọi cách kết tác với thành phần cảm tình viên trong thế giới tự do;
  • Hiện tượng xâm lược của Xôviết cộng sản bắt nguồn từ truyền thống bài ngoại của Nga Xô;
  • Cơ cấu của XôViết cộng sản cắt đứt với thực tế nội bộ và ngoại tại.
Chủ Nghĩa Be-bờ đã hội nhập thành Chủ Nghĩa Truman [Truman Doctrine][8] để khẳng định nguy cơ của nguyên khối cộng sản chuyên chế sẵn sàng xâm nhập thế giới tự do trong cuộc “Chiến Tranh Lạnh” [Cold War].[9]  Theo chiều hướng ngăn chặn tiềm lực đe doạ Xôviết cộng sản, Truman xếp đặt một loạt những biện pháp:
  • hỗ trợ như Kế hoạch Marshall [Marshall Plan][10], giúp tái dựng Tây Âu sau Thế chiến thứ 2,  song song với việc thành lập Ngân Hàng Thế Giới [World Bank] và Quý Tiền Tệ Quốc Tế [International Monetary Fund];
  • cảnh phòng giữa Hoa Kỳ và Tây âu dưới hình thức liên minh quân sự Bắc Âu  [NATO, North Atlantic Treaty Organization] với khẩu hiệu: “Nga ngoài, Mỹ trong, Đức dưới” [“to keep the Russians out, the Americans in, and the Germans down.”][11]
  • Thu thập tin tức cẩn mật từ  quốc ngoại qua Cơ Quan Trung ương Tình Báo [Central Intelligence Agency/CIA] dưới sự điều động của Ủy Ban An Ninh quốc Gia [National Security Council].[12]
Về mặt quân sự, Chủ Nghĩa Be-bờ chỉ chú trọng tới hình thức “ngăn chặn, đề phòng” trong thời kỳ “Chiến tranh Lạnh”, hoặc nếu có xung đột, thì áp dụng sách lược “Chiến tranh hạn chế” [“limited war” policy].  Điển hình, tuy đã cho phép Douglas MacArthur vượt vĩ tuyến 38 tiến đánh Bắc Hàn, Truman vẫn khiển trách danh tướng này đã chủ động “quyết thắng” hơn là thi hành thuần Chủ Nghĩa Be-bờ, mà về mặt quân sự, MacArthur chê là một giải pháp nhì nhằng “Không-Cốt-Thắng” [“No-win policy”].[13] 
Khai mở Chủ Nghĩa Be-bờ tại Việt Nam      
Chủ Nghĩa Be-bờ và Thuyết Domino lại được áp dụng qua chính sách đối ngoại của Hoa ky tại Việt Nam, trong nhiều giai đoạn.
TT Truman năm 1952 cấp viện 60 triệu Mỹ Kim cho Pháp [đồng minh NATO] trong việc chống du kích chiến cộng sản tại Việt Nam và mặt trận Đông Dương.  
TT Dwight D. Eisenhower [nhiệm kỳ 1953-61] đã nhấn mạnh vào “hiệu ứng domino” để chỉ về nguy cơ phát triển của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương và cho rằng nếu Hoa kỳ không can thiệp để phe cộng sản chiếm cứ Việt Nam thì Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện sẽ sụp đổ như quân bài domino và rơi vào khối cộng sản.[14] Do đó, Chính phủ Eisenhower tìm cách giúp đỡ[15] đồng minh [NATO] Pháp vào giai đoạn cuối cùng của Chiến tranh Đông Dương với 3 điều kiện:
  1. tăng cường quân đội tác chiến nếu 3 thành phần Hoa Kỳ, Anh & Úc tham dự đồng đều;
  2. Chính quyền Pháp cam kết trả lại độc lập cho các quốc gia Đông Dương;
  3. Quốc Hội Hoa Kỳ tuyên bố khai chiến.
Trước tiên Thủ tướng Anh Winston Churchill từ chối tham dự, sau đó, Quốc Hội Hoa Kỳ chỉ muốn áp dụng sách lược “Chiến tranh hạn chế” tại Việt Nam, để tránh nguy cơ Thế chiến Thứ 3, nên cũng đã từ chối không giúp Quân Đội Viễn Chinh Pháp tại Điện Biên Phủ.  Hậu quả là Chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt, và với Hội Nghị Genève [tháng 7 năm 1954] Việt Nam chia đôi để sau đó tiếp tục cuộc chiến ý thức hệ, giữa Phe Tự do ở Miền Nam Việt Nam và Phe Cộng sản ở Miền Bắc.
Việt Nam Thành Thí Điểm Chủ Nghĩa Be-Bờ     
TT JF Kennedy [nhiệm kỳ 1960-63] bổ nhiệm học giả McGeorge Bundy vào chức vụ Cố vấn An ninh Quốc gia.  Sau khi Hoa Kỳ thất bại đổ bộ tại Vịnh Heo Cuba [Bay of Pigs Invasion][16] và bị khiêu khích bởi Tường Ngăn Berlin, TT Kennedy & Bundy coi Nam Việt Nam là thí-điểm-để-thực-hiện chiến lược Be-bờ tại Đông Nam Á và nghĩa vụ phải giúp đỡ các đồng minh bản địa chặn đứng chủ nghĩa cộng sản tại Miền Nam Việt Nam và Đông Dương. Đó là tiền đề để giải thích cho sự can thiệp ngày càng sâu của Hoa Kỳ vào Chiến tranh Việt Nam và sau này dẫn đến sự tham chiến trực tiếp của Quân đội Hoa Kỳ tại chiến trường Đông Dương thời TT Lyndon Johnson.
Do đó, chính phủ Kennedy để lại một số dấu ấn trên định mệnh Miền Nam Việt Nam:
Từ năm 1961, TT Kennedy tiếp tục sách lược “chiến tranh hạn chế” tại Miền Nam Việt Nam, đôn đốc một lực lượng tham chiến từ 800 tăng tới 16,300 binh sĩ Hoa Kỳ, với ý định rút quân khỏi mặt trận Việt Nam càng sớm càng tốt.
Trong khi TT Dwight D. Eisenhower nhiệt liệt ủng hộ sự thành lập đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam dưới sự lãnh đạo của TT Ngô Đình Diệm, thì chính quyền Kennedy bắt đầu có triệu chứng “thất sủng” TT Ngô Đình Diệm vì chính thể của Ông lúc đó hạn chế mức độ dân chủ hoá Miền Nam Việt Nam vào trọng tâm ưu đãi của một thiểu số gồm có gia đình họ Ngô, các cựu quan lại và lực lượng quân, dân, cán chính thuộc Đảng Cần Lao, gốc Ky Tô giáo.  Hậu quả là gần 90% dân chúng tại Miền Nam Việt Nam, gồm một số đảng phái như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Xã Đảng v.v., các nhà trí thức độc lập, tín đồ Phật giáo, Cao Đài, Hoà Hảo v.v.  đã mất cơ hội tham dự vào Cao trào Dân chủ mà Chủ nghĩa Be-bờ hứa hẹn đối với toàn dân của Chiến Tuyến này.  Hậu quả của chính sách “biệt đãi/cô lập” dân chủ hoá trên đã tạo ra những xáo trộn trong khắp Miền Nam Việt Nam, một cách rất đáng tiếc.  Chúng ta đã mất một cơ hội hy hữu dựng nước toàn vẹn trong tay của rất nhiều người Việt, cũng yêu nước, cũng tôn trọng dân chủ tự do.
Sau hai cuộc đảo chính hụt, và sức chống đối của dân chúng, nhất là các cuộc Tranh đấu Phật giáo, TT Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã bị bắt và hạ thủ bởi thuộc hạ của Đại Tướng Dương Văn Minh và một số tướng lĩnh trẻ trong cuộc Đảo Chính tháng 11 năm 1963.  Nhiều tài liệu lịch sử [mới được “giải mật”] đã xác định biến cố này có hậu thuẫn của CIA Lucien Conein, Đại sứ Cabot Lodge, Bộ Ngoại gia Hoa Kỳ,[17] dù lúc xẩy ra cuộc ám sát trên, TT Kennedy & Cố vấn Bundy đã khôn khéo “vắng mặt” nơi nhiệm sở.  Riêng Maxwel Taylor, Tư lệnh Hội Đồng Tướng Lĩnh Hoa Kỳ ghi nhận trách nhiệm của Hoa Kỳ về cuộc đảo chính và  ám hại TT Ngô Đình Diệm và Ô. Ngô Đình Nhu.[18]
Từ góc nhìn của Hoa Kỳ, vấn đề loại bỏ TT Ngô Đình Diệm và Ô. Ngô Đình Nhu là do [a] tình trạng khiếm khuyết dân chủ thực sự tại Nam Việt Nam, [b] ảnh hưởng tai hại của vợ chồng Ngô Đình Nhu về chính sách tôn giáo, và [c] phần nào vì Ngô Đình Nhu “hù doạ” chủ trương trung lập, thay thế TT. Ngô Đình Diệm v.v. với ý định làm giảm sức ép của Hoa Kỳ.[19]
Biến Hoá Chủ Nghĩa Be-bờ tại Việt Nam    
TT Lyndon Johnson [nhiệm kỳ 1963-69] tiếp tục nhưng biến hoá đường lối đối ngoại “Be-bờ” của cố TT JF Kennedy, bị ám sát vài tuần sau Anh Em họ Ngô.  Năm 1964, khi ứng cử viên Cộng hoà Barry Goldwater thách đố TT đương nhiệm: “Tại sao không nghĩ tới chiến thắng?”[20] thì TT Johnson lại trả lời một cách nước đôi: “Chỉ vào can thiệp tới mức đó thôi”.[21] Thật vậy, đường lối “Can thiệp giới hạn” này vừa tăng, vừa hãm, qua nhiều hình thức:
Thông qua Biểu quyết về Vịnh Bắc Việt [Gulf of Tonkin Resolution][22] để lấy cớ  trừng phạt vụ các phóng thủy lôi hạm Bắc Việt đụng độ với khu trục hạm USS Maddox & USS Turney;
Quyết định chuyển Không Đoàn 18 Tác Chiến từ Okinawa đáp xuống căn cứ Đà Nẵng và cho phép phản lực F-105 vượt vĩ tuyến 17 oanh tạc và thả bom các địa phận thuộc lãnh thổ Bắc Việt, cốt gây áp lực hao mòn địch vận để đưa tới thảo luận ngưng chiến;
Lần lượt đáp ứng số gia tăng quân lực chính quy [Quân Đội Nhân Dân] đột nhập từ Bắc Việt, phối hợp với quân lực địa phương của Giải Phóng Miền Nam [GPMN], Hoa Kỳ đã gia tăng quân lực từ 16,000 binh sĩ [năm 1963, cuối thời Kennedy] tới con số cao nhất là 537,000 binh sĩ [năm 1968, thời Lyndon Johnson], với sứ mạng duy nhất là canh phòng chung quanh các phi trường và các địa điểm “phòng thủ” trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam.  
TT Lyndon Johnson không rút quân dưới áp lực đòi hoà bình của phe “Bồ Câu”, nhưng cũng không liều lĩnh tiến quân đánh ra Bắc Việt như các tướng lĩnh và phe chủ chiến “Diều Hâu” đòi hỏi, chỉ vì “sợ rằng” đó là những hành vi khiêu khích làm các Quốc gia chủ chốt [Nga Xô & Trung cộng]  phản ứng biến thành Đệ Tam Thế chiến Nguyên tử.  Đó là lý do tại sao TT Lyndon Johnson từ chối không cho Tướng William Westmoreland đem quân sang Lào cắt đứt đường tiếp liệu của Bắc Việt.  Đó cũng là ưu điểm bắt nọn của Nga xô, Trung Cộng và Bắc Việt Cộng sản “thừa thắng” xua hết quân lực xâm nhập Miền Nam mà không sợ ai dám phương hại nội tuyến. 
Về phía Việt Nam, Giai đoạn “Hậu Đệ Nhất Cộng Hoà” là một thời kỳ “quân quản” với 10 biến cố chính trị gồm những cuộc đảo chính hụt và những cuộc “chính lý” thay quyền, đổi thế giữa các tướng lãnh, thuộc Hội Đồng Quân Nhân cách Mạng, Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm thời, Thượng Hội đồng Quốc gia, Hội Đồng quân Lực và cuối cùng là  Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc gia trước khi thanh lập Việt Nam Đệ Nhị Cộng Hoà với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Phó.  Sự bất ổn nội bộ gây thêm trở ngại trong việc xây dựng dân chủ và thực thi bình định tại các nơi sôi động.
Đặc biệt trong giai đoạn này, Biến Cố Mậu Thân 1968 có nhiều trạng thái về mặt quân sự và tâm lý chiến:
  • về mặt chiến thuật, CSVN lợi dụng ngày Tết để phát động một cuộc tổng công kích trên toàn cõi Miền Nam Việt Nam, đã thất bại vì không đem lại cuộc tổng nổi dậy chiếm chính quyền, với hậu quả trực tiếp là hạ tầng cơ sở nằm vùng đều bị tiêu diệt hoặc lộ diện phải rút khỏi nơi công tác dân vận phá hoại. 
  • Nhưng về mặt chiến lược, cuộc tổng công kích này đã đem một chiến thắng tâm lý cho CSVN.  Biến cố Tết Mậu Thân đã giúp báo chí và dân chúng thuộc Phe chủ hoà chống chiến tranh Việt Nam bên Hoa Kỳ tuyên truyền gây ấn tượng là Hoa Kỳ và VNCH thiếu khả năng tranh đấu hữu hiệu đến nỗi không đề phòng kịp cuộc công kích.  Một số chính khách và cả Phạm Văn Đồng đã cho rằng CS “thắng cuộc chiến tại Việt Nam trên đường phố Hoa Thịnh Đốn”.  Thật vậy, Việt Nam đã mất vào tay CS ngay trong phòng sinh hoạt gia đình tại Hoa Kỳ, chứ không phải nơi chiến trường tại Việt Nam [Vietnam was lost in the living rooms of America–not on the battlefields of Vietnam].[23]  Thực tế đã cho thấy rõ, sự can thiệp của Hoa Kỳ qua chủ thuyết Be-bờ tại Việt Nam đã bắt đầu bị coi là vô hiệu và vô ích, khi tới cuối nhiệm kỳ của TT Lyndon Johnson, Hoa Kỳ hy sinh hơn 30, 000 binh si tử thương, không kể tin tức, hình ảnh số binh sĩ bị thương xuất hiện hằng ngày trên Ti Vi Hoa Kỳ.   
Chấm Dứt Chủ nghĩa Be-bờ tại Việt Nam    
Khi thay thế Lyndon Johnson vào năm 1969, TT Richard Nixon bắt đầu tái xét Chủ Nghĩa Be-bờ một cách thực tế hơn, không nhất thiết nhằm chống cộng sản hoặc bênh vực dân chủ.  Với con số tử vong hơn 1,000 binh sĩ Hoa Kỳ mỗi tháng trong suốt 10 năm từ 1963 tới 1972, TT Nixon và ngoại trưởng Kissinger đếu thấy rõ cuộc chiến không thể thắng tại Miền Nam Việt Nam, và họ cũng không thể kéo dài tình trạng cầm cự này lâu dài thêm.
Do đó, theo “đường lối đối ngoại xả hơi” [“Détente”][24], Nixon một mặt gia tăng nỗ lực thương thuyết với Nga Xô về “Chiến Lược Giảm Thiểu Vũ Khí Nguyên Tử” [Strategic Arms Limitation Talks],[25] mặt khác, cử Kissinger giao hảo với Trung cộng để hứa hẹn những điều kiện căn bản nhằm chấm dứt chiến tranh “trong danh dự”[26] tại Việt Nam đối với Hoa Kỳ.
Trong tinh thần đó, Nixon quyết định giảm thiểu quân số tác chiến từ  537,000 xuống 27,400 binh sĩ vào cuối năm 1972 để chuyển sang giai đoạn “Việt Nam hoá” cuộc chiến [Vietnamization], cũng gọi là “Chủ thuyết Nixon”,[27] bằng cách rút quân sĩ Hoa Kỳ về từng đợt và giao thêm trách nhiệm tác chiến cho Quân Đội VNCH.  Trong giai đoạn này đã xẩy ra những chiến cuộc ác liệt như sau:
  • Cuộc Hành Quân Lam Sơn tháng 2 năm 1971 [Lam Son Operation 719] sang Hạ Lào một mặt có thể coi là chiến thắng cho Quân lực VNCH vì trong cuộc hành quân nầy, QLVNCH đã phá hủy được phần lớn căn cứ hậu cần địch dọc theo hệ-thống đuờng mòn Hồ Chí Minh tại cứ điểm Tchépone. Nhưng mặt khác, cuộc hành quân này hao tốn nhiều xương máu của binh sĩ tham chiến.  Nhiều quân trang quân dụng cùng vũ khí đủ loại kể cả pháo binh và thiết giáp đem vào khi xung trận, lại phải hủy diệt tại chổ hay biếu không cho địch.  Chẳng có đơn vị nào còn nguyên vẹn trong cuộc lui binh rầm rộ, hỗn độn.  
  • Trận Thành Cổ Quảng Trị là một trong những trận chiến ác liệt nhất trong Chiến dịch “Mùa Hè đỏ Lửa” 1972.  Cuộc chiến khởi đầu từ trưa ngày 30 tháng Ba, 1972. Quân Bắc Việt [QBV] bất ngờ phóng ra cuộc tấn công lớn nhất trong cuộc chiến Việt Nam. Lần nầy QBV gần như đánh một trận đánh qui ước, với viện trợ rộng rãi và vô giới hạn về đạn pháo, xe tăng Liên Xô và các vũ khí phòng không mới nhất. QBV đã đạt nhiều thắng lợi lúc ban đầu. Sư đoàn 3 QLVNCH thoái lui và tan rã trước sức tấn công của 5 sư đoàn QBV và nhiều trung đoàn xe tăng, phòng không, đại pháo, hoả tiễn đủ loại.   Đến tháng 5 năm 1972 thì QBV chiếm được toàn bộ Quảng Trị. Giữa tháng 6, Quân lực Việt Nam Cộng hòa khởi sự phản công.  Sau 81 ngày đêm tranh đấu, các binh chủng Nhẩy Dù, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục Chiến của QLVNCH đã chiếm lại Cổ Thành.
  • Cũng trong chiến dịch Mùa Hè 1972, sau 54 ngày giao tranh qua 7 cuộc tấn công tại An Lộc, Cộng quân đã thiệt hại khoảng 30 ngàn binh sĩ.  QLVNCH được coi là thắng trận vì Bộ binh và Biệt động quân đã ngăn cản được Cộng quân Bắc Việt khi họ mưu mô tiến đánh Thủ Đô Sài Gòn.  Trong trận An Lộc, Hoa Kỳ một mặt dùng không quân chiến thuật yểm trợ QLVNCH phía Nam An Lộc, mặt khác, sử dụng không quân chiến lược B-52 liên tiếp thả bom phía Bắc thị trấn này để phá hủy kho vũ khí đạn dược mà Cộng Sản Bắc Việt chuyển tới.
Sau nhiều cuộc thảo luận, thông đồng sau lưng đồng minh và nhiều điều cam kết với ý định lừa lọc, Hiệp Định Paris được ký kết vào năm 1973, giữa Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Việt Nam Cộng Hoà và Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam [thành lập năm 1969, do Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch].
Năm 1973, Tổng trưởng Quốc Phòng Schlesinger đề nghị Quốc Hội cho phép thả bom lại Bắc Việt nếu HàNội vi phạm Hiệp Định Paris trong trường hợp họ đem quân đánh lớn tại Miền Nam.  Thượng Viện lập tức ra Đạo luật Case-Church Amendment để cấm việc thả bom này.[28] Do đó, mọi cam kết bênh vực, mọi hứa hẹn ngon ngọt của TT Nixon đối với TT NVThiệu đều phải coi là hư ảo, nếu không muốn gọi là lừa đảo.
Trong khi đó,  QBV thao túng dùng đường mòn Hồ Chí Minh tiếp tục tải thêm đơn vị tác chiến, thêm súng ống, đạn dược đủ loại, với xe tăng, thiết giáp do Trung Cộng tiếp viện để chuẩn bị cho một cuộc tổng tấn công dự tính từ 1975 tới 1976.  Nhưng cuộc Hành Quân 275 dưới quyền chỉ huy của tướng Trần Văn Trà đã đem lại những kết quả nhanh chóng hơn dự tính của Hà Nội.  Sau khi Ban Mê Thuột bị bao vây, TT NVThiệu ra lệnh Tướng Phú rút quân khỏi Pleiku và Kontum ngày 12 tháng 3 năm 1975.  Huế, rồi Đà Nẵng thất thủ vào cuối tháng 3. Cuối cùng, Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, chấm dứt một cuộc chiến 20 năm nhiều hy sinh bẽ bàng.[29]  
  • hơn 3 triệu binh sĩ và dân sự Hoa Kỳ đã phục vụ tại chiến tuyến Việt Nam từ 1954 tới 1975, với tổng số 53,193 tử vong, 120,000 bị thương [trong đó hơn 20,000 người vĩnh viễn tàng tật]. 
  • khoảng 239,587 tử vong phía Việt Nam Cộng Hoà;
  • khoảng 680,000 quân chính quy Bắc Việt và 251,000 binh sĩ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tổng cộng lên tới 931,000 tử vong;
  • Tổng số tử vong “bên lề chiến tranh” cả Nam lẫn Bắc Việt Nam được ước lượng từ 1 triệu 500 ngàn tới 2 triệu người dân vô tội.
Phản Diện Chủ nghĩa Be-bờ tại Việt Nam    
Chủ nghĩa Be-bờ diễn tiến tại Việt Nam như một vở tuồng bốn màn: [1] Khai mở với sáng kiến của TT Truman & TT Eisenhower, [2] xác định vị trí “be-bờ“ do TT JK Kennedy & Co Vấn Bundy, [3] biến hoá cao độ với TT Lyndon Johnson, [4] để lần lượt tụt hậu và chấm dứt trong “danh dự”,[30] với TT Nixon và ngoại trưởng Kissinger.  
Sự thực cả bốn cảnh đó gom lại vẫn chỉ là “bề diện ngoài” của một ý đồ bền bỉ, vốn là cái tâm của Chủ Nghĩa Be-bờ: quyền lợi của Tư bản.   Căn cứ vào chính ngôn từ của Chủ Nghĩa Be-bờ, cuộc chiến hạn chế ở nhiều mặt trận trên thế giới và tại Việt Nam nhằm :
  • vừa có tác động be-bờ bảo toàn an ninh cho từng khu vực,
  • vừa làm hao mòn đối tác của cuộc chiến hạn chế, kéo dài, chuyển hoá;[31]
  • Nhưng cũng có thể bị mắc kẹt vào cái nạn của đà vận chuyển guồng máy sản xuất do tư bản ứng vốn.  Cái tiềm lực phồn thịnh lên xuống, đôi khi mang tai ách của hiện tượng mà chính TT Eisenhower e ngại: trí tuệ, thiện tâm đôi khi bị chi phối và tận dụng bởi cơ sở liên kết “Tập Đoàn-Kỹ Nghệ-Quân Sự” [Military Industrial Complex].[32] Cái phương thức đấu tranh cho lẽ phải và hoà bình đôi khi quá đắt, quá đáng: “This conjunction of an immense military establishment and a large arms industry is new in the American experience…In the councils of government, we must guard against the acquisition of unwarranted influence, whether sought or unsought, by the military-industrial complex. The potential for the disastrous rise of misplaced power exists and will persist. We must never let the weight of this combination endanger our liberties or democratic process.” — President Dwight Eisenhower.[33]
Quyền lợi của các tài phiệt sản xuất nhu liệu chiến tranh mỗi lúc mỗi tăng trưởng, mỗi lúc mỗi phân hoá, biến thể làm hao hụt công quỹ và tài lực của dân chúng.  Tổng kinh phí của chiến tranh tại Việt Nam lên tới 111 Tỷ Mỹ Kim [khoảng hơn 700 tỷ Mỹ Kim theo vật giá năm 2008], dù hạn chế vừa đủ để nuối dưỡng cái lò cơ khí đạn dược siêu đẳng này, một lúc nào đó sẽ bị coi là quá đáng, quá mức chịu đựng của công quỹ Hoa kỳ.  Dân sẽ chống đối, vì thuế cao, đời sống đắt đỏ. Và khi tư bản Hoa Kỳ thấy hết lời, hết lợi ích đầu tư, họ rút vốn xoá bài, và mặt trận tiêu thụ nhu liệu đó chấm dứt cái một.
Với cái “tâm” của Chủ Nghĩa Be-bờ trên, chúng ta thấy rõ là lý do tại sao chính thể và quân đội Việt Nam Cộng Hoà chỉ được phép “thi hành” một trận chiến phòng thủ, vừa tiêu mòn, vừa luộm thuộm, vì không ai [kể cả tướng tá Hoa Kỳ] có sáng kiến “đánh thực/thắng thực”, nhất là khi “đồng minh” Việt Nam không hề “thực sự” được giao quyền sở hữu cuộc chiến lẫn định mệnh sống còn.  Quân dân Miền Nam Việt Nam tranh đấu không khác gì những “con cờ người” đem nhiệt tình máu mủ vào một “bàn cờ chính trị quốc tế” viễn kiểm bằng trí tuệ và quyền lợi tài phiệt vô cảm.  Chúng ta biết cảm ơn những binh sĩ trẻ đã tới Miền Nam bảo vệ tính mạng dân chúng và những chính khách, chuyên viên có thiện chí thực sự thi hành công cuộc “be bờ” tạo dựng dân chủ non nớt.  Nhưng chúng ta vẫn ai oán khi “chính trị thực tế” [Real Politics] cho thấy chúng ta thực sự không có chủ quyền quyết định về vận mệnh của chúng ta, ngoài việc nhận lấy những việc đã rồi, xắp xếp sau lưng chúng ta, không một chút liêm sỉ và không mấy thướng xót cho kẻ đồng hành, đồng minh kém vế.
Ngay cả Quân đội và Nhân dân Bắc Việt cũng lâm vào cảnh ngộ không sáng sủa gì hơn, nếu không nói là khốn đốn, nguy ngập.  Quân đội và Nhân dân Bắc Việt đã thắng nhờ vào kỹ thuật chiến tranh có viện trợ của Nga Xô và nhất là của Trung cộng.  Họ là kẻ thắng trận, nhưng không hề thắng cuộc. Họ đã chiếm được Sài Gòn, nhưng ngay sau 1975 và tới ngày hôm nay họ đang thua trên toàn quốc Việt Nam vì đối nội thiếu khả năng quản trị Đất Nước trong “hoà bình”, khi mất cớ lừa bịp dân chúng với chiến tranh, và nhất là về mặt đối ngoại khi họ phải trả nợ hơn 50 năm viện trợ Trung Cộng bằng cách xoá bỏ ranh giới, cầm cố đất đai, rừng già, bán biển, bán đảo, bán dân.
Đó cũng là bài học chung cho những thế hệ sau: Đất nước là của chung, phải định đoạt với nhau, không thể nhờ vả ngoại nhân, vì họ có mục tiêu và quyền lợi của họ.  Cái khôn là biết hợp tác để trao đổi thế lực, trí tuệ và phẩm giá với nhau trong một cộng đồng nhân loại mở, nhưng việc sống chết vẫn là quyết định của từng dân tộc, từng  thể chế tác động nhân danh dân tộc họ, chứ không phải theo quyền lợi của đảng phiệt, của quân phiệt, của tài phiệt.  Không ai sống hộ chúng ta và cũng không ai chết thay chúng ta, ngoài chính chúng ta và con cháu chúng ta.  Cái vinh cùng hưởng, cái nhục cũng cùng chịu, khi theo đuổi, thực hiện trên căn bản quyền lợi và và trách nhiệm chung hay tương tự.
Chúng ta, con cháu chúng ta hãy tránh là nạn nhân lẫn tòng phạm của những cảnh khốn đốn luân phiên, luẩn quẩn bao vây, hủy hoại từng thế hệ này sang thế hệ khác.  Hãy lật ngược những trang bi sử đó và nhất quyết trở thành sáng lập viên chung của một vận nước cao đẹp, cởi mở, tử tế, vững bền, tích cực, trọng sinh, trọng nghĩa mà con người toàn diện được bảo trọng, thân thương.  Việt Nam phải là của dân, do dân, vì dân một cách thực sự, nếu không muốn bị vĩnh viễn xoá bỏ.
Để tránh làm nạn nhân của những cuộc chiến ảo thuật bao vây “be bờ” trong tương lai, toàn thể nhân dân Việt Nam, toàn thể Người Việt trong và ngoài nước, tất cả những Người Việt thực sự yêu Nước phải sớm thực hiện tại Việt Nam, ngay từ bây giờ và tiếp nối trong tương lai một Xã hội Chân chính Nhân bản, tự chủ, tự quyết và một Chính thể Cộng Hoà hiến-định-trọng-pháp-trọng sinh, đa nguyên đa đảng, không chuyên chế độc tài. 
Dù là cộng sản hay không cộng sản, dù là phát xít, hay quân phiệt, tài phiệt, chủ trương và quyền lợi của một đảng không bao hàm đủ quyền lợi và nhu cầu của cả một dân tộc. Do đó, cứu cánh của quyền lực phải thuộc về dân. Xây dựng và bảo trọng một Xã Hội Nhân bản Pháp trị & một Chính thể Dân Chủ Chân Chính, Tự do Tự chủ, không bị ngoại xâm là giải pháp vậy.  
Trân trọng,
TS & LS Lưu Nguyễn Đạt
cập nhật April 12, 2014 & Nov. 6, 2015
CHÚ THÍCH
[1] “Kennan and Containment, 1947”, Diplomacy in Action, U.S. Department of State
[2] In March 1919, French Premier Georges Clemenceau called for a cordon sanitaire, or ring of non-communist states, to isolate the Russians. Translating this phrase, U.S. President Woodrow Wilson called for a “quarantine.” Both phrases analogize communism to a contagious disease.
[3] Referring to communism in Indochina, U.S. President Dwight D. Eisenhower put the theory into words during an April 7, 1954 news conference: Finally, you have broader considerations that might follow what you would call the “falling domino” principle. You have a row of dominoes set up, you knock over the first one, and what will happen to the last one is the certainty that it will go over very quickly. So you could have a beginning of a disintegration that would have the most profound influences.
[4] “Kennan and Containment, 1947”, Diplomacy in Action, U.S. Department of State
[5] Kennan responded on February 22, 1946 by sending a lengthy 5,500-word telegram (sometimes cited as being over 8,000 words) from Moscow to Secretary of State James Byrnes outlining a new strategy on how to handle diplomatic relations with the Soviet Union. At the “bottom of the Kremlin’s neurotic view of world affairs”, Kennan argued, “is the traditional and instinctive Russian sense of insecurity”. Following the Russian Revolution, this sense of insecurity became mixed with communist ideology and “Oriental secretiveness and conspiracy”.
Soviet behavior on the international stage, argued Kennan, depended chiefly on the internal necessities of Joseph Stalin’s regime; according to Kennan, Stalin needed a hostile world in order to legitimize his own autocratic rule. Stalin thus used Marxism-Leninism as a “justification for [the Soviet Union’s] instinctive fear of the outside world, for the dictatorship without which they did not know how to rule, for cruelties they did not dare not to inflict, for sacrifice they felt bound to demand… Today they cannot dispense with it. It is fig leaf of their moral and intellectual respectability.”
[6] Frazier, Robert. “Acheson and the Formulation of the Truman Doctrine” Journal of Modern Greek Studies 1999 17(2): 229–251. ISSN 0738-1727
[7] At the “bottom of the Kremlin’s neurotic view of world affairs”, Kennan argued, “is the traditional and instinctive Russian sense of insecurity”. Following the Russian Revolution, this sense of insecurity became mixed with communist ideology and “Oriental secretiveness and conspiracy”. Soviet behavior on the international stage, argued Kennan, depended chiefly on the internal necessities of Joseph Stalin’s regime; according to Kennan, Stalin needed a hostile world in order to legitimize his own autocratic rule. Stalin thus used Marxism-Leninism as a “justification for [the Soviet Union’s] instinctive fear of the outside world, for the dictatorship without which they did not know how to rule, for cruelties they did not dare not to inflict, for sacrifice they felt bound to demand…
[8] Gaddis, John Lewis. “Reconsiderations: Was the Truman Doctrine a Real Turning Point?” Foreign Affairs 1974 52(2): 386–402
[9] Kort, Michael (2001). The Columbia Guide to the Cold War. Columbia University Press
[10] Fossedal, Gregory A. Our Finest Hour: Will Clayton, the Marshall Plan, and the Triumph of Democracy. (1993).  Gimbel, John, The origins of the Marshall plan (Stanford University Press, 1976).
[11] Reynolds, The origins of the Cold War in Europe. International perspectives
[12] Amy B. Zegart,  Flawed by Design, The Evolution of the CIA, JCS, and NSC
[13] MacArthur, North Korea. Truman’s No-win policy
[14] Referring to communism in Indochina, U.S. President Dwight D. Eisenhower put the theory into words during an April 7, 1954 news conference: “Finally, you have broader considerations that might follow what you would call the “falling domino” principle. You have a row of dominoes set up, you knock over the first one, and what will happen to the last one is the certainty that it will go over very quickly. So you could have a beginning of a disintegration that would have the most profound influences.”
[15] Eisenhower’s memoirs of his years in the White House, Mandate for Change (1963)
[16] Lynch, Grayston L. 2000. Decision for Disaster: Betrayal at the Bay of Pigs. Potomac Books Dulles Virginia
[17] Assistant Secretary of State Roger Hilsman had written in August 1963 that “Under no circumstances should the Nhus be permitted to remain in Southeast Asia in close proximity to Vietnam because of the plots they will mount to try to regain power. If the generals decide to exile Diem, he should also be sent outside Southeast Asia.”  He further went on to anticipate what he termed a “Götterdämmerung in the palace”. We should encourage the coup group to fight the battle to the end and destroy the palace if necessary to gain victory. Unconditional surrender should be the terms for the Ngo family since it will otherwise seek to outmaneuver both the coups forces and the U.S. If the family is taken alive, the Nhus should be banished to France or any other country willing to receive them. Diem should be treated as the generals wish.” Hammer, Ellen J.(1987). A Death in November. New York City, New York: E. P. Dutton. ISBN 0-525-24210-4.
[18] According to General Maxwell Taylor, Chairman of the U.S. Joint Chiefs of Staff, “there was the memory of Diem to haunt those of us who were aware of the circumstances of his downfall. By our complicity, we Americans were responsible for the plight in which the South Vietnamese found themselves.”
[19] Gettleman, Marvin E. (1966). Vietnam: History, Documents, and Opinions on a Major World Crisis.
[20] Senator Barry Goldwater, the Republican candidate for president in 1964, challenged containment and asked, “Why not victory?”
[21] President Johnson, the Democratic nominee, answered that rollback risked nuclear war. Johnson explained containment doctrine by quoting the Bible: “Hitherto shalt thou come, but not further.”
[22] “Gulf of Tonkin Measure Voted In Haste and Confusion in 1964”, The New York Times, 1970-06-25
[23] Television brought the brutality of war into the comfort of the living room. Vietnam was lost in the living rooms of America–not on the battlefields of Vietnam. –Marshall McLuhan, 1975.
[24] Suri, Jeremi. Power and Protest: Global Revolution and the Rise of Détente. Harvard University Press (2003).
[25] SALT [Strategic Arms Limitation Talk]
[26] With honor
[27] Vietnamization or Nixon Doctrine
[28] Senate passed the Case-Church Amendment to prohibit such intervention. Hitchens, Christopher. The Vietnam Syndrome. Karnow, Stanley (1991)
[29]  Battlefield:Vietnam | Timeline
20 Years After Victory, April 1995, Folder 14, Box 24, Douglas Pike Collection: Unit 06 – Democratic Republic of Vietnam, The Vietnam Archive, Texas Tech University.
R.J. Rummell (1997). “Table 6.1A Vietnam Democide: Estimates, Sources & Calculations”. web site. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF. Retrieved 2010-01-01. 
Tran Van Tra, Tet, pp. 49, 50.web site (1997). “North Vietnamese Army’s 1972 Eastertide Offensive”. web site. http://www.historynet.com/north-vietnamese-armys-1972-eastertide-offensive.htm. Retrieved 2010-02-01. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
Kevin Buckley, “Pacification’s Deadly Price,” Newsweek 1972.
[30] Nixon, Richard (1978). RN: The Memoirs of Richard Nixon. Simon & Schuster.Also Text of President Nixon’s radio and television broadcast announcing the initialing of the Paris ‘Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam’
[31] Effect of the containment: The solution, Kennan suggested, was to strengthen Western institutions in order to render them invulnerable to the Soviet challenge while awaiting the eventual mellowing of the Soviet regime.
[32] Pursell, C. (1972). The military-industrial complex. Harper & Row Publishers, New York, New York.
[33] President Dwight Eisenhower, farewell speech to the nation, January 17, 1961

Nguồn: http://www.vietthuc.org/ch%E1%BB%A7-nghia-be-b%E1%BB%9D-chi%E1%BA%BFn-tuy%E1%BA%BFn-vi%E1%BB%87t-nam/

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Thơ lên tiếng của cộng đồng về phim "Khủng bố ở Little Saigon"


LittleSG San Jose: Thư Lên Tiếng về “Khủng Bố ở Little Saigon”

Posted by: Viet VungVinh



LITTLE SAIGON SAN JOSE FOUNDATION
2396 Senter Road, Suite #45, San Jose, CA 95112
Email: barrydo@gmail.com
Phone: 408-679-8902

Thư Lên Tiếng

San Jose, Ngày 9 tháng 11 năm 2015

Kính gởi: Giám Sát Viên Hệ Thống Truyền Thông PBS, Nhà Sản Xuất Chương Trình Frontline và Chủ Bút Cơ Quan Báo Chí ProPublica

Chúng tôi hoan nghênh và cảm kích hệ thống truyền thống PBS và các nhà sản xuất cùng các chủ bút của chương trình Frontline trong việc truy tìm công lý cho những nạn nhân bị giết, nhất là những người đã hành xử quyền tự do tư tưởng mà cuốn phim đã đề cập. Tuy nhiên, có thể vì sự cố-vấn khiếm khuyết hoặc có thể không nắm vững sự hiểu biết lịch sử đặc thù về chính trị và văn hóa của người Việt trong khoảng thập niên 80 từ các nhân sự điều hành thuộc chương trình Frontline khi trình chiếu phim tài liệu “Khủng Bố ở Little Saigon” vào ngày 3 tháng 11 năm 2015. Cuốn phim này đã tạo một luồn phẫn nộ trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt trên toàn Hoa Kỳ. Với cái tựa đề sai trật của cuốn phim dù mang một cái tên rất sôi nổi để lôi cuốn người xem, nhưng hoàn toàn không ăn khớp liên hệ gì đến ý tưởng tốt đẹp chủ ý của cuốn phim. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt cảm thấy bị xúc phạm danh dự và kính trọng của một cộng đồng tràn đầy sinh động và uy tín.

Người Việt tỵ nạn cộng sản ở Hoa Kỳ luôn theo đuổi cho sự tự do và dân chủ cho Việt Nam kể từ ngày Saigon thất thủ năm 1975. Tuy vậy, chúng tôi cũng là những công dân Hoa Kỳ tôn trọng luật pháp chống lại bất cứ bạo lực và những hành vi trái phép nào đối với những người khác chính kiến vì đây là một quốc gia tự do và dân chủ. Chúng tôi hỗ trợ và hợp tác với chính quyền để vạch trần bất cứ cá nhân hay tổ chức nào vi phạm luật pháp. Chúng tôi hỗ trợ sự công lý cho bất cứ nạn nhân nào bị giết chết mà cuốn phim đã bênh vực. Tuy nhiên, với lối đặt tiêu đề không đúng để tạo sôi nổi cho cuốn phim, các nhà sản xuất và phóng viên đã hành xử bất công lẫn tấn công cộng đồng người Việt hải ngoại. Đây là một vài khuyết điềm trong cuốn phim:

• Tên gọi “Little Saigon” đã không hiện hữu trong thập niên 80 khi những vụ giết người xảy ra như cuốn phim trình bày.

• Việc mặc quân phục cùng với vũ khí hình thức của các cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ nhắm vào mục đích nghi lễ trong các ngày họp mặt thân hữu, diễn hành trong ngày Tết Nguyên Đán, kỷ niệm ngày Quân Lực. Hình thức thao diễn nhắm vào mục đích tưởng niệm và nhắc nhớ thế hệ trẻ nhớ đến sự hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến Việt Nam.

Bởi vậy, khi dùng tên gọi “Little Saigon” cùng với sự suy diễn sai lầm về những bộ quân phục nghi lễ qua cách tường trình là “tạo ra một cuộc chiến khác” đã hướng dẫn sai lạc cho người xem. Ngay tại Hoa Kỳ, người Mỹ mang những bộ quân phục và đóng kịch lại cuộc Nội Chiến Nam Bắc mỗi năm vào những ngày lễ Memorial và ngày Cựu Chiến Binh đâu có nghĩa là Hoa Kỳ muốn trở lại cuốn chiến đó. Thêm nữa, tên gọi “Little Saigon” ở các thành phố có đông người Việt tỵ nạn cộng sản chỉ mới bắt đầu xuất hiện và công nhận bởi các giới chức từ thập niên 90 và là biểu tượng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt phát triển mạnh mẽ về sức mạnh kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị ở Hoa Kỳ.

Các nhà sản xuất chương trình Frontline chắc sẽ không đặt tên “Khủng Bố ở America” khi có nhiều vụ giết người không tìm ra thủ phạm xảy ra tại Hoa Kỳ. Với lối đặt tên tựa đề “Khủng Bố ở Little Saigon”, quý vị đã xúc phạm danh dự của cộng đồng người Việt, và với lối tường trình các hình thức nghi lễ của các cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là hành động tạo một cuộc chiến khác đã sỉ nhục một đồng minh sát cánh cùng quân nhân Hoa Kỳ chống lại Cộng Sản trong cuộc chiến Việt Nam để bảo vệ Tự Do cho chúng ta.

Để tạo sự ủng hộ và tin tưởng từ cộng đồng người Việt với hệ thống truyền thông PBS, chúng tôi yêu cầu hệ thống truyền thông PBS và các nhà sản xuất chương trình Frontline gởi ra một lời xin lỗi chánh thức đến cộng đồng người Mỹ gốc Việt và đến với các cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cuốn phim cần được phụ thêm lời phụ chú dẫn đầu để phân biệt thời điểm thập niên 80 khi những vụ sát hại xảy ra và tên gọi Little Saigon chưa hiện diện. Thêm nữa, các hình thức nghi lễ quân đội chỉ thực hiện cho mục đích tưởng niệm trong những ngày Diễn Hành Năm Mới, Họp Mặt, ngày Quân Lực của miền Nam Việt Nam, ngày Tháng Tư Đen, vân vân.., không phải là một thực tập quân sự để “tạo một cuốc chiến khác” ở Việt Nam. Chúng tôi rất mong quý vị có những biện pháp nhanh chóng và phúc đáp vấn đề nhạy cảm này. Mọi thắc mắc xin liên lạc người ký tên dưới đây

Tiến Sĩ Đỗ Hùng
Chủ Tịch Little Saigon San Jose Foundation.
Nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Bắc Cali Nhiệm Kỳ I (1994-1996)

Bản sao gởi đến:
- Dân Biểu Liên Bang Zoe Lofgren
- Dân Biểu Liên Bang Mike Honda
- Thị Trưởng & Phó Thị Trưởng và Các Nghị Viên thành phố San Jose
- Phóng viên A.C. Thompson
- Báo San Jose Mercury News
- Báo Register thuộc Orange County

---- o0o ----

LITTLE SAIGON SAN JOSE FOUNDATION
2396 Senter Road, Suite #45,San Jose, CA 95112
Email: barrydo@gmail.com
Phone: 408-679-8902

Letter of Concerns

San Jose, November9, 2015

To: PBS Ombudsman, Frontline and ProPublica Producers and Editors

Dear all:

We welcome and appreciate PBS and Frontline Producers and Correspondentsfor the finding justice of the murdered victims, especially the ones who expressed their freedom of speech illustrated in the film.
However, due to the ill-advised and/or lack of understanding the Vietnamese unique political and cultural history during the 80s time frame from the Frontline staffs; this documentary film “Terror in Little Saigon” that aired on November 3, 2015 has triggered an outrage to Vietnamese-American community members throughout the United States. The wrong title of the film, although created the sensational nameto appeal the audience, but completely misaligned with the honorable intent content of the film. The Vietnamese-American community members feel violated the pride and respectable image of a vi-brant and upstandingcommunity.

The Viet émigré Community in the United States have always pursued the freedom and democracy for Vietnam since the fall of Saigon in 1975. Nevertheless, we are also the law binding U.S. citizens who oppose any violenceand unlawful tactics against any individuals who have different opinions since this is a free and democratic country. We have supported and cooperated with authority to expose any indi-viduals and/or organizations that violate the law. We support the justice for any murdered victims as the film advocated, however, by using the inaccurate and dramatic title for the film, theProducers and re-porters had done an injustice and attack the Viet community abroad. Here are some erroneousfacts in the film:

• The name “Little Saigon” was not even existed when the homicides took place during the 80’s time frame as shown in the film.

• The wearing of military uniforms with decorated weaponry from the former South Vietnam’s armed servicemen intended only for the ceremonial denotationduring the reunion, New Year Day Parade, South Vietnam Armed ForcesDay. The exercises are mainly for memorial purpose and reminding the younger generation the pride of the South Vietnam Armed Forces during the Vietnam War.

Thus, by using the name “Little Saigon” with the misrepresenting the ceremonial uniforms through the narrating of “creating another war” had misguided the audience. Here in U.S, wearing uniforms and re-created the Civil War every year during the Memorial and Veterans Days do not mean the United Sta-teswanted to go back fighting that war.In addition, the name “Little Saigon” in every populous Viet émigré cities started to emerge and recognized by the elected officials just from the 90s’ time frame is the symbol of Vietnamese-American growth community with robust economic, social, cultural and politi-cal forces in the United States.

Frontline's Producers would not name “Terror in America” when there are unsolved murders in every case happened in U.S. By using the title “Terror in Little Saigon," the Frontline producers had violated the dignity of the Viet community, and by showing the ceremonial rituals of the past South Vietnam Armed Forces as the act of creating another war had insulted the U.S.’s former ally who used shoulder to shoulder with U.S GIsto fight the Communists during the Vietnam war to protect our freedom cause.

To build the support and trust from the Viet community to PBS, we would request PBS and Frontline Producers to issue an official apology to Vietnamese-American community and the former South Viet-nam Armed Forces Servicemen. The film should be included the editorial comments at the start to dis-tinguish the early days of 1980’s when those murders took place andLittle Saigon name was not even born yet. Furthermore, the ceremonial military rituals only serve asthe memorial events during the New Year Day Parade, Reunion Day, Old South Vietnam Armed Forces Day, Black April Day, etc...., not a military drill to “create another war” in Vietnam.

We would appreciate your swift action and response on this very sensitive matter. Please direct any questions to the undersigned,

Barry Hung Do, Ph.D.
President of Little Saigon San Jose Foundation
First President of Vietnamese American Community in Northern California (1994-1996)

Cc: Congresswoman Zoe Lofgren
Congressman Mike Honda
Mayor& Vice Mayor and Councilmembers-City of San Jose
Reporter A.C. Thompson
San Jose Mercury News
Register-Orange County Newspaper
 
Nguồn:http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=36670 

Ai đứng đằng sau “Terror in Little Saigon”?


Ai đứng đằng sau “Terror in Little Saigon”?

Trong phỏng vấn của Báo Người Việt, ông A.C. Thompson, người thực hiện phim “Terror in Little Sai Gon” đã cho biết Tony Nguyễn là người đã đề nghị, hợp tác và hướng dẫn ông làm phóng sự điều tra về cái chết của 5 nhà báo Việt Nam từ 1981 đến 1991.

Trong phim, webstory dài 72 trang và kể cả trong bài phỏng vấn nói
trên, A.C. Thompson đã không đưa ra bất cứ chứng cứ gì mới mà hoàn toàn dựa trên những đồn đãi, phát biểu vô trách nhiệm của một số người để cáo buộc Mặt Trận là sát thủ của các vụ án nói trên.

Tại sao ông A.C. Thompson lại tốn bao nhiêu thì giờ, công sức, tiền bạc để làm một đoạn phim dài 1 tiếng đồng hồ mà không đưa ra được những thông tin gì mới?

Hơn thế nữa ông A.C. Thompson đã cố tình bác bỏ hoàn toàn kết luận của cơ quan điều tra liên bang Hoa Kỳ (FBI) là không có đủ chứng cứ để truy tố ai, sau 15 năm điều tra và đã đóng hồ sơ vào giữa thập niên 90.

Động lực của A.C. Thompson trong việc thực hiện đoạn phim với tựa đề mang tính giật gân “Khủng bố tại Sài Gòn Nhỏ” này là gì?
Câu trả lời phần lớn nằm ở người đã hướng dẫn và hợp tác với A.C. Thompson thực hiện cuộn phim này chính là Tony Nguyễn.

 

Director Tony NguyenTony Nguyễn là ai?

Tony Nguyễn là một thanh niên khoảng 40 tuổi, tốt nghiệp đại học Berkley, là ổ thân cộng và phản chiến nổi tiếng ở miền Tây nước Mỹ vào thập niên 70s-80s.

Trong một cuộc phỏng vấn của Báo Tuổi Trẻ vào tháng 8/2004, Tony Nguyễn đã cùng một vài bạn trẻ lập ra nhóm Viet Unity để tạo cầu nối giữa Việt Nam với cộng đồng người Việt tại Mỹ, và đến tháng 5/2014 tổ chức buổi hội thảo về chiến thắng Điện Biên Phủ tại Oakland, nhằm công khai hoạt động.

Báo Dân Trí của CSVN (ngày 2-5-2005) đã có một bài viết về hoạt động của nhóm Viet Unity và Tony Nguyễn như sau:

“Những người ‘kết nối’ đất mẹ

Ở California có một nhóm Việt kiều trẻ tên gọi Viet Unity. Những ngày cuối tháng 2 (2005) nhóm này tổ chức một cuộc triển lãm về các pano cũ phản đối chiến tranh ở Việt Nam cách đây 30 năm.
Các thành viên của nhóm đã quyết tâm tổ chức cuộc triển lãm bất chấp những ý kiến phản đối và lời đe doạn của một số ít người Việt khác mà đa phần ở tuổi cha chú của họ.

Tony Văn Nguyễn là một thành viên của nhóm Viet Unity. Anh cho rằng ở Mỹ, nhiều người lớn tuổi trong cộng đồng còn có tư tưởng bảo thủ. Họ vẫn còn giữ quan điểm của chế độ Sài Gòn trước năm 1975.

Theo Tony, thế hệ trẻ phải vượt lên lối mòn ấy, phải có suy nghĩ ít gây hại hơn mà cụ thể, chính họ phải là nhịp cầu nối giữa những người Việt tại Mỹ với đất mẹ.”

Vào tháng 6/2005, nhóm của Tony Nguyễn cũng đã cực lực chống lại Nghị quyết SCR17 “Công Nhận Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” của tiểu bang California, và cũng chống lại việc thành phố Garden Grove, Nam California thông qua nghị quyết cấm các cán bộ CSVN đến vùng Garden Grove.
Sau vụ chống này, các hoạt động của Tony Nguyễn tập trung vào việc cổ võ cho chủ trương hòa hợp hòa giải với CSVN, giúp đỡ các nạn nhân chất độc gia cam ở Việt Nam; đồng thời mạnh mẽ phê phán cộng đồng người Việt hải ngoại là cực đoan, chống cộng quá khích.

Để minh chứng cho điều này, từ giữa năm 2008, Tony Nguyễn đã tự nghiên cứu thực hiện một phim tài liệu liên quan đến cái chết của Dương Trọng Lâm, một thanh niên thân Hà Nội bị bắn chết tại San Francisco vào tháng 8/1981.

Phim lấy tên là “Enforcing the Silence”, mô tả về cái chết của một người thanh niên đã bị thành phần chống cộng cực đoan sát hại. Mặc dù lúc đó một tổ chức có tên là Diệt cộng hưng quốc đảng công khai nhận trách nhiệm về vụ này; nhưng Tony Nguyễn vẫn cáo buộc Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đã ra tay sát thủ.

Phim nói trên hoàn tất và ra mắt vào giữa Năm 2011, theo như Tony Nguyễn là để đánh dấu 30 năm ngày Dương Trọng Lâm bị giết.
Mặc dù phim được tổ chức Veteran for Peace, một tổ chức thân Hà Nội và ủng hộ mạnh mẽ chiến dịch đòi Hoa Kỳ bồi thường nạn nhân vụ chất độc da cam, cổ võ nhưng không có hiệu quả.

Năm 2014, Tony Nguyễn gặp A.C. Thompson tại Oakland và theo lời kể của Thompson thì chính Tony Nguyễn là người đã thuyết phục thực hiện thiên phóng sự điều tra vụ 5 ký giả Việt Nam bị giết nhưng chính quyền Hoa Kỳ đã làm ngơ.

Nhóm làm phim có mục đích gì?
Qua cuộc phỏng vấn với tờ Los Angeles Times và Hanalei Somar khi ra mắt cuốn phim “Enforcing the Silence” năm 2011, Tony Nguyễn đã đưa ra những chủ điểm chính mà ta thấy xuất hiện y hệt trong phim “Terror in Little Saigon” như sau:
- Kết tội Mặt Trận đứng đằng sau 5 cái chết của ký giả người Việt tại Mỹ.
- Kết tội chính phủ Hoa Kỳ đứng sau lưng đồng lõa với Mặt Trận để che lấp tội ác.
- Đưa ra hình ảnh cực đoan, giết người bịt miệng, khủng bố của những tổ chức đấu tranh và tập thể cựu chiến sĩ VNCH.

Cả hai cuốn phim, dù với một số chi tiết khác nhau, nhưng đều cùng dựa trên một luận cứ, mục tiêu nhằm vẽ lên hình ảnh khủng bố của cộng đồng mà chính quyền Mỹ đã làm ngơ.

Mục tiêu của Tony Nguyễn là muốn vận động dư luận nhằm triệt hạ uy tín của tổ chức Mặt Trận và quan trọng hơn là bôi nhọ tập thể quân nhân QLVNCH là thành phần cực đoan, đang cản trở chủ trương hòa giải hòa hợp với chính quyền CSVN.

Nhìn như vậy, chúng ta thấy động lực chính của Tony Nguyễn là cho sống lại vụ án 5 ký giả bị giết để qua đó bôi bác hình ảnh cộng đồng người Việt thành cực đoan, quá khích. Có phải là để dọn đường cho sự xuất hiện của một lực lượng thân cộng mà chính Tony Nguyễn đang lãnh đạo qua Viet Unity?

Ai đứng sau Tony Nguyễn?
Phim Terror in Little Sai Gon chiếu trên hệ thống PBS toàn quốc vào lúc 10 giờ đêm (giờ phía Đông) ngày 3/11, tức 10 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 4 tháng 11.
Nhưng tại Việt Nam, tờ Thanh Niên Online (tờ báo của Hội Liên Hiệp Thanh Niên CSVN) đã không chỉ đăng tin mà còn kèm theo một số nội dung, hình ảnh trong phim phóng sự này vào lúc 6 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 4/11, tức 4 tiếng đồng hồ trước khi PBS chiếu chính thức.

Không những thế, ngay ngày 4/11 Thanh Niên Online còn cho biết là ProPublica, nơi A.C. Thompson làm việc, đã gửi E Mail yêu cầu Thanh Niên giúp loan tải thông điệp kêu gọi nhân chứng cung cấp thông tin các vụ ám sát nhà báo gốc Việt do nhóm K-9 thực hiện.

Thanh Niên Online đã đăng đường dẫn Youtube mà Thompson của ProPublica đã kêu gọi: “’Hãy giúp chúng tôi điều tra những vụ ám sát 5 nhà báo Mỹ gốc Việt’, và tìm câu trả lời cho nghi vấn: ‘Tại sao giới hữu trách Mỹ không giải quyết được việc này’.

Ai đã đưa phim và những kêu gọi giúp điều tra cho Thanh Niên Online?

Chắc chắn A.C. Thompson không thể làm được điều này. Người làm việc này không ai khác hơn là Tony Nguyễn. Nói cách khác, chính Tony Nguyễn là người đã dàn đựng để cho giới truyền thông CSVN nhập cuộc rất sớm, khai thác những tiêu cực quanh “Terror in Little Saigon” hầu tấn công chúng ta.

Chính Tony Nguyễn đã cho báo LA Times biết cuốn phim “Enforcing the Silence” đã nhận nguồn tài trợ từ Việt Nam (Nguyen said the film has received strong financial backing from people all over the U.S., Canada and Vietnam).
Sự kiện CSVN bỏ tiền mua ảnh hưởng ở Hoa Kỳ xuyên qua chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vào tháng 8/2015 của Nguyễn Phú Trọng [qua bài viết “How Hanoi buys influence in Washington, D.C” của tác giả Greg Rushford – ngày 4-8-2015] cho thấy là càng lúc CSVN càng muốn lũng đoạn truyền thông Mỹ, để qua đó tác động những tiêu cực lên cộng đồng.

*
Terror in Little Sai Gon không đơn thuần là phim phóng sự điều tra mà là phim dựa vào 5 án mạng chưa tìm ra hung thủ để tiếp tục bôi nhọ Mặt Trận, cộng đồng người Việt, và chính nghĩa đấu tranh của dân tộc.

Ngọc Lan


===========

A.C. Thompson: Mọi bằng chứng đều chỉ về Mặt Trận
Friday, November 6, 2015


Bài liên quan
LTS - Trong cảnh cuối của cuốn phim tài liệu “Terror in Little Saigon,” phóng viên A.C. Thompson cả quyết với con trai của nhà báo Nguyễn Ðạm Phong: “Mặt Trận có một đội sát thủ. Tên gọi là K9. Các thành viên của Mặt Trận nói với chúng tôi rằng K9 đã giết cha của em.”

Câu kết khiến người con của nhà báo Nguyễn Ðạm Phong nhìn A.C. Thompson với cặp mắt long lanh biết ơn. Nhưng khẳng định của nhà làm phim khiến một số khán giả cảm thấy thất vọng, hụt hẫng.


Phóng viên A.C. Thompson trong một cảnh quay phim “Terror in Little Saigon.” (Hình: ProPublica)

Người xem phim kỳ vọng rằng A.C. Thompson sẽ trưng ra những bằng chứng cụ thể, rõ ràng và thuyết phục, để làm sáng tỏ nghi vấn Mặt Trận là tổ chức đã ra lệnh thủ tiêu một số nhà báo trong thập niên 1980s. Nhưng nhiều người cho rằng trong suốt gần 60 phút chăm chú theo dõi phim, họ không thấy A.C. Thompson đưa ra được chứng cớ nào rõ ràng và thuyết phục đủ, để ông có thể cả quyết rằng Mặt Trận là thủ phạm. Người khác cho rằng các nguồn tin giấu tên không đáng tin cậy. Nhiều người, muốn hiểu rõ hơn về kết luận của A.C. Thompson, đã tìm đọc kỹ tài liệu dài 72 trang, do chính A.C. soạn và cho đi kèm cuộn phim, để tìm chứng cớ rõ ràng và thuyết phục. Nhưng vẫn không thấy có chứng cớ nào đủ mạnh.

Người Việt phỏng vấn phóng viên A.C. Thompson để thảo luận về những nhận định của khán giả và hỏi rõ thêm về những chứng cứ dựa vào đó ông đi đến kết luận của mình.

Dưới đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn.
***
Hà Giang (NV): Chào ông A.C. Thompson, ông làm ký giả cho cơ quan ProPublica được bao lâu rồi? Ông làm việc toàn thời gian với họ hay là một phóng viên độc lập?

A.C. Thompson: Tôi làm việc với ProPublica toàn thời gian từ năm 2008. Và mỗi khi tôi làm phim cho ProPublica thì tôi làm luôn một tài liệu đi kèm cho Frontline.

NV: Vào thập niên 1980, khi những nhà báo người Mỹ gốc Việt bị ám sát, ông đang ở đâu, làm gì?

A.C. Thompson: Lúc ấy tôi là một cậu bé, còn đang học ở vườn trẻ (cười).

NV: Mọi việc xảy ra đã hơn 30 năm rồi, các hồ sơ điều tra cũng đóng lại hơn 15 năm rồi, nguyên do nào khiến ông có ý định làm cuốn phim Terror in Little Saigon trong thời điểm này.
A.C. Thompson: Cách đây mấy năm, tôi đang làm một loạt bài về việc một ký giả ở Oakland bị giết chết, tên của ký giả đó là Chauncey Bailey. Tôi gặp một nhà làm phim trẻ người Việt Nam tên là Tony Nguyễn. Anh ta nói với tôi rằng việc này (ký giả bị giết) xảy ra trong cộng đồng Việt Nam hoài, mà chẳng ai trong làng truyền thông Mỹ quan tâm. Ðiều này khiến tôi bắt đầu suy nghĩ đến việc điều tra về cái chết của những ký giả gốc Việt. Tony Nguyễn sau này cũng hợp tác với tôi trong phim “Terror in Little Saigon.” [Vào năm 2011, Tony Nguyễn đã làm cuốn phim có tên “Enforcing the Silence” nói về việc ký giả Dương Trọng Lâm, 27 tuổi, chủ bút tờ Cái Ðình Làng, bị bắn chết Tháng Bảy, 1981, tại San Francisco, California. Trong cuốn phim này, Tony Nguyễn cũng kết luận rằng Mặt Trận là thủ phạm giết chết Dương Trọng Lâm - NV]

NV: Vai trò của Tony Nguyễn trong phim Terror in Little Saigon là gì?

A.C. Thompson: Anh ta là một trong những nhà sản xuất phim này. [Trả lời phỏng vấn của nhật báo Người Việt sau đó, Tony Nguyễn xác định là anh cùng làm việc với A.C. Thompson từ những ngày đầu tiên, và đóng vai trò định hình cho cuốn phim - NV]

NV: Trước khi bắt tay vào việc làm phim Terror in Little Saigon, ông có hiểu gì về cuộc chiến Việt Nam, về người tị nạn Việt Nam và về cộng đồng người Mỹ gốc Việt không?

A.C. Thompson: Tôi không hiểu nhiều. Tôi có thân nhân đã phục vụ trong quân đội Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, và tôi biết về cuộc chiến và những người tị nạn, nhưng không biết nhiều. Tôi đã dành rất nhiều thời gian để tìm hiểu và nói chuyện với càng nhiều người càng tốt để hiểu về lịch sử đó.

NV: Ai là người tài trợ để làm cuốn phim này?

A.C. Thompson: Phim này do Frontline tài trợ, và Frontline thì được Corporation for Public Broadcasting (CPB) tài trợ một phần. Tiền của CPB do Quốc Hội Hoa Kỳ cấp.

NV: Ðể được làm phim, ông có phải thuyết phục cấp trên không? Việc thuyết phục có khó khăn không và phải kéo dài bao lâu?

A.C. Thompson: Tôi phải viết bài tường trình, viết email giải thích, trình bày những gì mình có thể làm và không thể làm. Các sếp của tôi ở ProPublica cũng tốn một thời gian khá lâu mới quyết định đây có phải là một dự án họ muốn theo đuổi hay không. Rồi bên Frontline cũng phải đi qua những tiến trình như thế. Nói chung là khá lâu, nhưng tôi không nhớ rõ là bao lâu. Việc này xảy ra cũng hơn hai năm rồi.

NV: Chủ đề chính của ông trong cuốn phim có phải là, lý do duy nhất mà cơ quan FBI sau bao nhiêu năm điều tra vẫn không thể tìm ra chứng cớ rõ ràng và thuyết phục, để xác định thủ phạm, là vì không ai chịu lên tiếng, phải không?

A.C. Thompson: Ðó chắc chắn là một chủ đề, những không phải là chủ đề duy nhất. Một trong những điều mà chúng tôi cố gắng vạch ra là FBI không tìm được người trong cuộc, hay gặp khó khăn phát triển những nguồn tin gần với, hay nằm trong, những sự kiện, có thể có đủ chi tiết để giúp họ đạt kết quả của cuộc điều tra.

NV: Một điều khác hình như ông cũng muốn ám chỉ là, chính phủ Hoa Kỳ, qua nhiều cơ quan khác nhau, như FBI, CIA, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tư Pháp, biết rất rõ về hoạt động của Mặt Trận, nhưng hình như ngầm hỗ trợ họ, để yên cho họ gây quỹ để có tiền hoạt động trong chiến khu, phải không?

A.C. Thompson: Hoàn toàn đúng sự thật và không có gì tranh cãi về việc đó cả. Họ được sự hỗ trợ của mọi nơi trong chính phủ. Chúng tôi có một điện tín từ cấp cao của CIA gửi cho nhân viên của họ trong thập niên 1980 cho thấy họ biết rất rõ tổ chức của ông Hoàng Cơ Minh làm gì. Chúng tôi có những lá thư từ Quốc Hội Mỹ, từ Bộ Ngoại Giao, nói với người nhận rằng chúng tôi muốn quý vị hỗ trợ những người này. Chúng tôi có tài liệu cho thấy ông Hoàng Cơ Minh đã gặp gỡ giới chức ngoại giao Hoa Kỳ ở Bangkok. Chúng tôi có điện tín của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia cho thấy rõ những gì nhóm Hoàng Cơ Minh đang làm, và tôi muốn nói đến việc Mặt Trận muốn xâm nhập Việt Nam từ Thái Lan. Vì vậy, việc chính phủ Hoa Kỳ hồi đó hỗ trợ Mặt Trận không có gì là nghi vấn cả.

NV: Trở lại cuốn phim. Trong khi đội ngũ của FBI trong 15 năm điều tra không thể buộc tội ai vì thiếu chứng cớ, vậy thì ông có thể cho biết trong những điều ông đã khám phá ra trong thời gian hai năm điều tra, chứng cớ nào rõ ràng và thuyết phục nhất đã khiến ông có thể khẳng định rằng K9, một bộ phận của Mặt Trận, đã giết chết, ít nhất là ký giả Nguyễn Ðạm Phong?

A.C. Thompson: Có nhiều yếu tố. Tôi không thể nói một cách xác quyết (conclusively) rằng người nào đó chịu trách nhiệm cho tội ác đó. Tôi chỉ có thể nói là tất cả chứng cớ tôi tìm được đều chỉ về một hướng, chứ không trỏ đến một hướng khác. Và tôi đã xem hàng ngàn và hàng ngàn trang tài liệu của FBI, của cảnh sát, nói chuyện với các thân nhân, và đơn giản không thấy có một manh mối nào cho người nào khác ngoài Mặt Trận chịu trách nhiệm cho những tội ác đó. Con của ký giả Nguyễn Ðạm Phong cho biết ông đã nhận được đe dọa thường xuyên, và theo hiểu biết của chúng tôi, một số thành viên của Mặt Trận đã gặp ký giả Nguyễn Ðạm Phong, tìm cách cho tiền ông để đừng viết những bài chỉ trích họ nữa. Chúng tôi biết rằng họ đã gặp gỡ các thành viên của Mặt trận tại một nhà hàng ở đường Highland Street ở Houston, trước khi ông ta bị giết. Trong cuộc điều tra chúng tôi cũng gặp một người, vốn là thành viên cũ của Mặt Trận. Người này khẳng định là Mặt Trận chịu trách nhiệm cho việc giết hai ký giả đó, Dương Trọng Lâm và Nguyễn Ðạm Phong.

NV: Nhân chứng đó là ai? Tôi xem đi xem lại cuốn phim bốn lần mà không thấy. Tôi có bỏ sót chi tiết nào trong phim không?

A.C. Thompson: Không, người này là một người ẩn danh, và ẩn mặt. Người ấy không xuất hiện trên ống kính, và lúc đó, sau khi chúng tôi nói chuyện với người đó, chúng tôi tổng hợp tất cả những chứng cớ mình đã tìm thấy, những điều người khác nói, thì chúng tôi thấy là nhiều phần Mặt Trận là thủ phạm.

NV: Nếu đây là một nhân chứng ẩn mặt dấu tên, như vậy chúng ta không thể xác định thẩm quyền người ấy cũng như sự đáng tin cậy của họ, và dựa vào lời khai của người này, ông cảm thấy mạnh dạn hơn để đi đến kết luận, thì ông có
nghĩ là sự đáng tin cậy của cuốn phim bị giảm đi không?

A.C. Thompson: Vâng, chắc chắn là như vậy. Ðối với bất kỳ phóng viên nào, khi phải lấy tin của một người giấu mặt, giấu tên, thì đó không phải là tình huống lý tưởng. Chúng tôi chấp nhận sự hoài nghi của một số độc giả và khán giả. Ðó là bản chất của sự việc. Nhưng sự thật của vấn đề là, khi bạn đang tường trình câu chuyện về những người bị ám sát và bị khủng bố, thì rất ít người muốn liên lụy đến tội ác, hay dính líu vào để làm lụy đến bản thân. Ðó là lý do tại sao FBI đã gặp khó khăn. Vì thế trong trường hợp này, đối với chúng tôi, khi cân nhắc mọi điều, lời khai của người giấu tên được đánh giá cao.
NV: Câu hỏi cuối của tôi: Nhân chứng Nguyễn Xuân Nghĩa, khi tôi phỏng vấn ông ấy, khẳng định rằng mình không hề nói với ông [A.C. Thompson] rằng bản thân “đã tham gia một buổi họp của Mặt Trận, trong đó các thành viên thảo luận việc ám sát một biên tập viên của một nhật báo nổi tiếng ở Quận Cam.” Xin ông cho biết ý kiến về việc này?

A.C. Thompson: Thật là hay khi ông Nghĩa nói như thế. Chúng tôi nghĩ rằng ông Nghĩa là một người tốt, và là một người rất thông minh, chúng tôi rất thích nói chuyện với ông. Nhưng vấn đề là không chỉ riêng tôi, mà ba người khác, ông Joseph Sexton, ông Cliff Parker, và ông Richard Rowley, đều nghe thấy điều ông ấy nói. Và vì điều ông nói quá quan trọng, nên sau đó, chúng tôi bàn luận với nhau, rồi tôi gọi điện thoại ngay cho sếp của tôi. Ðiều này không phải chỉ một mình tôi nghe thấy.

NV: Lạ thật, ông Nguyễn Xuân Nghĩa nằng nặc nói rằng không hề nói câu đó. Ông khẳng định là không nói câu nào “off the record” cả.

A.C. Thompson: Chúng tôi không bao giờ nói [với ông Nghĩa - NV] là chúng tôi đang “off the record” [thảo luận không ghi xuống và sẽ không được tường trình - NV]. Chúng tôi không nói với ông ấy là chúng tôi sẽ không tường trình những gì ông ấy nói. Chúng tôi chỉ tháo cái microphone ra, tắt đèn của máy ảnh, và rồi câu nói đó bật ra từ ông Nghĩa.

NV: Ông có ghi notes trên giấy không?

A.C. Thompson: Vâng, tôi ghi notes, và tôi nhớ rất rõ vì ngay sau đó chúng tôi thảo luận và gọi điện thoại nói chuyện với cấp trên của tôi, như tôi đã nói lúc nãy. [Ngày hôm sau, cả ba đồng nghiệp của A.C. Thompson, gồm Joseph Sexton, Cliff Parker, và Richard Rowley, đều gửi email cho Người Việt, xác định là ông Nguyễn Xuân Nghĩa có nói với họ như thế. - NV].

NV: Ông còn điều gì muốn trình bày?

A.C. Thompson: Vâng, tôi muốn nhật báo Người Việt chuyển lời xin lỗi của tôi. Tôi thật tình không muốn làm buồn lòng cộng đồng người Việt, không muốn vẽ lên một hình ảnh xấu cho cộng đồng người Việt. Chỉ là chúng tôi rất nóng lòng trong việc tìm công lý cho những ký giả gốc Việt, mà chúng tôi xem là đồng nghiệp, bị giết. Làm việc cùng với chúng tôi còn có những phóng viên người Việt khác, chăm chú đọc scripts, biên tập phim, không phải chỉ có đám phóng viên người Mỹ chúng tôi mà thôi.

NV: Cảm ơn ông.

(Người Việt)

=================
AC Thompson trả lời các vấn đề qua phim 'Terror in Little Saigon'

Nhà báo A.C. Thompson, tác giả phóng sự điều tra, đã lật lại hồ sơ vụ án về những cái chết của các ký giả Dương Trọng Lâm, chủ bút Cái Đình Làng, bị bắn chết tại San Francisco, California, năm 1981; ông Nguyễn Đạm Phong, sáng lập tờ Tự Do, bị ám sát tại nhà riêng ở Houston, Texas, năm 1982; ông Phạm Văn Tập, biên tập tờ Mai, chết trong vụ hỏa hoạn tại văn phòng năm 1987; Đỗ Trọng Nhân, biên tập viên tờ Văn nghệ Tiền phong, bị bắn chết trong xe tại Fairfax, Virginia; ông Lê Triết, bình luận viên của tờ Văn nghệ Tiền phong, bị bắn chết trong xe cùng với vợ năm 1990.

https://www.youtube.com/watch?v=bTsD_O9WmBc&feature=player_embedded



========

AC Thompson nói "Làm việc cùng với chúng tôi còn có những phóng viên người Việt khác, chăm chú đọc scripts, biên tập phim" vậy nhóm người Việt đó là những ai, có phải là Tony Nguyễn hay là ai, làm nghề gì, và ăn lương của "ai" ? Nếu quả thật là nguồn "thu nhập" của Tony Nguyễn đến từ bọn VC nằm vùng ở hải ngoại thì có lẽ ngày Tony có vé một chiều về VN xây dựng "xã hội chủ nghĩa cs vinh quang" của Tony không còn xa lắm đâu !

Nếu A.C. Thompson là người tôn trọng sự thật và yêu mến cộng đồng người Việt ở Little Saigon nhiều như anh ta tự nhận với LS Duyên ở cuối đoạn phim, hãy mời anh ta về VN để làm phóng sự về những hành động khủng bố rất đáng nguyền rủa đang diễn ra công khai tại VN, và mời Tony Nguyễn xem những clips quay cảnh người dân VN chịu đựng khủng bố hàng ngày dưới sự bảo trợ của côn an VN xem họ nghĩ sao?

Nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=36663

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Nga & TC đe dọa trật tự thế giới

Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ: Nga, Trung Quốc đe dọa trật tự thế giới
Sunday, November 8, 2015


SIMI VALLEY, California (AP) - Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, ông Ash Carter, hôm Thứ Bảy cáo buộc Nga là đang làm nguy hiểm trật tự thế giới. Ông nhắc lại việc Nga đưa quân vào Ukraine và các đe dọa liên quan đến vũ khí nguyên tử, cho hay Mỹ đang tìm các phương cách để ngăn chặn sự hung hăng của Nga, đồng thời bảo vệ đồng minh của Mỹ.


Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Ash Carter trong một buổi họp báo tại Nam Hàn
vào đầu Tháng Mười Một, 2015. (Hình: Chung Sung-Jun/Getty Images)

Ông Carter cũng bày tỏ sự lo ngại về việc Trung Quốc mở rộng tầm ảnh hưởng của mình cũng như gia tăng sức mạnh quân sự, tuy nhiên ông vẫn dành những từ ngữ nặng nề hơn để nói về Nga trong bài phát biểu tại Diễn Đàn Quốc Phòng Reagan.
Ông Carter cho hay Nga đang có những “hành vi thách đố” trên biển, trên không, trên vũ trụ và trong thế giới mạng.

“Điều đáng lo ngại hơn cả là việc Moscow dùng vũ khí nguyên tử để đe dọa đã tạo câu hỏi về quyết tâm của thành phần lãnh đạo Nga về gìn giữ sự ổn định vũ khí chiến lược, tôn trọng luật lệ căn bản quốc tế về sử dụng vũ khí nguyên tử, và liệu rằng họ có sự hành xử cẩn trọng mà các nhà lãnh đạo thế giới trong thời đại nguyên tử này phải có khi phô trương vũ khí nguyên tử hay không?”

Lời phát biểu này được coi là mạnh mẽ nhất đối với cựu đối thủ của Mỹ thời Chiến Tranh Lạnh mà ông Carter đưa ra từ trước tới nay.

“Chúng ta không muốn có ngay cả một cuộc Chiến Tranh Lạnh với Nga, huống hồ là một cuộc chiến nóng,” ông nói. “Chúng ta không muốn biến Nga thành kẻ thù. Nhưng có một điều không thể nghi ngờ là Mỹ sẽ bảo vệ quyền lợi của mình, bảo vệ các đồng minh, nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế, và tương lai tích cực cho tất cả chúng ta.”

Bộ Trưởng Carter cho hay Trung Quốc là nước có ảnh hưởng lớn nhất ở Á Châu trong tương lai, nhắc lại là hồi đầu tuần qua ông đã lên thăm một hàng không mẫu hạm của Mỹ ở vùng Biển Đông để chứng tỏ quyết tâm duy trì tự do hải hành nơi đây.
“Là quốc gia đang lớn mạnh, Trung Quốc sẽ có thêm các tham vọng và tăng cường sức mạnh quân sự, nhưng cách thức Trung Quốc hành xử sẽ là thử thách rõ rệt nhất đối với việc họ có quyết tâm gìn giữ hòa bình và an ninh khu vực hay không.”

Ông Carter cho hay Mỹ đang chuyển sự chú ý của mình về vùng Á Châu-Thái Bình Dương, kể cả gửi những chiến hạm, vũ khí mới nhất và tốt nhất về nơi đây.
Nhưng ông Carter vẫn cho thấy Nga là mối đe dọa lớn nhất với Mỹ.

“Chúng ta đang đầu tư vào những kỹ thuật giúp đối phó tốt nhất với các khiêu khích của Nga, như hệ thống không người điều khiển, oanh tạc cơ tầm xa mới, và súng phóng điện từ, laser, tác chiến điện tử, chiến tranh mạng và chiến tranh không gian, cùng là một số điều bất ngờ mà tôi không thể nêu ra nơi đây,” ông cho hay


Mỹ đã chỉ điểm yếu của mình
Chánh giới của Mỹ phải hỏi vì sao mới nên nổi này ?
Nếu tự hỏi thì phải có câu trả lời , không cần nhắc thì ai cũng hiểu là cũng chính tại Mỹ mà ra nông nổi này !

Nhắc lại 40 năm trước ai đã bỏ một đồng minh đã là một bức tường thành chống cộng tuyệt đối dám hy sinh cả mạng sống của mình để bảo vệ bức tường thành tự do đó ,họ đã phủi tay để bắt tay với kẻ thù mà lúc đó họ cho là bạn, trong trận chiến Hoàng Sa họ đã bỏ VNCH đánh Trung Cộng một mình trong tuyệt vọng, nhưng dân tộc ta Anh Hùng biết rằng khó khăn nhưng vẩn đánh không chịu nhục, có bao giờ Mỹ nhắc đến trận chiến Hoàng Sa ? Không bao giờ và không bao giờ !

Bây giờ ra sao thì đã quá rõ ràng , Trung Cộng làm chủ tại Á Châu và Nga đang quậy nát Âu Châu qua ván bài Ukraine và Syria , người Mỹ đang mất cả chì lẩn chài , tốt hơn là nên hành động đúng nghĩa chuộc lấy lỗi lầm và cũng để lấy lại danh dự đã mất của mình trên trường quốc tế !
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=36656

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Chế độ nào, người dân đó?



Chế độ nào, người dân đó?


Ca Dao (Danlambao) - Mỗi lần tại Việt Nam sắp sửa có biểu tình là tôi hồi hộp, có lẽ hồi hộp hơn cả những người trong cuộc.
Sợ sẽ có những đánh đập, bắt bớ và cả thủ tiêu, vì ai biết được những thủ đoạn hèn của những người mang danh chế độ?
Tồi hồi hộp, nhưng không biết làm gì hơn là chờ đợi. Chờ đợi những tai ương phủ xuống những người con yêu nước mà giận mình bất lực.
Rồi ngày G đó cũng đến, lòng tôi nôn nả theo bước chân của đoàn người biểu tình. Lần nào cũng vậy, ngồi trước computer mà nước mắt dàn dụa khi nhìn hình ảnh của các anh chị em trong đoàn người biểu tình: những gương mặt rất thân quen tuy chưa lần gặp mặt.
Họ đấy, đi trên đường, tay giương cao tờ biểu ngữ đơn giản bằng tờ A4, A3, in hoặc viết bằng tay, chân bước và miệng hô to khẩu hiệu, người tiếp người , những khẩu hiệu được thay phiên nhau hô to không dứt trên đường phố. Có những biểu ngữ nhăn nhúm vì phải dành giựt với công an, nhưng rồi họ vẫn tiếp tục đi, mắt rực lên nhìn về phía trước, tôi tưởng như nghe được nhịp tim họ đập trên mỗi bước chân.

Họ đấy, những cái tên quen thuộc trên mạng, nay xuống đường biến những dòng chữ thành hiện thực trên đường phố. Họ không chỉ đấu tranh bằng ngòi bút mà bằng cả sinh mạng của chính mình.
Họ đấy, những người can đảm, dám đứng lên bày tỏ quan điểm của mình. Tiếng hô vang của họ lẫn trong tiền còi xe công an, tiếng thét của họ lịm dần từ đường phố đến đồn công an. 
Trong cái đau đớn ấy, tôi nghĩ rằng họ cũng rất hạnh phúc vì họ đã sống hết mình cho đất nước. Tôi cảm thấy bất lực vì không chia sẻ với họ những giây phút đau khổ và hạnh phúc ấy.
Họ, những người hôm nay đang làm lịch sử sẽ cảm thấy vinh quang trong từng nhục hình mà công an dành cho họ.
Mỗi lần nhìn những clip biểu tình trong nước thì tôi lại sợ mình phải khóc, biết trước mà không ngăn được, mà tại sao lại phải ngăn mình nhỉ? Hãy để cho những dòng nước mắt tự do tuôn để thổn thức cùng thân phận dân tôi. Và không riêng gì tôi, chắc rằng nhiều người ở hải ngoại cũng ngồi nhìn màn hình và khóc. 
  https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=5yNZu5jgcQo
            
              Sài Gòn: CA đánh đổ máu người biểu tình chống Tập Cận Bình 


Một đất nước mà việc bày tỏ chính kiến là một cái tội, chống lại kẻ cướp biển đảo của quê hương cũng là một cái tội. Ở đây, hàng xóm tôi nghe kể, họ không thể nào tin. Họ không thể tin một luật sư bị đánh tuôn máu chỉ vì bảo vệ cho một bị can. Họ không thể tin có người bị bắt ở tù hàng năm trời chỉ vì một tấm biểu ngữ chống kẻ xâm lược trong nhà. Ở Pháp, đình công, biểu tình đã thành một thông lệ. Họ không thể tin hàng chục người bị nhà cầm quyền bắt chỉ vì biểu tình phản đối kẻ cướp biển đảo của đất nước mình. Làm sao họ có thể tin được những điều vô lý như thế?
Nhưng, có một điều còn đau lòng hơn cả dùi cui công an: nếu để ý thì ta sẽ thấy những cuộc biểu tình từ trước đến giờ chỉ ngần ấy con người, chỉ từng ấy khuôn mặt, thay nhau hộ khẩu hiệu đến khan cả cổ. Họ đi thành nhóm, tay trong tay, nhưng họ vẫn lẻ loi, nhỏ bé trong dòng người tấp nập trên đường phố!
Cuộc biểu tình ở Hà Nội ngày 5/11 được khoảng vài chục người. Ở Sài Gòn, khởi đầu chỉ khoảng 10 người, sau đó thì con số này có tăng lên khoảng 20-30 người, có lúc lên đến khoảng trên 200 người. Nhưng 200 người vẫn là một con số quá nhỏ trong một thành phố gần 13 triệu dân! Đã thế, đoàn biểu tình càng ngày càng ít đi, một số bị phân tán, một số bị bắt. Số người ít, họ phải thay phiên nhau hô khẩu hiệu, chia cho nhau từng chai nước để thấm giọng. 
Họ hướng về đám đông trên đường phố và gào lên "đả đảo Tập Cân Bình", "đả đảo Trung Quốc xâm lược"... Nhưng mặc cho họ gào, trước mặt họ, dòng xe vẫn thản nhiên trôi trên đường, người đi vẫn thản nhiên đi trên đường. Thỉnh thoảng, những cái đầu ngoái lại rồi lẹ làng quay đi, hình như những điều họ đang gào thét kia xa lạ lắm đối với người dân. Những điều họ dang hô to không phải là chén cơm hàng ngày mà người dân phải lo toan. Nó xa vời như biên giới ngoài kia. Nó mênh mông như biển đảo mù khơi. Họ chỉ biết đến ngôi nhà ấm cúng lát nữa họ trở về bên mâm cơm nóng và tiếng cười trẻ thơ, dây vào làm chi cho rắc rối. Kìa! Một anh biểu tình đang bị đánh đổ máu, một cô đang bị lôi về đồn..., chớ có dính vào mà khổ!

Đoàn biểu tình cứ gào lên và dòng người vẫn cứ thản nhiên đi!
Sau chuyến viếng thăm Việt Nam , Tập Cận Bình đến Đài Loan, tại đây cũng những biểu ngữ đả đảo Trung Cộng, cũng những đoàn người gào to khẩu hiệu dưới trời nắng rát lửa. Chỉ có một điều khác: con số người đi biểu tình không phải chỉ 20, hay 50 mà là... 350 000 người! 
Đài Loan, một đảo quốc nhỏ với dân số khoảng 23 triệu người, nhưng hơn 350.000 người biểu tình. Việt Nam gần 90 triệu dân, số người đi biểu tình từ Nam ra Bắc không quá 200 người!!! Một so sánh đắng lòng.
Từ Hà Nội đến Sài Gòn, những con mắt rừng rực lửa , những giọng hô to vang vang đường phố của những con người can đảm này vẫn không đánh thức được sư vô cảm của người dân. Có vẽ như đất nước này chỉ là của từng ấy con người ? có vẽ như quê hương này không phải là của những dòng người đang vội vã qua đường kia ? 
Cuộc cách mạng dù ở Hồng Kông có khi đã lên tới trên 500.000 người tham dự, con số đông đến độ người ta có cảm tưởng cả đảo quốc này đã kéo nhau xuống đường năm ấy (2014). Cuộc biểu tình chống dàn khoan H981 đột xuất ở Bình Dương cùng năm đã lên tới 20.000 người, nhưng nó như ngọn lửa bùng lên rồi chợt tắt. Cuối cùng rồi những cuộc biểu tình phản đối đường lưỡi bò cũng lại chỉ từng ấy khuôn mặt, từng ấy tiếng hô khẩu hiệu, từng ấy người bị bắt về đồn công an. Cuộc đời vẫn trôi như chưa từng có máu của những người yêu nước đổ xuống mặt đường.
Đoàn biểu tình cứ gào và dòng người vẫn cứ thản nhiên đi!


Còn gì ghê gớm hơn là sự vô cảm của con người? Họ thờ ơ như đây là chuyện giả tưởng, không liên quan gì đến cuộc sống đời thường của họ. Bởi, trong học đường, môn học chủ thuyết Mác- Lê không dạy cho họ cách bày tỏ quan điểm của mình. Cuộc đời dạy cho họ cách làm giàu nhanh nhưng chưa từng dạy cho họ cách biểu tình.
Giáo dục ở học đường không có môn công dân giáo dục. Họ chỉ được dạy phải biết "yêu bác, yêu đảng", không có bài học nào dạy họ biết yêu dân tộc, không có môn học nào dạy họ biết cách bảo vệ mảnh đất Việt Nam trước nạn Bắc Phương. 
Bởi thế, không lạ gì khi những đứa học trò thản nhiên nhìn một đám đông đánh gục một cô bạn cùng lớp của mình. Mặc cho cô bạn tơi tả dưới đòn thù, không ai can ngăn, không ai tìm cách bảo vệ bạn mình. Họ nhìn và họ…reo hò! Dính vào làm gì cho mang hoạ! Sự vô cảm đã thành thói quen, nó ngấm vào nảo trạng con người. Đó là điều mà chế độ này mong muốn: sản xuất ra một đám robot chỉ biết làm theo mệnh lệnh. Và, phần nào đó, họ đã thành công. 
Còn sự cai trị nào hữu hiệu hơn là cai trị chính bao tử người dân? Hãy để họ chỉ nghĩ đến cái ăn, cái mặc, cái hưởng thụ thì họ sẽ không còn thì giờ để nghĩ đến cái gì khác. 
Hãy ban cho họ một cuộc sống an nhàn để họ không dám hy sinh những nhà, những xe, những chức vụ béo bở mang nhiều lợi nhuận mà họ đang có để đổi lấy một ý niệm quá mơ hồ là "lòng yêu nước", hay quá xa xôi như "dân chủ, nhân quyền".
Nỗi sợ hãi phải mất đi những quyền lợi đang có làm cho người ta nén đi một tiếng thở dài và sẵn sàng quay lưng trước những điều bất công.
Ngày mai, và ngày mai nữa, trong đất nước của 90 triệu con người sẽ còn những cuộc xuống đường. Và vẫn chỉ từng ấy khuôn mặt, vẫn từng ấy người hô vang khẩu hiệu, rát họng! 
Đoàn biểu tình cứ gào và dòng người vẫn cứ thản nhiên đi!
8/11/2015
 
Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2015/11/che-o-nao-nguoi-dan-o.html#more

  • 89 bình luận

  • "Đoàn biểu tình cứ gào và dòng người vẫn cứ thản nhiên đi!"
    .........
    ....Rồi sau này sẽ là dòng người vẫn cứ lê lết, thất thểu đi ...mà không còn bất cứ 1 đoàn biểu tình nào nữa. Vì đâu còn đất nước có tên gọi Việt Nam nữa đâu .

    Mẹ Việt Nam ơi! Bọn cs VN nộ lệ của Tàu đã sửa lại biên giới của nước ta rồi: "Nước VN, Bắc giáp thác Bản Giốc, Đông giáp đảo Gạc Ma". Tội ác của cs chất cao hơn núi, trời không dung, đất không tha....
    Cám ơn "Ca Dao". Nguyên nhân chính là CS độc quyền tuyên truyền láo bịp, CA đàn áp khốc liệt, khủng bố gia đình, xách nhiễu công ăn việc làm.
    Thời VNCH, nhân dân miền Nam sống trong an lạc. Cả một dải non sông gấm vóc không hề mất tấc đất tấc biển nào. Thế mà nay bọn cs-hồ chính mo đã phá tan tành tất cả, lại còn dâng nước cho Tàu, rước giặc Tàu vào giày xéo quê hương. Điều này ai cũng thấy. Chỉ có bọn người đui, mù, câm, điếc mới không nhận ra mà thôi!!
    Tiêu đề bài viết của tác giả Ca Dao là: "Chế độ nào, người dân đó?" là rất đúng. Tôi xin nói thêm: "Lãnh đạo nào, chế độ đó. Chế độ nào, cán bộ đó. Cán bộ nào, người dân đó. Người dân nào, xã hội đó". Đầu tiên là tên Tàu HCM dâm ô khát máu, âm mưu cướp nước VN nên lập ra chế độ cs độc tài. Chế độ cs lập ra nền giáo dục nhồi sọ, bắt người dân tôn sùng lãnh tụ dỏm, đồng hóa đảng với Tổ quốc. Cán bộ của chế độ nêu gương "độc tài, bán nước, vô cảm, vô văn hóa" cho người dân. Hậu quả, người dân trở nên vô văn hóa và vô cảm, khiến cho xã hội trở thành hỗn loạn, làm tiền đề cho giặc Tàu thôn tính nước ta. Tuy vậy, vẫn còn những người VN chân chính tự nguyện làm ngọn đuốc soi đường cho nhân dân vùng lên tiêu diệt cs. Họ là những người biểu tình bị cs đánh đổ máu vừa rồi. Họ là những bloggers, những nhà hoạt động dân chủ đang ngày đêm đấu tranh không ngừng nghỉ. Niềm hi vọng về một nước VN dân chủ chưa hề bị cs dập tắt.

    Ở đây vấn đề là các nhóm xã hội dân sự. Họ phải cố gấng thuyết phục những bạn bẻ , người thân , hàng xóm. Hãy thuyết phục họ hãy ủng hộ nhóm mình. Nếu thành công , bước tiếp theo lả hướng dẫn các bạn trẻ sinh viên , các tôn giáo , cùng các tầng lớp xã hội hiểu được giá trị tự do nhân quyền. Một khi hữu sự , các nhóm xã hội dân sự phải có người đứng ra làm đầu tàu lôi kéo họ xuống đường tạo tiếng nói cho mọi người dân . Đây là quá trình tương đối lâu dài nên phải tuyên truyền thường xuyên giá trị nhân bản , giá trị nhân quyền phổ quát . Còn một vấn đề rất khó khăn đó là vấn đề tài chính để hoạt động xã hội dân sự . Rất khó vì chế độ tà quyền theo dõi rất khắt khe các nhóm. Các nhóm khó hoạt động là thế.

    Còn tiếp....