Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

15 câu nói Đáng nhỚ cỦa tt. Ronald reagan.

15 câu nói Đáng nhỚ cỦa tt. Ronald reagan.



1. “Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau.”

2. “Chúng ta đang chiến đấu với một đối thủ nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại, và nếu chúng ta thua trong cuộc chiến này, chúng ta sẽ mất đi sự tự do, lịch sử sẽ ghi nhận lại rằng những người có nhiều thứ để mất nhất đã làm ít nhất để ngăn chặn nó.”

3. “Làm thế nào để bạn biết người đó là một người cộng sản? Đó là những người đọc Marx và Lenin. Và làm thế nào để bạn biết được người đó là người chống cộng sản? Đó là những người hiểu Marx và Lenin.”

4. “Nếu chúng ta mất tự do ở đây (nước Mỹ), sẽ không còn một nơi nào khác để trốn. Đây là trụ cột cuối cùng trên trái đất. Và cái ý tưởng rằng chính phủ phải lệ thuộc người dân, là một ý tưởng mới lạ và khác biệt nhất trong lịch sử nhân loại.”

5. “Chúng ta đã được bảo rằng chúng ta phải chọn giữa phe cánh hữu hay phe cánh tả, nhưng tôi muốn gợi ý rằng chẳng có tả hay hữu gì cả. Chỉ có tiến bước hoặc lùi bước. Tiến bước để bảo vệ giấc mơ của nhân loại; quyền tự do trong mỗi cá nhân – hoặc lùi bước để trở về với sự độc tài, và những ai đã bán đổi sự tự do của chúng ta để lấy một chút hòa bình đã lùi bước vào nô lệ.”

6. “Tôi và bạn đều biết hòa bình dù có đẹp cách mấy cũng không có ý nghĩa gì nếu nó được mua với cái giá gông cùm và nô lệ.”

7. “Chúng ta nên làm gì để có được hòa bình? Chỉ một cách, rất đơn giản. Bạn và tôi phải có đủ can đảm để nói với địch thủ, “Có một cái giá mà chúng tôi sẽ không trả.” Có một ý nghĩa trong câu nói của Barry Goldwater, “hòa bình qua sức mạnh.””

8. “Bạn và tôi đều có cuộc đối mặt với đệnh mệnh. Chúng ta sẽ gìn giữ cho con cháu chúng ta điều này, niềm hy vọng cuối cùng cho nhân loại, hoặc chúng ta sẽ kết án chúng bước bước cuối cùng vào một ngàn năm đen tối.”

9. “Chúng ta sẽ luôn nhớ, luôn tự hào. Chúng ta sẽ luôn chuẩn bị, để chúng ta sẽ mãi được tự do.”

10. “Trong cơn khủng hoản hiện tại, chính phủ không phải là giải pháp cho các vấn đề; chính chính phủ là vấn đề. Từ ngàn xưa chúng ta đều tin rằng xã hội quá phức tạp để cho phép quyền tự chủ, rằng chính phủ của một nhóm ưu tú sẽ tốt hơn một chính phủ của dân, cho dân và vì dân. Nếu không một ai trong chúng ta có đủ khẳ năng để tự chủ thì làm sao ai có đủ khả năng để tự quyết giùm người khác?”

11. “Trên hết, chúng ta phải nhận ra rằng không có vũ khí nào lợi hại hơn ý chí và sự dũng cảm đức hạnh của những con người tự do. Đó là một vũ khí mà địch thủ chúng ta không có, nhưng đó là một vũ khí mà người Mỹ chúng ta có. Tất cả những tổ chức độc tài khủng bố trên thế giới nên nhớ điều đó.”

12. “Chúng ta là một quốc gia có một chính phủ, chứ không phải ngược lại. Và điều này khiến chúng ta rất đặc biệt so với các nước khác. Chính phủ chúng ta không có quyền lực gì trừ những quyền lực mà nhân dân đã giao cho họ.”

13. “Khi bạn bắt đầu một cuộc tranh đấu, bạn sẽ không biết nó sẽ đi về đâu. Chúng ta muốn thay đổi một đất nước, nhưng thay vào đó chúng ta đã thay đổi cả thế giới.”

14. ““Chúng ta, những người dân” cho chính phủ biết họ nên làm gì, họ không không có quyền làm ngược lại. Chúng ta là người lái, chính phủ là chiếc xe. Và chúng ta sẽ quyết định chiếc xe đó sẽ đi về đâu, bằng đường nào, với tốc độ bao nhiêu. Hầu hết tất cả các hiến pháp trên thế giới đều viết với khái niệm chính phủ sẽ cho nhân dân biết quyền lợi của họ là gì. Hiến pháp của chúng ta được viết với khái niệm “Chúng Ta” sẽ cho chính phủ biết quyền lợi của họ là gì. “Chúng ta, những người dân” đang tự do.”

15. “Có một quy luật nhân quả đơn giản và dễ hiểu như luật vật lý: “chính phủ càng lớn, tự do càng bị thu hẹp.” Con người sẽ không được tự do trừ khi chính phủ bị giới hạn.”


Dịch: Nguyễn Trọng Nhân 
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33281

Việc đốn cây tại thủ đô chỉ là chuyện nhỏ


   


SỰ VIỆC ĐỐN CÂY TẠI THỦ ĐÔ CHỈ LÀ CHUYỆN NHỎ

Trần Quí Cao

Sự Việc Đã Xảy Ra

Những ngày giữa tháng 3/2015, người dân Hà Nội bỗng thấy cây xanh các tuyến phố bị đốn hạ tràn lan và không thương tiếc. Tìm hiểu người ta mới biết:

Sở Xây dựng Thành phố Hà Nội đề xuất thành phố cho thay thế 6.700 cây, thời gian thực hiện trong 3 năm (2015 – 2017), dự tính kinh phí khoảng 60 tỷ đồng. Chấp nhận đề xuất, sau đó chính quyền Hà Nội tiến hành đốn cây, bất chấp những lời kêu gọi dừng lại của nhiều thành phần dân chúng thủ đô. Trong vòng 3 ngày, theo báo PetroTimes, có khoảng 2.000 cây bị đốn. Dọc con phố Nguyễn Chí Thanh, hơn 400 gốc cây, xác cây nằm la liệt. Trong số các cây bị đốn hạ, có rất nhiều cây đang mạnh khỏe, to đẹp.
Do sự phản đối dữ dội của dư luận, Hà Nội phải dừng việc đốn cây.

Thái Độ Không Thèm Nghe Ý Dân của Chính Quyền Hà Nội
Trước khi có lệnh tạm dừng việc đốn cây và điều tra, giới cầm quyền Hà Nội tỏ thái độ không bận tâm với những ý kiến phản đối. Đáp lại phản ứng của các tầng lới dân chúng thủ đô, ông Phó trưởng ban tuyên giáo Hà Nội Phan Đăng Long tuyên bố việc chặt cây không cần phải hỏi dân.Thái độ nhà cầm quyền rõ ràng là không nghe ý dân. Không thèm nghe.
Thực ra việc không thèm nghe ý kiến của đám dân đen đã là thói quen của nhà cầm quyền độc tài độc đảng.Khi ý đảng và lòng dân khác nhau, nhà cầm quyền bất chấp lòng dân. Do đó, chính quyền đã tiến hành biết bao nhiêu việc gây tổn thất về tiền của, tính mạng và đau thương cho dân chúng!

Một Số Chính Sách Tàn Hại Vì Không Nghe Theo Ý Dân

Từ sau 1975, từ khi đảng Cộng Sản cai trị toàn thể đất nước theo chế độ độc đảng và toàn trị, nhà cầm quyền đã thi hành bao nhiêu chính sách tàn hại ghê gớm cho đất nước, bất chấp lòng dân? Hãy cùng xem lại:

1) Chính sách bắt “Ngụy Quân Ngụy Quyền” vào trại Học Tập Cải Tạo. Thực chất của chính sách này là bỏ tù không xét xử các viên chức chính quyền và quân đội chế độ Sài Gòn. Sau khi Việt Nam thống nhất, lẽ ra chính quyền cần thi hành chính sách thu phục lòng dân, kéo hai miền tổ quốc xích lại gần nhau, thì chính sách này lại đẩy hận thù của hai miền lên cao ngất. Hậu quả tai hại của hận thù và chia cắt lòng người vẫn còn tồn tại rất lớn sau 40 năm!

2) Chính sách Cải Tạo Tư Sản Mại Bản, Tư Sản Công Thương Nghiệp.Thực chất của chính sách này là tịch thu tài sản do người dân miền Nam gầy dựng để ban phát cho viên chức của đội quân chiến thắng. Chính sách này tiêu diệt nền tảng sản xuất, kinh doanh của miền Nam, cả cơ sở vật chất lẫn tầng lớp con người có khả năng, kéo theo cả nước đói nghèo 15 năm sau đó.

3) Chính sách Xóa Bỏ Văn Hóa Phẩm "Phản Động Đồi Trụy". Thực chất của chính sách này là xóa bỏ tất cả kiến thức, tư tưởng, triết thuyết chính trị không thuộc hệ thống tri thức ủng hộ chủ nghĩa Cộng Sản;các thông tin về thế giới các nước Tự Do, về chính quyền miền Nam trước ngày thua trận. Thậm chí nó còn xóa bỏ cả các kiến thức thuộc lãnh vực kỹ thuậtkhông do hệ thống các nước chủ nghĩa cộng sản sản xuất ra!
Sự nghèo nàn tri thức và suy thoái về đạo đức, văn hóa, giáo dục, học thuật… hiện nay có phần đóng góp nào của chính sách này?

4) Chính sách “Ngăn Sông Cấm Chợ”.Thực chất của chính sách này là ngăn cấm người dân mang từng lạng (1 lạng=100gam) gạo hay thịt từ tỉnh này sang tỉnh khác. Các bạn trẻ hiện nay khó có thể tưởng tượng một việc vô lý tới như vậy có thể xảy ra trên toàn quốc. Chính sách này đã biến vùng đất trù phú của tổ quốc – đồng bằng sông Cửu Long, từ vựa lúa gạo của thế giới thành nơi đói kém, thiếu gạo, dân chúng phải ăn độn khoai, bo bo… trong nhiều năm.

5) Chính sách phân biệt các thành phần thí sinh trong tuyển sinh đại học. Thực chất của chính sách này là tận diệt nhân tài của chế độ miền Nam thua trận.

6) Và bao nhiêu chính sách khác nữa…

Mỗi chính sách ban ra, đất nước bị kéo ngược chiều tiến văn minh của nhân loại, và tiếng oán than của dân chúng cao ngất trời. Nhưng các chính sách ấy vẫn được thi hành và kéo dài rất nhiều năm mặc cho lòng dân uất ức và căm phẫn.

Nếu ý kiến của dân chúng được lắng nghe, bao thảm họa do chính sách đã được ngăn chận.

Làm sao nhà cầm quyền lắng nghe ý dân? Và hơn nữa, làm theo ý dân?
Không thể trông chờ vào một nhà lãnh đạo cao cấp riêng lẻ nào đó. Chú ý rằng vấn đề không nằm ở cá thể, mà ởquần thể, xã hội. Kinh nghiệm nhân loại về chính trị xã hội dạy rằng: cần phải tổ chức xã hội sao cho nhà cầm quyền phải nghe và làm theo ý dân. Nếu nhà cầm quyền không nghe và không làm theo ý dân, dân chúng sẽ có quyền phế truất họ, đưa nhà cầm quyền khác thay thế.

Muốn vậy đất nước phải được tổ chức sao cho:

1) Có nhiều hơn một đảng. Các đảng thay nhau trong vai trò cầm quyền và đối lập để kiểm soát và hợp tác lẫn nhau, và dân kiểm soát chính quyền
2) Người dân thực sự kiểm soát việc trao quyền cho đảng biết làm theo, và làm một cách hữu hiệu, ý dân, lòng dân.

Muốn vậy,dân chúng nhất thiết phải có các quyền tự do căn bản dưới đây:
1) Quyền Tự Do ứng cử và bầu cử
2) Quyền Tự Do lập hội, lập đảng
3) Quyền Tự Do ngôn luận, Tự Do báo chí

Khi người dân giành được các quyền Tự Do đó, hệ quả tất yếu sẽ là:
1) Không còn độc đảng.
2) Tam quyền phân lập.
3) Xã hội được quản lí trong tinh thần pháp trị.
3) Lực lượng vũ trang không còn trung thành, bảo vệ bất kì một đảng nào mà chỉ trung thành, bảo vệ tổ quốc.

Nếu người dân không có các quyền Tự Do kể trên thì các lời nói như “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”hay “quyền lực thuộc về nhân dân”, chính quyền “của dân, do dân, vì dân”… chỉ là những lời trống rỗng và/hay dối trá.

Nếu người dân không có các quyền Tự Do kể trên thì sự việc chặt cây tại Hà Nội chỉ là chuyện nhỏ, thậm chí rất nhỏ.

Các dự án hàng chục tỉ đô la đã, đang và sẽ được vẽ ra, thông qua một cách khuất tất để lấy tiền dân chia nhau.

Những món nợ hàng chục tỉ đô la đã, đang và sẽ được vay để lại núi nợ cho con cháu, ngăn cản đường tiến lên của chúng.

Phong hóa dân tộc suy đồi, đạo đức dân tộc xuống cấp, truyền thống tốt đẹp của dân tộc mất đi.

Việt Nam ngày càng lạc hậu so với lân bang như Thái Lan, Mã Lai…

Từng phần lãnh thổ đất liền và biển đảo dần dần rơi vào tay Trung Cộng. Đất nước ngày càng lệ thuộc toàn diện vào nước Trung Quốc bạo ngược…
So với viễn cảnh khủng khiếp trên, việc “đốn cây giữa lòng thủ đô” chẳng là chuyện hết sức nhỏ hay sao?

T.Q.C.
Tác giả gửi BVN 
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33283

Chuyến đi Hoa Kỳ của Nguyễn Phú Trọng nằm trong sự toan tính của Mỹ

 
    Tổng thống Obama từ chối tiếp TBT Trọng tại phòng Bầu Dục | Quảng ...
Bảng Đỏ (Danlambao) – Nhà cầm quyền CSVN tỏ ra không hài lòng vì tổng thống Obama từ chối tiếp tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phòng Bầu Dục trong Nhà ...
 
Chuyến đi Hoa Kỳ của Nguyễn Phú Trọng nằm trong sự toan tính của Mỹ
 
Điều chắc chắn, khoảng cuối tháng 5 này Nguyễn Phú Trọng sẽ đi Mỹ. Câu hỏi cần được đặt ra là : Bên nào đã chủ động việc đi của Nguyễn Phú Trọng ? Mỹ hay phái ” Đảng Lãnh đạo” của Nguyễn Phú Trọng ? Theo nhà báo Phạm Chí Dũng, chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng đã được vận động từ đầu năm 2014. Bộ Chính trị đã cố gắng làm sao cho Nguyễn Phú Trọng được tiếp tại phòng Bầu dục với nghi lễ cao nhất. Chuyện đó có thể đúng trong hoàn cảnh tranh giành uy thế, vị thế quốc tế, lúc đó giữa Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng. Nhưng theo tôi, chủ động chuyến đi tháng 5 này của Nguyễn Phú Trọng là Mỹ. Và đây là suy luận của tôi :


Giữa Mỹ và Tàu đã có sự thỏa thuận về Biển Đông và Việt Nam


Mỹ nhượng bộ Tàu về 2 điểm:

1. Hoàng Sa Trường Sa trước thuộc Việt Nam sẽ vĩnh viễn thuộc Tàu. Mỹ sẽ chỉ phản kháng lấy lệ. Trái lại Tàu không được đụng đến những phần đất thuộc Philippines.

2. Thể chế chính trị ở Việt Nam sẽ không thay đổi : Sẽ vẫn là chế độ độc đảng. Nếu có thay đổi về cơ chế, sẽ phỏng theo cơ chế chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư Đảng như của Tàu. Mỹ sẽ chỉ đòi hỏi một chút nới lỏng về dân quyền.


Để đổi lại, Tàu phải nhượng bộ Mỹ về 2 điểm :

1. Bỏ rơi phái “Lãnh đạo” bảo thủ thân Tàu. ĐCSVN sẽ quy về một mối và được đặt dưới sự lãnh đạo của một nhân vật thân Mỹ để trở thành công cụ cầm quyền của nhân vật này. Nói tóm lại, về hình thức cơ chế chính trị, Việt Nam sẽ giống như Tàu với một lãnh đạo duy nhất trong cương vị Chủ tịch nước, đồng thời cũng là chủ tịch của đảng cầm quyền trong cương vị Tổng bí thư. Việt Nam hám chiếu trên chiếu dưới,, chức vị Tổng bí thư đảng có thể vẫn được tách riêng ra, nhưng người tổng bí thư đảng sẽ chỉ là người điều hành đảng, thi hành mệnh lệnh của vị chủ tịch đảng tức là chủ tịch nước. Cũng như ở bên Tàu, Thủ tướng và những phó thủ tướng cũng là do Chủ tịch nước bổ nhiệm. Cơ chế này là cơ chế chung của mọi nước dân chủ cũng như độc tài trên thế giới. Chỉ khác nhau ở chỗ có sự tự do lựa chọn của người dân qua một cuộc bầu cử hay không.

2. Chấp thuận Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), rào cản của Mỹ ngăn sự bành trướng chính trị, quân sự và kinh tế của Tàu. Nhưng Tàu cũng đã tính kỹ : Việt Nam gia nhập TPP cũng có thể trở thành con ngựa thành Troie của Tàu : Vốn Tàu, hàng Tàu sẽ được sản xuất ở Việt Nam, dưới nhãn hiệu Việt Nam, rồi được tuôn vào những nước trong TPP. Ngay cả chuyện Việt Nam gia nhập TPP có được thặng dư xuất khẩu, rút cục tiền thặng dư đó cũng sẽ rơi vào túi Tàu hết : Năm 2014, Việt Nam xuất khẩu qua Mỹ thặng dư được 25 tỷ đô la thì nhập siêu từ Tàu 29 tỷ đô ! Nói tóm lại Việt Nam lấy tiền Mỹ đưa lại cho Tàu.

Cũng cần phải biết đối với quan niệm Âu Tây, 2 phái trong ĐCSVN tương đương với 2 đảng đối lập nhau, và trong tương lai sẽ trở thành 2 đảng theo định nghĩa của Âu Tây. Lẽ đương nhiên “đảng” của Nguyễn Tấn Dũng được sự ủng hộ của Mỹ hiện thời vì tham vọng cá nhân và sự sống còn của Nguyễn Tấn Dũng phù hợp với đường lối hiện giờ của Mỹ ở Việt Nam nhất : Không thể làm thủ tướng một nhiệm kỳ nữa, Nguyễn Tấn Dũng chỉ có thể bảo vệ được sự sống còn của mình là phải làm sao, năm 2016 sau Đại hội 12, chiếm cho bằng được chức vị Tổng bí thư kiêm chủ tịch nước để, với chức vị TBT, biến Đảng thành đảng của mình, với chức vị chủ tịch nước, có tiếng ăn tiếng nói với quốc tế. Những người trí thức và đa số các ủy viên Trung ương Đảng ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng cũng nghĩ như vậy và cho đó là con đường độc nhất để thoát khỏi Tàu (đối với những người trí thức) hay để cứu vãn Đảng (đối với các ủy viên Trung ương).

Nhưng cũng vì quan niệm của Mỹ là trong bất cứ nền chính trị nào cũng phải đặt trên cơ sở lưỡng đảng, nên Mỹ mới mời Nguyễn Phú Trọng qua Mỹ. Không phải vì cá nhân Nguyễn Phú Trọng mà vì phe đảng của Nguyễn Phú Trọng được Mỹ coi là đối trọng với phe đảng của Nguyễn Tấn Dũng. Vả lại Mỹ cũng muốn mua chuộc, ve vãn phe Nguyễn Phú Trọng để tách rời phe Nguyễn Phú Trọng khỏi Tàu và trở thành một quân bài của mình. Như vậy là Mỹ nắm trong tay cả 2 quân bài : quân bài (phe) Nguyễn Tấn Dũng, quân bài (phe) Nguyễn Phú Trọng, để tha hồ thao túng chính trị Việt Nam. Mỹ cũng biết hiện thời phe Nguyễn Phú Trọng yếu thế sau những đợt tấn công của “Chân dung quyền lực” – mà chắc chắn là có sự trợ giúp của CIA -. Với một phe yếu thế bị dân ghét bỏ vì mang tiếng thân Tàu, Mỹ có thể mua chuộc được dễ dàng hơn. Mời Nguyễn Phú Trọng qua Mỹ để thỏa lòng tự ái của phe Nguyễn phú Trọng, để phe Nguyễn Phú Trọng có thể vênh vang với phe Nguyễn Tấn Dũng ở trong nước, không những không tốn tiền mà còn có thể đỡ được nửa số tiền mua chuộc phe cánh Nguyễn Phú Trọng. Lẽ tất nhiên là Nguyễn Phú Trọng qua Mỹ cũng chỉ để cưỡi ngựa xem hoa chứ Mỹ có chi mà bàn với Nguyễn Phú Trọng ? Còn qua Mỹ được tiếp đón theo nghi lễ nào, thì ban Nghi lễ của bộ Ngoại giao thừa bản lĩnh để đưa ra những nghi lễ thích hợp tùy theo cương vị của người được mời. Ngày trước Tổng thống Pháp Giscard D’Estaing có thể mời người quét đường ăn cơm ở điện Elysée với mình cũng như mời các vị quốc trưởng, thì Obama cũng có thể mời Nguyễn Phú Trọng ăn uống với mình. Ở các nước dân chủ, người cầm quyền do dân bầu ra, đâu có phân biệt đẳng cấp. Giáo hoàng cũng vậy: mỗi ngày tiếp biết bao nhiêu người. Ai cũng có thể xin được Giáo hoàng tiếp riêng, thì Nguyễn Phú Trọng cũng vậy.

Tôi cũng xin nói thêm về chuyện Trần Đại Quang được mời qua Mỹ. Trái với ý nghĩ của ông Phạm Chí Dũng : sở dĩ Trần Đại Quang được mời là vì Trần Đại Quang trong tương lai có thể giữ chức vị chủ tịch nước hay cao hơn nữa, chức vị tổng bí thư (!). Tôi thì nghĩ, sở dĩ TĐQ được mời là vì vấn đề đàn áp nhân quyền và Công an là lực lượng mạnh nhất trong chế độ. Công an nghiêng về bên nào là bên ấy thắng. Mỹ có thể có thể hứa hẹn, mua chuộc TĐQ để Công an nới lỏng một chút về nhân quyền.

Tôi xin nói một câu để kết luận: Chế độ lưỡng đảng đang được thành hình ở Việt Nam nếu Mỹ thành công trong sự toan tính của mình.

Phong Uyên

© Đàn Chim Việt
 
 Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33287 

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Việt Nam liên tục đánh mất cơ hội bắt kịp láng giềngl


Việt Nam liên tục đánh mất cơ hội bắt kịp láng giềng

Có nhiều người biện luận rằng giàu nghèo không phản ánh hạnh phúc của người dân, điều này có thể đúng một phần, nhưng liệu chúng ta có thể tồn tại và hạnh phúc một cách bền vững trong cảnh nghèo khó khi sống xung quanh những gã khổng lồ?

Gieo văn hóa tốt gặp tương lai đẹp
Một số nhà nghiên cứu văn hóa gần đây khi lên tiếng bảo vệ sự duy trì một số lễ hội dân gian như “chém lợn” hay “đập trâu” có xu hướng cho rằng các lễ hội trên là của làng này, địa phương nọ và đó là những nét văn hóa bản địa. Vì vậy việc bỏ, không bỏ hay cần thay đổi là do cộng đồng địa phương đó quyết định. Quan điểm này, xét về cách tiếp cận trong phát triển thì không sai, song xét trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của thông tin và truyền thông của ngày hôm nay thì có vẻ chưa ổn.
Xưa kia, khi giao thông hạn chế, tính chất làng, xã còn nặng nề khiến cho ai biết việc người nấy và thường thì những lễ hội dân gian hay dừng lại trong một phạm vi hẹp cũng như ảnh hưởng của chúng giới hạn trong một cộng đồng mang tính đồng nhất về văn hóa, tín ngưỡng.
Ngày nay, chợ Viềng không còn chỉ là của người Nam Định, Hội Gióng không thuần túy chỉ dành cho dân Sóc Sơn và “khai ấn đền Trần” luôn có số khách “thập phương” áp đảo. Việc thực hành tín ngưỡng tại hầu hết các lễ hội dân gian đều khó tránh được chuyện “Quan trên ngó xuống, người ta trông vào”.
Xét cho cùng, đây cũng là điều tốt và có thể được xem như một dạng công cụ vừa giám sát (tránh biến tướng), vừa đánh giá (giúp kiểm soát và tiến tới loại bỏ những thứ được nhiều người cho là hủ tục).
Tôn trọng và thừa nhận truyền thống văn hóa, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một cá nhân hay một cộng đồng là điều không phải bàn. Song đôi lúc cũng nên nhìn ra xung quanh xem những tập tục mà mình đang thực hành đó liệu có đang biến chúng ta – cả một cộng đồng lớn hơn, thành những kẻ dị biệt và cô độc trong xu thế phát triển.
Đất nước không thể phát triển trên một ốc đảo văn hóa, do vậy, việc lãng phí thời gian, tiền bạc và công sức cho các lễ hội không những được coi là lạc hậu mà đôi lúc còn phản ánh nhân sinh quan của cộng đồng.

Niềm tin và những nỗi sợ

Xưa kia có mấy nơi huy hoàng bằng Inca ở châu Mỹ, Bangan hay Angkor ở Đông Nam Á hay Ai Cập ở châu Phi nơi người dân đã dành quá nhiều công sức xây dựng những đền đài miếu mạo nhằm cảm ơn ân huệ của Thượng Đế. Trong hầu hết các lĩnh vực xã hội thì văn hóa luôn được xem là quan trọng nhất, vì các lĩnh vực khác đều đang được vận hành với mục đích làm cho cuộc sống tiến bộ, văn minh hơn mà những điều này không thể tồn tại được trong một môi trường văn hóa còn sơ khai và lạc hậu.
Do phần lớn nhân loại đều không trả lời được câu hỏi “chúng ta đến từ đâu, sẽ đi đâu và tại sao (mục đích) chúng ta lại có mặt trên cõi đời này”, nên tín ngưỡng, tôn giáo chính là công cụ khả dĩ giúp mọi người trả lời hay ít nhất có niềm tin là sẽ trả lời được câu hỏi này. Như vậy nếu có những hoạt động văn hóa nào đó không còn có tác dụng bổi bổ cho tầm hồn hay tinh thần của con người tại cộng đồng đó nữa, cũng như không phản ánh ước vọng của cộng đồng thì sự loại bỏ là rất nên làm.
Ví dụ, xưa kia dân số ít và tài nguyên còn nhiều nên các gia đình cần nhiều con cái nhằm tăng cường lưc lượng sản xuất. Ngày nay vơi 90 triệu dân, không thể nói là dân ta thiếu người. Và thực tế là nhà nước phải dành nhiều nỗ lực để kiềm chế sự gia tăng dân số quá nhanh trong mấy thập niên qua.
Dân ta ngày nay không còn ước vọng về sự “phồn thực” theo cách mà tổ tiên mong muốn nữa, vì vậy các lễ hội cũng nên cải tiến hay biến chuyển để phản ánh mong ước của công chúng hiện thời. Khi cái “đói” không còn là nỗi ám ảnh với đa phần dân chúng, cách thực hành văn hóa cũng nên được nhìn nhận lại để chắt lọc và phát triển những nét văn hóa thanh cao và tinh tế nhằm nâng tầm nhân sinh quan người Việt.

Lịch sử nhân loại cho thấy, khi một cộng đồng được thừa hưởng sự ưu ái của tự nhiên hay nhờ kỹ nghệ tốt và đạt đến hưng thịnh thì thường họ rất sợ sự thịnh vượng kia ngày nào đó sẽ ra đi.
Thay vì tiếp tục cố gắng để tiến lên thì phần nhiều họ bị nỗi sợ chi phối và tìm cách gìn giữ sự phồn thịnh của mình qua tâm linh. Xưa kia có mấy nơi huy hoàng bằng Inca ở châu Mỹ, Bangan hay Angkor ở Đông Nam Á hay Ai Cập ở châu Phi nơi người dân đã dành công sức xây dựng những đền đài miếu mạo nhằm cảm ơn ân huệ của Thượng Đế. Ngày nay chúng ta phần lớn biết đến những nơi này nhờ những thứ được gọi là “di sản” còn lại trong rất nhiều phế tích.
Sử gia người Mỹ, Will Durrant đã từng giải thích về sự đa dạng trong tôn giáo cũng như tính sâu sắc trong các triết lý (thiên về tín ngưỡng, tôn giáo) của người Ấn Độ. Theo ông, người Ấn có thể sâu sắc đến vậy vì trong khoảng 500 năm qua (trước khi nước này giành được độc lập từ người Anh), dân tộc này luôn bị các nước khác (Hồi giáo và sau này là thực dân Anh) xâm chiếm và đô hộ.
Do chìm đắm trong áp bức, người Ấn tìm cách giải tỏa sự phẫn uất qua con đường tâm linh và suy ngẫm tinh thần. Nhờ đó, họ phần nào giải tỏa được những khổ đau thực tại và nhân loại được chứng kiến tính đa dạng và sâu sắc trong triết lý của hơn một tỷ người Nam Á này.
Việc đi tìm sự che chở của các lực lượng siêu nhiên là dễ hiểu và không có gì đáng trách khi họ cảm thấy lo lắng hay rủi ro cho cuộc sống và những gì họ đang có nhưng không thể tìm thấy niềm tin hay cảm giác an toàn trong thực tại hoặc không thể đặt niềm tin vào các thiết chế.
Tuy nhiên cần nhìn nhận một thực tế rằng phần lớn các lễ hội và cách thực hành tín ngưỡng mà ta đang khôi phục có phần quá mức cần thiết ngay hôm nay, trừ một số lễ hội mang tầm quốc gia, đều là những thứ vốn rất được phổ biến trước 1945, khi đất nước còn trong bóng đêm nô lệ, khi người Pháp góp phần đưa các lễ hội này thành một nét văn hóa không thể thiếu với hai mục đích chính (i) tạo nên sự đa dạng về văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng của các cộng đồng, địa phương – nhưng cũng chính là một hình thức tạo ra sự khác biệt nhằm làm giảm tinh thần đoàn kết của người Việt, và (ii) làm cho dân chúng say sưa với những vấn đề của thế giới tâm linh mà quên đi thực tại.
Khi câu chuyện năng suất lao động thấp nhất khu vực đang được cảnh báo. Khi nguy cơ tụt hậu là hiện hữu. Khi nợ công quốc gia đang sắp ở mức quan ngại còn thu nhập bình quân đầu người chỉ khiêm tốn ở mức 2.000 USD trên một đầu người thì rõ ràng bây giờ chưa phải lúc chúng ta có thể dành quá nhiều thời gian để ăn chơi tốn kém và lãng phí.
Có nhiều người biện luận rằng giàu nghèo không phản ánh hạnh phúc của người dân, điều này có thể đúng một phần, nhưng liệu chúng ta có thể tồn tại và hạnh phúc một cách bền vững trong cảnh nghèo khó khi sống xung quanh những gã khổng lồ.
Đất nước đang cần phải có được sự đồng lòng về nhiều phương diện để hướng tới xây dựng một tương lai tươi đẹp hơn. Muốn vậy, cần xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh và khỏe khoắn để nâng đỡ và thúc đẩy tiến trình phát triển.
Sẽ quá muộn nếu xã hội cứ vướng mãi vào vòng luẩn quẩn của sự chia rẽ vì các hủ tục. Gieo hành vi đẹp sẽ gặt hái tương lai tốt. Vì vậy cần xóa bỏ các hủ tục và những thực hành văn hóa không phù hợp.
Trần Văn Tuấn

*****
So với láng giềng còn chưa xứng, thì nói chi đến các nước khác trên thế giới? Đầu giây mới nhợ là tại Đảng mà ra cả. Đảng CS đã "thử" chủ nghĩa xã hội tại VN 70 năm qua chẳng làm nên cơm cháo gì cả, trong khi nhân dân thì lại nhu nhược, không đủ can đảm tống cổ Đảng ra khỏi vị trí "độc quyền lãnh đạo" . Còn Đảng thì còn mất cơ hội dài dài ... bởi vì :


Lý Quang Diệu: Lãnh đạo kém sẽ ngáng chân người giỏi
Có tầm nhìn sâu rộng, tính cách lạnh lùng cứng rắn, ông Lý Quang Diệu đã biến Singapore từ một hòn đảo nhỏ bé không tài nguyên thiên nhiên trở thành nền kinh tế thịnh vượng.

>> Lý Quang Diệu: Phải thoát khỏi tham lam, tham nhũng

Sinh năm 1923, Lý Quang Diệu học trung học tại một trường của Anh ở Singapore, sau đó theo học trường Kinh tế London rồi tới Cambridge, nơi ông theo học ngành luật. Trở về Singapore, ông thành một luật sư có tiếng, chuyên lĩnh vực nghiệp đoàn.
Năm 1954, ông là sáng lập viên và là tổng bí thư đầu tiên của đảng Nhân dân hành động (PAP), vị trí mà ông nắm giữ gần 40 năm. Sau đó, ông đưa ra một chương trình cải tổ to lớn, nhằm biến Singapore từ "nơi tăm tối với đói nghèo và tan rã" thành một quốc gia công nghiệp hóa hiện đại. Từ 1960 tới 1980, mức giá trị hàng hóa dịch vụ bình quân đầu người ở Singapore tăng gấp 15 lần.

Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu năm 1969 Khi ông lên nắm quyền năm 1959, Singapore trong tình trạng thất nghiệp cao, dân thiếu nhà ở trầm trọng, tham nhũng lan tràn. Lý Quang Diệu đã áp dụng hàng loạt biện pháp nhằm loại trừ tình trạng tham nhũng. Nhờ đó, nạn tham nhũng được xóa bỏ, Singapore trở thành quốc gia hình mẫu về một chính phủ sạch. Sự liêm chính được duy trì từ thời Lý Quang Diệu cho đến thời con trai ông - Lý Hiển Long - trên tinh thần “bốn không”: “không được, không thể, không muốn và không dám tham nhũng”.
Về chính sách nhà ở cho người dân, ông Lý Quang Diệu đã đưa ra chương trình nhà ở giá thấp và kế hoạch công nghiệp hóa nhằm tạo công ăn việc làm. Ông cũng nỗ lực phát triển đồng đều các nhóm sắc tộc đa dạng trên hòn đảo, nhằm tạo bản sắc Singapore độc đáo dựa trên nền tảng đa văn hóa.
Chính sự quan tâm đến đời sống của người dân, các tiêu chuẩn kinh tế, xã hội và phát triển giáo dục đất nước, mà ông được coi là mẫu hình của thủ tướng vì dân.
Đến thập niên 1980, GNP bình quân đầu người Singapore tăng hơn 10 lần lên 6.634 USD, tỉ lệ thất nghiệp xuống cực thấp và tỉ lệ người dân có nhà ở tăng lên tới 81%. Đến đầu những năm 2000, khoảng 90% người dân Singapore đã có nhà.
Đưa Singapore từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất




Thành công trong chống tham nhũng, gây dựng và củng cố sự liêm chính của hàng ngũ lãnh đạo và viên chức được coi là di sản lớn nhất mà ông Lý Quang Diệu để lại cho Singapore.

Thủ tướng Lý Quang Diệu tại Ngày trồng cây, 28/10/1971
Theo giới phân tích, thành công ấy được tạo ra và khởi nguồn từ chính niềm tin, giá trị và tầm nhìn từ người sáng lập. Những nhà lãnh đạo của Singapore mà điển hình là ông Lý Quang Diệu đã đặt niềm tin mạnh mẽ vào việc xây dựng một dịch vụ công hiệu quả trên cơ sở chính trực, thực tài, định hướng theo kết quả, tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Ông Lý Quang Diệu có quan điểm rất rõ ràng: Lãnh đạo giỏi là đầu tàu định hướng cho đất nước phát triển, nên không thể thăng quan tiến chức nhờ quan hệ cửa trước cửa sau hay sẵn sàng ngã giá để mua danh bán tước. Ông thẳng thắn nói: "Lãnh đạo dốt sẽ ngáng chân những người giỏi, không cho họ ngồi vào những vị trí quan trọng". Ở Singapore, những người tài thực sự được coi là thịt, là da đắp vào bộ khung lãnh đạo quốc gia.
Khi từ chức vào năm 1990 sau khi đã chiến thắng không dưới 7 kỳ bầu cử, ông Lý Quang Diệu trở thành vị thủ tướng nắm quyền lâu nhất thế giới. Di sản và công lao của ông Lý Quang Diệu với đảo quốc là không thể kể hết. Nhưng ông chỉ khiêm tốn nói trong cuốn hồi ký của mình rằng: "Tôi và các cộng sự đã góp phần đưa Singapore từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất".

Cuộc đời ông Lý Quang Diệu qua một số hình ảnh:
Người ủng hộ chúc mừng ông Lý Quang Diệu - Tổng bí thư đầu tiên của đảng Nhân dân hành động (PAP) và là Thủ tướng Singapore năm 1959
Ông Lý Quang Diệu họp với các lãnh đạo đảng Lao Động trong bối cảnh bị đe dọa đình công năm 1965
Thủ tướng Lý Quang Diệu cùng gia đình chơi cờ năm 1965
Alec Douglas Home, cựu Thủ tướng Anh gặp gỡ ông Lý Quang Diệu ở London năm 1969
Ông Lý Quang Diệu thăm Thủ tướng Anh Margaret Thatcher năm 1985
 
 Ông Lý Quang Diệu gặp Tổng thống Mỹ Obama tại phòng Bầu dục năm 2009 Thái An(theo BBC, TIME)
Nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33276

Nhật Bản truyền tải thành công điện không dây


Nhật Bản truyền tải thành công điện không dây
23/03/2015 00:10 GMT+7
Các nhà khoa học tại Cơ quan thám hiểm vũ trụ Nhật Bản JAXA vừa thử nghiệm thành công truyền tải năng lượng không dây, tiến gần hơn một bước đáng kể tới việc sản xuất điện từ vũ trụ.
Theo AFP, các nhà nghiên cứu đã sử dụng sóng viba để truyền tải 1,8 kW - đủ để đun sôi một ấm nước điện qua không khí - tới một thiết bị thu điện cách đó 55m.
Người phát ngôn của JAXA cho biết đây là lần đầu tiên các nhà khoa học có thể gửi thành công một sản lượng điện gần 2kW thông qua sóng viba bằng một thiết bị điều khiển định hướng.
"Tuy khoảng cách này không lớn, nhưng sự phát triển của công nghệ sẽ dần dần giúp con người tiến gần hơn tới việc sản xuất điện từ năng lượng mặt trời trong không gian và sử dụng ngay trên trái đất này", người phát ngôn của JAXA nói.
Với bước đột phát mới trong việc truyền tải điện không dây của các nhà khoa học Nhật Bản, trong tương lai chúng ta có thể sử dụng các vệ tinh nhân tạo để hấp thụ năng lượng mặt trời và truyền tải xuống trái đất.


 
Ý tưởng của JAXA là sẽ thiết lập hệ thống vệ tinh truyền tải bằng sóng viba, gồm các tấm hấp thu ánh sáng mặt trời và ăng-ten, cách trái đất khoảng 36.000 km.
Người phát ngôn của JAXA cho biết việc sản xuất điện trong không gian có nhiều thuận lợi hơn so với việc sử dụng năng lượng mặt trời trên mặt đất như ta vẫn làm, trong đó đáng kể nhất là nguồn năng lượng dồi dào, sẵn có bất kể thời gian nào trong ngày cũng như thời tiết như thế nào.
Tất nhiên, có thể mất nhiều thập kỷ để công nghệ này được triển khai trong thực tế, có thể là vào năm 2040 hoặc thậm chí sau nữa. Chúng ta còn nhiều điều phải vượt qua, ví dụ như việc chuyển những khối kết cấu khổng lồ lên vũ trụ, xây dựng cũng như bảo trì chúng. 
 
Nguồn http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33274
PHILLIPINES THẮNG TRUNG QUỐC TẠI LIÊN HIỆP QUỐC: TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE PHÁN QUYẾT ĐƯỜNG 9 ĐOẠN LƯỠI BÒ CỦA TRUNG QUỐC "VÔ GIÁ TRỊ!"
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thuy Trang Nguyen 
Thuy Trang Nguyen đã thêm 3 ảnh mới.
 
PHILLIPINES THẮNG TRUNG QUỐC TẠI LIÊN HIỆP QUỐC: TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE PHÁN QUYẾT ĐƯỜNG 9 ĐOẠN LƯỠI BÒ CỦA TRUNG QUỐC "VÔ GIÁ TRỊ!"
Phiên xử kéo dài 3 tháng, vào ngày 10/3/2015 Các thẩm phán của TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE, trong đó có Thẩm phán Thomas A. Mensah (Chủ tịch), thẩm phán Jean-Pierre Cot, thẩm phán Stanislaw Pawlak, Giáo sư Alfred HA Soons, và Thẩm phán Rüdige, đã đưa ra PHÁN QUYẾT về Bản Đồ 9 đoạn mà Trung Quốc đưa ra ở Biển Đông (Biển Đông), hay còn được gọi là Biển Tây Philippines là VÔ GIÁ TRỊ đối với LUẬT LỆ Quốc Tế.
Bản án này rất quan trọng vì đã chứng minh rằng hành vi hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông là bất hợp pháp. Trung Quốc đã vượt quá giới hạn của nước nầy để đơn phương đưa ra bản đồ gây tranh cãi cho các nước trong vùng. Quyết định của TÒA ÁN HAGUE đã gây tổn hại danh tiếng của Trung Quốc về cách ứng xử trong khu vực, đồng thời ảnh hưởng xấu với quốc tế về tính chất tiêu cực của nước nầy.
Việc không tuân thủ phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế sẽ làm cho Cộng Đồng Quốc Tế thấy rằng Trung Quốc đang tiếp tục hành động như một quốc gia hiếu chiến.
Trong bản án mà Philippines đưa ra trước Hội Đồng Thẩm Phán, lên án Trung Quốc là một kẻ bắt nạt các nước láng giềng, Trung Quốc tìm cách cưỡng chiếm các nguồn tài nguyên của họ.
Tòa án cho biết hành động của Trung Quốc không những là khiêu khích mà có thái độ gây nguy hiểm cho Hòa Bình trong khu vực.
Sau khi Trung Quốc tranh lấn đảo Scarborough Shoal, thì Philippines đã không có cách nào khác và đã kiện Trung Quốc thông qua trọng tài quốc tế.
Dĩ nhiên, điều này không chỉ là một trận đấu tại tòa án giữa Trung Quốc và Philippines, nhưng quan trọng hơn là một thách thức đối với Luật của Liên Hợp Quốc, Luật Biển (UNCLOS) được xây dựng vào năm 1982 mà Trung Quốc đã KHÔNG tuân thủ.
Quyết định của tòa án mang ý nghĩa là bây giờ Hành Động TUYÊN BỐ ĐƠN PHƯƠNG của TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ luật pháp QUỐC TẾ, các nước láng giềng trong khu vực Biển Đông có đầy đủ quyền hạn để theo đuổi và bảo vệ lợi ích của họ trên Biển Đông.
Nguyễn Thùy Trang

Nguồn: https://www.facebook.com/drthuytrangnguyen/posts/662163143896095

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

Người nhái VNCH giải cứu đồng minh Mỹ ngay trên đất địch

 Đi Vào Lòng Địch: Câu chuyện thật của một Người Nhái Hải Quân VNCH
Thế Trân

(Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Kiệt và dữ kiện trong các trang web)

 


Lời ngỏ: Cuối năm 2001 người xem TV các chương trình “Suicide Missions” (History Channel), “Navy SEALs: Untold stories” (TLC - The Learning Channel) sẽ thấy một nhân vật Việt Nam tên Kiệt được nhắc đến trong những chuyến công tác chưa bao giờ được kể lại. Nhân vật này là ai? Tình tiết trong các phim tài liệu đó có chính xác không? Mời đọc giả đi
ngược thời gian….
Cách đây gần 30 năm về trước, vào mùa hè năm 72 được biệt danh là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Cộng sản Bắc Việt (CSBV) mở cuộc tấn công xâm lăng miền Nam Việt Nam ở ba mặt trận: Quảng Trị, Cao Nguyên, An Lộc. 30 ngàn quân CSBV trang bị vũ khí tận răng, tràn qua vùng phi quân sự (DMZ) ở vĩ tuyến 17, vượt tràn qua sông Bến Hải. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và đồng minh ở trong thế giằng co với kẻ địch….

Trong một chuyến thám thính thâu lượm tin tức, chiếc máy bay EB-66 của không lực Hoa Kỳ bất thình lình bị hỏa tiễn SAM bắn hạ. Vừa kịp tung ra khỏi máy bay, Trung Tá Iceal “Gene” Hambleton kinh hãi chứng kiến cảnh chiếc máy bay bùng nổ làm thiệt mạng 5 người còn lại trong phi hành đoàn. Chiếc dù từ từ lượn xuống, dù bị mây mù che phủ không thấy đất, Trung Tá Hambleton biết chắc là 30 ngàn địch quân đang chờ mình dưới đất. Thế là guồng máy quân sự của đồng minh bắt đầu một cuộc “tìm kiếm và giải cứu” (search and rescue) đắt giá và tổn hại nhất trong cuộc chiến. Hai chiếc trực thăng Bộ Binh vừa nhào đến địa điểm giải cứu liền bị bắn hạ. Phi hành đoàn 4 người của chiếc Blueghost 39 thiệt mạng tại chỗ. Chiếc trực thăng thứ nhì ráng “lết” đến một địa điểm an toàn và phi hành đoàn được một chiếc trực thăng khác đến giải cứu.


Trung tá Không quân Hoa Kỳ Hambleton.

Màn đêm buông xuống, Trung Tá Hambleton trơ trọi một mình dưới đất trong sự che chở của rừng rậm, bủa vây tứ bề bởi một lực lượng địch quân lớn nhất trong cuộc chiến VN. Hôm đó là ngày Phục Sinh, chủ nhật 2 tháng 4, 1972. Không quân Hoa Kỳ (HK) biết vị trí của Trung Tá Hambleton nhưng không tài nào với tới nổi ông ta vì địch quân bủa vây dầy đặc. Tối đó họ chỉ có thể thả mìn xung quanh ông ta để ngăn cản địch quân tới gần.


Sáng hôm sau, chiếc trực thăng “Jolly Green 65″ bay tới gần vị trí của Trung Tá Hambleton thì lập tức bị “dàn chào” bởi một trận mưa đạn tàn khốc. Lại phải “lết” về. Chuyến kế của “Jolly Green 66″ cũng không khấm khá. Đạn bắn rát từ tứ phía như xé nát chiếc trực thăng. Và cũng phải “lết” về lại căn cứ. Trước khi màn đêm phủ xuống vào ngày Thứ Hai, một chiếc máy bay hỗ trợ cho cuộc giải cứu bị hỏa tiễn SAM bắn hạ. Đại Uý William Henderson và Trung Úy Mark Clark nhảy dù thoát hiểm, đáp xuống đất gần vị trí của Trung Tá Hambleton. Cuộc giải cứu bây giờ không phải cho một người nữa, mà cho 3 sĩ quan Hoa Kỳ, mỗi người lạc một lối. Dưới đất, 3 người phi công HK chứng kiến tận mắt trong nỗi niềm thất vọng khi thấy các loạt giải cứu kế tiếp bị đẩy lui bởi hỏa lực tàn khốc của địch. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, 3 máy bay bị bắn hạ, 5 chiếc bị thiệt hại nặng nề, 4 người thiệt mạng. Và xui xẻo thay tối đó Đại Úy Henderson bị CSBV lùng bắt được. Trong khi đó, quân đội HK khám phá ra rằng Trung Tá Hambleton từng phục vụ với Bộ Tư Lệnh Chiến Lược Không Quân (Strategic Air Command). Ông ta giữ trong đầu một kho kiến thức về hệ thống hỏa tiễn nguyên tử, cái loại dữ kiện không thể để rơi vào tay kẻ địch. Bằng mọi giá phải giải cứu cho được Trung Tá Hambleton.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1080x773.

Phóng đồ hành quân Bat 21 Bravo và Nail 38 Bravo giải cứu Trung tá Không quân Hoa Kỳ Hambleton từ ngày 2 đến ngày 14 tháng 4 năm 1972.

Những ngày kế tiếp, không lực HK mở nhiều cuộc tấn công xung quanh cầu Cam Lộ. Vì hỏa lực địch quá mạnh, không chiếc máy bay nào có thể xuyên thủng vòng vây được. Trái lại hầu hết đều bị bắn hư hại nặng. Mọi người đều nhận ra là kẻ địch đang dùng hai phi công Hoa Kỳ làm mồi để nhử các chuyến giải cứu vào để tiêu diệt. Đến ngày 6 tháng 4, tổng cộng có đến 52 chiếc máy bay và 4 chiếc B-52 oanh tạc liên tục chung quanh vùng Cam Lộ. Trong lúc đó, chuyến phi hành “Jolly Green 67″ chuẩn bị để thực hiện cú “chộp” lấy Trung Tá Hambleton. Chiếc trực trăng “Jolly Green 67″ gần đáp xuống vị trí của Trung Tá Hambleton giữa khói lửa mịt mù, giữa những lằn đạn của địch cào nát phi cơ. Bị bắn quá rát, trực thăng rút lên không kịp, rơi sầm xuống đất nổ tung. Thiệt mạng tất cả phi hành đoàn 6 người. Trung Tá Hambleton gục khóc khi thấy biết bao nhiêu người thiệt mạng chỉ để giải cứu lấy mình. Bằng mọi giá ông ta tự nhủ cũng phải sống còn…. Ngày 7 tháng 4, một chiếc máy bay khác hỗ trợ cuộc giải cứu lại bị bắn hạ. Trung Úy Bruce Walker và Trung Úy Larry Potts bị thất tung.

Ngày 9 tháng 4, quân lực HK nhận thấy cuộc giải cứu kết hợp nỗ lực của nhiều binh chủng không thành công. 5 phi cơ bị bắn hạ, 9 quân nhân bị thiệt mạng, 2 người là tù binh, mất tung tích 2 sĩ quan khác. Không lực Hoa Kỳ gần như bó tay chưa biết tính toán như thế nào.

Lúc bấy giờ, Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Al Gray đưa ra một đề nghị khác: một cuộc giải cứu âm thầm bằng đường bộ. Ai thực hiện công tác này? Câu trả lời: Biệt kích Mỹ và Việt. Đại Úy Thomas Norris - (hình trái) - US Navy SEAL cùng 5 Người Nhái (Frogmen) Việt Nam từ căn cứ Đà Nẵng đến để chuẩn bị. Cùng lúc đó, không lực HK ra tín hiệu cho hai phi công HK kẹt trong lòng địch tìm cách tới điểm hẹn. Trung Úy Clark đang ở gần sông Cam Lộ, chảy về hướng Đông ra Cửa Việt. Tối ngày 10 tháng 4 sẽ men theo ven sông đến điểm hẹn. Còn Trung Tá Hambleton cách giòng sông gần 2 cây số cần phải được hướng dẫn để len lỏi qua vòng đai địch quân dầy đặc để đến bờ sông. Toán biệt kích tập trung tại một tiền đồn (forward operating base) nằm trên một ngọn đồi thấp cạnh sông Miếu Giang, quận Cam Lộ. Nhóm Người Nhái Việt Nam gồm có một Đại Úy trưởng toán, hai Hạ Sĩ Nhất, và hai Hạ Sĩ. Kiệt, 27 tuổi, lúc bấy giờ là Hạ Sĩ Nhất Trọng Pháo, thuộc sở Phòng Vệ Duyên Hải, và cũng là một Biệt Hải được huấn luyện theo mô hình của US Navy SEALs.

Từ tiền đồn, Norris cùng với nhóm Biệt Hải đi ngược dòng sông để giải cứu cho Trung Úy Clark trước, rồi Hambleton sau đó. Khi màn đêm buông phủ ngày 10 tháng 4, đội biệt kích khởi hành. 6 người trơ trọi trong bóng đêm đối đầu với một lực lượng địch quân đã bất chấp sức mạnh của không lực HK. Thoạt đầu, toán biệt kích dự tính bơi ngược dòng sông để gặp Trung Úy Clark trôi xuôi dòng xuống. Nhưng vì dòng nước chảy mạnh quá nên cả toán đành phải xâm nhập bằng đường bộ theo ven bờ sông. Toán biệt kích chậm rãi tiến từng bước trong màn đêm, vượt qua mặt từng đoàn thiết giáp, xe hàng, và các toán tuần tiểu thường xuyên canh phòng. Đây là một việc chậm rãi, nguy hiểm và có thể trở thành chết người trong nháy mắt. Nhóm điều hành chuyến giải cứu biết là nguy hiểm nên đã dặn cả toán là đừng đi quá một cây số vào cứ địa của địch ở thượng nguồn. Nhưng toán biệt kích biết là như vậy không đủ nên tiếp tục âm thầm vượt qua tai mắt kẻ địch để cuối cùng dừng lại và chờ … 2 cây số ở thượng nguồn.

Gần 3 giờ sáng, toán biệt kích phát hiện một vật di động xuôi dòng sông. Đó chính là Trung Úy Clark. Trước khi cả toán bắt đầu cuộc giải cứu thì một toán tuần tiểu của địch xuất hiện. Cả toán lặng yên chờ đợi trong khi Trung Úy Clark cứ trôi xuôi dòng sông. Đến khi kẻ địch đã đi qua thì Trung Úy Clark cũng biến dạng trên dòng sông nước chảy mạnh. Cả toán biệt kích rút lui đi dọc theo bờ sông để truy lùng Clark. Cuối cùng toán phát hiện ông ta đang ẩn núp ở ven sông. Trời đã hừng sáng, tuy đã tìm được Trung Úy Clark nhưng cả nhóm vẫn còn ở sâu trong vùng địch. Hết sức chậm rãi và cẩn trọng, toán biệt kích tiếp tục chuyến hành trình đào tẩu khỏi vùng địch.


Trưa hôm đó, cả toán về đến vùng an toàn. Trung Úy Clark được bốc về Đà Nẳng. Toán biệt kích còn ở lại tiền đồn. Công tác của họ chưa xong vì vẫn còn một phi công HK cần giải cứu. Ngày hôm sau, 11 tháng 4, toán biệt kích chuẩn bị lên đường. Trong chuyến giải cứu hôm trước cả toán đã chứng kiến tận mắt lực lượng địch quân dầy đặc. Vì thế trước khi toán biệt kích lên đường, không lực HK đã dội bom phủ đầu các vị trí địch để dọn đường. Địch quân liền trả đũa với hàng loạt mọt chê bắn phủ đầu lên tiền đồn quân lực VNCH.

Thật là xui xẻo, người Đại Úy Biệt Hải Việt Nam và Trung Tá Anderson (cố vấn cho nhóm biệt kích) bị thương. Một Biệt Hải hộ tống hai người trở lại hậu cứ. Nhóm biệt kích chỉ còn lại 4 người: Tom Norris và 3 Biệt Hải VN. Nhóm biệt kích 4 người còn lại vẫn tiếp tục nhiệm vụ giải cứu. Họ lên đường rạng tối ngày 12 tháng 4. Lần này cả toán mạo hiểm gần 4 cây số sâu vào lòng địch. Càng vào sâu, nhìn thấy địch quân dầy đặc tứ bề, 2 người trong toán biệt kích e ngại và không muốn tiến thêm. Nhưng rồi cuối cùng cả nhóm vẫn tiến tới để truy tìm Trung Tá Hambleton. Trời đã hừng sáng mà không thấy tăm tích ông ta đâu cả, toán biệt kích đành thất vọng rút lui. Trung Tá Hambleton, 53 tuổi, sau 10 ngày trốn tránh, đói khát sức khoẻ kiệt quệ, đầu óc mụ mẫm đi, phương hướng lẫn lộn. Thời gian không còn bao lâu trước khi ông ta gục ngã chết lịm trong rừng già.


Hôm sau trong khi toán biệt kích nghỉ dưỡng sức thì không lực HK liên lạc bằng tín hiệu với Trung Tá Hambleton, động viên tinh thần ông ta cố gắng gượng sức để ra đến chỗ hẹn. Sức khoẻ của ông đã đến hồi nguy kiệt. Nếu toán biệt kích không “chộp” được ông tối nay thì có lẽ đó sẽ là cơ hội cuối cùng. Họ cũng lượng định rằng trong tình trạng sức khoẻ như vậy, Trung Tá Hambleton khó mà đến chỗ hẹn. Nếu muốn thành công, toán biệt kích phải đi tìm cho ra được ông ta.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x633.

Người Nhái Hải Quân VNCH Nguyễn Văn Kiệt và Người Nhái Hải Quân Hoa Kỳ Tom Norris.

Trong chuyến đi này, 2 Biệt Hải VN từ chối không tham dự. Người duy nhất tình nguyện đi là Hạ Sĩ Nhất Nguyễn Văn Kiệt, Liên Đoàn Người Nhái, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Đối diện với hiểm nguy, Kiệt vẫn tình nguyện đi vì yêu chuộng sự hào hùng của ngành Biệt Hải, và cũng vì lòng nhân đạo không nỡ thấy người sắp chết mà không cứu. Hai biệt kích, một Mỹ, một Việt. Tom Norris và Kiệt mặc quân phục ngụy trang như bộ đội chính quy Bắc Việt, trang bị súng AK-47. Họ quyết định dùng xuồng đi ngược dòng sông lên hướng Bắc. Như thế sẽ lẹ hơn đi đường bộ và mới có đủ thời giờ để truy tìm Trung Tá Hambleton. Trong màn đêm, tay chèo, tay súng, họ nghe rõ mồn một tiếng trò chuyện của địch quân canh gác ven sông, tiếng gầm rú của xe tăng T-54, tiếng di động của cả đoàn quân hùng hậu. Họ chèo chậm rãi để tránh tai mắt kẻ địch. Một màn sương mù phủ lấp dòng sông che chở họ khỏi sự dòm ngó của kẻ thù nhưng đồng thời lại làm cho họ chậm tay chèo. Và họ cũng không ngờ là họ chèo gần đến cầu Cam Lộ, nơi địch quân đóng giữ. Khi nghe tiếng chân bộ đội Bắc Việt tuần tiễu đi lại trên cầu, họ mới biết là đi lố. May mắn là sương mù che phủ khắp vùng nên Tom và Kiệt không bị phát hiện. Họ chèo trở ngược lại, xuôi dòng sông và tìm kiếm Trung Tá Hambleton. Rồi cuối cùng Tom và Kiệt cũng tìm ra Trung Tá Hambleton, một thân hình tong teo gục ngã gần bờ sông. Ông ta chỉ còn thoi thóp thở. Tom và Kiệt đem Trung Tá Hambleton lên dấu dưới đáy xuồng, lấy lá chuối che phủ thân hình ông ta. Họ bắt đầu cuộc hành trình rút lui khỏi vùng địch, thoát khỏi gọng kềm của tử thần, vẫn một cách chậm rãi như mọi khi. Lúc bấy giờ hừng đông đã ló dạng. Bất thình lình, Kiệt nghe tiếng gọi “Ê, lại đây!”. Cả hai người cùng quay đầu lại và bắt gặp 3 tên lính Bắc Việt xa xa trên bờ. Tên đi giữa là sĩ quan, vắt khẩu K54. Hai tên cận vệ kè kè AK-47 hai bên. Khoảnh khắc đó thật dài như thế kỷ. Kiệt cảm thấy ớn lạnh dọc theo xương sống. Nhưng cả hai người đều bình tĩnh quay đầu trở lại, tiếp tục chèo xuồng xuôi huớng Nam. Vừa chèo, Kiệt đã bắt đầu đếm thời gian và lắng nghe tiếng súng của bọn chúng sẽ bắn theo. Nhưng chúng hoàn toàn im lặng. Một cái im lặng đáng nghi ngờ và hồi hộp vô cùng. Kiệt ráng lắng nghe tiếng chân rầm rập đuổi chạy theo. Nhưng tất cả không gian lúc ấy hoàn toàn trở lại bình thường im lặng. Một sự tĩnh mịch khó hiểu. Có thể chúng sẽ liên lạc máy để chận xuồng ở một đoạn sông sắp đến? Hay chúng đang chỉ điểm để pháo kích theo? Bấy giờ là giờ phút hết sức căng thẳng trong tâm não của Kiệt. Bao nhiêu giác quan của Kiệt được tận dụng tập trung quan sát để phản ứng kịp thời … Tom lập tức báo cáo bằng radio là đã giải cứu được Trung Tá Hambleton. Tuy thế chuyến giải cứu chưa xong vì họ vẫn còn sâu trong lòng địch và khi trời hừng sáng, sự ngụy trang của họ không qua mặt được kẻ địch. Vì thế, không lực HK được điều động sẵn để hỗ trợ bất cứ lúc nào.


Đúng như Kiệt dự đoán, kẻ địch đã báo động về sự xâm nhập của chiếc xuồng biệt kích. Tiếng la hét, tri hô vang dậy cả bầu không khí tĩnh mịch. Cuộc truy đuổi bắt đầu. Tom và Kiệt chèo hối hả, mượn dòng nước chảy mạnh để đưa con xuồng đi thật lẹ, cũng như nhờ cậy vào các tàng cây dầy đặc ven sông che dấu bớt hình ảnh chiếc xuồng mong manh. Trong khi đó đạn của địch không ngừng bắn xối xả ngang sông. Thấy hỏa lực địch quá mạnh, Tom và Kiệt tấp xuồng vào một bụi cây ven sông và gọi không lực yểm trợ ngay lập tức. Không gian yên lặng của đoạn sông bị xé nát bởi những lằn đạn bắn tứ phía. Đạn từ trên không bắn xuống, đạn từ dưới đất bắn lên, đạn từ hai bên bờ nhả xuống sông lia lịa. Và cũng nhờ sự yểm trợ không lực mạnh mẽ và liên tục, Tom và Kiệt cuối cùng cũng đưa con xuồng xuôi dòng an toàn. Khi gần đến tiền đồn của quân lực VNCH, quân đội hai bên dàn trận ra “tiếp đón” lần nữa. Cộng Sản Bắc Việt bên bờ Bắc, quân đội VNCH bên bờ Nam. Hai bên nhả đạn bắn qua lại dữ dội. Dưới cơn mưa đạn đó, Tom và Kiệt dìu Trung Tá Hambleton khỏi xuồng và chạy chặng nước rút nguy hiểm cuối cùng vào hầm trú ẩn ….

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x541.

Người nhái Nguyễn Văn Kiệt và Thomas Norris cứu sống được Trung Tá Hambleton đưa về phòng tuyến Việt Nam Cộng Hoà.

Cuộc giải cứu đã thành công vượt sức tưởng tượng của mọi người. Khi mà cả không lực Hoa Kỳ bó tay thì những biệt kích Mỹ, Việt gan dạ cùng mình đi vào trong lòng địch, chộp các phi công ra khỏi gọng kềm của tử thần.

Câu chuyện trên, người ta có viết thành sách, Hollywood có chuyển thành phim với những tài tử quen thuộc thủ vai các nhân vật chính trong câu chuyện. Vậy mà 2 nhân vật “CHÍNH” nhất trong truyện là Đại Úy Hải Quân (Navy SEAL) Hoa Kỳ Thomas Norris và Hạ Sĩ Nhất Nguyễn Văn Kiệt, Liên Đoàn Người Nhái, Hải Quân VNCH không hề được nhắc đến. Hành vi dũng cảm, gan dạ phi thường này chỉ có một số người được biết để bảo vệ các dữ kiện quân sự liên hệ đến các chuyến giải cứu đường bộ. Đại Úy Thomas Norris được trao tặng huân chương “Medal of Honor”. Huân chương cao quý nhất của quân đội Hoa Kỳ trao cho những chiến sĩ đã có hành động dũng cảm phi thường. Hạ Sĩ Nhất Nguyễn Văn Kiệt, người Nhái anh dũng của Hải Quân VNCH, được trao tặng huân chương “Navy Cross”. Huân chương cao nhất có thể trao tặng cho quân đội đồng minh. Kiệt là người chiến sĩ Hải quân VNCH duy nhất nhận huân chương “Navy Cross” trong cuộc chiến Việt Nam.


The President of the United States
takes pleasure in presenting the
Navy Cross


to

NGUYEN VAN KIET
Petty Officer Third Class
Republic of Vietnam Navy



for service as set forth in the following:
Citation:
For extraordinary heroism while serving with friendly forces engaged in armed conflict against the North Vietnamese and Viet Cong communist aggressors in the Republic of Vietnam. On 13 April 1972, Petty Officer Kiet participated in an unprecedented recovery operation for a downed United States aviator behind enemy lines in Quang Tri Province, Republic of Vietnam. He courageously volunteered to accompany a United States SEAL Advisor in an extremely hazardous attempt to reach the aviator, who was physically unable to move toward friendly positions. Using a sampan and traveling throughout the night, they silently make their way deep into enemy territory, past numerous major enemy positions, locating the pilot at dawn. Once, after being spotted by a North Vietnamese patrol, he calmly continued to keep the enemy confused as the small party successfully evaded the patrol. Later, they were suddenly taken under heavy machinegun fire. Thinking first of the pilot, he quickly pulled the sampan to safety behind a bank and camouflaged it while air strikes were called on the enemy position. Due to Petty Officer Kiet's coolness under extremely dangerous conditions and his outstanding courage and professionalism, an American aviator was recovered after an eleven-day ordeal behind enemy lines. His self-discipline, personal courage, and dynamic fighting spirit were an inspiration to all; thereby reflecting great credit upon himself and the Naval Service.

For the President,

Secretary of the Navy


Đến nay đã gần 30 năm. Hồ sơ quân sự cũng đã được tiết lộ (declassify). Rồi cuối cùng những hành động dũng cảm, anh hùng này đã được mọi người biết đến.

( Theo Batkhuat.net )


Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=33272