Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

Việt Nam Cộng Hòa

                                 
Việt Nam Cộng Hòa ra đời trong hoàn cảnh nào?

Nguyễn Huy Hùng
                                           
                                                                   

Hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng 10 qua đầu tháng 11 Dương Lịch là một số người đă từng hưởng nhiều ân huệ của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lại vận động tổ chức ngày tưởng

niệm để ghi nhớ công ơn ông đă thành lập nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ tại miền Nam Việt Nam sau khi hoàn tất việc thi hành Hiệp định đình chiến do Pháp và Việt Minh ký tại Genève ngày 21-7-1954.

Nhiều Bạn Trẻ thắc mắc muốn biết hoàn cảnh nào đă đưa đẩy khiến cho ông Ngô Đình Diệm có được cơ hội thành lập nước Việt Nam Cộng Hoà theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp

chủng Quốc Hoa Kỳ và lên làm Tổng Thống tại miền Nam Việt Nam, nhưng lại không có thì giờ ngồi sưu tập các tài liệu ghi chép các sự kiện lịch sử đă xẩy ra tại Việt Nam trong những năm thuộc thế kỷ 20, nên trăn trở chẳng biết phải làm sao.

Do đó, tôi xin ghi lại dưới đây một số những sự kiện trọng yếu đă xẩy ra tại Việt Nam trong những năm thuộc thế kỷ 20, và hoàn cảnh nào đă giúp cho ông Ngô Đình Diệm có thời cơ trở thành người Anh Hùng tạo dựng ra nước Việt Nam Cộng Hoà vào năm 1956 tại miền Nam Việt Nam.

Nhưng vì tuổi tác đã cao trên 80, trí nhớ cũng suy giảm do ảnh hưởng sau 13 năm chịu cảnh đọa đầy trong các trại tập trung cải tạo lao động khổ sai của chính phủ nước Cộng Hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam sau ngày Quốc Hận 30-4-1975, toàn thể

đất nước Việt Nam bị đặt dưới quyền thống trị độc tài chuyên chính độc đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên những ghi nhận và suy luận được trình bầy có thể là chủ quan theo hiểu

biết nông cạn của tôi, cũng có thể phiến diện hoặc thiếu sót, xin Quý Vị còn minh mẫn vui lòng miễn chấp và bổ túc giúp cho, tôi cám ơn vô cùng.

1. CHIẾN CUỘC TẠI ĐÔNG DƯƠNG XOAY CHIỀU, CHÍNH PHỦ PHÁP PHẢI RÚT QUÂN RA KHỎI VIỆT NAM.

Giữa năm 1949, Trung Cộng thắng thế ở Trung Hoa Lục địa, do đó tình hình chiến trận tại Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, đặc biệt là tại Bắc Việt trở nên rất sôi động. Tháng 5 năm 1949,

Chính phủ Pháp phải cử Tướng Revers sang thanh sát tình hình và nghiên cứu trình kế hoạch đối phó. Sau khi công cán về nước, Tướng Revers đề nghị rút bỏ Cao Bằng (biên giới Việt Nam-Trung Hoa) để:

  • 1. Gom quân giữ Quốc lộ 4 từ Lạng Sơn đến Tiên Yên;
    2. Củng cố bình định vùng đồng bằng Bắc Việt;
    3. Lấn chiếm cô lập khu Việt Bắc của chủ lực Việt Minh gồm các tỉnh Thái Nguyên, Lào Kay, Tuyên Quang, và Yên Bái.
Chủ định thâm sâu của Pháp là tái lập Thuộc địa Đông Dương dưới hình thức mới, nên không được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Do đó Pháp e ngại Trung Cộng (chủ nhân ông mới của Trung Hoa

Lục địa) xua quân can thiệp hỗ trợ cho Việt Minh Cộng sản, nên phải thu về thủ vùng đồng bằng để bảo toàn lực lượng, và tìm phương kế mới.

Kế hoạch của Tướng Revers đề nghị, được Chính phủ Pháp chấp thuận cho thi hành vào cuối năm 1949. Nhưng vì tại Đông Dương lúc đó, đang có sự bất đồng ý kiến giữa Tướng Carpentier (Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp) tại Saigon và Tướng Alexandri (Tư lệnh đoàn quân tại Bắc Việt), nên măi tới

cuối tháng 8 năm 1950 mới thực hiện, mặc dù qua tin tức tình báo, chính phủ Pháp, Cao ủy Đông Dương Pignon, và Tướng Carpentier, đều biết rằng Kế hoạch Revers đă bị tiết lộ.

Phía Việt Minh, không biết bằng cách nào đã dò biết được Kế hoạch Revers, nên tướng Võ Nguyên Giáp với sự trợ giúp trang bị vũ khí đạn dược, huấn luyện quân sĩ, và cố vấn hành quân của Trung Cộng, đã ráo riết chuẩn bị mở màn thử thách khả năng chiến đấu của bộ đội Việt Minh.

Ngày 18-9-1950, các đơn vị Việt Minh được sự yểm trợ của Pháo binh và súng cao xạ bắn máy bay, đã khởi tấn công và chiếm được đồn Đông Khê, rồi bao vây cô lập Cao Bằng. Sau

đó thừa thế tiếp tục khai triển mặt trận Cao Bằng-Lạng Sơn, kéo dài cho tới ngày 7-10-1950. Pháp thất bại nặng nề, phải rút bỏ Cao Bằng, Thất Khê, Na Chầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, và Lao Kay.

Trận đánh này đă làm tăng uy thế cho Việt Minh, rúng động tinh thần quân sĩ Pháp tại Đông Dương, cũng như các giới chính trị Pháp và Hoa Kỳ. Dân chúng Pháp bắt đầu gọi cuộc chiến tại Đông Dương là “Chiến tranh sa lầy”, các Đảng phái chính trị

Pháp cấu kết với nhau làm áp lực chính trị, khiến các chính phủ Pháp thay phiên nhau sụp đổ liên tục, làm cho tình hình tại cả bên chính quốc lẫn tại Đông Dương ngày một rối rắm thêm. Để gỡ rối, Chính phủ Pháp cố gắng tìm một Tướng làm Tổng Tư

lệnh mới thay thế Tướng Carpentier tại Đông Dương. Các Tướng Juin và Tướng Koenig được tham khảo, nhưng 2 ông này từ khước vì Chính phủ Pháp không thể thoả măn được những điều kiện các ông ấy đòi hỏi. Sau cùng, Tướng Jean Marie Gabriel De Lattre De Tassigny được lựa chọn. Ông này nhận lời ngay với một điều kiện duy nhất là phải cho ông ta rộng quyền chỉ huy.

Ngày 7-10-1950, Đại tướng De Lattre được đề cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Đúng 10 ngày sau, Tướng De Lattre lên đường nhậm chức, mang theo cả một Bộ Tham Mưu hùng hậu để làm trụ cột giúp ông ta

hoàn thành sứ mạng lớn lao đă nhận lănh. Trong suốt 9 tháng trời ròng ră tiếp theo, ông ta đă chứng tỏ tài lănh đạo chỉ huy và hành quân táo bạo của mình, qua các trận Vĩnh Yên giữa tháng 1-1951 (chết mất người con trai duy nhất là Trung úy

Bernard), trận Mạo Khê cuối tháng 3-1951, trận “Bờ Sông Đáy” cuối tháng 5-1951, và đặc biệt là kế hoạch xây dựng “Phòng tuyến Bê tông De Lattre” để bảo vệ đồng bằng Bắc Việt trong

Vùng Tam Giác: Moncay, Việt Trì, Ninh Bình, và “Phòng Lũy Hải Phòng”. Tướng De Lattre đă làm cho tinh thần Quân Sĩ được phục hồi, đồng thời tạo được sự tin tưởng của Chính phủ Pháp và các Đồng minh Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi,…

Giữa tháng 9-1951, Tướng De Lattre được Chính phủ Pháp cho đi công cán sang Hoa Kỳ xin viện trợ. Có lẽ nhờ trận Việt Minh tấn công quân Pháp tại vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, có sự hiện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Việt Minh, y như

trận Bắc Hàn tấn công Nam Hàn mà Mỹ và Đồng minh phải can thiệp cũng có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Bắc Hàn, nên Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Pháp.

Nhờ thế, Tướng De Lattre đă xin được Mỹ viện trợ cho Pháp tiếp tục cuộc chiến tại Đông Dương, dưới nhiệm vụ mới là “Ngăn chặn sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản ở vùng Đông Nam Á Châu”, mà Việt Minh là tay sai tiền phương của Liên Sô và

Trung Cộng. Viện trợ chỉ được chấp thuận với một điều kiện tiên quyết kèm theo là: “Pháp phải thành thực trao trả quyền Độc Lập, Tự do, cho các Chính phủ Quốc gia không Cộng sản tại Đông Dương, và xúc tiến nhanh chóng việc thành lập, huấn

luyện, và trang bị quân sự cho các Quốc gia này có đủ khả năng tự vệ, tiêu diệt Cộng sản địa phương, bảo đảm an ninh cho dân chúng phát triển kinh tế. Đặc biệt phải để cho các

Quốc gia này có quyền Tự do giao thương trực tiếp với tất cả các nước Tư bản, ngoài khối Liên Hiệp Pháp, không phải qua trung gian của Pháp.”

Ngày 28-9-1951, hai ngày sau chuyến công du của Tướng De Lattre chấm dứt, chiếc tầu biển Eartham Bay của Hoa Kỳ đã từ Manilla chở tới Saigon, rất nhiều vũ khí nhẹ và đạn dược đủ loại.

Đồng thời, một đoàn 30 Phóng pháo cơ B-26 do phi công Hoa Kỳ lái từ Phi Luật Tân qua, đáp xuống phi trường Cát Bi (Hải Phòng), trao cho Pháp trong âm thầm không kèn không trống.

Mười hai (12) chiếc trong số phi cơ này đă được Hoa Kỳ biến cải thành loại máy bay soi sáng (Luciole), dùng để thả hoả châu soi sáng chiến trường ban đêm, trong thời gian liên tục 1 tiếng đồng hồ cho mỗi phi cơ.

Cũng nhờ thế nên ngày 1 tháng 10 năm 1951, ông Trần văn Hữu Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam mới chính thức công bố việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) chống Cộng sản (gồm 8 Sư đoàn

nhẹ trong 5 năm, riêng năm 1951 dự trù thành lập Sư đoàn 1 ở miền Nam, Sư Đoàn 2 ở miền Trung, Sư đoàn 3 ở miền Bắc, và Sư đoàn 4 ở vùng Cao Nguyên Trung phần Việt Nam). Ngày 16-10-1951 ban hành Lệnh Tổng Động Viên khoảng 15.000

thanh niên có bằng cấp từ Trung học trở lên vào học các khoá đào tạo Sĩ quan Trừ bị cấp tốc tại Thủ Đức và Nam Định. Rồi lần lần sau đó, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN, Trường Quân Y, và các Trường Võ bị Địa phương (Ecole Militaire Régionale) đào tạo các Chuẩn úy Trung đội trưởng, ngoài số

Thiếu úy Hiện dịch do Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt đã và đang đào tạo (Trường VBLQ ĐàLạt được thành lập từ năm 1948). Các Trung tâm Huấn luyện Tân binh và Hạ sĩ quan cũng lần lượt được thành lập, và hoạt động náo nhiệt để thành lập các đơn vị cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn Bộ Binh và các đơn vị Binh chủng, Nha, Sở chuyên môn.

(Thời gian này, Tôi là Trung Úy mới mãn khóa Sỹ quan Truyền Tin tại Trường Truyền Tin Montargis bên Pháp về vào đầu tháng 7-1951, được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Mật Mă thuộc văn phòng Đổng lý Bộ Quốc Phòng do Thiếu Tá Nguyễn văn Vận làm Đổng Lý. Sau này Thiếu Tá Vận rời Bộ Quốc Phòng ra Hà Nội được thăng cấp lần lần tới Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 vào năm 1954)


Được sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Quân đội Viễn chinh Pháp ồ ạt xây dựng các doanh trại và cơ sở rất lớn rộng cho các Cơ quan Chỉ huy và Đơn vị Hành chánh Tiếp vận Trung Ương tại các vùng Tân Sơn Nhứt, Gò Vấp, Bình Lợi, Cát Lái (Gia Định),

Khánh Hội (Saigon), và Biên Hoà. Theo dự tính của Tướng De Lattre, các Cơ sở này phải đủ tầm vóc có thể biến thành các Cơ sở Chỉ huy và Tiếp vận cho các Lực lượng Liên Hiệp Quốc xử

dụng khi cần phải đến Việt Nam để điều khiển chiến tranh ngăn cản Cộng sản Quốc tế xâm lăng các nước thuộc Đông Nam Á Châu, như họ đã đến tham gia cuộc chiến tại bán đảo Triều Tiên.

Vào tháng 12 năm 1951, Tướng De Lattre qua đời, Tướng Raoul Salan được cử thay thế làm Tổng Tư lệnh, để tiếp tục giải quyết cuộc “Chiến tranh sa lầy” không lối thoát của Pháp tại Đông Dương. Nội tình nước Pháp tiếp tục lục đục, chính phủ Queuille

bị đổ vào tháng 2-1952. Tại Bắc Việt, Tướng Salan rút bỏ Hoà Bình vào cuối tháng 3-1952. Thủ tướng mới của Chính phủ Pháp là Pinay vẫn giữ chính sách cũ đối với Đông Dương. Ông Letourneau được bổ nhiệm làm Bộ trưởng các Quốc gia Liên

kết, kiêm nhiệm chức Cao Ủy Đông Dương kể từ tháng 4-1952, và Tướng Salan được chỉ định làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Bộ trưởng Letourneau phải thường

xuyên hoạt động tại chính quốc, làm gì có thời giờ chạy qua chạy lại giữa Pháp và Đông Dương, nên Tướng Salan vô hình chung có được toàn quyền quyết định y như cố Đại tướng De Lattre thuở còn sinh thời.

Sở dĩ Tướng Salan được lựa trám chỗ trống của De Lattre, vì ông ta đă từng ở Việt Nam lâu năm, tham dự nhiều trận chiến với Việt Minh từ hồi 1947, đă cộng tác mật thiết với Tướng De Lattre trước khi ông này qua đời, nên thông thạo lối đánh của

Việt Minh. Ngoài ra, ông ta còn có được cái trí khôn của người Á Đông vì lấy vợ người Việt Nam, hút thuốc phiện, theo vợ đi lễ các Đền, Chùa, am tường các phong tục tập quán của các Sắc dân Đông Dương. Chiến công của Tướng Salan từ sau ngày

thay thế De Lattre, chỉ là cuộc hành quân rút lui khỏi Hoà Bình trong an toàn không bị sứt mẻ, và xây dựng “Pháo lũy Na Sản” giữ được mặt trận vùng Bắc Thái (phiá Tây, Bắc Việt) vững vàng trong suốt 3 tháng (10, 11, và 12-1952). Còn tình hình toàn diện Đông Dương chẳng có gì khả quan hơn.

Qua tháng 5-1953, Tướng Navarre được cử thay thế Tướng Salan làm Tổng Tư lệnh Quân Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương.

Ông này xào xáo lại các kế hoạch của các Tướng tiền nhiệm, rút tỉa các kinh nghiệm, để hệ thống hoá thành kế hoạch chiến thuật mới của mình là:

  • 1. Phòng thủ miền Bắc;
    2. Bình định miền Nam;
    3. Lập một Binh đoàn Chủ lực lưu động, để có thể đánh ở bất cứ nơi nào có sự tập trung quân của Địch (Việt Minh).
Kế hoạch được mở màn bằng cuộc hành quân “Castor” vào cuối tháng 11-1953, để hỗ trợ việc xây dựng “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” với mục đích:
  • a. Buộc Việt Minh phải chấp nhận một trận công kiên chiến, mà Pháp tin rằng họ sẽ thắng vì có ưu thế hơn về Không quân và Tiếp liệu.

    b. Cầm chân Chủ lực quân Việt Minh tại miền Bắc để chúng không thể tiếp sức cho miền Nam, nhờ thế Pháp sẽ bình định Liên Khu V gồm các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, tại miền trung tâm của Trung Việt Nam một cách dễ dàng.

    c. Dùng Điện Biên Phủ làm “Căn cứ Bàn đạp” đánh vào Hậu tuyến Việt Bắc, nếu Việt Minh di quân khỏi nơi này để tấn công vùng đồng bằng sông Hồng. Tiếc thay, Bộ tham mưu của Tướng Navarre ước tính sai lệch quá nhiều. Việt Minh đă tập trung được quanh Điện Biên Phủ, một lực
  • lượng nhiều tới 100,000 quân. Với sự yểm trợ của Trung Cộng, Việt Minh còn kéo được cả súng Đại pháo qua đỉnh núi, đào hầm bố trí ngay trên sườn núi nhìn thẳng xuống thung lũng Điện Biên Phủ. Thế mà Pháp cho rằng, Việt Minh chỉ có thể tập trung quanh Điện Biên Phủ khoảng
  • 20,000 quân là tối đa, và lòng chảo Điện Biên Phủ không thể bị uy hiếp bằng Pháo binh, vì các Đại pháo chỉ có thể bố trí phiá bên kia các dẫy núi quanh lòng chảo, xa quá tầm tác xạ của súng.
Cuối tháng 11-1953, tình hình chiến sự bỗng chuyển biến đột ngột. Bốn (4) Sư đoàn Việt Minh kéo lên áp lực miền Bắc Thái (Tây Bắc, Bắc Việt). Qua tháng 12-1953, Tướng Navarre phải

cho lệnh rút quân bỏ Lai Châu và toàn vùng Bắc Thái, để tập trung về Điện Biên Phủ, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân ở vùng thượng lưu sông MêKông để củng cố phòng thủ miền Bắc Lào (nước Ai Lao).

Đầu năm 1954, tình hình lắng dịu tại khắp các chiến trường phụ trên toàn cõi Đông Dương. Riêng tại Điện Biên Phủ tình hình coi như đang có nhiều điều thuận lợi cho quân Pháp. Nhưng, vào trung tuần tháng 2-1954, Hội nghị Bá Linh (Berlin, Đức) được

mở ra để thảo luận về việc thành lập một Hội nghị chính thức tại Genève để tìm giải pháp cho vấn đề đình chiến tại Đông Dương, đă khiến tình hình chiến sự trở nên bất lợi cho quân Pháp, và làm cho Tướng Navarre bị ngỡ ngàng.

Đầu tháng 3-1954, Việt Minh rút Sư đoàn 308 đang uy hiếp Luang-Prabang (Lào), đem về tăng cường bao vây Điện Biên Phủ. Đến ngày 13-3-1954, Việt Minh mở đầu các cuộc tấn công trên khắp các mặt trận Đông Dương (kể cả Điện Biên Phủ),

nhằm mục đích phô trương khả năng quân sự mới để áp đảo tinh thần quân Liên Hiệp Pháp và các Quốc gia Liên kết Đông Dương, đồng thời tạo điều kiện thượng phong tại Hội nghị

Genève. Quân Pháp bị cầm chân tại tất cả mọi nơi, nên không còn quân số tiếp ứng cho nhau, nhất là cho “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ”.

Đến cuối tháng 4-1954, Bộ Tư lệnh Pháp cho mở cuộc hành quân “Atlante” đánh vào Quân khu V của Việt Minh tại trung Việt, nhưng chẳng đem lại kết quả gì, nếu không muốn nói là uổng công vô ích.

Ngày 7 tháng 5-1954, sau 55 ngày đêm tự lực cầm cự, “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” đă phải xin đầu hàng vô điều kiện. Dư luận Pháp rất hoang mang, chia rẽ, tranh cãi trầm trọng, khiến Chính phủ Pháp phải đưa Tướng Paul Ely Tổng

Tham mưu trưởng Quân lực Pháp sang Đông Dương thay thế Tướng Navarre, với quyền hạn rộng răi là Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh tại Đông Dương, như đă dành cho

Tướng De Lattre hồi trước. Nhưng, Tướng Ely cũng chẳng làm được gì hơn, là tiếp tục nhận lãnh những thất bại chua cay, trong âm mưu tái lập thuộc địa lỗi thời của Pháp tại Đông Dương sau Thế chiến II.

Mấy tuần lễ sau vụ Pháp thất trận Điện Biên Phủ, chiến cuộc Đông Dương được giải quyết ngă ngũ, chấm dứt bằng giải pháp chính trị tại Hội nghị Genève với một Hiệp Định đình chiến, ký kết vào lúc 01:00 giờ ngày 21 tháng 7 năm 1954 tại Genève

giữa Pháp và Việt Minh. Đại diện Hoa Kỳ và Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam khước từ không ký vào bản Hiệp định. Theo Hiệp định này, nước Việt Nam bị phân làm 2 phần Nam, Bắc. Vĩ tuyến 17 và dòng sông Bến Hải được dùng làm ranh giới giữa 2

miền. Từ giữa lòng con sông trở lên phiá Bắc thuộc quyền kiểm soát cai trị của Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh cầm đầu.

Phần từ giữa lòng con sông trở xuống phiá Nam thuộc trách nhiệm của Chính quyền Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo.

Thi hành Hiệp định Genève, Bộ Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp của Tướng Ely phối hợp cùng Chính phủ Quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, tổ chức một cuộc di tản vĩ đại ngoạn mục trong vòng 300 ngày, cho hơn một triệu Dân

Quân Cán chính không thích sống dưới Chế độ Cộng sản rời miền Bắc vào Nam tái lập nghiệp, và hàng chục ngàn Cán Binh Cộng sản từ miền Nam buộc phải tập kết ra Bắc. Thời hạn triệt thoái quân Pháp và quân Quốc gia ra khỏi Bắc Việt theo lối cuốn

chiếu quy định như sau: phải ra hết khỏi Hà Nội trong thời hạn 80 ngày kể từ ngày ký Hiệp Định Genève, do đó ngày chót được ấn định cho Hà Nội là ngày 11-10-1954; 100 ngày cho Hải Dương do đó ngày chót được ấn định là ngày 1-11-1954; và 300 ngày cho Hải Phòng do đó ngày chót được ấn định là ngày 19-5-1955.

2. THỜI CƠ GIÚP CHO QUỐC GIA VIỆT NAM CHÍNH THỨC CÓ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN ĐỘC LẬP TRONG MỌI LÃNH VỰC TỔ CHỨC QUẢN TRỊ HÀNH CHÁNH, CHÍNH TRỊ NGOẠI GIAO ĐỐI NỘI ĐỐI NGOẠI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ QUỐC PHÒNG TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM.


Từ ngày Cựu Hoàng Bảo Đại nhận lănh sự ủy nhiệm của các Đảng phái chính trị không theo Cộng sản tại Việt Nam, đứng ra thương thuyết và ký với Pháp Hiệp Ước sơ bộ tại Vịnh Hạ Long để giành lại quyền độc lập cho nước Việt Nam thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam vào ngày 5-6-1948, rồi đến trưa ngày 8

tháng 3 năm 1949 tại Paris có thêm THOẢ ƯỚC ÉLYSÉE giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại, vào ngày này, hai người trao đổi văn thư, theo đó “Pháp long trọng công nhận” một nước Việt Nam độc lập và dân chúng có quyền

tự do quyết định sự thống nhất lãnh thổ của mình, theo tinh thần Hiệp Ước Hạ Long, kèm theo một phụ bản các điều thoả thuận với PIGNON, cho đến ngày ký Hiệp định Đình chiến tại Genève 20-7-1854, đă có tới 7 chính phủ thay nhau điều hành Quốc gia Việt Nam:

  • 1. Nguyễn văn Xuân, từ 2-6-1948 đến 30-6-1949.
    2. Bảo Đại, từ 1-7-1949 đến 20-1-1950,
    3. Nguyễn Phan Long, từ 21-1-1950 đến 5-5-1950,
    4. Trần văn Hữu, từ 6-5-1950 đến 25-5-1952,
    5. Nguyễn văn Tâm, từ 26-5-1952 đến 15-1-1954,
    6. Bửu Lộc, từ 16-1-1954 đến 6-7-1954,
    7. Ngô Đình Diệm từ 7-7-1954 tới 23-10-1955.
Thư ngày 8-3-1949 của Auriol gửi Bảo Đại gồm 7 mục chính:
  • 1. Việt Nam thống nhất (Unité du Vietnam)
    2. Vấn đề Ngoại giao (Question diplomatique)
    3. Vấn đề Quân sự (Question militaire) Việt Nam sẽ có một Quân đội riêng để duy trì trật tự, an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la defense de l’Empire). Trong trường hợp tự vệ, có thể được các lực lượng Liên Hiệp Pháp yểm trợ (appuyé par les forces de l’Union francaise). Quân đội VN cũng tham dự vào cuộc bảo vệ biên cương của toàn Khối Liên Hiệp Pháp.

  • 4. Vấn đề chủ quyền trong nước (Souveraineté interne).
    5. Vấn đề tư pháp
    6. Vấn đề văn hoá
    7. Vấn đề kinh tế và tài chánh.
(Ghi chú: Đoạn văn chữ nghiêng nét đậm trên đây là trích từ trang 119 trong cuốn VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939 (Tập B :1947-1954) của Chính Đạo do nhà phát hành Văn Hoá in năm 1997 tại Hoa Kỳ. Đặc biệt Tôi có thay một chữ trong mục 3. ….., an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la defense de l’Empire). …. Thay cho chữ .. bảo vệ đế quốc (la defense de l’Empire)….. như trong nguyên bản, vì Tôi nghĩ Việt Nam chưa bao giờ là Đế quốc, thời trước 1945, Pháp gọi là L’Empire d’Annam tức là Vương quốc Annam do Bảo Đại làm vua (Empereur.)

Đến ngày 28-4-1956, Bộ Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương giải tán, tất cả các Cơ sở và Căn cứ trước đây do Pháp xây dựng chiếm đóng, đều trao hết cho Chính phủ và Quân đội Quốc gia Việt Nam thừa hưởng. Dinh Norodom tọa lạc tại trung tâm Thủ đô Saigon trước kia dành cho Cao Ủy Pháp tại Đông

Dương, nay là trụ sở của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Dinh Độc Lập. Camp Chanson to lớn bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất trước kia là nơi làm việc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh pháp tại Đông Dương, nay thuộc quyền xử dụng của Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội Quốc gia Việt Nam

(QĐQGVN) và đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo. Hospital Rocques rộng lớn của đoàn quân Viễn chinh Pháp xây dựng tại Gò Vấp sát bên Bộ TTM và phi trường Tân Sơn Nhất, nay thuộc quyền QĐQGVN và đổi tên là Tổng Y Viện Cộng hoà. (Không biết cái tên Roques Tôi nhớ có đúng không, bạn nào biết là sai xin vui

lòng chỉnh giùm, Tôi vô cùng cám ơn). Còn rất nhiều Doanh trại, Căn cứ, và Cơ sở khác tại Saigon và tại các Tỉnh trên toàn lănh thổ miền Nam Vĩ tuyến 17 được Pháp trao lại cho Chính quyền Quốc gia miền Nam Việt Nam, nhưng Tôi thấy không cần liệt kê hết ra đây.

Vào tháng 8-1956, Chính phủ Pháp loan báo việc đề cử ông Henri Hoppenot làm Cao Ủy Đông Dương. Nhưng, ông Ngô Đình Diệm đang lãnh đạo Chính quyền Quốc gia Việt Nam với chức vị tự phong là Tổng Thống từ ngày 26-10-1955 thay thế

Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế từ ba ngày trước đó 23-10-1955, đã dựa theo các điều khoản của Hiệp định Genève không chấp nhận, nên Chính phủ Pháp phải đổi lại chức vụ là Đại sứ Pháp tại Việt Nam.

Đến ngày 26-10-1956, lễ ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà (theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ, do Quốc Hội Lập Hiến được bầu ra vào ngày 4 tháng 3 năm 1956 biên soạn và biểu quyết chuẩp thuận) mới được tổ

chức rất trang trọng tại Đại lộ Trần Hưng Đạo, Saigon. Buổi lễ này cũng đồng thời là Lễ Tuyên Thệ chính thức nhậm chức Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hoà đẩu tiên tại miền Nam Việt Nam của ông Ngô Đình Diệm, trước toàn dân và Ngoại giao

đoàn quốc tế đă có mặt tại Saigon từ thời Quốc gia Việt Nam còn thuộc quyền lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại. (Quốc Hội Lập Hiến gồm 123 Dân Biểu thuộc các thành phần sau: Phong

trào Cách mạng Quốc gia 47 ghế, độc lập không đảng phái nào 39 ghế, Tập đoàn Công dân 18 ghế, Phong trào Tự do 11 ghế, và 5 đảng phái chia nhau 8 ghế.)

Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan biến dần để thay thế bởi ảnh hưởng Hoa Kỳ. Bởi vì, ngay từ khi mở Hội nghị Bá Linh bàn thảo việc thành lập Hội

nghị Genève giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, Hoa Kỳ đă ngầm vận động thúc đẩy Quốc trưởng Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm (đang ở Mỹ) về làm Thủ Tướng, thay thế Thủ tướng Bửu Lộc được coi là thân Pháp.

3. THỜI CUỘC BIẾN ĐỔI ĐÃ TẠO CƠ HỘI CHO THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM GIÀNH ĐƯỢC QUYỀN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VIỆT NAM, THAY THẾ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI ĐÃ RỜI VIỆT NAM SANG PHÁP TỪ NGÀY 10-4-1954 SỐNG TẠI BIỆT THỰ RIÊNG Ở CANNES, ĐỂ CHỮA BỆNH SÁN GAN VÀ VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ GIÚP GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN CHỐNG CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM.


Tại Saigon trong khoảng những ngày cuối tháng 5 sang đầu tháng 6-1954, các hãng thông tấn quốc tế và quốc nội loan truyền tin đồn đoán là ông Ngô Đình Diệm sẽ làm Thủ Tướng thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc. Nhưng măi đến ngày 16-6-1954, Quốc Trưởng Bảo Đại, từ tư dinh tại thành phố Cannes bên

Pháp, mới chính thức công bố quyết định cử ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng với toàn quyền hành động (tức là mọi quyết định quan trọng liên quan đến quốc gia không cần phải thỉnh ý Quốc Trưởng trước như các Thủ Tướng tiền nhiệm).

Ngày 25-6-1954 ông Ngô Đình Diệm từ Pháp về tới phi trường Tân Sơn Nhất Saigon, được sự tiếp đón theo nghi lễ ngoại giao tại phòng Khách Danh Dự của phi trường, gồm một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính phủ Bửu Lộc, một số Sĩ quan

cấp Tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ TTM/QĐQGVN (trong đó có Tôi đang là Thiếu Tá Chánh Sự vụ Sở Mật Mã trực thuộc văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, lúc đó Thiếu Tướng

Nguyễn văn Hinh làm Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tá Trần văn Minh làm Tham mưu trưởng), cùng một số thân quyến thuộc dòng họ Ngô-Đình và Nhân sĩ thân hữu của gia đình ông Ngô Đình Diệm ở trong nước.

Những ngày tiếp theo, ông Diệm tiếp xúc các nhân sĩ để thành lập chính phủ, mãi tới ngày 7-7-1954 mới chính thức trình diện chính phủ và bắt đầu tham chánh. Thành phần chính phủ gồm có:

  • - Ngô Đình Diệm, Thủ Tướng kiêm Nội Vụ và Quốc Phòng,
    - Trần Văn Chương, Quốc Vụ Khanh,
    - Trần Văn Đỗ, Tổng Trưởng Ngoại Giao,
    - Trần Văn Của, Tổng Trưởng Tài Chánh và Kinh Tế,
    - Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng Trưởng Lao Động và Thanh Niên,

  • - Trần văn Bạch, Tổng Trưởng Công Chính,
    - Phạm Hữu Chương, Tổng Trưởng Y Tế và Xă Hội,
    - Phan Khắc Sửu, Tổng Trưởng Canh Nông,
    - Nguyễn Dương Đôn, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục,
    - Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng,
    - Lê Quang Luật, Thông Tin,
    - Phạm Duy Khiêm, Công vụ Phủ Thủ Tướng,
    - Nguyễn Ngọc Thơ, Nội Vụ,
    - Lê Ngọc Chấn, Quốc Phòng,
    - Hồ Thông Minh, Thứ Trưởng Quốc Phòng,
    - Bùi Văn Thinh, Tư Pháp,
    - Nguyễn Văn Thoại, Kinh Tế,
    - Trần Hữu Phương, Tài Chánh.
Nhưng chỉ ít ngày sau, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bắt đầu gặp nhiều khó khăn về mọi mặt đối nội cũng như đối ngoại. Chẳng hạn:

1. Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam không ký trên Hiệp định Genève, nhưng vẫn phải chấp nhận và cộng tác với Bộ Tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương thi hành, đặc biệt phải chấp nhận cho các cơ sở kiểm soát đình chiến do Ấn

Độ (Trung Lập) làm Chủ tịch, với các thành viên Ba Lan (Cộng sản) và Canada (thuộc Thế giới Tự Do Tư Bản) đặt cơ sở hoạt động tại nhiều nơi trên lãnh thổ miền Nam, ngay cả tại giữa Thủ Đô Saigon. Trong các cơ sở kiểm soát đình chiến này có cả sự hiện diện của những người đại diện của Việt Cộng.

2. Phải vận động nhờ Chính quyền Pháp tại Đông Dương và chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ phương tiện và ngân khoản để di tản cả triệu người (Dân, Quân, Cán chính) không thích sống dưới sự cai trị của Chính quyền Việt Cộng tại miền Bắc Vĩ tuyến 17, di cư vào miền Nam.

3. Tổ chức tiếp đón cứu trợ ban đầu, tái định cư, và tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống cho những người này. Vì họ đă phải bỏ tất cả của cải đất đai hương hỏa của Tổ tiên Ông Cha tại miền Bắc, ra đi vào miền Nam với 2 bàn tay trắng.

4. Hợp nhất các Lực lượng Võ trang Giáo phái vào hàng ngũ Quân đội Quốc gia Việt Nam, để tiêu hủy nạn “phe phái hùng cứ địa phương” do Pháp tạo dựng lên trước đây, với mục đích Thực dân thâm độc “chia để trị”.

5. Điều chỉnh cải tiến hệ thống hành chánh, để chấm dứt tệ nạn “Xứ Quân, Vua một cõi” thao túng áp bức quần chúng bằng quy luật “Phép Vua thua Lệ Làng”, hậu quả dư âm Quan lại của thời Pháp còn vương rớt lại, tại các tỉnh và ngay cả tại các Quận hành chánh giữa Saigon Chợ Lớn.

6. Loại bỏ các tổ chức gieo rắc tệ đoan xã hội (khu bài bạc, các ổ chứa gái mãi dâm công khai hoạt động có nộp thuế) do các tay Chính trị hoạt đầu, Doanh gia bất chính, lợi dụng nước đục thả câu, với sự bảo trợ khích lệ của Thực dân Pháp đă tổ chức kinh doanh từ nhiều năm qua.

7. Đặc biệt là phải đề ra phong trào chống Cộng, với một Chính sách dựa theo Chủ thuyết Nhân bản có thể bẻ gẫy được Chủ thuyết Cộng sản, để làm kim chỉ Nam hướng dẫn quần chúng

hăng say tham gia công cuộc tố cáo và loại trừ các hoạt động của cán bộ Cộng sản nằm vùng tại miền Nam. Để dân được sống an toàn tại khắp mọi nơi, an tâm tham gia xây dựng phát triển Kinh tế phồn vinh, và hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc trong thanh bình.

Vì thế mới có Chủ thuyết NHÂN VỊ, Đảng Cần Lao, và PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA ra đời, hoạt động thường xuyên trong mọi tổ chức hành chánh, quân đội, và các cơ sở xã hội khác trên đất liền cũng như trên các hải đảo thuộc miền Nam Việt Nam từ Vĩ tuyến 17 trở xuống.

Mọi người sống tại miền Nam Việt Nam đều biết và cũng đã từng phải tham gia, tùy theo vị trí hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân và gia đình. (Thời gian đó, Tôi là Thiếu Tá Trưởng Phòng

Mật Mă Trung Ương thuộc Bộ Chỉ huy Viễn Thông tại Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN, được tập thể chiến hữu thuộc các đơn vị Truyền Tin tại Saigon bầu làm Chủ tịch Phong trào Cách Mạng Quốc gia của Binh chủng Truyền Tin).

Phong trào này nhằm mục đích đánh bóng lãnh tụ Ngô Đình Diệm, chỉ trích tinh thần bạc nhược của Quốc trưởng Bảo Đại trong việc điều hành Quốc gia, để tiến tới việc tổ chức cuộc

“Trưng cầu Dân ý truất phế Bảo Đại” vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, và ủy nhiệm cho ông Ngô Đình Diệm thành lập nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ vào ngày 26-10-1956.

Suốt trong thời gian vận động tổ chức cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ý vào ngày 23-10-1955, trên các phương tiện truyền thông của Chính phủ thường xuyên phổ biến bài hát thúc đẩy mọi người tích cực tham gia đi bầu rất hay. Nhưng rất tiếc Tôi chỉ còn nhớ một số câu tiêu biểu khó quên chứ không nhớ trọn bài:

  • “Hai ba tháng mười là ngày trưng cầu dân ý,
    Hai ba tháng mười là ngày phá tan ngai vàng,
    Đứng lên toàn quốc, viết trang sử mới,
    ……..(không nhớ……”
Và kể từ sau ngày VIỆT NAM CỘNG HOÀ ra đời 26-10-1956, nghi thức chào cờ chính thức được quy định là sau khi hát bài Quốc Ca “Tiếng gọi công dân” thì phải hát bài SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG. Bài hát này do nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bích sáng tác (ông đã qua đời vào năm 2001):


Suy Tôn Ngô Tổng Thống


Ai bao năm từng lê gót nơi quê người

Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do
Người cương quyết chống cộng
Bài phong kiến bóc lột
Diệt thực dân đang giắt reo tàn phá


Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời

Gương hy sinh ngàn muôn tiếng không hề phai
Toàn dân quyết kết đoàn cùng chung sức với người
Thề đồng tâm say đắp cho ngày mai


Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống

Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Xin thượng đế ban phước lành cho người


Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống

Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng Thống
Chung đắp say nền thống nhất sơn hà



Nguyễn Huy Hùng (K1)
Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà,
Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến,
Cựu tù nhân chính trị 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cải tạo của chính quyền Cộng hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam sau ngày Quốc hận 30-4-1975.

Các tài liệu tham khảo:

1. (Quân sử 4) QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRONG GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH 1946-1955. Do Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu biên soạn và phát hành, sách được in tại cơ sở xuất bản Đại Nam năm 1972 trụ sở Taiwan Republic of China, và được ông Đỗ Kinh Lâm tự Đỗ Ngọc Tùng (cựu sinh viên sĩ quan Khoá 4 Lý Thường Kiệt, Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam) Giám đốc nhà xuất bản Đại Nam sao in lại và phát hành vào năm 1983 tại thành phố Glendale California Hoa Kỳ.

2. THÀNH TÍCH SÁU NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HOÀ ấn hành năm 1960 tại Saigon, và được ông Hồ Đắc Huân (cựu sinh viên sĩ quan Khoá 2 Hiện dịch Nha Trang) sao in lại tại Khu Little Saigon Nam California Hoa Kỳ vào tháng 7-2007 để gửi tặng riêng các thân hữu tùy nghi ủng hộ giải quyết tổn phí ấn loát chứ không in với mục đích thương mại. Ai muốn có sách có thể liên lạc với ông Huân qua điện thoại số (714) 725 5136 hoặc địa chỉ gửi thư:
HỒ ĐẮC HUÂN
  • P.O. BOX 1711
    Westminster, CA92684
3. VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939-1975 (Tập B: 1947-1954) của Chánh Đạo do nhà xuất bản Văn Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ năm 1997.

4. VIỆT NAM NIÊN BIỂU Tập III NHÂN VẬT CHÍ (liệt kê gần 900 tác nhân lịch sử cận đại, từ 1848 tới 1975) của Chánh Đạo do nhà xuất bản Văn Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ vào năm 1997




Nguyễn Huy Hùng
Namkyluctinh
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32915 

Thư của Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam Gởi Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa,


" H H & HG " VỚI DÂN CHỦ VIỆTCỘNG?!- Huỳnh Mai St.8872
Đùng bao giờ bán linh hồn trận Hải Chiến Hoàng Sa cho loài quỷ dữ; có dã tâm yêu nước Việt Tự Do! của các đảng phái chích trị Quốc gia, mà nằng vùng cho VC tại cộng Đồng Người Việt Quốc gia tỵ nạn Cộng Sản..
Theo nguồn tin nhận được, Mỹ đang ủng hộ con cờ Th/Tg VC Nguyễn Tấn Dũng với phong trào dân chủ cuội trong nước, đứng lên thay đổi thể chế chính trị công SẢnVN, thành thể chế: "Dân Chủ định Hướng XHCN.VC, mà Tổng Thống là Thủ Tướng VC lên đổi màu...Dân chủ cho Cộng sản.
Và vì thế, mới nhờ nước Trung gian CANADA ra lệnh các phong trào cò mồi Tự Do, cổ võ " Hành Trình Tự Do " để về chia ghế với chính quyền CSVN, trong phương thức HH & HG với Dân chủ V.Cộng !?!

 
 
 
 
 
 
Thư của Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam Gởi Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, Hoa Kỳ
http://ubtttadcsvn.blogspot.it/…/thu-cua-uy-ban-truy-to-toi…
Thư của Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam
Gởi Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, Hoa Kỳ

V/v: Cựu cán binh cộng sản Sư đoàn Sao Vàng Nguyễn văn Hải tức Điếu Cày, xuất hiện đi diễn hành Tết Ất Mùi trên đại lộ Bolsa vào ngày 21/2/2015 do Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California tổ chức
---------------------------------
Bản văn số 2322015/ubtttadcsvn
Orang County ngày 23 tháng 2 năm 2015
Kính thưa Ông Chủ Tịch,
Tôi xin tự giới thiệu tôi là Liên Thành, trước năm 1975 là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế. Hiện tại tôi là đại diện cho toàn thể anh chị em trong Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tôi xin trân trọng gởi đến ông Chủ Tịch một số thắc mắc của đồng bào và các chiến hữu trong quân lực VNCH/ CSQG về sự xuất hiện của cựu cán binh cộng sản thuộc Sư đoàn Sao Vàng Nguyễn văn Hải tự Điếu Cày trong buổi lễ diễn hành Tết Ất Mùi tại đại lộ Bolsa, Westminter, do Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California tổ chức ngày 21/2/2015 mà hiện ông là Chủ Tịch Cộng đồng nầy.
Ngày 21/2/2015, Cựu cán binh cộng sản thuộc Sư đoàn Sao Vàng Nguyễn văn Hải tự Điếu Cày trong buổi lễ diễn hành Tết Ất Mùi tại đại lộ Bolsa, Westminter, do Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California của Chủ Tịch Nguyễn Xuân Nghĩa tổ chức
Trong khi đó vào năm 2007, Cán binh Cộng sản Sư đoàn Sao Vàng Nguyễn văn Hải, còn được biết đến là Nhân vật đối lập cuội Điếu Cày, còn rất mặn mà với cờ đỏ sao vàng đội trên đầu tại Sài Gòn, Việt Nam
Thưa ông Chủ Tịch, hẳn ông đã biết vào ngày 21/10/2014 hồi 10 giờ tối tại Phi trường LAX, California, cán binh cộng sản thuộc Sư đoàn Sao Vàng của cộng sản Bắc Việt Nguyễn văn Hải, tự Điếu Cày, đã được Chính phủ Hoa Kỳ cho phép định cư tại Hoa Kỳ với tư cách “tỵ nạn cộng sản.” Trước sự đón tiếp chân tình của một số đồng hương, một người trong số đón tiếp đã hân hoan trao tặng tận tay Điếu Cày lá cờ thiêng, cờ VNCH của chúng ta. Nhưng hắn ta đã từ chối. Sau đó đài SBTN Nam Cali tổ chức cho hắn họp báo ngày 31/10/2014 thì hắn đã xác nhận:
1/ Hắn không nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ tại phi trường. Hắn nói: "Việc tôi không nhận lá cờ thì cộng đồng mạng tranh luận và nó cũng đã rõ vì có rất nhiều hình ảnh và video đã chứng minh"!
2/ Lá cờ chỉ là một biểu tượng và biểu tượng có thể thay đổi. Chừng nào 90 triệu đồng bào Việt Nam chấp nhận lá cờ đó thì hắn ta sẽ cùng đứng chung với 90 triệu đồng bào.
3/ Hắn đã xuyên tạc cuộc chiến đấu chống cộng tự vệ của toàn quân dân VNCH là một cuộc chiến mà ‘Bên nào thắng thì nhân dân đều bại’.
4/ Hắn qua Hoa Kỳ với nhiệm vụ nối kết truyền thông, sửa chữa khuyết tật truyền thông.
5/ Hắn kêu gọi hòa hợp hòa giải xóa bỏ hận thù. Lời kêu gọi nầy rất phù hợp với lời kêu gọi của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam trong nghị quyết 36 của bọn chúng đối với đồng bào Việt Nam tại hải ngoại.
Qua những hành động trên, Khối Kỹ Thuật của UBTTTADCSVN chúng tôi đã vạch trần bộ mặt thật của tên “đối lập cuội” nầy. Bản Lên Tiếng của Tịnh Ngọc, Trưởng Khối Kỹ Thuật UBTTTADCSVN, ngày 15 tháng 11 năm 2014 đã lưu ý với đồng bào tại hải ngoại về những hành động của tên đối lập cuội Điếu Cày.
Vài tháng trôi qua, đồng bào tị nạn cộng sản khắp nơi đã tỏ rõ lập trường dứt khoát với ý đồ hòa hợp hòa giải của tên Điếu Cày. Một số cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Washington DC đã tuyên bố không tham dự cuộc họp báo của Điếu Cày khi hắn ta được đại diện đài truyền hình SBTN-DC là ông Võ Thành Nhân tổ chức tại Virginia vào ngày 23/11/2014.
Thưa ông Chủ Tịch Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California Nguyễn Xuân Nghĩa, Thật là một sự ngạc nhiên cho đồng bào tỵ nạn cộng sản và cho chúng tôi, những người Lính Việt Nam Cộng Hòa và Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa từng đổ máu xương chiến đấu chống quân thù Cộng sản để bảo vệ đồng bào, hôm nay nhìn thấy kẻ thù cán binh Sư đoàn Sao Vàng (những cán binh của Sư đoàn Sao Vàng nổi tiếng là bè lũ khát máu từng cầm súng bắn xối xả vào đồng bào vô tội của chúng ta tại Bình Long, An Lộc vào mùa hè đỏ lửa 1972) lại được cho phép xuất hiện diễn hành cùng với các hội đoàn, với tập thể cựu chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 21/2/2015 tại vùng Little Sài Gòn, thủ đô của người Việt Tị Nạn Cộng Sản. Buổi diễn hành này do Cộng đồng của ông Chủ Tịch Nguyễn Xuân Nghĩa đứng ra tổ chức!
Ngoài ra chúng tôi cũng thấy Điếu Cày được sắp xếp cho xuất hiện trong một gian hàng bán áo thun quảng cáo cho tổ chức của hắn tại hội chợ Tết do nhánh Cộng đồng thứ 2 tại Nam Cali của nhóm Cựu đại Tá Lê Khắc Lý, Thích Viên Lý chùa Điều Ngự, Trương Ngãi Vinh, Lý Trí Anh, Nguyễn Hoàng Tuấn, Nguyễn Văn Hòa, chồng của y thị Lý Trí Anh tổ chức.
Ngày 20/2/2015, Điếu Cày được sắp xếp cho xuất hiện trong một gian hàng bán áo thun quảng cáo cho tổ chức của hắn tại hội chợ Tết của nhánh CĐ thứ 2 tại Nam California
Xin ông Chủ Tịch Nguyễn Xuân Nghĩa vui lòng giải thích cho chúng tôi và đồng bào tỵ nạn cộng sản được rõ sự xuất hiện của cán binh cộng sản Sao Vàng Điếu Cày trong cuộc diễn hành nhân ngày Tết ngày 21/2/2015 tại đại lộ Bolsa, Westminster là do sự chấp thuận của ông Chủ Tịch?
Theo dư luận hiện nay tại Bolsa, có lẽ ông Chủ Tịch là đảng viên của đảng Việt Tân cho nên qua cuộc diễn hành Tết ông đã theo chỉ thị của đảng để cho Việt Tân và Điếu Cày xuất hiện diễn hành vì ông muốn Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California này đi vào quỹ đạo hòa hợp hòa giải, xóa bỏ hận thù với Cộng Sản?
Chúng tôi rất mong mỏi được ông Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa với tư cách là Chủ Tịch Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California chính thức lên tiếng vụ nầy.
Trân trọng kính chào ông Chủ Tịch,
Liên Thành
Đại diện diện thể anh chị em trong UBTTTADCSVN
http://ubtttadcsvn.blogspot.com/…/thu-cua-uy-ban-truy-to-to…

 Nguồn  https://www.facebook.com/mai.nguyenhuynh.3

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

Quang Trung Nguyễn Huệ-Bài Học Lịch Sử Cho Tuổi Trẻ Việt Nam

Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792) - Bài Học Lịch Sử Cho Tuổi Trẻ Việt Nam


Lê Quang Mỹ

Nước Việt Nam ở về Đông Nam Châu Á, đông giáp biển Nam Hải, tây giáp Ai Lao-Cao Miên, bắc giáp Trung Quốc. Diện tích là 329,600 km vuông (206,000 dặm vuông). Dân số ban đầu 500,000 người, thời Lý-Trần khoảng 5 triệu, hiện nay hơn 80 triệu.



Kể từ thời lập quốc với các vua Hùng ( từ năm 2879 đến 258 trước Công Nguyên ) tên nước được gọi là Văn Lang. Thời Thục An Dương Vương (258-207t.CN) goi là Âu Lạc. Thời Lý Bôn (544-602) đánh thắng nhà Lương (Trung Quốc) xưng đế đặt tên nước là Vạn Xuân. Thời nhà Đinh (968 – 980) dẹp xong loạn 12 sứ quân lập nên nước Đại Cồ Việt, rồi Đại Việt, Đại Nam. Sau cùng là Việt Nam, thời nhà Nguyễn (1802).

"Việt Nam khởi tổ xây nền"
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Người Việt cổ xưa gọi là Lạc Việt (chim Lạc bay về hướng Nam) từ Phúc Kiến (Trung Quốc) di cư sang, sau tụ lại ở Bắc Việt và đồng hóa các bộ tộc khác lập thành một nước với nhiều giống người nói nhiều ngôn ngữ khác nhau như người Môn- KhơMe (Tây Bắc, Quảng Trị, Tây Nguyên), người Thái ( Tây Bắc, Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hoá), người Mèo- Dao (Việt Bắc, Hoa Bình, Thanh Hoá), người Tạng-Miến (Hà Giang, Tây Bắc), và người Hoá (Quảng Ninh, Bắc Thái) vv...Nghĩa là nước Việt Nam chúng ta cũng có nhiều sắc dân sống trên cùng một mảnh đất nhưng ở bình diện hẹp. Nói đến dân tộc Việt nam chúng ta thường tự hào về nòi giống con Rồng, cháu Lạc với hơn 4,000 năm văn hiến nhưng đó là những truyền thuyết từ xưa để lại.

Người Pháp tự hào có một Napoleon Bonaparte. Người ta tôn kính ông là một thiên tài đã từng chinh phục từ Âu sang Á nhưng cuối cùng bị bại tại trận Waterloo (nước Bỉ). Khách du lịch tới Pháp bắt đầu từ đại lộ Champs Elisée, gần nhà thờ Đức Bà, cạnh dòng sông Seine và Khải Hoàn Môn; thấy một công trình kiến trúc đồ sộ để tưởng nhớ Napoléon Đại đế, người làm rạng danh nước Pháp.

Tại Mỹ, cùng thời gian nầy với cuộc cách mạng giành Độc lập từ trong tay người Anh để thành lập nên một nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. George Washington, một chính trị gia lỗi lạc, anh hùng dân tộc, đã đưa đất nước Hoa Kỳ đến chỗ vinh quang, giàu mạnh.

Quang Trung-Nguyễn Huệ, người Việt Nam thời đó, đã có đủ hai đặc điểm: thiên tài quân sự của Napoléon Bonaparte và chính trị gia lỗi lạc của George Washington. Vua Quang Trung giữa lúc nước nhà loạn ly đã xông pha trận mạt. Ông hành quân thần tốc, tiêu diệt hai tập đòan Trịnh-Nguyễn cát cứ, đánh đuổi giặc ngoại xâm Xiêm La và Mãn Thanh, bách chiến bách thắng. Từ khi bắt đầu làm tướng lúc 18 tuổi đến khi ông mất vừa tròn 40 tuổi chưa hề biết chiến bại là gì !!!

Chúng ta hãnh diện và tự hào có vị anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ, là gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo. Chiến thắng Đống Đa-Mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, chỉ trong vòng 5 ngày Vua Quang Trung đã tiêu diệt trên 20 vạn quân Thanh. Đây là một chiến công hiển hách, so sánh với chiến công của các danh tướng Đông Tây Kim Cổ trên thế giới, là niềm hảnh diện chung cho Dân Tộc Việt Nam.

Những điều cần biết về Quang Trung- Nguyễn Huệ:

1. Gia phả:

Nguyễn Huệ quê ở làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, dòng họ với Hồ Quý Ly và Hồ Xuân Hương. Năm Ất Mùi (1655), quân Nguyễn bắt dân đưa vào Đàng Trong khai hoang. Cụ tổ bốn đời ở ấp Tây Sơn Nhất, huyện Quy Ninh, phủ Quy Nhơn. Đến đời Hồ Phi Phúc dời về ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn (nay thuộc Kiên Mỹ, Bình Thành, Tây Sơn, Bình Định). Hồ Phi Phúc và vợ là Nguyễn Thị Đồng sinh ra 3 anh em: Hai Nhạc, Ba Huệ, Tư Lữ (theo cách gọi của người Bình Định) sau đổi thành họ Nguyễn tại một ngôi nhà nhỏ bên bờ sông Côn, nơi có bến Trường Trầu, giếng nước, cây me. Thuở nhỏ, Nguyễn Huệ có tên là Hồ Thơm. Ba anh em Nguyễn Huệ đều theo học thầy giáo Hiến, một sĩ phu tài giỏi nhưng bất phùng thời.

2.Vài nét đặc biệt về chân dung Nguyễn Huệ:

Theo những tài liệu mới phát hiện gần đây nhất, Nguyễn Huệ có mái tóc xoăn, da săn, mắt sáng, tiếng nói sang sảng như chuông, nhanh nhẹn và khỏe mạnh.

"Ông có một con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu" (Tây Sơn lược thuật). Thậm chí, một cung nhân của nhà Lê nói rằng: "Nguyễn Huệ trỏ tay, đưa mắt, ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét...".(Hoàng Lê nhất thống chí).

-"Tiếng nói của Nguyễn Huệ cũng rất đặc biệt, như tiếng chuông, lời nói ngắn gọn, giản dị, thấm vào lòng người, tạo nên sự gần gũi, đồng cảm sâu sắc". Một lần ở Thanh Hóa, Nguyễn Huệ ngồi trên mình voi nói lớn: "Chư quân, hãy vì ta giết sạch chó Ngô đi. Nếu ai không muốn chiến đấu thì hãy xem ta trong một trận giết hàng vài vạn mạng người, đấy không phải là chuyện lạ đâu". Ông vừa dứt lời, quân lính dạ ran như sấm, rung động núi rừng, trời đất biến đổi cả cảnh sắc, chiêng trống đồng thời vang lên (Lê Quý kỷ sự).

Nguyễn Huệ ứng đối, pha trò rất giỏi. Lần ra Bắc diệt họ Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh ngỏ ý làm mai mối công chúa Lê Ngọc Hân cho ông, ông đã khiến mọi người đều phải cười ầm: "Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về, bọn trẻ nó cười cho thì sao. Tuy nhiên, ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng thử xem có tốt không...".

Trong gia đình, Nguyễn Huệ sống với vợ con rất tình cảm. Ông có hai bà Hoàng hậu. Bà chính cung quê ở Quy Nhơn, em cùng mẹ với Thái sư Bùi Đắc Tuyên, Bùi Văn Nhật. Bà sinh được 5 người con, 3 trai, 2 gái. Nguyễn Quang Toản là con trưởng, được lập làm Thái tử, về sau là vua Cảnh Thịnh. Trong một bức thư viết ngày 17/7/1791, giáo sĩ Sécrard đã kể: "Chánh hậu của Tiên vương (Quang Trung) mất vào khoảng tháng ba và ông đã khóc bà một cách sầu thảm. Ông đã cử hành tang lễ vô cùng linh đình trang trọng cho bà vào cuối tháng sáu. Dân Nam Hà đồn khắp nơi rằng ông đã băng hà vì quá đau buồn".

Bắc cung Hoàng Hậu là công chúa Lê Ngọc Hân, con gái thứ chín vua Lê Hiển Tông và bà nguyên phi Nguyễn Thị Huyền người làng Phù Ninh, Từ Sơn (nay huyện Gia Lâm, Hà Nội). Công Chúa Ngọc Hân sinh ngày 27/4/Canh Dần (1770) tại quê ngoại, mất năm Kỷ Mùi (1799). Ngọc Hân đã sinh hạ cho Nguyễn Huệ một con trai là Nguyễn Văn Đức và một con gái là Nguyễn Thị Ngọc, sau này đều bị triều đình nhà Nguyễn giết hại. Công chúa Ngọc Hân là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, vua Quang Trung rất yêu và có phần tự hào về bà. Hôm cưới, ông đắc ý nói với Ngọc Hân:"Con trai con gái nhà vua đã có mấy người được vẻ vang như nàng?".

Hôm lễ tế vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Huệ mặc đồ tang, đứng coi xét lễ nghi hết sức chu đáo...

Nguyễn Huệ sống khoan dung, nhân hậu nên những người gần gũi ông đều tỏ lòng cảm kích. Bài thơ "Ai Tư Vãn" khóc chồng của công chúa Ngọc Hân:

"Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước biết bao công trình!...
Mà nay lượng cả, ơn sâu,
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần.
Công dường ấy mà nhân dường ấy,
Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công!"

thật cảm động chứng tỏ tình yêu và lòng ngưỡng mộ của bà với tài, đức, công lao sự nghiệp của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ...



Nguồn : Tiếng Dân


Nguồn:http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32899

PHÂN TÍCH LỜI KÊU GỌI ĐẦU NĂM CỦA ĐÀI “TIẾNG NÓI HOA KỲ”

 1

PHÂN TÍCH LỜI KÊU GỌI ĐẦU NĂM CỦA ĐÀI “TIẾNG NÓI HOA KỲ”

Trang mạng Chân Dung Quyền Lực
Cuối năm 2014 dư luận Việt Nam xôn xao với sự xuất hiện của trang mạng Chân Dung Quyền Lực.  Có không ít kẻ cho rằng CDQL cũng giống như Dân Làm Báo hoặc Quan Làm Báo :  Đó là những trang mạng của “thế lực thù địch” từ hải ngoại.
Tuy nhiên, đúng ngày đầu năm Ất Mùi, VOA đưa ra bài viết “Chân Dung Quyền Lực và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”.  Bài viết xác nhận CDQL không dính dáng gì đến những nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước cũng như hải ngoại : - “Cần vạch rõ CDQL có cách nhìn bất lương đối với các chiến sỹ dân chủ, các tổ chức trong xã hội dân sự đang lớn mạnh”.
VOA cũng khẳng định CDQL là của một nhóm có thế lực trong ĐCSVN : - “Nó chắc chắn chỉ thuộc về một phe nhóm riêng của đảng cầm quyền”
VOA chứng minh : - “có trong tay nhiều tài liệu, hồ sơ, tin tức, công văn, hình ảnh, hoá đơn, giấy tờ… chuẩn xác”…”nắm độc quyền nhiều tin tức tuyệt mật, như kết quả thăm dò tín nhiệm tại hội nghị 10, đầy đủ, cụ thể, chuẩn xác” …”hình ảnh ông Nguyễn Bá Thanh nằm chữa bệnh trong bệnh viện ở Hoa Kỳ, cùng với tin về hành trình – đường bay, sân bay, ngày giờ cất, hạ cánh khi trở về nước”
*( Chỉ có VOA mới đủ uy tín để khẳng định bản kết quả thăm dò tín nhiệm tại Hội nghị 10 do CDQL đưa ra là đầy đủ, chuẩn xác;  bởi vì ĐCSVN không hề công bố bản kết quả của cuộc bỏ phiếu, cho nên không có ai dám nói chắc rằng bản kết quả do CDQL đưa ra là chuẩn xác.  Riêng đối với VOA, là tiếng nói của quốc gia HK, thì một khi họ đã dám xác nhận “đầy đủ, cụ thể, chuẩn xác” thì phải hiểu là họ đã so với bản kết quả thật mà tình báo HK thu thập được từ Ban bí thư của Trung ương ĐCSVN ).
 VOA kết luận : – “Riêng với ông Nguyễn Tấn Dũng có bài phê phán nhẹ nhàng, nhưng lại có bài tâng bốc ông rất đặc biệt, ra ngày 21/1/2015: «Mũi thuyền rẽ sóng – mũi Cà Mau». Do đó CDQL có thể là thuộc phe nhóm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vì nó rất có lợi cho ông”…
Cuối cùng  VOA chỉ rõ tọa độ chính xác của trang mạng CDQL : – “ từ Tổng cục an ninh 1 do Trung tướng Nguyễn Chí Thành, một người rất thân cận với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nắm giữ, và chỉ có cơ quan an ninh, phản gián này mới có thể vươn xa, nhập sâu để có những tấm ảnh thật và tin tức mật nói trên”
Lời kêu gọi đầu năm
Mượn danh ông Bùi Tín, VOA đưa ra lời kêu gọi cho ông Nguyễn Tấn Dũng :
-  “Thưa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”
-  “Ông là nhân vật có uy tín nhất trong số người lãnh đạo ở trong nuớc, đang ở thế thượng phong trong Ban Chấp hành trung Trung ương đảng cũng như trong Quốc hội”.
*( Diễn Nôm : Hiện nay ông là người thống lĩnh quyền lực tại Việt Nam, giờ đây không còn ai dám cả gan chống lại ông ).
-  “Sự thiếu hiểu biết sâu sắc về nền chính trị, kinh tế, tài chính, đối ngoại và quốc phòng của thế giới của ông theo tôi thấy hình như được bù đắp khá tốt bởi một số cố vấn chuyên gia tin cẩn”.
*( Diễn Nôm : Ông xuất thân là một người mới học tới tiểu học rồi đi làm y tá cho bộ đội CSVN lúc 12 tuổi cho nên thực tài và thành tích của ông chẳng qua là do một nhóm chuyên gia cố vấn về kinh tế, chính trị của nước ngoài đứng đằng sau lưng ông ).
 – “Do dó ông đã có những phát ngôn rất chuẩn, đi vào lòng người. Chỉ còn là việc thực hiện trong cuộc sống. Không thể để nó chỉ nằm trên giấy”.
*( Diễn Nôm :  Do đó những phát biểu của ông trong Thông điệp đầu năm 2014 là kết quả tham vấn của các chuyên gia nước ngoài sau khi họ đã cân nhắc kỹ lưỡng về xu hướng chính trị cũng như ước muốn của dân chúng. Việc còn lại của ông ngày hôm nay là “thực hiện” những gì mà các chuyên gia đã “vạch ra trên giấy” cho ông ).
 – “xin ông hết sức suy nghĩ về cuộc sống cá nhân, gia đình. Xin được nói thẳng rằng có người đã chê ông là ông còn tệ hơn vài ông trong Bộ Chính trị”.
*(  Diễn Nôm : Không biết tin đồn có đúng hay không, nhưng so với các ông khác trong Bộ chính trị thì hiện nay của chìm của nổi của ông có ăn tới mấy đời cũng không hết.  Rõ ràng là cuộc sống của cá nhân và gia đình của ông không cần phải kiếm thêm tiền bạc làm gì nữa, còn về danh vọng thì ông cũng đã đạt tới tột đỉnh quyền lực rồi ).
-  “Nếu ông tự nguyện ngay từ hôm nay thực hiện đúng phương châm của người CS «Hy sinh trước thiên hạ, hưởng thụ sau thiên hạ», lấy tự phê bình làm lẽ sống, gương mẫu về liêm khiết, không lấy một đồng của dân, của nước, sống thanh bạch như những ông quan thanh liêm thời trước, không chạy theo tư lợi vật chất và thói hưởng lạc của bọn trọc phú vô văn hoá, từ đó chống tham nhũng quyết liệt và có hiệu quả như ông đã hứa hẹn, thì ông sẽ có cả thiên hạ trong tầm tay”.
*(  Diễn Nôm : Giờ đây tiến bạc đã thừa, danh vọng đã mãn, nhưng nếu ông quay sang trình diễn như một nhà “đại cách mạng” thanh liêm chính trực, đưa đất nước đi lên thì ông sẽ được lưu danh muôn thuở, sẽ được  thiên hạ ghi công như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp … ).
- “Tôi biết đây là việc khó chỉ có những người có bản lãnh đặc biệt mới vượt qua nổi. Cuộc đời ông theo tôi biết đã vượt qua bao thử thách cam go. Nay là bước thử thách cuối cùng”
- “Ông đang có điều kiện là một nhà cứu quốc, cứu dân tuyệt vời trong cơn trầm luân khổ ải mấy chục năm nay. Ông hãy vượt qua chính mình, trong một cuộc tâm sự thần kỳ, tự mình đối diện với chính mình, và quyết chí. Hàng trăm triệu con người Việt Nam sẽ ghi công ơn ông trong lòng, trong trái tim họ”.
- “một nhóm nhân tài tâm huyết kiên cường khôn khéo cùng nhân dân đưa Tổ Quốc Việt Nam từ độc đoán toàn trị sang Kỷ nguyên Độc lập, Dân chủ, Tự do và Hạnh phúc thật sự cho mọi người. Được vậy lịch sử sẽ mãi mãi ghi công ơn ông”.
- “Theo tôi nghĩ, ông muốn là ắt được, vì đó cũng là khát vọng cháy bỏng chân chính của toàn dân lúc này”.
*( Những dòng trên đây không cần phải diễn Nôm vì quá rõ ràng ).
Đối tượng của những lời kêu gọi
Mặc dầu bài viết ký tên Bùi Tín với hàng chữ :  “được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ”.  Nhưng mọi người đều hiểu đây là quan điểm trùng khớp với quan điểm của quốc gia Hoa Kỳ. ( Không ai trưng tượng Chúa trong chùa thờ Phật ).
Tuy nhiên không phải là ông Bùi Tín hay Chính phủ Hoa Kỳ muốn nhắn riêng cho ông Nguyễn Tấn Dũng.  Nếu muốn nhắn riêng thì ông Bùi Tín sẽ viết thư riêng, còn Chính phủ HK muốn nhắn riêng thì nhờ các ông “chuyên gia cố vấn” Mỹ đang nằm tại Hà Nội ( Sát thủ kinh tế ).
Nhưng một khi VOA đưa bài viết lên đài, lên mạng thì có nghĩa là VOA muốn nhắn cho toàn dân Việt Nam ở trong nước cũng như hải ngoại rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang thực hiện “đổi mới thể chế” tại Việt Nam, dân chúng VN hãy thôi chống đối NTD và hãy ủng hộ ông ta.  Hay ít ra cũng đừng chưởi rủa ông ta nữa, cứ ngồi yên xem ông ta làm được tới đâu.
Còn các cán bộ CSVN hãy thức thời mà đừng chạy theo bè Cọng sản nữa, không thể nào kiếm chác thêm trong ĐCSVN được nữa đâu, ngược lại nếu không nhanh chân tẩu thoát hay nhanh tay tẩu tán thì e rằng không kịp đó !
Đầu năm tới sẽ có đổi thay lớn trong tổ chức ĐCSVN,  ông Tổng bí thư của ĐCSVN sẽ về vườn nhưng trong năm nay ông ta sẽ sang thăm Hoa Kỳ trước khi Đại hội toàn quốc ĐCSVN diễn ra.  Chuyến đi của ông TBT là tín hiệu báo tử của ĐCSVN và cũng là tín hiệu ra đời của chế độ Nguyễn Tấn Dũng, một chế độ hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ.
BÙI ANH TRINH

 Nguồn:http://baotoquoc.com/2015/02/23/phan-tich-loi-keu-goi-dau-nam-cua-dai-tieng-noi-hoa-ky/ 

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Ai còn nhớ công chúa Bokassa...ngày ấy bây giờ ra sao. Khá ly thú !...

Ai còn nhớ công chúa Bokassa...ngày ấy bây giờ ra sao. Khá ly thú !...

Đoàn Dự ghi chép

Thưa quý bạn, vào khoảng cuối năm 1972, không chỉ ở miền Nam Việt Nam chúng ta mà hầu như cả thế giới đều biết câu chuyện vị tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi tên Bokassa tìm được giọt máu rơi – kết quả của cuộc tình giữa ông và người phụ nữ nghèo làm nghề gánh nước mướn ở Cù lao Phố Biên Hòa tên Nguyễn Thị Huệ khi ông còn là một anh chàng trung sĩ nhất 32 tuổi trong đội lính lê dương của Pháp sang tham chiến tại Việt Nam.
Người con gái Việt Nam lai da đen nghèo nàn khốn khổ con rơi của ông lúc ấy 19 tuổi, tên Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ, làm nghề khuân vác xi-măng từ năm 18 tuổi tại Nhà máy xi-măng Hà Tiên gần Thủ Đức. Đùng một cái, cô trở thành ái nữ của Tổng thống Bokassa, rồi khi vị tổng thống này tham quyền cố vị, xóa bỏ nền Cộng hòa, tự xưng mình là hoàng đế, ở ngôi được 3 năm thì trong 3 năm đó, cô trở thành một vị công chúa. Nay, thời gian 43 năm đã trôi qua, thế sự đổi dời, những người liên quan hầu như đã hóa thành người thiên cổ, kể cả “Hoàng đế” Bokassa. Riêng cô gái nghèo tức cô “công chúa” Martine Bokassa hiện nay ra sao, cô còn sống hay đã chết? Mới đây, tờ báo Le Figaro của Pháp đã tìm hiểu và đăng rõ chi tiết ngọn ngành, xin mời quý bạn xem qua cho biết…
I. Tiểu sử của Bokassa
Họ tên đầy đủ của Bokassa là Jean Bedel Bokassa, thuộc bộ tộc M’Baka ở Phi châu và sinh ngày 22-2-1921 tại làng Bobangui, cách thủ đô M’Baiki của nước Phi Châu Xích Đạo (Equatorial Africa) khoảng 80 cây số về phía bắc. Ông là con của một công nhân làm việc cho Công ty Lâm nghiệp Pháp. Năm 1927, cha của Bokassa bị bắt và bị kết án tử hình về tội phá rối trị an. Ít lâu sau, mẹ của cậu Bokassa cũng tự tử chết vì nghèo và tuyệt vọng. Thời điểm đó cậu bé đang học Tiểu học tại trường Sainte Jeane d’Arc ở M’Baiki, rồi tiếp theo là trường Trung học Saint Louis ở Bangui, do các tu viện Pháp tài trợ.
Khi Thế Chiến thứ II bùng nổ, nước Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng, Bokassa gia nhập Lực lượng Nước Pháp Tự do, do De Gaulle lãnh đạo. Từ cấp bậc hạ sĩ, Bokassa được thăng hạ sĩ nhất khi tham gia chiến dịch giải phóng tỉnh Provence của Pháp, rồi được thăng trung sĩ và trung sĩ nhất khi sang Việt Nam tham chiến.
Năm 1950, trung sĩ nhất Bokassa của binh chủng lính Lê dương (Légion étrangère, quân tình nguyện người nước ngoài của lục quân Pháp, do sĩ quan Pháp chỉ huy), đã từng được thưởng huân chương Bắc Đẩu bội tinh, lên tàu sang Việt Nam.
Thời gian ở Việt Nam, Bokassa chung sống với cô Nguyễn Thị Huệ, sinh được một con gái, đặt tên theo họ mẹ là Nguyễn Thị Martine.
Mười năm sau, năm 1960, nước Phi Châu Xích đạo (Equatorial Africa) giành được độc lập từ tay người Pháp. Vị tổng thống đầu tiên của quốc gia này là David Dacko – ngưới có họ hàng xa với Bokassa – quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Trung Phi (Central African Republic) rồi mời Bokassa đang ở bên Pháp về nắm quyền chỉ huy quân đội.
Tháng 1 năm 1966, với lực lượng quân sĩ trong tay, Bokassa đảo chính, lật đổ David Dacko, tự phong mình là “Thống chế tổng tư lệnh quân đội” và lên làm tổng thống, vẫn giữ tên nước là Cộng hòa Trung Phi như cũ.
Mười năm sau ngày đảo chánh (1976), Bokassa vốn rất độc tài, thừa thắng xông lên, muốn làm vua để được suốt đời cai trị cái xứ Trung Phi rộng gần gấp đôi Việt Nam (Trung Phi: 622.436 km2; Việt Nam: 326.000 km2) nhưng dân số chỉ có hơn 4 triệu người, rất nhiều mỏ kim cương, song các mỏ này do người Pháp khai thác và đóng thuế cho vị… tổng thống. Tháng 10 năm ấy (1976), “ngài” đổi tên nước thành Vương quốc Trung Phi (Central African Empire) và tự xưng Hoàng đế. Cuộc lễ lên ngôi của “ngài” rất lớn, cực kỳ tốn kém, trong khi dân chúng rất đói khổ, chúng ta sẽ nói sau.

Trong 3 năm ngài làm vua, dân chúng bất mãn, những cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra, ngài đàn áp đẫm máu, giết hại hàng trăm sinh viên mặc dầu dân số trong nước lúc ấy chỉ có 4,3 triệu người. Ngài tàn ác tới độ tự mình đích thân giám sát cuộc hành quyết 100 sinh viên học sinh chỉ vì họ từ chối mua đồng phục do nhà máy của ngài sản xuất. Việc quá ư tàn nhẫn đó khiến chính phủ Pháp phải ủng hộ tổng thống cũ David Dacko đảo chánh, lật đổ ngai vàng của ngài. Cuộc đảo chánh thành công, ngày 20-9-1979, David Dacko lên làm tổng thống và lấy lại tên nước là Cộng hòa Trung Phi. “Hoàng đế” Bokassa phải bỏ chạy sang nước Cộng hòa Bờ Biển Ngà (Republic of lvory Coast), rồi sau đó sang Pháp, nơi ông có nhiều lâu đài nguy nga tráng lệ. Ông bị chính quyền mới của Tổng thống David Dacko kết án tử hình khiếm diện.
Năm 1986, Bokassa trở lại Cộng hòa Trung Phi với hy vọng được hợp tác với chế độ trong nước, nhưng ông bị đưa ra tòa xét xử về tội phản quốc, giết người, và bị kết án tù chung thân. Tuy nhiên, chỉ 6 năm sau, với sự can thiệp của chính phủ Pháp, ông được thả.
Những năm cuối đời, Bokassa sống ở Bangui – thủ đô của Cộng hòa Trung Phi. Ông chết ngày 3-11-1996 tại Bangui trong hoàn cảnh nghèo túng, không một đồng xu dính túi.

Thói ham vàng và kim cương của Bokassa
Trong thời gian 3 năm làm “hoàng đế”, Bokassa có máu mê sưu tập vàng bạc, kim cương, đá quý. Trong số những đồ châu báu mà ông thu thập được, có 2 viên kim cương thô rất lớn nhưng chưa bao giờ ông đồng ý cho mài giũa.
Để mua chuộc các chính khách trong đó có cả Tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing (làm tổng thống từ 1974 tới 1981), ông đã dùng kim cương làm phương tiện hối lộ. Sau này, Bokassa tố cáo Tổng thông d’Estaing đã đứng đằng sau cuộc đảo chánh lật đổ ông và cuỗm mất “Hoàng hậu” Cathérine người da trắng rất đẹp của ông (?!).
Để thể hiện quyền lực của mình, Bokassa đặt tên cho nhiều công trình ở thủ đô Bengui bằng tên mình. Ví dụ, Cung thể thao Jean Bedel Bokassa, Đại lộ Jean Bedel Bokassa, Đại học Tổng hợp Jean Bedel Bokassa v.v… Bên cạnh đó, Bokassa còn cho xây dựng nhiều dinh thự dùng cho tổng thống như Villa Kolongo, Villa Berengo, đồng thời làm chủ nhiều nhà hàng ăn uống, xưởng dệt, trại nuôi gia súc. Hai hãng hàng không dân sự và một hãng độc quyền buôn bán ngà voi cũng là của ông.
Theo báo Le Figaro, Bokassa tự phong cho mình là “Đệ nhất nông dân” và “Đệ nhất thương gia” của Vương quốc Trung Phi.
Những người từng có thời gian thân cận với Bokassa kể lại rằng, ông ta tự cho mình có quyền làm hoàng đế suốt đời, kiêm nhiệm Bộ trưởng Tư pháp, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Nội vụ và nhiều bộ khác. Nhà văn S.Th. thời gian đó là giám đốc cơ quan đối ngoại thuộc Bộ Nội vụ VNCH, có dịp sang Trung Phi và nhiều nước khác, kể rằng Bộ Quốc Phòng của Tổng thống Bokassa là mấy căn nhà tôn bé tí, còn nhỏ hơn một trại gia binh loại nhỏ của VNCH.
Tại Pháp, Bokassa có nhiều bất động sản, như lâu đài Villemorant ở Saint Louls Chavanon, lâu đài Handicourt de La Cottenclère ở ngoại ô Paris, lâu đài Mezy sur Seine, lâu đài Nice và Nhà hàng khách sạn Le Montagne ở Romorantin. Và dĩ nhiên, là một người cường tráng, ông cũng có nhiều “động sản” khác gồm các bà vợ bé (tiếng của Bokassa dùng để gọi họ). Ví dụ vũ nữ Martine N’Douta, kẻ vẫn thường ganh tị với các bà vợ bé người Gabon, người Tunisie, người Pháp, người Đức, Bỉ, Lybie, Cameroon, Thụy Điển, Zaire, Trung Quốc v.v… Nhiều người trong số họ được các nhà lãnh đạo sở tại “tặng” cho Bokassa khi ông ta công du các quốc gia này, chẳng hạn bà vợ bé người Tàu là “quà tặng” của Tưởng Giới Thạch, lúc ấy là tổng thống Đài Loan. Tại Gabon, trong phái đoàn ra sân bay đón tiếp “Hoàng đế Bokassa”, ông đặc biệt chú ý đến một cô gái tên là Joelle. Bỏ qua mọi nghi thức ngoại giao, Bokassa dặn Joelle “đừng đi đâu hết” rồi tiến đến trước mặt Tổng thống Omar Bongo và nói: “Hồi nãy tôi đến với tư cách quốc khách, còn bây giờ tôi gặp anh với tư cách riêng để xin cưới một công dân của anh làm vợ”. Dù muốn dù không, Tổng thống Omar Bongo cũng phải đồng ý.
Khi công du một quốc gia khác, Bokassa gặp cô vũ nữ tóc vàng Gabriela Brimba trong một vũ trường. Ngỏ lời cầu hôn nhưng bị cô từ chối, Bokassa bèn “nói nhỏ” với tổng thống nước này. Vậy là chỉ hơn một tháng sau, Gabriela Brimba được đưa tới Bangui rồi được Bokassa đổi tên thành Martine N’Douta hay ghen tị như chúng ta đã nói bên trên. Sau khi chế độ của Bokassa ở Vương quốc Trung Phi sụp đổ, Brimba trở về cố quốc, bỏ lại đứa con gái tên là Anne de Berengo cho Bokassa nuôi.
Trường hợp cô Nguyễn Thị Huệ ở Việt Nam cũng không ngoại lệ. Năm 1953, nhà nghèo, đi gánh nước mướn khổ quá, Nguyễn Thị Huệ gặp anh chàng trung sĩ nhất “tây đen” Lê dương Bokassa. Bokassa mê cô, luôn luôn tặng quà rồi ngỏ lời cầu hôn. Cô Huệ đồng ý. Gia đình cô tuy nghèo nhưng sợ mang tiếng nên cấm đoán, Bokassa xúi cô (tất nhiên bằng tay vì cô không biết tiếng Pháp) bỏ trốn sang Tân Thuận Đông, gần doanh trại của mình, thuê cho cô một căn nhà nhỏ nền đất, lợp lá. Khi cô Huệ có thai thì cũng là lúc Bokassa và cánh quân Lê dương được lệnh lên tàu về Pháp. Cô Huệ khóc hết nước mắt. Bokassa cũng khóc. Anh ta móc bóp, có bao nhiêu tiền đưa cả cho vợ rồi dặn sau này nếu sinh con gái thì đặt tên là Martine, nếu con trai thì đặt tên là Martin, hễ có điều kiện anh ta sẽ trở lại Việt Nam tìm vợ con. Như vậy Bokassa cũng là người có tình nghĩa.

Bokassa về Pháp xong, ít lâu sau cô Huệ sinh đứa con gái. Do sống với Bokassa không có hôn thú, không thể làm giấy khai sinh cho con theo họ “chồng” nên theo lời dặn của Bokassa, cô đặt tên con là Nguyễn Thị Martine theo họ của mình. Đứa bé sinh ra, không đen giống cha, không trắng giống mẹ (cô Huệ có nước da trắng, có thể gọi là xinh xắn nên Bokassa mới mê như thế) mà có nước da nhờ nhờ trung gian giữa đen và trắng. Cô Huệ hết tiền, lại có con nhỏ, không thuê nổi nhà nên bèn bế con về ở với mẹ. Bà mẹ rất mừng vì dù sao bà cũng rất thương con.
Mười chín năm sau, tức năm 1972, sau khi Bokassa đã lên làm tổng thống, ông chợt nhớ tới người vợ cũ bụng mang dạ chửa ngày trước ở Việt Nam, nên bèn nhờ Bộ Ngoại giao Pháp liên lạc với Bộ Ngoại giao VNCH tìm kiếm giùm. Lúc này, cô gái lai da đen Martine vì nghèo và ít học nên phải làm công nhân khuân vác xi-măng tại Nhà máy Xi-măng Hà Tiên ở gần Thủ Đức. Các nhân viên Ngoại giao Việt Nam không biết tìm kiếm cô ở đâu, bèn bàn nhau đánh lừa, đem một cô gái lai da đen khác cũng 19 tuổi tên là Baxi, nhà ở Xóm Gà Gia định (chỗ gần rạp hát Đông Nhì gần tới chợ Gò Vấp) thay thế, đưa sang Trung Phi giả làm con gái của Bokassa. Tổng thống Bokassa mừng rỡ, tổ chức một cuộc lễ rất lớn để giới thiệu con gái mình với bàn dân thiên hạ. Câu chuyện lừa dối… tầm cỡ quốc tế này rất phức tạp, nhờ có nhà báo Việt Định Phương chủ nhiệm nhật báo Trắng Đen khám phá ra, tìm thấy cô Martine Nguyễn “thật” đang làm công nhân, suốt ngày oằn lưng khuân vác các bao xi-măng giống như đàn ông, nên liên lạc với Tổng thống Bokassa rồi cùng với vợ đích thân đưa cả bà Huệ lẫn cô Martine Nguyễn sang Trung Phi. Tổng thống Bokassa tiếp đón vợ chồng nhà báo Việt Định Phương như bậc thượng khách. Chúng ta sẽ theo dõi câu chuyện này trong phần II nói về cô Martine Nguyễn và xem đời sống của cô hiện nay ra sao. Bây giờ tiếp tục về chuyện vị tổng thống “trung sĩ nhất Lê dương” Bokassa.
Sau một thập niên làm tổng thống cai trị nước Cộng hòa Trung Phi nghèo khổ rồi tự mình lên làm hoàng đế, Bokassa tổ chức lễ lên ngôi rất lớn, lấy danh hiệu là “Hoàng đế Bokassa Đệ nhất”. Tuy nhiên, đa số các quốc gia đồng minh lân cận đều nghèo nên chẳng ai gửi quà mừng. Chỉ có nước Pháp (do đang khai thác các mỏ kim cương tại Trung Phi) tặng 22 triệu frăng để giúp Bokassa mua sắc phục cho hàng ngàn quan khách, một chiếc ngai vàng cao 1,5 mét, rộng 1 mét, làm theo kiểu Napoléon, nạm vàng; 8 con ngựa trắng, một mũ triều thiên nạm kim cương do nhà kim hoàn nổi tiếng bên Pháp là Arthus Bertrana thực hiện với những viên kim cương mà có viên lên tới 8 carats. Ngoài ra, còn có 2 bức chân dung “Hoàng đế Bokassa Đệ nhất” vẽ bởi họa sĩ danh tiếng Đức Hans Linus. Hơn 24.000 chai rượu vang cao cấp Moet et Chandon và 4.000 chai rượu vang siêu hạng Château Mouton Rothschild được mua về phục vụ thực khách, cùng 60 chiếc Mercedes mang từ Tây Đức sang.
Trước sư lạnh nhạt của các nước đồng minh lân cận, Bokassa rất buồn bực trong lòng về số lượng nguyên thủ quốc gia đến tham dự. Khác với lễ đăng quang của Vua Haile Selassie xứ láng giềng Ethiopia hồi năm 1930 với hầu như toàn bộ các vua chúa, tổng thống, bộ trưởng các nước thân hữu đều hiện diện. Còn lễ đăng quang của “Bokassa Đệ nhất” chỉ có tướng Franco, Tây Ban Nha; Hoàng đế Hirohito, Nhật Bản; Vua Shah Reza Pahlavi, lran; Vua ldi Amin xứ Uganda; và Tổng thống Mobutu Sese Seko xứ Zaire tham dự.
Ngay cả “ông bạn thân” Omar Bongo, người đã từng tặng cô gái đẹp Joelle cho Bokassa, cũng vắng mặt. Bokassa cho rằng những người bạn này không đến vì họ ghen tị với ông.
Đau nhất là ông bị Tòa thánh Vatican từ chối không cho làm lễ đăng quang ở nhà thờ chính tòa Bangui.
Sau cuộc đảo chính của “tổng thống cũ” David Dacko lật đổ Bokassa diễn ra vào ngày 20-9-1979, phần lớn các tài sản của Bokassa đều bị tích thâu. Nhiều nước từ chối cho ông tị nạn. Chỉ có tổng thống nước Bờ Biển Ngà là Felix Boigny chịu chứa chấp ông vì áp lực của Pháp. Ít lâu sau, Bokassa sang Pháp.
Năm 1985, Bokassa làm lễ kỷ niệm 20 năm cầm quyền tại lâu đài Handricourt ở phía tây thủ đô Paris, nhưng chỉ có ông và những đứa con.
Không có tiền mua thức ăn nuôi 15 đứa con – mỗi đứa một mẹ – khiến Bokassa than trời như bọng. Có lúc bí quá, ông làm đơn xin chính phủ Pháp tiền trợ cấp thời gian 6 tháng nằm điều trị vết thương tại một quân y viện ở Sài Gòn hồi thập niên 1950. May thay, mấy tháng sau khi nộp đơn, Bokassa được tòa án cao cấp Pháp trả lại chiếc xe hơi Corvette và một máy bay trị giá 6 triệu frăng. Lập tức, Bokassa rao bán để lấy tiền trở về Trung Phi.
Trước khi về, Bokassa viết thư cho Tổng thống Pháp là Francois Mitterand, tự nhận mình là “công dân tự do”, trở về Cộng hòa Trung Phi để phục vụ đất nước nếu được mời hợp tác.
Lúc xuống sân bay Bangui, Bokassa định đọc một bài diễn văn xác định mình vẫn còn là “Hoàng đế Bokassa Đệ nhất” thì bị bắt giữ. Tám tháng sau, tòa án Cộng hòa Trung Phi tuyên án ông bị tử hình. Nhưng do sự can thiệp của chính phủ Pháp, án được giảm xuống còn tù chung thân, rồi 6 năm sau, Pháp can thiệp tiếp, ông được thả.
Bokassa chết ngày 3-11-1996 trong sự nghèo khó và thọ 75 tuổi. Tổng cộng ông có 13 người vợ, 34 người con.
II. Chuyện cô “công chúa” Trung Phi Martine “thật”
Tổng thống Bokassa tìm con
Vào năm 1972, Jean Bedel Bokassa, Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi, nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm giùm đứa con rơi, kết quả của mối tình giữa ông thời đi lính Lê dương tham chiến tại Việt Nam với một cô gái ở Sài Gòn, mà bây giờ 19 năm đã trôi qua, vốn không biết tiếng Việt, ông không còn nhớ nhà cha mẹ cô ở đâu.
Những nhân viên có trách nhiệm thuộc Bộ Ngoại giao VNCH lúc ấy tìm kiếm không thấy mà cũng không có căn cứ gì để tìm kiếm. Cuối cùng, bí quá, họ bảo nhau đánh lừa, kiếm được một cô gái cũng lai da đen và cũng cùng 19 tuổi tên Baxi, con của bà Nguyễn Thị Thân, thường gọi la bà Ba Thân ở Xóm Gà, Gia Định, giao cho Bộ Ngoại giao Pháp đưa sang Trung Phi. Nhưng vì sợ lộ, họ không dám cho bà Ba Thân đi theo. Tổng thống Bokassa tổ chức một tiệc mừng rất lớn để đón tiếp giọt máu rơi.
Tin tức về việc Tổng thống Bokassa tìm được đứa con rơi được báo chí Sài Gòn đưa tin trang trọng. Ngay lập tức, có một người khách tới tòa soạn báo Trắng Đen xin gặp ông chủ nhiệm Việt Định Phương. Người khách tự giới thiệu mình là cậu ruột của cô gái lai da đen tên Nguyễn Thị Martine – đứa con đích thực của vị tổng thống Trung Phi. Bằng sự nhạy bén trong nghề làm báo, ông chủ nhiệm Việt Định Phương phân công một dàn phóng viên hùng hậu vào cuộc. Câu chuyện tình yêu của anh lính lê dương Bokassa và cô thôn nữ Nguyễn Thị Huệ được các phóng viên thể hiện thành bài điều tra nhiều kỳ liên tiếp trên báo. Số lượng phát hành của tờ Trắng Đen tăng lên vùn vụt tới 80.000 số/ngày, trở thành tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất Sài Gòn.
Chuyện tình anh lính lê dương
Jean Bedel Bokassa đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, lúc nước Trung Phi còn là thuộc địa của Pháp. Bokassa trong đội quân lê dương có mặt tại nhiều quốc gia trước khi đến Việt Nam vào năm 1953, lúc ấy ông 32 tuổi, mang lon trung sĩ nhất và đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn (quận 8 bây giờ). Có thời gian Bokassa được tăng cường về Biên Hòa làm nhiệm vụ gác cầu ở Cù Lao Phố (cầu Gành). Hồi đó, những làng mạc xa xôi hẻo lánh, người dân rất sợ các toán quân “Tây đen”, phụ nữ không may gặp họ trên đường họ hành quân là coi như hết thời.
Nhưng ngay giữa thành phố hay những nơi thị tứ đông đúc thì dân chúng không sợ đám lính đánh thuê này. Những ông lính “Tây đen” có nhiệm vụ canh gác cầu Gành tại Cù lao Phố không dám giở thói côn đồ mà ngược lại, lại có vẻ hiền từ. Bokassa là người hiền nhất trong đám lính gác cầu. Hồi đó, ở gần cầu Gành có một cái máy nước công cộng để dân chúng trong vùng đến hứng, gánh về dùng. Trong xóm gần cầu có cô gái nghèo tên là Nguyễn Thị Huệ, chuyên gánh nước mướn cho các gia đình, hết sức cực nhọc mặc dầu cô rất xinh xắn.
Sau giờ gác cầu, Bokassa thường la cà đến bên chiếc phông-tên nước công cộng đó để tán gái theo bản năng đàn ông. Các phụ nữ khác thấy Bokassa tới thì trốn biệt không dám đến gần. Lúc đầu, cô Huệ cũng trốn, nhưng sau đó vì chén cơm manh áo, cô đành liều, cứ đến gánh nước. Anh lính lê dương không làm gì cả, đã vậy lại còn giúp cô hứng nước và tập tành nói tiếng Việt nghe rất tức cười.
Dần dà, những cử chỉ ngô nghê, vụng về của anh lính da đen làm cho cô Huệ thấy có cảm tình. Rồi cô dạy cho Bokassa nói tiếng Việt. Cô không còn cảm thấy ngại ngùng mỗi khi đối diện với anh lính Phi châu này nữa, mà những lúc nghỉ ngơi cô còn có ý muốn gặp anh. Lương của lính Pháp tương đối rất khá, Bokassa cũng biết cách lấy lòng phụ nữ, lúc thì anh mua tặng cô xấp vải, chiếc khăn, lúc thì chai dầu thơm, có khi anh còn cho cô cả tiền nữa, những số tiền này cô phải gánh nước oằn lưng cả tuần mới có thể có được. Hai bên dần dần yêu nhau, những ngày cuối tuần Bokassa rủ cô Huệ về Sài Gòn chơi…
Kết quả của mối tình Phi-Việt đó là cô Huệ mang thai. Ngày ấy con gái chửa hoang là một điều hết sức nhục nhã, nhất là lại có chửa với một gã lính da đen. Cha cô không chịu nổi lời đàm tiếu, đánh cô một trận rồi bỏ nhà ra đi. Mẹ cô nước mắt lưng tròng, phần thì thương con, phần cũng giận con. Bà nói: “Đấy, mày muốn tính sao thì tính, đi đâu thì đi, đừng làm cho tao thêm nhục…”.
Bokassa đưa người tình về Tân Thuận Đông, quận Nhà Bè, nơi đơn vị anh đóng quân gần cầu Tân Thuận. Anh thuê nhà cho người yêu ở. Hai người sống với nhau như vợ chồng.
Tình nghĩa đang mặn nồng thì đơn vị của Bokassa được lệnh về Pháp. Anh trao tất cả số tiền dành dụm được cho vợ và dặn ít nữa nếu sinh con trai thì đặt tên là Martin, nếu sinh con gái thì đặt tên là Martine, sau này nếu có dịp anh sẽ sang Việt Nam tìm hai mẹ con. Cô Huệ khóc hết nước mắt…
Cô “công chúa” bốc vác
Sau cuộc chia tay, Huệ sống lủi thủi một mình trong căn nhà thuê. Rồi cô sinh đứa con gái và đặt tên là Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ, vì không có giấy hôn thú nên không thể khai sinh theo họ cha. Số tiền Bokassa để lại cũng không còn được bao nhiêu. Hết tiền, lại có con nhỏ, đời sống hết sức túng quẫn, cô quyết định bế con về sống với mẹ ở Cù lao Phố như cũ. Bà mẹ rất mừng vì bà vẫn thương con. Lúc này người cha cũng đã trở về từ lâu. Ông đã già, không còn khó tánh như trước nhưng nhà quá nghèo nên không lấy gì giúp đỡ cho con được…
Thời gian này hoàn cảnh hai mẹ con cô Huệ hết sức bi đát. Cô phải thức khuya dậy sớm, làm đủ mọi việc để có tiền nuôi con. Nơi ăn ở cho bé Martine hoàn toàn không ổn định. Cô đi làm ở đâu thì đem con đi theo, khi về Gia Định, lúc xuống Thủ Đức. Có lần cô phải bồng Martine xuống Sa Đéc ở nhờ nhà người bà con để làm ruộng. Cuối cùng cô về chợ Nhỏ, Thủ Đức, sinh sống bằng nghề buôn bán rau cỏ lặt vặt.
Martine lớn lên. Mặc cảm về vấn đề “con lai”, nước da nhờ nhờ, cặp môi dầy, mái tóc xoăn tít… khác với mọi đứa trẻ khác khiến cô bé trở thành ít nói, không dám cởi mở với ai. Cô làm đủ thứ việc để phụ giúp mẹ – từ bán báo, bán đậu phọng rang đến bán bánh mì, trà đá v.v…, dù vất vả thế nào cô cũng cố gắng chịu đựng. Nói chung, Martine là một đứa trẻ ngoan ngoãn.
Năm 1971, Martine 18 tuổi, cô xin vào làm công nhân khuân vác xi-măng trong Nhà máy xi-măng Hà Tiên ở gần Thủ Đức. Ngay đến đàn ông suốt ngày còng lưng vác bao xi-măng nặng 50 ký còn thấy nặng nhọc huống chi một cô gái mới 18 tuổi. Cuối năm 1972, một hôm, trong khi đang vác bao xi-măng, Martine thấy người cậu ruột đến tìm và ông nói: “Cháu xin phép về ngay có công chuyện. Có mấy ông nhà báo muốn gặp để hỏi gì đó. Mấy ổng định can thiệp cho cháu được gặp cha cháu…”.
III. Tổng thống Bokassa nhận con
Hồ sơ, hình ảnh của bà Huệ và Martine được Bokassa công
nhận rằng chính ông và bà Huệ là người trong hình. Thế là hai công điện được gửi cho chính phủ VNCH (dưới quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) và báo Trắng Đen. Đại diện của tổng thống Trung Phi tới Sài Gòn để xúc tiến việc đưa Martine sang đất nước của cha. Chính quyền và Bộ Ngoai giao VNCH bị “hóc xương” vì chuyện đã lừa dối, đưa cô “con lai” khác sang. Nhật báo Trắng Đen thành công vang dội.
Phái đoàn đưa Martine qua Trung Phi
Một đại diện cao cấp khác của Cộng hòa Trung Phi sang Việt Nam hướng dẫn phái đoàn đưa Martine qua gặp cha. Phái đoàn gồm 5 người: Vợ chồng ông bà Việt Định Phương chủ nhiệm báo Trắng Đen, bà Nguyễn Thị Huệ, cô Martine, và một tùy viên sứ quán Pháp vừa đại diện cho Bộ Ngoại giao Pháp vừa làm thông dịch viên.
Tổng thống Trung Phi tiếp phái đoàn báo Trắng Đen như thượng khách. Ông rất vui mừng đón nhận Martine và bà Huệ. Martine ở lại làm công chúa. Bà Huệ trở về Việt Nam vì bà đã có chồng khác. Riêng cô Baxi thì được ông nhận làm con nuôi.
Sau khi về nước, bà Huệ được Tổng thống Bokassa trợ cấp mỗi tháng 200,000$, lãnh tại Pháp Á ngân hàng Sài Gòn. Số tiền nầy tương đương với khoảng 5 lượng vàng vào thời đó.
Mở hội kén rể và tổ chức đám cưới tập thể
Năm sau, 1973, Tổng thống Bokassa công bố mở hội kén rể, chọn chồng cho con gái ruột là Martine và con gái nuôi là Baxi. Buổi lễ được tổ chức long trọng tại dinh thự quốc gia, với sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan chính phủ. Hàng trăm thanh niên Trung Phi ghi tên tham dự.
Kết quả, hai thanh niên được chọn là bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode làm chồng Martine, đại úy Fidel Obrou làm chồng Baxi. Sau đó, một đám cưới được tổ chức linh đình cũng tại dinh thự quốc gia.

Martine Bokassa sanh được 3 con: con trai tên Jean-Barthélémy Bokassa Dévéavode (thường được gọi tắt là JBB), hai con gái tên Marie Catherine Bokassa Dévéavode và Marie-Jeanne Bokassa Dévéavode.
Baxi cũng sanh được một con trai nhưng bị chính bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode chích thuốc độc chết sau khi ra đời mới hai tuần lễ.
IV. Số phận của hai “công chúa” Trung Phi
Số phận của Baxi
Người biết rõ Baxi không phải là con của Bokassa chính là bà Ba Thân ở Xóm Gà Gia Định, vì bà không có liên quan gì với Bokassa. Baxi chỉ là con mồi được các nhân viên Bộ Ngoại giao lúc đó đưa ra để gỡ thế bí. Tuy nhiên, từ một đứa con lai thuộc một gia đình nghèo khó, cô được Tổng thống Bokassa nhận làm con nuôi rồi cũng trở thành một công chúa, sống trong cảnh giàu sang được một thời gian sau đó số phận hết sức bi đát.
Năm 1976, chồng của Baxi là đại úy Fidel Obrou, chỉ huy trưởng đội quân bảo vệ hoàng cung nhưng lại âm mưu lật đổ Bokassa và bị Bokassa xử tử.
Ngày chồng chết cũng là ngày Baxi sanh một đứa con trai, nhưng hai tuần sau, đứa bé bị bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode chồng của Martine Bokassa giết chết theo lệnh của Bokassa, bằng cách chích một mũi thuốc độc.
Đúng một năm sau ngày chồng bị xử tử, Baxi được Bokassa cho phép trở về Việt Nam, nhưng vì có tiền mang theo nên cô bị hai thuộc hạ của Bokassa giết chết để cướp của và giấu thi thể ở một nơi nào đó trên đường ra phi trường. Cô hưởng vinh hoa phú quý được khoảng 7 năm.

Số phận của Martine Bokassa

Ngày 21-9-1979, Pháp giật dây cho David Dakco tổ chức lật đổ “Hoàng Đế Bokassa Đệ nhất” và buộc ông phải sống lưu vong tại Côte d’Ivoire (Ivory Coast theo tiếng Anh). Chồng của Martine tức bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode bị David Dakco ra lệnh xử tử về tội đã “theo đuôi” Bokassa, giết chết con của “người anh hùng” chống Bokassa là đại úy Fidel Obrou, chồng của Baxi, và thuộc gia đình có nhiều tội ác. Martine và 3 đứa con trốn thoát qua Pháp, sống trong lâu đài của họ là Hardricourt. Bà Huệ mẹ của Martine ở bên Việt Nam sau này được Martine bảo lãnh sang Pháp sống với con và các cháu.
Martine thấy cái họ Dévéavode của chồng “xui xẻo” quá nên xin đổi tên mới là Martine Kota. Hiện nay cô làm chủ hai nhà hàng rất lớn, một ở Paris và một ở đảo Corse (do người con gái lớn đã lấy chồng ở đấy trông coi).
Con trai của Martine tên là Jean-Barthélémy Dévéavode, sinh ngày 30-8-1974 tại Bangui, hiện đang sống tại Pháp. Anh ta biết nói tiếng Việt và viết cuốn sách tiếng Anh có tựa đề là The Diamonds of Treasons (Những viên kim cương của sự phản bội) kể về những tính nết tốt của ông ngoại nhưng bị nước Pháp phản bội.

Đoàn Dự ghi chép

(E-Mail)
Biên khảo 
Tướng 5 sao
 
 Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32897


Hạ sĩ Bokassa 1939 trước khi sang Việt Nam tham chiến


Hoàng đế Bokassa


Bà Nguyễn Thị Huệ thời son trẻ


Công chúa lọ lem Martine Bokassa


Martine và con trai đầu lòng


Đám cưới trọng thể của cả hai công chúa Baxi và Martine được diễn ra cùng ngày


Baxi trong ngày cưới


Cháu ngoại Jean Barthélémy Dévéavode cầm hình bà ngoại Nguyễn Thị Huệ (mẹ Martine) và ông ngoại vua Bokassa trên tay


Tấm hình hiếm hoi của Jean Barthélémy chở bà ngoại Nguyễn Thị Huệ đi phố


Công chúa Marie- Jeanne Bokassa Dévéavode, con gái út của Martine
Reply With Quote