Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

Lịch sử Hướng Đạo Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Trường Trung Học Võ Khoa Thủ Đức

1

  Trúc Giang MN

Lịch sử Hướng Đạo Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Trường Trung Học Võ Khoa Thủ Đức

1* Mở bài





  

 

Trung úy Lâm Văn Khanh và Thiếu tá Nguyễn Tuyên Thùy trước thiếu nhi Quân đội
Trường Bộ Binh Thủ Đức được Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị chọn làm đơn vị thí điểm để thực hiện kế hoạch đoàn ngũ hóa thiếu nhi quân đội, do sáng kiến của Trung Tướng Trần Văn Trung. Đó là nhờ Trường Bộ Binh có hai thuận lợi mà các đơn vị quân đội khác không có.
Thuận lợi thứ  nhất là có số huynh trưởng hướng đạo rất dồi dào. Kế đến là số thiếu nhi quân đội đã được tập hợp rất có tổ chức tại Trường Trung Tiểu Học Võ Khoa Thủ Đức, nằm trong khuôn viên của Trường Bộ Binh, KBC 4100.
Trường Trung Tiểu Học Võ Khoa Thủ Đức (VKTĐ) là cơ sở để thực hiện kế hoạch đoàn ngũ hóa thiếu nhi quân đội. Đội ngũ giáo chức cũng tích cực tham gia vào việc tổ chức, huấn luyện và sinh hoạt hướng đạo của các em học sinh.
Số huynh trưởng hướng đạo là lực lượng hùng hậu nhất gồm quân nhân của hai trường Bộ Binh và Thiết Giáp. 4 sĩ quan, 6 quân nhân là huynh trưởng của Hội Hướng Đạo Việt Nam trước khi họ nhập ngũ, và sau khi tốt nghiệp khóa sĩ quan, họ ở lại Trường Bộ Binh.
Bộ Chỉ huy hai trường Bộ Binh và Thiết Giáp, cụ thể là hai Khối Chiến Tranh Chánh Trị cũng quan tâm đến tổ chức hướng đạo nầy.
Một thành phần huynh trưởng “tạm thời” là những tân khóa sinh và sinh viên sĩ quan đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh Thủ Đức.
Tóm lại, hướng đạo quân đội Trường Bộ Binh gắn bó chặt chẽ với Trường Trung Tiểu Học Võ Khoa Thủ Đức đưa đến một đơn vị hướng đạo xuất sắc.
2* Lễ trình diện Hướng Đạo Quân Đội lên Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa
Ngày 16-6-1969, tại đồi 18 là bãi tập chiến thuật trong khu vực huấn luyện của TBB, một cuộc cắm trại được tổ chức chu đáo, long trọng để trình diện Hướng Đạo Quân Đội lên Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu.
Tham dự cắm trại gồm có hướng đạo của 3 đơn vị là Trường Bộ Binh, Cục Quân Cụ và Hải Quân, đại diện cho Hướng Đạo Quân Đội toàn quốc. Cuộc cắm trại hoàn tất một ngày trước lễ trình diện, các trại sinh ngủ qua đêm tại trại.
Trong dịp nầy, Tổng Thống tuyến bố danh xưng chính thức “Hướng Đạo Quân Đội” của kế hoạch đoàn ngũ hoá Thiếu Nhi Quân Đội, do Trung tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục trưởng Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị đã có sáng kiến thành lập.
Tháp tùng Tổng thống có các viên chức chính phủ, Trung Tướng Trần Văn Trung và các quan khách.
Trong dịp nầy, Tổng thống trao cờ huy hiệu hướng đạo chính thức cho trung úy Lâm Văn Khanh, hướng đạo QĐ/TBB và hai huynh trưởng hướng đạo của Quân Cụ và Hải Quân.















Trung Tướng Trần văn Trung (phải) & Đại tá Nguyễn Huy Hùng* Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Sau lễ trình diện ngày 16-6-1969, Hội Hướng Đạo Quân Đội được Bộ Giáo Dục và Thanh Niên cấp giấy chính thức hoạt động như các đoàn thể thanh niên khác.
Hội trưởng: Trung tướng Trần Văn Trung
Phó Hội trưởng: Đại tá Nguyễn Huy Hùng
Tổng Ủy viên: Đại úy Nguyễn Văn Liễu (Họa sĩ Trịnh Cung)
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được mời làm Hội Trưởng Danh Dự.
  1. Tổ chức trại ra mắt Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị
Để chuẩn bị lễ trình diện hướng đạo quân đội lên Tổng Thống VNCH, Tổng Cục CTCT đề nghị TBB tổ chức trại để tổng kết thành quả của chương đoàn ngũ hóa thiếu nhi quân đội.
Trại đặt tại Trường Trung Tiểu Học Võ Khoa Thủ Đức dưới sự chủ tọa của Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ.
Thành phần tham dự gồm có: Đại Tá Đô đại diện Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, Đại tá Tín chỉ huy trưởng Trường Thiết Giáp, đại diện Tổng Cục CTCT, và các sĩ quan trưởng khối, phòng của TBB.
Phóng viên đài truyền hình và đài phát thanh quân đội cũng được mời đến làm phóng sự. Đài phát thanh quân đội có cuộc phỏng vấn trung úy Khanh.
Phóng sự được phát hình ngay chiều hôm đó.
4* Trường Bộ Binh được chọn làm thí điểm thực hiện Hướng Đạo Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.  
Huy hiệu hướng đạo Quân Ðội VNCH  *          Trường Bộ Binh
               Robert Stephenson Smyth Baden-Powell (Ông tổ hướng đạo)
Khoảng năm 1967, Trung tướng Trần Văn Trung cho gọi Trung úy Lâm Văn Khanh, hiệu trưởng trường trung tiểu học Võ Khoa Thủ Đức, xuống TC/CTCT, trung tướng  cho biết Tổng Cục có ý định muốn chọn Trường BB làm thí điểm thực hiện kế hoạch Đoàn Ngũ Hoá Thiếu Nhi QĐ. Hiệu trưởng trình bày những thuận lợi và khó khăn để tìm cách giải quyết. Thuận lợi là con em quân nhân đã được đoàn ngũ hóa tại các lớp của trường trung học. Khó khăn căn bản là thiếu huynh trưởng hướng đạo. Quân nhân cơ hữu của Trường Bộ Binh có thể có nhiều người đã từng sinh hoạt trong Hội Hướng Đạo Việt Nam, nhưng thành phần nầy khó xử dụng vì các trưởng phòng, trưởng khối không muốn bị mất người.
Một sáng kiến được nêu lên là tạm xử dụng thành phần sinh viên sĩ quan các khóa đang thụ huấn tại TBB. Nói là sáng kiến thì không đúng, vì trường trung tiểu học đã từng nhờ những SVSQ gốc kỹ sư, kiến trúc sư đến trường để vẽ bản đồ xây cất trường trung học. Nhờ những họa sĩ và người có khả năng kẻ chữ thực hiện bản tên các lớp học, tên các lớp học, vẽ những khẩu hiệu trên tường. Sinh viên sĩ quan là một kho nhân tài thuộc mọi ngành nghề trong xã hội.
Thế là thí điểm có thể thực hiện được và Khối Chiến Tranh Chánh Trị và Phòng Xã Hội Trường Bộ Binh sẽ được thông báo sau.
5* Hướng đạo Quân Đội Trường Bộ Binh là đơn vị xuất sắc.
Hướng Đạo Quân Đội Trường Bộ Binh là đơn vị xuất sắc vì có nhiều thuận lợi nên sau một thời gian ngắn đã kiện toàn tổ chức và nội dung sinh hoạt theo chuẩn của Hội Hướng Đạo Việt Nam.
Hai thuận lợi căn bản là có được số huynh trưởng dồi dào và số hướng đạo sinh đã được đoàn ngũ hóa tại các lớp trung học.
5.1. Thành phần HĐQĐ của Trường Bộ Binh
Hiệu trưởng Lâm Văn Khanh (Trung úy) : Chỉ huy, điều hành tổng quát
Trưởng Võ Văn Hoá (Trung úy): Bằng Rừng ngành Thiếu
Trưởng Phạm Quang Lộc (Thiếu úy): 4 bằng Rừng Ấu, Thiếu, Kha, Tráng
Trưởng Châu Thị Minh (Giáo viên): Bằng Rừng ngành Ấu
Trưởng Hồ Nhị Hoà (Thiết Giáp): Chuyên trách sinh hoạt, văn nghệ
Trưởng Lê Thành Bé: Bằng Rừng ngành Thiếu, bằng Bạch Mã
Trưởng Ngô Văn Tỏ: Ngành Thiếu.
Ngoài ra, còn một số Trưởng “giai đoạn”, là những SVSQ đang thụ huấn, và các giáo chức đứng lớp, sẽ tham gia khi có tổ chức lớn.
Năm 1970, Trung úy Lâm Văn Khanh biệt phái về Bộ Giáo Dục. Đã về trình diện trường cũ là Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, nhưng liền sau đó có công điện khẩn của Bộ Giáo Dục chỉ thị cho trung úy Khanh trở về trường Bộ Binh làm nhiệm vụ cũ.
5.2. Có nhiều huynh trưởng hướng đạo
Nhiều đơn vị QĐ không có những thuận lợi như TBB, cho nên không thể tổ chức thành một đơn vị quy mô được.
Trường Bộ Binh được ưu tiên chọn những chuẩn úy gốc hướng đạo ở lại trường trước khi chọn đơn vị.  Người đầu tiên được chọn là SVSQ Võ Văn Hoá. Sau khi đề nghị và được anh Võ Văn Hóa chấp thuận, TBB gởi Bưu Điệp về Bộ TTM/QLVNCH xin xho đương sự ở lại TBB công tác hướng đạo. Sau đó, SVSQ Phạm Quang Lộc, một huynh trưởng lỗi lạc, có 4 bằng Rừng và là Trưởng Huấn Luyện của Hội HĐ/VN.
Một thuận lợi khác là tại Khối CTCT/TBB đã có hai huynh trưởng hướng đạo “gạo cội” là Thiếu tá Nguyễn Tuyên Thùy, trưởng phòng Tâm Lý Chiến, và Trung úy Nguyễn Văn Liễu, họa sĩ Trịnh Cung, thuộc phòng TLC.
TBB có một số lượng lớn về huynh trưởng hướng đạo là những Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) đang thụ huấn trong các khoá, tạm xử dụng trong bước đầu.
Khối CTCT và phòng Tổng Quản Trị TBB gởi Bưu điệp xuống Liên Đoàn Sinh Viên/TBB, yêu cầu các tiểu đoàn, các đại đội lập danh sách những huynh trưởng của Hội HĐVN, các ca nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc…
Hiệu trưởng Trung Tiểu học Võ Khoa Thủ Đức phối hợp với các đại đội, để sắp xếp những SVSQ gốc hướng đạo, không đi phép hoặc còn trong thời gian 2 tháng huấn nhục, ra trường học, lập kế hoạch tổ chức, huấn luyện và sinh hoạt với học sinh. Trường BB lúc nào cũng có 2 khoá thường trực, cho nên số SVSQ gốc hướng đạo có khá nhiều.
Những SVSQ ra công tác hướng đạo được xin cho đi phép đặc biệt. Hướng dẫn sinh hoạt hướng đạo thích thú hơn vì được trổ tài “nghề cũ” với học sinh, và hơn là phải đi bãi học chiến thuật.
5.3. Thuận lợi về việc tập hợp hướng đạo sinh
Tất cả học sinh trung học đuợc khuyến khích phải tham gia sinh hoạt hướng đạo. Các em sinh hoạt tại trường và lớp học với những SVSQ huynh trưởng và giáo chức là thầy cô của mình. Học sinh rất phấn khởi, mặc đồng phục hướng đạo, tham dự những sinh hoạt mới mẻ. Linh mục tuyên úy than phiền một số con em công giáo vắng mặt dự lễ nhà thờ…
Ông tổng giám thị Nguyễn Văn Đặng đi điểm danh, cho điểm về sinh hoạt học đường, kỷ luật và hạnh kiểm. Hiệu trường thường xuyên có mặt, khen ngợi, khuyến khích, động viên…cho nên khi cần, có thể tập hợp ngay hàng trăm học sinh một cách dễ dàng.
Ở các đơn vị QĐ khác, việc tập hợp con em quân nhân đến họp mặt vào ngày chủ nhật có nhiều khó khăn. Thông thường, Khối CTCT ra một văn thư tổng quát yêu cầu quân nhân các cấp tham gia, cho phép con em đến sinh hoạt ngày chủ nhật. Các em lấy cớ phải học bài thi, bận việc nhà, hơn nữa, một vài trường hợp phụ huynh không an lòng cho con em đến họp mặt tại một căn phòng của đơn vị, với sự hướng dẫn của một vài quân nhân vừa mới bổ nhiệm làm công tác hướng đạo, hoàn toàn xa lạ. Đó là những khó khăn mà các đơn vị trình bày trong các buổi họp rút kinh nghiệm và báo cáo diễn tiến của công tác đoàn ngũ hoá thiếu nhi quân đội.
Hướng đạo QĐ sinh hoạt dựa trên căn bản của Hội Hướng Đạo VN. Những lớp huấn luyện của HĐ/QĐ/TBB được tổ chức liên tục, đào tạo thành phần học sinh nồng cốt, để chỉ huy các đội. Học chuyên môn về hướng đạo, như dựng lều trại, làm bích báo, học nút dây, học 10 điều tuyên hứa HĐ, lửa trại, tập dợt văn nghệ, dựng cổng trại…
Nhà nào cũng có ba lô, poncho, lều vải…Lấy lớp học làm đơn vị, cho nên trong một thời gian ngắn đã ổn dịnh được tổ chức. Tổng số hướng đạo sinh lên đến vài trăm, và khi cần, có thể trình diện tất cả học sinh các lớp, lên đến trên 500 em,  mặc đồng phục hướng đạo, khăn quàng và đầy đủ cờ các loại, lớn nhỏ của mỗi lớp.
6* Tiền thân của Hướng Đạo Quân Đội Trường Bộ Binh
Khoảng năm 1966, chuẩn tướng Trần Văn Trung Chỉ Huy Trường trường Bộ Binh cho gọi Hiệu trưởng Lâm Văn Khanh vào, chỉ thị lập một kế hoạch tập trung sinh hoạt một số khoảng 20 con em quân nhân không đi học, vì gia đình thuyên chuyển thường xuyên, làm lỡ dở việc học hành của các em. Một số trong các em nầy quậy phá kho hàng của cố vấn Mỹ, do quân cảnh 301 và phòng ANQĐ báo cáo.
Một chương trình cụ thể được đệ trình và chấp thuận cho thực hiện. Thế là một phòng của nhà trường dành cho các em không phải là học sinh họp mặt. Một quân nhân gốc hướng đạo là anh Lê Chí Thiện được cử ra trường học, phụ tá hiệu trưởng để sinh hoạt với các em, chủ yếu là tổ chức du lịch Vủng Tàu, đi thăm viếng các nơi và thành lập một đội banh, liên lạc các nơi đá giao hữu. Thời gian tập dợt cũng chiếm hết thì giờ.
Kế hoạch thành công. Chuẩn tướng Trung hài lòng và không còn việc quậy phá nữa.
Sau khi Tướng Trung đổi về Tổng Cục CTCT, thì anh Lê Chí Thiện cũng biệt phái về làm trưởng ty thanh niên tỉnh Long An. Cái khung tổ chức vẫn còn, nhưng hoạt động yếu và các em tự điều khiển với nhau. Nhóm nầy là tiền thân của Hướng Đạo QĐ, cũng do Tướng Trần Văn Trung thành lập, khi làm chỉ huy trưởng trường BB.
7* Trường Trung Tiểu học Võ Khoa Thủ Đức

7.1. Trường Trung Tiểu Học Võ Khoa Thủ Đức
Hướng đạo quân đội không thể tách ra khỏi trường trung tiểu học được.
Trường Trung Tiểu học Võ Khoa Thủ Đức đóng góp vào việc chăm sóc và giáo dục con em quân nhân các trường Bộ Binh, Trường Thiết Giáp, Trường Vũ Thuật và Thể Dục Quân Sự, Đại đội 831 Quân cụ và dân chúng trong khu vực TBB.
Trường Trung tiểu học Võ Khoa Thủ Đức có 30 lớp tiểu học và 14 lớp trung học, từ mẫu giáo đến lớp 12, với tổng số học sinh trên 2,000.
Nhà trường và gia đình hợp tác chặt chẽ trong việc chăm sóc, giáo dục con em quân nhân. Một Hội Phụ huynh học sinh do Đại tá Trần Văn Cường, Chỉ huy phó TBB làm Hội trưởng. Sau đó, Trung tá Đỗ Nguyên Tụ, Trưởng Khối Quân Huấn TBB, giữ chức vụ Hội trưởng.
Tổng giám thị Nguyễn Văn Đặng, một tay quần vợt (Tennis) chuyên dợt banh cho các chỉ huy trưởng Lâm Quang Thơ và Phạm Quốc Thuần, cho nên có những khó khăn, “nhạy cảm” đã vượt hệ thống quân giai, mà đi đường tắt, từ trên xuống dưới.
7.2. Trường Tiểu học Quân Đội
Trường Tiểu học QĐ Võ Khoa Thủ Đức được thành lập năm 1963, dưới thời Đại tá Lam Sơn làm Chỉ huy trưởng. SVSQ khoá 13 góp tiền xây dựng trường tiểu học để lưu niệm sau khi mãn khoá. Trường tiểu học thuộc hệ thống Văn hoá QĐ do Cục Xã Hội quản lý. Giáo viên do Cục Xã Hội tuyển dụng dưới hình thức nhân viên dân chính Bộ Quốc phòng, lương bổng do ngân sách QP đài thọ. Trường tiểu học có 30 lớp, từ mẫu giáo đến lớp năm bậc tiểu học. Tổng số học sinh trên 1,500, học buổi sang và buổi chiều.
Trước năm 1966, học sinh lớp năm phải qua kỳ thi tuyển vào trường Trung học Thủ Đức thuộc khu vực thị trấn quân Thủ Đức. Vì Trung học công lập Thủ Đức có số lớp hạn chế, cho nên đa số học sinh thi rớt vào lớp đệ thất (Lớp sáu) phải học tư thục hoặc bán công.
Trường BB có một xe GMC “cải tiến”, có những hàng ghế cho học sinh ngồi, có cầu thang bước lên xe, mỗi ngày 4 chuyến chạy ra, chạy về để chở một số ít học sinh ở trường công lập Thủ Đức. Đa số học sinh khác thì đi xe lam, vừa tốn tiền vừa nguy hiểm vì phải băng qua ngã tư xa lộ Thủ Đức không có đèn điều khiển giao thông. Tai nạn xảy ra khá nhiều.
7.2. Lập trường trung học Võ Khoa Thủ Đức
Phát phần thưởng học sinh lớp 12 Trung học Võ Khoa Thủ Đức
Phát phần thưởng học sinh lớp 12 Trung học Võ Khoa Thủ Đức
Trước đó, chưa có ai nghĩ đến việc phải tìm cách lập cho được một trường trung học trong khuôn viên trường BB cả. Năm 1966, tôi được cử ra làm hiệu trưởng tiểu học. Ở cấp bậc chuẩn úy không có nhiều quen lớn, nhưng vẫn nuôi ý định đó.
Một sự tình cờ.
Tôi gốc giáo chức. Được biết ông Nguyễn Thanh Liêm, hiệu trưởng Pétrus Ký vừa mới vào thụ huấn trong TBB. Tôi chưa quen biết ông. Nhưng tôi làm tờ trình xin phép cho ông đi công tác mấy ngày, với lý do là xuống Bộ Giáo dục xin sách giáo khoa. Tôi chở ông về tận nhà trong trường Petrus Ký để nghỉ phép. Sau đó, không còn liên lạc gì nữa. Đến khi ông được cử làm Thứ trưởng Giáo Dục, phụ trách Trung Tiểu học, thì tôi tìm đến nhờ giúp đở. Cũng may, lúc đó, một quy chế mới vừa được ký, chưa phổ biến rộng rải. Thế là trường BB được thành lập một trường trung học công lập theo quy chế “trường Tỉnh hạt”. là địa phương tự lo xây cất phòng ốc, trang bị bàn ghế và các dụng cụ cần thiết, Bộ Giáo Dục chỉ cử giáo sư đến dạy mà thôi.
Năm học đầu tiên 1966-1967, với 2 lớp đệ thất (Lớp 6) được khai giảng để thu nhận tất cả học sinh tiểu học.
Phụ huynh rất tán thành.
Trường trung tiểu học tổ chức chu đáo, nề nếp, kỹ luật cho nên con em quân nhân ở những đơn vị khác, nhưng có nhà trong khu vực Chợ Nhỏ, Cư Xá Kiến Thiết ở ngã tư xa lộ xin vào học, một phần cũng vì sẽ đương nhiên vào trung học công lập. Theo quy chế các trường công lập, một kỳ thi tuyển vào lớp đệ thất được tổ chức, nhưng tất cả học sinh đều được thu nhận.
Bộ Chi Huy TBB cũng thường hướng dẫn những phái đoàn đến viếng trường Võ Khoa Thủ Đức, xem như một công tác phục vụ gia đình quân nhân. Phái đoàng do Trung tướng Thái Lan viếng thăm, phái đoàn cố vấn Mỹ, các nhóm VC hồi chánh và tù binh VC thăm trường để thấy chế độ VNCH chăm sóc đời sống quân nhân như thế nào.
Một lần, nhân dịp phái đoàn Bộ Giáo Dục, do Tổng trưởng Ngô Khắc Tĩnh hướng dẫn, với giáo sư Đỗ Bá Khê, Viện trưởng Đại học Sài Gòn, các Tổng giám đốc và Giám đốc các ngành của bộ GD, đến nói chuyện với các giáo chức đang thụ huấn trong trường BB, là Bộ sẽ can thiệp cho giáo chức biệt phái về các trường cũ sau khi mãn khoá học. Trung tướng Phạm Quốc Thuần hướng dẫn phái đoàn ra viếng trường Trung Tiểu học Võ Khoa Thủ Đức.
Sau khi nghe hiệu trưởng thuyết trình về công tác giáo dục con em quân nhân, sinh hoạt hướng đạo QĐ, ông Tổng trưởng ghé về phía sau nói nhỏ với Tùy viên là Anh Trừ gì gì đó.
Sau đó mới biết là đề nghị thưởng huy chương Văn Hoá Giáo Dục Bội Tinh đệ nhị hạng cho hiệu trưởng và tổng giám thị Nguyễn Văn Đặng.
Một kỷ niệm lý thú.
Hiệu trưởng Lâm Văn Khanh đến Bộ Giáo Dục đề nghị Văn Hoá Giáo Dục Bội Tinh cho Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng. Giám đốc Nha Nhân Viên cho biết, theo thủ tục, phải lập bảng đề nghị nêu rõ thành tích. Đương nhiên là phải có thành tích cụ thể để Tổng trưởng Giáo Dục Ngô Khắc Tĩnh chấp nhận và chuyển sang cho Thủ tướng Ký.
Nhưng ai ký tên đây? Người liên hệ có thẩm quyền, chỉ có hiệu trưởng. Thế là trung úy Lâm Văn Khanh lập và ký tên đề nghị Văn hoá GD Bội tinh cho Trung tướng Thuần. Văn bằng được Bộ Giáo Dục trình qua cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm ký tên.
Một chuyện vui vui.
Một bà phụ huynh đến nói với hiệu trưởng: “Thằng con của tôi lúc nầy hư hỏng lắm. Nó không nghe lời dạy của cha mẹ, mà cứ nghe lời dụ dỗ của mấy đứa cà chớn, cà cháo bên ngoài. Tôi nhờ thầy khuyên nhũ nó, tôi biết nó chỉ nghe lời thầy mà thôi! ?”
7.3. Sinh hoạt của hướng đạo sinh và học sinh trung tiểu học Võ Khoa Thủ Đức
1) Tập Thái cực đạo
Đến giờ thể dục của các lớp, học sinh xếp hàng ngang ngoài xa trước sân trường, mặc đồng phục võ sinh, được các huấn luyện viên của Trường Vũ Thuật do Trung tá Nguyễn Văn Cư, Chỉ huy trưởng, cử ra trường học huấn luyện Thái Cực Đạo cho học sinh. Những “sư phụ” đai đen nhiều đẳng cấp như Thầy Thoòng, Thầy Thuyên…đều có con học tại trường, nên ủng hộ hết mình trong chương trình rèn luyện thể dục, song song với đức và trí dục.
Trung tá Cư, Chỉ Huy Trưởng Trường Vũ Thuật và Thể Dục Quân Sự, chủ toạ các kỳ thi lên đai và ký tên vào các Quyết định thăng cấp cho học sinh.
Đa số học sinh Võ Khoa Thủ Đức đều mang đai nâu.
Một số mang đai đen có tên như sau:
  • Nguyễn Phương Thành. Con của Thượng sĩ Nguyễn Phương Hậu, Khối QH/TBB. Nguyễn Phương Thành là học sinh Đai đen Thái Cực đạo đầu tiên của trường Trung học Võ Khoa Thủ Đức. Em phụ tá huấn luyện viên võ thuật trong những giờ tập của các lớp.
  • Huỳnh Anh Tuấn. Con của Trung tá Huỳnh Hữu Hương, LĐSV/TBB
  • Dương Hiếu Nghĩa, Huỳnh Minh Trương, Trương Thị Minh Lang.
  • Đặc biệt là Vũ Thị Dung, sau lên đến Đệ tam đẳng huyền đai, làm huấn luyện viên TCĐ.







 















2). Sinh hoạt văn nghệ
Học sinh và hướng đạo sinh trường Bộ Binh rất xuất sắc về văn nghệ. Do có nhiều huynh trưởng có khả năng về kịch, vũ hướng dẫn. Nhưng đặc biệt là Ban Quân Nhạc của TBB, do nhạc sĩ Anh Hoa làm trưởng ban, đã cho ban nhạc tập dợt các màn đơn ca, đồng ca.
Trưởng Phạm Quang Lộc có giao tình với Trung tá Vũ Quang Ninh, Giám đốc Truyền hình QĐ, có lẻ cùng là hướng đạo với nhau, đã liên lạc để đưa đoàn văn nghệ của HĐQĐ/TBB lên trình diễn trong chương trình của đài. Mỗi lần tham gia được nhận 60,000 đồng. Tất cả rất vui thích vì được lăng xê trên đài truyền hình. Bề mặt bên ngoài rất nổi, nhưng phẩm chất bên trong vẫn ưu hạng.
Chỉ vất vả cho thầy cô giáo và các huynh trưởng HĐ. Phải tập dượt, xin xe chuyên chở, đi theo hướng dẫn và kiểm soát, viết bản phân cảnh, lời giới thiệu giao cho đạo diễn và Cameraman của đài truyền hình.
Về sinh hoạt học đường, trường Võ Khoa Thủ Đức tham gia các trại hợp bạn với các trường trung học khác trong tỉnh Gia Định, luôn luôn chiếm nhiều giải về thi đua văn nghệ, bích báo, thi đua dựng lều và trang trí trại. Đặc biệt là đội nữ trung học VKTĐ đoạt giải thi đua kéo dây. Những nữ sinh đai đen Taekwondo “xuống tấn” rồi bất ngờ dùng “bí quyết kéo dây” hạ đối thủ. Các nam sinh “bự cồ” của các trường ven đô như Giồng Ông Tố, Long Thành Mỹ… thuộc về nông thôn.
7.4. Phụ huynh học sinh Trung Tiểu học Võ Khoa Thủ Đức
Sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy thì đa số có con em chưa đến tuổi đi học.
1). Phụ huynh cấp đại tá.
Trần Văn Cường, Đào Đức Chinh, Trần Bá Thành, Trầm Kim Đại, Đỗ Trọng Thuần, Bùi Quang Nhơn (Phủ Đặc ủy Tình báo), Lều Thọ Cường (Trung đoàn trưởng của SĐ 25BB)
2). Phụ huynh cấp trung tá
Phạm Hữu Mân, Vũ Trọng Mục, Mạch Văn Trường (Quận trưởng quận Thủ Đức, sau lên chuẩn tướng), Lưu Văn Mười, Phạm Văn Bê, Nguyễn Tài Trí, Đỗ Nguyên Tụ, Huỳnh Hữu Hương, Phạm Hữu Tấn, Hà Hữu Viên, Hấu Cắm Pẩu, Phan Văn Thơm, Nguyễn Văn Dục, Lê Văn Lạc,, Nguyễn Đại Tâm, Ngô Văn Sự, Lê Văn Tỵ, Nguyễn Văn Nhàn, Ngô Huy Thăng, Vũ Thái, Bùi Huy Bổng…
3). Phụ huynh cấp thiếu tá
Phan Tấn Mỹ, Bùi Duy Điền, Hoàng Chương, Phan Tiến Tô, Nguyễn Ngùy…
Những học sinh theo cha mẹ di tản năm 1975, có nhiều em đang giữ những chức vụ quản lý trong một số công ty lớn.
Một thành công của gia đình trung tá Bùi Huy Bổng, định cư ở PA,  là 5 đứa con trai, học sinh Võ Khoa Thủ Đức, một là giáo sư đại học, hai nha sĩ, hai bác sĩ.
7* Niềm hãnh diện về Trường Bộ Binh
Sư phụ Đặng Thông Phong * Nhà văn Chu Tất Tiến
1
  • TBB có trường trung học trong đơn vị.
  • HĐ/QĐ/TBB là đơn vị xuất sắc.
  • TBB là niềm hảnh diện.
Trường Bộ Binh là nơi tập trung những nhân tài, những cá nhân nổi tiếng trong các ngành nghệ thuật, võ thuật, thể thao và những nhân tài cầm binh, những sĩ quan huấn luyện viện có nhiều kinh nghiệm trên các chiến trường. Đó là những quân nhân cơ hữu của TBB.
7.1. Văn nghệ sĩ.
1). Nhà văn, nhà thơ
Trung tá Vũ Văn Sâm.
Tức nhạc sĩ Thục Vũ, Trưởng Khối CTCT/TBB, đã sáng tác những bản nhạc có giá trị, như bản Quang Trung hành khúc, Tình mùa chinh chiến. Ông sinh năm 1932, mất ngày 15-11-1976 trong trại tù Sơn La. Ông là người yêu của thi sĩ Dương Thị Khánh, tức Lệ Khánh, tác giả tập thơ Em là gái trời bắt xấu.
Thiếu tá Phan Tấn Mỹ
Huấn luyên viên chiến thuật, thuộc Khối Quân Huấn TBB. Là nhà thơ Ý Yên, cũng là một tiểu đoàn trưởng xuất sắc của SĐ 18 BB sau đó.
Trung úy Chu Tất Tiến
Sĩ quan cán bộ thuộc LĐSV/TBB. Tốt nghiệp khoá học tại Fort Benning, HK. Nhà văn.
2). Hoạ sĩ.
Hoạ sĩ Trịnh Cung
Đại úy Nguyễn Văn Liễu. Thuộc phòng Tâm Lý Chiến, Khối CTCT/TBB.
Hoạ sĩ Trương Văn Ý
Trung úy. Thuộc Khối Quân Huấn TBB. Sau biệt phái về làm Giám Đốc Trường Mỹ Thuật Gia Định
Hoạ sĩ Lê Chánh
Sĩ quan thuộc Khối QH/TBB
Hoạ sĩ Nguyễn Văn Trung
Sĩ quan Khối QH/TBB
3). Võ thuật
Trung úy Đặng Thông Phong
“Chưởng Môn” Hiệp Khí Đạo Việt Nam (Aikido). Là nhân vật võ sư quốc tế được Đại Hàn và Nhật Bản công nhận.
Sư phụ (Sensei) Đặng Thông Phong:
  • Đệ lục đẳng huyền đai Aikido. (6th Dan)
  • Đệ lục đẳng huyền đai Taekwondo (6th Dan) Thái Cực Đạo
  • Đệ ngũ đảng huyền đai Judo (5th Dan) Nhu Đạo
  • Đệ bát đẳng Hàn Bái Đường (8th Dan)
Ông sinh năm 1935 (79 tuổi) hiện định cư ở Nam Cali sau hơn 10 lần vượt biên. Sau khi ra trại tù cải tạo, ông vượt biên bằng ghe, bằng đường bộ, 17 lần thất bại. Mỗi lần đều bị cầm tù. Đến lần thứ 18 thì thành công. Và ông đến Hoa Kỳ vào ngày 26-2-1986.
Ông là một sư phụ đã đào tạo nhiều “môn đồ” Aikido, mà hiện nay họ cũng đã trở thành sư phụ, đang phổ biến môn võ nầy ở VN. Thiếu tướng Lâm Quang Thơ đã mở phòng tập để Sư phụ Đặng Thông Phong huấn luyện cho các sĩ quan trong đơn vị. Ngoài ra còn có võ sư Trần Kỉnh, Nguyễn Hữu Huy, Thạch Cẩm Tòng, Nguyễn Chánh Dân cũng đến làm phụ tá huấn luyện.
4). Những quân nhân xuất sắc của Trường Bộ Binh
Những sĩ quan có nhiều kinh nghiệm tác chiến trên các mặt trận, được thuyển chuyển về Trường Bộ Binh để làm huấn luyện viện chiến thuật, vũ khí mìn, địa hình, súng cối, pháo binh.
Những sĩ quan cơ hữu của TBB tủa ra khắp nơi giữ những chức vụ quan trọng như quận trưởng, tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng.
Một số được chọn về Phủ Tổng thống, làm tùy viên và những nhiệm vụ khác như Trung tá Nguyễn Văn Nhàn, trung tá Chương, Thượng sĩ Danh, “chuyên viên” tác xạ đại liên, đạn đi như ruộng mạ sau khi cấy, quét qua quét lại ngay hàng thẳng lối, và cách đều nhau. Đại úy Nguyễn Chí Hiếu (Hiếu Mù) chuyên viên về mìn và chất nổ.
Đại úy Nguyễn Chánh Dân, tay thiện xạ vừa là đai đen nhiều đẳng cấp của các môn Nhu đạo, Thái Cực Đạo, Hiệp khí đạo, võ Thiếu lâm và võ gia truyền được gọi về làm Trưởng ban Cận Vệ cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Nét đặc biệt của đại úy Dân là xuất thân từ một gia đình nổi tiếng về các bộ môn: võ thuật, nghệ sĩ và nhất là tất cả đều đẹp trai. Văn nghệ gồm có Nguyễn Chánh Tín, Nguyễn Chánh Trực (Charlie Nguyễn-đạo diễn), Nguyễn Chánh Trí (Johnny Trí Nguyễn) (Trực, Trí gọi Nguyễn Chánh Tín và Nguyễn Chánh Dân bằng chú) Vân Sơn (gọi Nguyễn Chánh Tín bằng cậu).
Anh Thạch Cẩm Tòng, vô địch nhu đạo Việt Nam, được chuyển về Khối Cận Vệ Phủ Tổng Thống do thiết tá Nhan Văn Thiệt chỉ huy.
Nhưng xuất sắc nhất là Thiếu tá Trần Bá Thành, làm công tác tham mưu của TBB, ra nắm Trung đoàn 48 của SĐ 18 BB, đạt Danh hiệu Anh Hùng Quân Quân Đội, rồi được cử làm tỉnh trưởng Bình Tuy trong gian đoạn dầu sôi lửa bỏng nhất của chiến trường miền Nam.
Theo dõi thời sự lúc bấy giờ, chúng tôi rất hãnh diện về ông.
Có người nói TBB đúng là nơi “Ngoạ hổ tàng long” thật chẳng sai chút nào.
8* Kết luận
Tháng tư năm xưa đã cướp mất mái trường Võ Khoa Thủ Đức thân yêu, làm cho bạn bè và thầy trò cách biệt nhau mỗi người một ngã. Đa số các thầy bị đưa vào các trại tù cải tạo. Giờ đây, khi có dịp thuận tiện, các cựu học sinh VKTĐ nên nhớ về và giang rộng cánh tay giúp đỡ những bạn học đang gặp khó khăn ở quê nhà. Chắc các em còn nhớ, em Nguyễn Thị Huệ, con của Trung tá Nguyễn Tài Trí, là học sinh giỏi, năm nào cũng lãnh phần thưởng hạng nhất, một trong những người đẹp của Võ Khoa Thủ Đức, nhưng bây giờ hoàn cảnh sống rất khó khăn.
Những cựu học sinh Võ Khoa Thủ Đức ở Canada, như các em Kim Ngân, Kim Nga, con của Đại úy Lê Quảng Trị, Phòng 3 Bộ Chỉ huy Trường Bộ Binh, thường về Việt Nam làm công tác thiện nguyện, cho biết về những khó khăn của em Huệ. Hai em Ngân và Nga thuật lại, muốn “giúp tiền cho Huệ mua một chiếc xe Honda, nhưng rất tiếc là em Huệ không có tiền đổ xăng”.
Kính gởi đến quý vị phụ huynh và các em cựu học sinh trường Trung Tiểu Học Võ Khoa Thủ Đức và Hướng Đạo Quân Đội, lời hỏi thăm chân thành của người thầy giáo đã có 10 năm gắn bó chặt chẽ với gia đình quân nhân Trường Bộ Binh.
Trúc Giang

 

Nguồn: http://baotoquoc.com/2015/02/09/lich-su-huong-dao-quan-doi-viet-nam-cong-hoa-va-truong-trung-hoc-vo-khoa-thu-duc/

Xem màn "kiều vận" không cần giấu diếm của cs tại Mỹ ra sao ?

Hiệu Minh - Dự Tết ở nhà R với Đại sứ mới Phạm Quang Vinh



Đại sứ Phạm Quang Vinh và Phu nhân. Ảnh: HM
Như thường lệ hàng năm, năm nay (2015) Đại sứ quán Việt Nam tại DC tổ chức đón Tết cho đồng bào quanh vùng DC (Washington DC, Maryland, và Virginia). Nhà R (trên phố R nên gọi là nhà R), nơi ở của gia đình Đại sứ Phạm Quang Vinh và phu nhân, chật cứng chỗ đứng.



Sau khi chúc Tết và chào mừng bà con, thông điệp của Đại sứ cũng ngắn gọn, chưa đầy 2 trang. Ông có nhắc tới thành tựu 20 năm quan hệ Việt Mỹ. Về thương mại năm 2014, hai bên đã đạt 35 tỷ đô la trao đổi hàng hóa, gấp 70 lần so với năm 1995.


Đại sứ cho biết, lễ kỷ niệm 20 năm sẽ ở tầm quốc gia vì thế sẽ có nhiều sự kiện quan trọng diễn ra hai bên bờ Thái Bình Dương. Sẽ có ngày Việt Nam tại Hoa Kỳ tại thủ đô DC.


Hiện có khoảng 16.500 sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ, đứng đầu Đông Nam Á và thứ 8 trên thế giới. So với thời du học Đông Âu và Liên Xô, con số này chỉ khoảng 10 ngàn. TPP cũng là điều đang mong đợi vì đó là cơ hội cho cả hai nước, nhất là Việt Nam vẫn đang chật vật “nuôi con gì, trồng con gì”.


Cuối bài phát biểu, Đại sứ có dành một phần nói về sự tâm huyết, chân thành của mình, trong việc kết nối với cộng đồng người Việt tại Mỹ, hiện có khoảng gần 2 triệu mà hầu hết đến Hoa Kỳ sau cuộc chiến. (1)


Ông cho rằng công tác cộng đồng là một nhiệm vụ quan trọng và ưu tiên hàng đầu của tòa Đại sứ. Ông hứa sẽ luôn lắng nghe, trân trọng những ý kiến đóng góp và tình cảm của bà con.


Đại sứ Vinh cũng cảm ơn những tấm lòng nhân ái, những đóng góp cho quê hương, bao gồm đóng góp thiện nguyện, nhân đạo, đóng góp xây dựng chủ trương, chính sách cũng như bảo vệ chủ quyền và biển đảo.


Có hai ca sỹ Trọng Tấn và Ngọc Anh tới phục vụ. Thấy một số người hát theo bài Việt Nam quê hương tôi.
Ca sỹ Ngọc Anh. Ảnh: HM
Bạn Vân Linh của WB lẩm nhẩm tất cả các bài của Trọng Tấn, mắt rưng, dù ngoài hành lang bà con nói chuyện riêng như cái chợ vỡ. Một thói quen xấu mà năm nào cũng lặp lại, HM Blog tiếp tục nhắc tới khi nào mấy trăm người tôn trọng ca sỹ, người phát biểu, chú ý lắng nghe.


Phòng ăn có đủ các món từ bánh chưng đến bún chả, giò, nem cuốn, hoa quả, rượu bia, nước ngọt. Có món đặt ở nhà hàng, có món do các bà các chị tự biên tự diễn.


Các cháu nhà này (Bin và Luck) đến từ sớm và tuyên bố nhịn đói cả ngày để chén cỗ chiều nhà bác Đại sứ, nghe nói to lắm. Trong khi nghe phát biểu, rồi ca hát, vì phần lớn không biết tiếng Việt, các cháu đợi sẵn ở cửa phòng ăn, chỉ đợi tháo khoán là vào, chắc do đói quá.


Mới sang nhậm chức được 2 tháng, tuy bận tiếp khách, nhưng Đại sứ Vinh cũng dành 15 phút tiếp Cua Times, vì nghe nói blog Hiệu Minh khá nổi tiếng ở DC. Trong chuyện này, tôi tin Đại sứ tiền nhiệm Nguyễn Quốc Cường đã làm công việc bàn giao về truyền thông nhân dân rất tuyệt. (2)


Với cách giao tiếp thân thiện, người được tiếp không có cảm giác là đang nói chuyện với nhà ngoại giao có hàm Thứ trưởng. Đại sứ Vinh nói đến vài nhiệm vụ nặng nề trước mắt: làm quen với nơi mới, gặp gỡ các quan chức chính phủ, chuẩn bị lễ trình quốc thư, kỷ niệm 20 năm quan hệ Mỹ Việt (1995-2015).


Ông cũng không dám hứa là khi nào thì mời được Obama sang thăm Hà Nội, nhất là lúc đang tại vị (in seat president). Đợi năm cuối thành con vịt què mới sang như Bill Clinton hay George Bush thì chán.


Việc đối xử với cộng động người Việt tại Mỹ là vấn đề phức tạp và cần một tư duy đổi mới và khéo léo. Tôi tóm tắt lại bài phát biểu trên trong entry này có ý cho bà con không được mời biết về ý định của vị Đại sứ mới. Những ai có khúc mắc gì, góp ý ra sao, xin mời comment trên blog. Tôi tin tòa đại sứ sẽ theo dõi kỹ. (3)


Về đối nội, nếu nhân dịp Tết, an ninh Việt Nam thả nhà văn Nguyễn Quang Lập và một số blogger khác thì có lẽ gần 100% khách mời trong nhà R sẽ hoan hô, nói chi đến người gốc Việt ở California hay Atlanta.


Tôi cũng dự cảm, các vị đại sứ công cán, hội đàm với nước sở tại, chắc không muốn thấy tin về bắt ai, thả ai vì những lý do lãng xẹt. Ngoại giao là giữ hình ảnh đất nước tin cậy trong lòng bạn bè. Thời hội nhập không có tín chỉ nói chi tới chuyện làm ăn lâu dài. Mỗi vị đại sứ công cán đều phải đương đầu với công luận về thể chế hiện hành của quốc gia.


Thật ra những người được mời hôm qua là số rất nhỏ so với vài triệu kiều bào sống bên Mỹ. Nếu đến với họ bằng sự chân thành thì tôi tin tự thân nó sẽ lan tỏa mà chẳng cần những mỹ từ. (4)


Đại sứ Vinh từng có những năm công tác nhiệm kỳ trong phái đoàn VN tại Liên hợp quốc ở New York. Từ 1996 đến 1999, ông còn giữ vị trí Tham tán Công sứ, Phó trưởng Đại diện thường trực Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc. Thời gian đó, ông chứng kiến đoàn ngoại giao bị biểu tình ngăn chặn như thế nào.


Nhà R này tôi cũng ra vào dự lễ nhiều lần, và 5-6 năm về trước vẫn còn biểu tình. Giờ đây tình hình đã khác.(5)
Đại sứ Phạm Quang Vinh tiếp Cua Times. Ảnh: HM
Ngoại giao Việt Nam có nhiều tiến bộ, tiếng Anh tốt hơn, kể cả phu nhân. Nhiều đại sứ đi công cán 3 năm không phải là hưởng ưu đãi trước khi về vườn. Nếu còn trẻ, họ sẽ phấn đấu để có một nhiệm kỳ khác tốt hơn. Nếu đại sứ đợi ngày về hưu thì chắc chắn không thể có đột phá trong quan hệ tầm quốc gia.


Trước khi chia tay, tôi có kể về bác Nguyễn Túc, cựu thư ký của tòa đại sứ của chính quyền Sài Gòn, vào sáng 30-4-1975 mà từng viết trong blog. Sau khi thảo bức điện cuối cùng gửi về dinh Độc Lập, ông khóa cửa ra đi một mình vì các nhân viên đã rời trước đó.


Tôi từng gặp bác Nguyễn Túc tại nhà riêng, một nhân chứng lịch sử. Bác có kể, sau khi khóa tất cả các cửa của tòa Đại sứ, bác không biết làm gì với chùm chìa khóa, liền bỏ túi mang về nhà và biết chắc không bao giờ quay lại đó nữa.


Tôi nói với Đại sứ Vinh, thử tưởng tượng vào sáng sớm thức dậy, một người bỗng thấy quê hương đất nước không còn là của mình, biết đi đâu về đâu với hai bàn tay trắng, thất vọng và vô vọng. Đặt mình vào vị trí đó sẽ hiểu được bà con lưu lạc xứ người.(6)


Không hiểu sao, tôi tin là Đại sứ Vinh rất chân thành, không phải nhà ngoại giao nói chuyện với blogger.


Chúc Đại sứ, phu nhân và anh chị em trong đoàn ngoại giao tại Hoa Kỳ thành công trong nhiệm kỳ của mình.


HM. 7-2-2015


Vài hình ảnh về tiệc đón xuân tại ĐSQ Việt Nam tại DC
Hội trường chật cứng. Ảnh HM
Logo 20 năm quan hệ Việt Mỹ. Ảnh: HM
Khách dự. Ảnh: HM
Thời đại Smart phone, Ảnh: HM
Truyền thống. Ảnh: HM
Hiện đại. Ảnh: HM
Con cháu WB. Ảnh: HM
Bà con chụp chung với ca sỹ Ngọc Anh và Trọng Tấn. Ảnh; HM
Gặp lại bạn cũ. Ảnh: HM
Vị khách trả lời phỏng phấn bằng tiếng Việt. Ảnh: HM
Blogger Trần Thiềm tác nghiệp. Ảnh; HM
Nụ cười của khách. Ảnh: HM
MC Anh Phương và ca sỹ Trọng Tấn. Ảnh: HM
Đương đầu với dư luận là điều không đơn giản của nhà ngoại giao. Ảnh: HM
Đào xuân ở DC. Ảnh: HM
Chúc mừng xuân Ất Mùi. Ảnh: HM

(Blog Hiệu Minh)

===========================

(1) Sao lại nhận vơ trơn tru thế nhỉ ? Trong số gần hai triệu người lưu vong ở Mỹ có bao nhiêu người dễ dàng để csVN "vơ đũa cả nắm", gọi họ là "Việt kiều yêu nước " thử xem phản ứng sẽ ra sao ?

(2) Thì ra một anh blogger gần như "no name" là Hiệu Minh mà cũng có vai có vế quan trọng trong guồng máy "ngoại vận" thế cơ à ? Giờ mới "come out" đấy à ?

(3) Thực hiện chính sách ngoại vận với một "tư duy đổi mới và khéo léo" , bà con ta chuẩn bị xem cs xuất chiêu gì mới lạ để ve vãn cộng đồng người Việt chống cs bán nước như thế nào nhé !

(4) Với thành tích gian trá và quỷ quyệt, sự "chân thành" cs chỉ là trò hề, chỉ ngày nào chân thành tự...giải tán đảng cs thì nhân dân VN mới tin mà thôi !

(5) Hiệu Minh làm "giao liên" hay "dư luận viên" đấy à ?

(6) À, cha con bọn này cũng biết sợ đây ! "Khôn chết, dại chết, biết sống" là thế đấy !

=======

Đồng hương vùng Washington DC, Virginia cần nhớ kỹ gương mặt bọn "Việt kiều yêu Việt cộng" này mà tẩy chay bất cứ nơi nào chúng bén mảng đến làm ô uế không khí tự do dân chủ đúng nghĩa của người tị nạn cs tại Mỹ

Last edited by M&M; hôm qua at 10:29 AM.

   
Chưa đọc hôm qua, 06:09 PM
UH1 UH1 đã nối mạng
Tướng 3 sao



Mẹ kiếp , những bộ mặt Việt cộng . Nhìn vào là thấy chữ ''ngu'' ngay trước mặt . Những thành phần thân cộng nhìn vào là nhận Ra ngay . Tại Sao đất nước lại có loại người nầy ?
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32758

Màu Cờ: Biểu Tượng và Niềm Tin. phần 1.

 
 Màu Cờ: Biểu Tượng và Niềm Tin. phần 1.

Bảo Giang (Danlambao) - "Tôi cho rằng đó là Màu Cờ của Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và Độc Lập Dân Tộc. Đó là Lá Cờ đánh đuổi ngoại xâm đã có từ thời Hai bà Trưng. Đất nước này, dân tộc này còn tồn tại là do màu cờ Chính Nghĩa này đã khởi xướng và lưu truyền lại cho con cháu qua nhiều triều đại. Đó là Lá Cờ truyền thống của dân tộc mà người Miền Nam đã kéo lên lễ đài “dinh Toàn Quyền” để chấm dứt cuộc đô hộ của thực dân Pháp. Đó là Màu Cờ mà chính phủ miền Nam đã kéo lên để mở đường cho hơn một triệu người miền Bắc trốn chạy cộng sản, di cư vào Nam, xây dựng đời sống vào năm 1954. Đó là Màu Cờ đã phủ lên mình Ngụy Văn Thà và đồng bạn của anh, những người chiến binh đã hy sinh vì tổ quốc trong cuộc chiến Hoàng Sa đánh đuổi quân xâm lăng Trung cộng. Đó là Màu Cờ Vàng mà ngày nay vẫn ngạo nghễ tung bay, khoe sắc trên bầu trời thế giới. Đó là Màu Cờ ở trong tim lòng ngươi dân Việt Nam."






Với quốc gia: Lá Cờ là nghi biểu linh thiêng, sống động của Tổ Quốc.

Với dân tộc: Lá Cờ là sự kết hợp một truyền thống lâu dài, là văn hóa, là biểu hiệu một ý chí kiên cường bảo vệ cuộc sống Công Lý cho chủng tộc trong Tự Do, Công Bình, Nhân Bản. Diễn đạt một ý chí Độc Lập của đất nước.

Ông Vĩnh, một cưụ chiến binh trong QLVNCH. Từ ngày ra khỏi nước, trong nhà ông, ngoài bàn thờ, bải vị của tổ tiên ra, bao giờ cũng thấy có những biểu tượng mà ông đã “ một đời” hy sinh vì nó như lá Cờ Vàng, tấm huy chương, hay tấm hình ngày ông qùy xuống nhận trách nhiệm với non sông. Tất cả được đặt ở những vị trí trang trọng nhất. Rủi thay, đứa con ông dứt ruột đẻ ra. Khi CS vào, chính ông cõng nó, ông bồng nó trốn chạy cộng sản ra hải ngoại. Niềm vui chưa kịp đến khi nó khôn lớn, là một bác sỹ, kỷ sư, luật sư…. lại đến câu chuyện ông mất con.

Chuyện kể, sau vài chuyến về Việt Nam với cô bạn gái là du học sinh. Chẳng biết nghe ai xúi, Minh ( lại cũng tên Minh!) một bác sỹ mới ra trường, hùng dũng mang về tấm hình Hồ chí Minh và cái lá cờ của cộng sản Phúc Kiến. Nó treo lên bức tường chính của phòng khách. Ông Vĩnh đi làm về nhìn thấy. Máu uất bốc lên. Ông giật ngay cái lá Cờ Đỏ và tấm hình có nắm lông mồm của HCM quẳng ra ngoài sân. Minh bất bình, lớn tiếng kết tội ông bố độc tài, ích kỷ, thiếu ý thức chính trị, không tôn trọng tự do của người khác. Cuộc khẩu chíến bùng lên. Ông Vinh săn tay áo lên ” Nói thế là mày phản bội lại những hy sinh của gia đình này, mày không sứng đáng ở lại đây. Hãy thu đồ ra khỏi nhà ngay. Mày tưởng là bác sỹ, là luật sư là lên bằng giời, là có ý thức chính trị hay sao? Đi, đi ngay! Công lao tao đưa mày đi vượt biển, nuôi mày ăn học, kể bỏ. Đi, đi ngay! Tao thà là không có mày, còn hơn bị nguyền rủa”! Mặc cho bà vợ réo gào. Lệnh vẫn xé màng tang. Minh cũng “hách” không kém, cuốn cờ, nhặt lấy tâm hình, xách va li, lái xe ra khỏi nhà. “ Xem mi đi được bao lâu, Tốt nhất là về bên đó mà sống luôn với nó ( cờ đỏ), đừng ở đây, ăn cơm gạo ở xứ này làm tủi nhục cho bố mẹ mày, tủi nhục lây cho những người đi tỵ nạn! Đi, Đi cho khuất mắt.”!

Trong Đèn Cù của Trần Đĩnh cũng có câu chuyện tương tự: “tình cờ gặp Minh Trường, phóng viên nhiếp ảnh Thông tấn xã năm 1971 đã cùng tôi vào vùng rốn lụt của Hải Dương. Anh thuộc lớp người đầu tiên về Sài Gòn chiến thắng. Nhưng anh đã nếm một chiến bại đớn đau. Hơn một năm sau kể lại với tôi, giọng anh vẫn run run như nghẹn lại. Lẽ tất nhiên anh rất vui khi lần đầu tiên trở lại đứng trước nhà mình bấm chuông. Thì mẹ anh mở cửa. Thì mẹ liền chắp hai tay lạy: - Anh còn sống thì tôi mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan nát, thì tôi trơ trọi. Thôi, tôi xin anh,anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên” (tr 486)

Hai câu chuyện về Màu Cờ, một xảy ra ở bên Mỹ, một bên ta cách nhau có đến gần ba mươi năm, chẳng hẹn mà cùng gặp một kết quả. Trước mắt, nó làm cho hai gia đình trong cuộc tan nát, ly tan. Thoáng nhìn, có người cho rằng “ xử sự” như thế là khắt khe, là không công bằng, là áp bức không có tự do? Tôi cho luận điệu, phản bác này là ấu trì, như đứa trẻ lên ba chưa biết mặc quần đã biết làm “ cách mạng VC”. Bởi lẽ, nếu lá Cờ Vàng và tấm hình của TT Diệm xuất hiện ở trong một gia đình nào đó trong vùng đất cộng sản chiếm đóng thì gia đình ấy sẽ ra sao? Liệu có phải chỉ là cuộc “khẩu chiến” xuông trong nhà, hay sẽ là cảnh chủ nhân bị cán cộng đến bịt mắt đưa đi vào lúc nửa đêm? Lúc ấy có là tự do, có là thiếu hiểu biết chính trị hay không?

Như thế, ông Vĩnh và bà mẹ Việt Nam trong Đèn Cù có đủ lý do khi có quyết định này. Họ là người tôn trọng lẽ phải. Có trách là trách con ông như kẻ xa đà, lỡ nghiện thuốc phiện. Nó không chỉ phản bội lại chính lòng hy sinh, mổ hôi, nườc mắt và có thể cả máu của ông mà thôi, nhưng còn là sự phản bội với đồng bào, những người chiến binh đã hy sinh xương máu để bảo vệ Màu Cờ Tự Do, Độc lập của dân tộc nữa. Sự phản bội này xem ra rất khó “ hóa giải”. Theo đó, giải pháp tình thế này được coi là khả dĩ hơn là chuyện “ yên lặng”, để cho tình cha con mỗi ngày chồng chất thêm đau thương, lẫn hận thù trong cuộc sống gỉa dối. Hơn thế, là cơ hội để cho con ông tự biết trái, biết phải. Biết suy nghĩ và biết sống cho nên người chân thật. Chuyện bà mẹ của Minh Tường cũng thế. Bà đã không còn chọn lựa nào khác. Thà mất con ( như đã từng mất khi nó thoát ly ra đi) hơn là chấp nhận cho nó mang tội ác và gian trá về nhà! Cuộc chiến trong nhà, nơi chỉ có tình cảm còn gay gắt thế. Nói chi đến cuộc chiến ngoài xã hội, nơi tựa vào lý lẽ nhiều hơn. Nhưng từ đâu, cuộc bể dâu đã đổ xuống thân phận Việt Nam?

I. Đôi dòng Lịch Sử.

1. Cờ Vàng.

Từ rất xa, khoảng năm 40 sau công nguyên, nước ta còn bị Tàu phương bắc đô hộ. Hai bà Trưng, đã dùng Cờ Vàng để khởi nghĩa, đánh đuổi quân xâm lăng. Bà lấy lại 65 thành trì để xưng vương. Từ đó sắc cờ Vàng luôn ẩn hiện trong các triều đại kế tiếp. Đến triều Nguyễn, hai sọc đỏ được thêm vào lá Cờ Vàng, và kích thước cũng khác đi, Đến năm 1945, một sọc đỏ (đứt quãng) được thêm vào giữa hai sọc đỏ có từ trước. Rồi vào năm 1948, cựu hoàng Bảo Đại đã cho nối liền sọc đỏ ở giữa lại. Từ đó trên toàn cõi Việt Nam, từ bắc chí nam, chỉ có một màu Cờ Vàng tung bay theo nước rộng sông dài, là nghi biểu thiêng liêng của đất nước. Màu Cờ Vàng là sự kết hợp một truyền thống, một lịch sử, một văn hóa, biểu hiệu một ý chí kiên cường bảo vệ cuộc sống cho chủng tộc trong Tự Do, Công Bình, Nhân Bản và diễn đạt một ý chí Độc Lập của dân tộc. Đó là màu cờ của sự sống.

2. Cờ Đỏ.

Vào khoảng năm 1940, Hồ Quang, ( trích theo tài liệu trong quân ủy trung ương Trung cộng và tài liệu chính quy của CSVN) là thiếu tá tại chức, tùng sự trong bát lộ quân, ngành điện báo của Trung cộng dưới quyền chỉ huy của tướng Chu Đức, đã được lệnh xâm nhập vào Việt Nam và sau đổi là Hồ chí Minh. Khi vào Việt Nam Y mang theo lá Cờ Đỏ có một sao vàng là cờ khởi nghĩa của đảng cộng sản Phúc Kiến do Li ji Shen lãnh đạo. Sau khi vào Việt Nam, theo Võ Nguyên Giáp, lá Cờ Đỏ ban đầu dùng làm cờ lệnh của đảng. Sau biến cố cướp chính quyền của Việt Minh vào năm 1945, nó trở thành Lá Cờ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ chí Minh lãnh đạo để từ đây thi hành những chỉ thị từ Trung cộng. Sau ngày 30-4- 1975, nó là biểu tượng của nhà nưóc CHXHCNVN trở thành bàn đạp cho bá quyền Trung cộng tràn xuống phương nam. Nó là Màu Cờ chuyên chở số phận con người trở về, lệ thuộc và sống trong nô lệ. Chính nó, từ Liên Sô, Trung cộng đã giết chết cuộc sống của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam. Nó giết chết hết tất cả mọi niềm tin, mọi hy vọng, mọi yêu thương, mọi nhân ái trong lòng người Việt nam. Nó giết chết cuộc sống yên bình của con người. Nó đẩy dân tộc ta vào cảnh khố đáy điều linh.

Với một nguồn gốc, lịch sử và văn hóa khác biệt và xung khắc như thế, chắn chắn không bao giờ có thể có sự dung hòa giữa hai Màu Cờ này. Trái lại, sẽ là cuộc đồi đầu và loại trừ nhau một cách vĩnh viễn. Sự loại trừ này giống như sự thiện, công lý không thể chấp nhận tội ác và gian trá. Sự Thiện, Ác, Công Lý và gian trá là cuộc chiến không bao giờ chấm hết, Nhưng cuộc chiến giữa hai Màu Cờ sẽ chỉ là một giai đoạn và nó sẽ kết thúc vói một mất một còn. Cờ Đỏ được coi là thắng thế trong bốn mươi năm qua, nhưng CỜ Vàng không bao giờ biến mất. Khi cờ Vàng quay về. vĩnh viễn Cờ Đỏ sẽ bị chôn vui, không còn một ai nhắc nhở đến nó, ngoài tội ác và gian trá do nó gây ra. Và dĩ nhiên, trong cuộc tranh chấp này, không thể có sự xuất hiện của một biểu tượng thứ ba. Như thế, Màu cờ nào sẽ còn, cái nào sẽ bị tiêu diệt?

II. Màu cờ nào là biểu tượng, sống mãi trong lòng ngưòi?

Cờ Vàng, những tưởng là đã tan biến đi từ biến cố 30-4-1975, không còn ai nhắc nhở đến nữa. Kết quả, lại vượt qua sức tưởng tượng của tât cả mọi người. Cờ Vàng không những chỉ tung bay trên bầu trời thế giới, là biểu tượng sống của Việt Nam Tự Do. Hơn thế, còn là niềm tin yêu, là hy vọng, là sức sống tuyệt đối cho mọi ánh mắt của mọi người ở trong nước cũng như trên thế giới cùng hướng về. Tại sao Cờ Vàng, sau bốn mươi năm không còn hiện diện trên bầu trời Việt Nam, lại trở thành một niềm tin tuyệt đối để mọi người cùng dõi mặt về? Người dân dõi mắt về đặt niềm tin hay chỉ là hoài niệm? Tôi cho rằng, sẽ không có câu trả lời nào chính xác hơn là: Chính Cờ Đỏ đã dạy cho người dân Việt Nam biết đặt niềm tin và trông chờ vào sự trường tồn của Cờ Vàng. Chính Cờ Đỏ đã chỉ ra rằng, Chỉ có Cờ Vàng mới khả dĩ đáp ứng được yêu cầu khát vọng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và sự Độc Lập của Tổ Quốc cho người dân Việt Nam. Nói cách khác, chính Cờ Đỏ đã lộ nguyên bản chất là một thứ dẻ rách đầy bội phản do CS đi vay mượn để gây ra tội ác cho dân tộc. Nó phải bị loại bỏ khỏi cuộc sống của ngưòi dân Việt Nam, dù hôm nay nó vẫn phe phẩy ở đó. Bởi lẽ:

1. Với người sống tại miền nam.


Có thể nói một cách công bằng là. Cuộc sống của người miền nam, trước 30-4-1975, không phải là cuộc sống ở trên thiên đàng. Trái lại, ở đó là chiến tranh tranh, ở đó có tang thương vì cuộc chiến. Ở đó có những sáo trộn về chính trị qua những cuộc dảo chánh rồi chỉnh lý. Ở đó không ai được hứa hẹn là hết chiến tranh sẽ dược xây dựng lại bằng mười năm xưa. Nhưng trong cuộc sống với đầy những khó khăn ấy, người người đã tích cực vun trồng hai chữ Việt Nam và đưa miền nam vào cuộc sống rất đáng sống và rất đáng hãnh diện trên trrường quốc tế. Bởi lẽ, về kinh tế, miền nam trong chiến tranh, nhưng không nghèo khó. Ngưòi ở miền nam chưa bao giờ phải trắng mắt lo toan ngày mai ăn gì, mặc gì. Lúa gạo, thịt cá ê hề, người dân muốn mua sắm thế nào tùy thích. Chưa có người dân nào phải đi mua hay chầu chực mua lấy nửa ký gạo, nửa ký cá, chai nước mắm bao giờ. Ngoài đường thì tràn ngập các loại xe máy, xe hơi. Về công nghệ thì đã sản xuất được xe La Dalat. Thành phố Sài Gòn đã có những thay đổi đáng kể, nó trở thành một thành phố đáng ngưỡng mộ từ các nước Đông Nam Á Châu.

Về văn hóa. Phải nói ngay rằng, nền văn hóa nhân bản dân tộc đã được phát triển một cách toàn diện và rộng rãi tại miền nam Việt Nam. Ở đó tinh thần Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín Trung được đặt lên hàng đầu trong giáo dục công dân. Tạo cho người dân có ý thức trưởng thành về lòng yêu nước, về truyền thống độc lập và thấu hiểu lịch sử của dân tộc một cách rõ ràng, chính xác. Bên cạnh đó là sự tôn trọng nền văn hóa lành thánh của các tôn giáo đã tạo cho xã hội miền nam một bộ mặt hài hòa về nhân nghĩa và đạo đức. Nạn trộm cắp không thường thấy, những tệ nạn xã hội không phải không có nhưng rất ít gặp. Riêng những tội đại nghịch bất đạo như giết cha mẹ, vợ chồng giết nhau thì hàng năm trời cũng không nghe đến một vài. Nói chi đến những trường hợp tình nhân, yêu nhau bỏ nhau là có thể ra bản án tử cho đối tác. Phần đời sống chính trị. Sự tự do, nhân phẩm, nhân quyền của người công dân được luật pháp bảo vệ và tôn trọng. Một người công dân không thể bị coi là có tội cho đến khi bị toà tuyên án. Không ai có thể bị bạo hành từ các cơ quan trách nhiệm. Ở đó là một xã hội nhân bản, nếu không có tiếng súng đùng chát phá làng phá xóm của Cờ Đỏ trong đêm khuya thì quả là một cuộc sống đầy hoan lạc.

Tuy nhiên, sau ngày 30-04-1975 Cờ Đỏ được kéo lên cao như một dấu chỉ khác. Niềm vui chưa kịp đến vì im tiếng súng. Toàn cảnh miền nam đã rơi vào trong hỗn loạn, hoang mang và thực sự là đối diện với lo âu và nỗi chết. Trước tiên, hàng trăm ngàn người thuộc mọi giai tầng trí thức ở miền nam trong hàng ngũ quân, cán, chính đều bi đẩy vào các trại tù. Trong lúc hàng trăm ngàn người bị đẩy vào các trại tù khổ sai, biệt tin, tạo nên những bản tìn đồn làm náo động lòng người thì ngày 12-6-1975, báo Sài Gòn Giải Phóng có bài xã luận với những lời lẽ phải được coi là loại cực kỳ vô văn hóa, nếu như không muốn nói là vô giáo dục, khi nó mô tả về những ngưòi lính miền nam bị lùa vào tù như sau: “Đế quốc Mỹ và tay sai đã biến chúng từ con người thành ra dã thú. Cách mạng phải cải tạo chúng từ thú trở lại thành người. Phải giam chúng lại để chúng không làm hại nhân dân được nữa. Đồng thời phải cải tạo chúng để chúng cải tà quy chính”. Phần Nguyễn Hộ thì huỵch toẹt ra cái chủ trương man rợ của những kẻ còn ăn lông ở lỗ của CS khi vào nam là “Đối với bọn Ngụy quân, Ngụy quyền, nhà của chúng: ta ở; vợ của chúng: ta xài; con của chúng: ta bắt làm nô lệ; còn bọn chúng nó: ta giam cho đến chết!” Quả là kinh hãi thay!

Kế đến là những cuộc đổi tiền. Cuộc đổi tiền mà cán cộng rêu rao là: “ Miền nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của sứ sở. Nó đã kết thúc 30 năm sống dơ và chết nhục của đồng bạc Sài Gòn.” Thật gớm giếc thay những cái mồm loa gian trá, điên đảo của những nhà cách mạng chưa biết mặc quần! “ tiền của nưóc độc lập” ư? Độc lập mà phải sống dựa hơi vào đồng tiền ” Mỹ Ngụy” năm xưa để cầu sống qua ngày à? Hãy nhìn lại từng đoàn xe nối đuôi nhau như bất tận, chuyên chở của cài mà cán cộng vơ vét từ miền nam đưa ra bắc sau ngày 30-4-1975 thì có câu trả lời. Đến nay, thử hỏi hàng năm không có hàng tỷ, tỷ đô la của người Việt gởi về giúp thân nhân thì cán cộng sống ra sao rồi? Cái đồng tiền mang hình Hồ chí Phèo ( $20,000 bằng $1 đollar) có chút gía trị nào khi trao đổi trên trường quốc tế chăng? Thật là xấu hổ cho cái đồng tiền “độc lập” của Việt cộng. Sau lần bị cướp cạn này, ngưòi dân đổ tràn ra biển với lời nguyền: Thà chết trên biển khơi còn hơn là phải ở lại sống với cái Cờ Đỏ! Nhà văn Duyên Anh, đã viết. “ cái cột đèn nếu biết đi nó cũng không dám ở lại với Hồ chí Minh!”. Nhưng bấy nhiêu mới chỉ là khởi đầu. Nay thì toàn thể xã hội đã biết đến “đạo đức của cộng sản” là gì khi phó chủ tịch quốc hội của nhà nước Việt cộng đã lên tiếng cách đây gần 10 năm ( 2006) là : “ người ta phải nói dối nhau mà sống vì đó là đạo đức của cách mạng ( Việt cộng)” ( Trần quôc Thuận).

Về giáo dục và văn hóa. Quả thật là ngưòi ta không thể phân định được là nên giáo dục văn hóa của nhà nước CS định vị trên căn bản nào. Chỉ thấy từ tối tới sáng nhà nưóc ra rả bài loa “học tập theo gương vĩ đãi của Hồ chí Minh”, Nhưng họ lại cũng không chỉ dẫn ra những cái vĩ đại của HCM là những cái nào. Thí dụ như gương giết vợ từ con, hay là việc lệnh cho Trường Chinh viết lời kêu gọi đồng bào Việt Nam bỏ chữ Quốc Ngữ học chữ Tàu để được nhận làm chư hầu cho Trung cộng, hay học tập theo gương HCM hoan hô PVD ký công hàm công nhận Trường Sa Hoang Sa là máu thịt của Việt Nam thuộc chủ quyèn của Trung cộng. Kết quả của cái nền giáo dục vô văn hóa, vô tổ quốc, vô gia dình, vô tôn giáo ấy là:

Thứ nhất. Người em cô cậu của ba tôi vào miền nam thăm anh vào tháng 8-1975, khi thấy anh em chúng tôi để giày dép và quần áo phơi ngập trên sân thì cô tự động đi ra và gom nhặt từng cái một đem vào để trong nhà. Thấy lạ các em tôi hỏi. Cô bảo.” Liệu đấy, không còn lấy một cái mà mặc, mà xỏ chân!”. Nghe thế, anh em tôi nhìn nhau cười. Nay thì trộm cướp ở miền nam đã sánh ngang bằng với miền bắc vào năm 1975 rồi! Ở đâu cũng thấy thành phần này. Từ phố xá cho đến các công sở cơ quan, từ trung ương cho đến địa phương, không một nơi nào mà không dầy đặc sâu dân mọt nước. Kế đến, những tội đại nghịch theo gưong HCM “ căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ” thì xã hội ngày nay đã đến mức khủng hoảng vì những loại tội đại ác, con cái giết cha mẹ, cháu giết ông bà. Vợ chồng giết nhau vì cơn ghen. Nhân tình giết nhau vì cái xe, cái điện thoại của đối tác. Hoặc giả, khi chấm dứt quan hệ cho một cuộc tình, đối tác cũng có thể mất mạng! Và kinh hoàng hơn nữa là nạn phá thai ở lớp tuổi thanh thiếu niên đã làm chóng mặt mọi gia đình. Quả thật, nhờ “đạo đức” HCM. nhờ cái Cờ Đỏ mà trong suốt tiến trình lịch sử gần 5000 năm của đất nước, chưa có thời nào mà những loại tội đại ác lại hoành hành và đe doạ xã hội như thời CS. Phục chưa nào?

Kế đến là phần đất đai của tổ quốc thì nào có phải chỉ Hoàng Sa, Trường Sa ở biển đông mất vào tay Tàu Cộng. Ngay đến đất liền, Nam Quan, Bản Dốc, Lão Sơn, Tục Lãm… nay đã mang tên xứ người. Lại còn Tân Rai, Nông Cơ và biết bao nhiêu là đất đai, cửa biển trong nội địa của Việt Nam đã nằm trong vòng tay kiểm soát của Tàu? Về đời sống chính trị. Người dân miền nam việt Nam ngày nay còn lại đôi tay trắng. Tự Do, Nhân Quyền, Công Lý mất sạch sẽ, chỉ còn lại là những hàng chữ vô cảm để nhìn cho đẹp mắt. Đến chữ Độc Lập mới là một nỗi nhục khác. Người dân muốn bảo vệ chủ quyền của đất nước trên Hoàng Sa Trường Sa là vào nhà tù. Thử hỏi xem, liệu còn một nỗi tủi nhục nào lớn hơn khi phải cầm tấm hộ chiếu của CHXHCN Việt Nam do Việt cộng cấp phát, còn nỗi nhực nào lớn hơn cho người dân Việt phải đứng dười lá Cờ Đỏ của CS Phúc Kiến và bảo đó là của mình? Tôi cho rằng, không còn nỗi nhục nào to lớn như thế nữa. Từ đó, chả cần phải nhắc nhở, lá Cờ Vàng tuyệt đối chiếm trọn tim lòng người Việt Nam. Họ mong chờ từng giây, tùng phút cho ngày Cờ Vàng về trên quê hương Việt Nam. Dẫu cuộc chờ đợi ấy là trăm năm!

2. Với những người sống trên đất bắc.

Nếu người ở miền nam có được một chút kinh nghiệm về CS như hôm nay, thì cái kinh nghiệm của họ về cộng sản so với người miền bắc chỉ là con số không, hoặc là con đom đóm lập loè trước ngọn đèn sáng, không đáng để nói đến. Bởi vì, niềm đau của họ không phải chỉ là tiếc nuối vì chậm chân trong cuộc di cư 1954, nhưng là sự kiện, tất cả mọi người ở ngoài bắc đều đã bị dồn vào cõi chết và bị xô đẩy vào cuộc sống đầy gian trá.

Thật vậy, vào mùa đấu tố 1953-56, không một ngưòi nào trên đất bắc không sờ thấy cái chết ngay bên mình. Tất cả đều thoi thóp sống trong lo sợ và chờ cái chết gọi tên. Trong cảnh khốn cùng đó, đã có gần 200 ngàn người Việt Nam tại miền bắc bị HCM gọi tên. Sau những cái chết vì bạo hành và hàng trăm ngàn gia đình bị ly tán là toàn thể nhân dân miền bắc chỉ còn lại đôi mắt trắng. Tất cả mọi thứ tài sản, từ ruộng vườn đất đai đén cơ sở làm ăn đểu thuộc về tay nhà nước quản lý. “Nỗi đau về vật chất ấy, thật chẳng thấm gì”, cô tôi bảo thế. Bởi vì, người ta đã phải đánh đổi phần luân thường đạo lý xã hội, phần lễ nghĩa nhân phẩm của con người bằng những gian trá, vu khống giết người theo bài học “địa chủ ác ghê “ của HCM để tìm sống cho cá nhân mình. Người người, không phân biệt già trẻ, gái trai, đều phải học tập lấy phương cách nói dối nhau, lừa nhau mà sống. Ở đó, Công Lý của chế độ được thực thi bằng lệnh của cái búa, cái liềm trong tay những nhà cách mạng chưa biết mặc quần. Ở đó, Cờ Đỏ đã dạy cho người dân bài học căm thù giữa con người với con người. Ở đó, Cờ Đỏ dạy cho ngưòi dân bội tín bội nghĩa, bằng sự rình rập báo cáo lẫn nhau. Ở đó, CS đã dạy cho những đứa con “ căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ” vì bác đảng. Đến nỗi người cha phải trả lời đứa con do mình đẻ ra:
“ông có biết tôi là ai không? người cha ngậm ngùi trư1ơc nhìn đứa con dứt ruột do mình đẻ ra và nói”: “Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ!” ( chúng từ của một Giám Mục, trang 383). Hỡi ôi, xã hội Cờ Đỏ!

Kết quả của những bài học này dần dần là sự kiện tái quy. Người dân đâm ra căm thù cộng sản, thù ghét Tầu khựa. Nhiều ngưòi dù chưa một lần nhìn thấy là cờ và cuộc sống của người miền nam ra sao, chỉ nghe đồn về nó, nhưng đã hằng đêm khấn nguyện, ước mong một ngày được nhìn thấy đoàn quân cứu nước ở miền nam ra giải phóng cho đồng bào. Khi ấy, chắc hẳn là búa trả búa, liềm trả liềm cho cán bộ đảng viên nhà nước? Lại cũng có ngưòi trong cơn đau cùng quẫn, đứng giữa đường, trước cổng quan cán mà gào trời, van đất xập xuống để cùng chết chung với cái Cờ Đỏ hơn là phải sống trong những ngày tăm tối với nó. Những ước mơ này đến nay vẫn chưa hề thay đổi, dẫu chính phủ ở miền nam không còn! Điều đó cho thấy, chính Cờ Đỏ dạy cho dân chúng mơ ước được nhìn thấy và sống với niềm tin của Cờ Vàng là cờ mang biểu tượng của Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền và Công Lý, là niềm tin, là sự sống của đất nước.

3. Với những người lớn lên sau mùa đấu tố hay sau ngày 30-4-1975.

Một điều không may mắn cho những thế hệ này là đã không được hưởng lấy một giờ, một phút trong cuộc sống của Tự Do Nhân Bản. Một điều tang thương hơn thế là họ đã lớn lên trong cuộc sống mà chế độ đang ra sức tận diệt niềm tin của con người với con ngưòi, của con người với tôn giáo. Và trong tận cùng của sự tệ hại là những thế hệ này đã không được hưởng lấy đôi phần nền giáo dục nhân bản và văn hóa của dân tộc. Thay vào đó là họ phài dùi mài một thứ văn hóa nô lệ, bá đạo, phỉ báng công sức tiền nhân, của tôn giáo và ca tụng kẻ thù của dân tộc. Và có thể, họ đang bị nhồi nhét một thứ văn hóa man rợ là nhận giặc là cha (Hồ chí Minh không chắc là gnười Việt Nam, nhưng là một Cù thị trong kế hoạch Hán hóa của TC?) Với lối giáo dục này, Cs đã làm băng hoại lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam và tệ hơn, nhằm đưa Việt Nam vào vòng nô lệ cho Trung cộng.

Đó là sự thiệt thòi lớn lao cho họ. Tuy nhiên, trí năng của con người không phải như trí năng của loài khỉ đột, bị đóng khung trong những giáo điều gian trá. Trái lại, với những phương tiện truyền tải từ thông tin, dù là thông tin của công sản, đến những câu chuyện trong cuộc sống hằng ngày đã đưa lớp trẻ Việt Nam vào một suy tư, vào một cái nhìn khác với những điều mà cộng sản muốn. Nghĩa là, lớp ngưòi trẻ này đã nhận ra được sự thật. Họ đã bị lừa dối, dân tộc này đã bị cộng sản phản bội. Từ đó, họ tìm ra sự thật.

a. Về con ngưòi.


CS không ngừng truyền dạy lớp trẻ về Hồ chí Minh là “ bác” không có vợ, suốt đời hy sinh vì dân vì nước”. Với họ, đây có thể coi là một chuyện cười thô bỉ nhất thế giới mà CS VN tiếp tục truyền vào học đường hay trong phong cách giáo dục cho học viên CS. Gọi nó là chuyện cười thô bỉ, bời vì Hồ chí Minh, không những chỉ có một, nhưng là có nhiều đời vợ, với đầy đủ giấy tờ cá nhân đã được phơi bày. Tại sao lại phải dối trá như thế? Câu hỏi ngắn, chuyên chở một ý gnhĩa dài. Riêng trường hợp của Nông thị Xuân, thì không có giấy tờ chứng nhận Xuân là vợ của Hồ chí Minh. Nhưng trong trường hợp này thì Hồ chí Minh ( Hồ Quang) lại phạm vào tội đại ác. Đã hiếp Nông thị Xuân ngay từ khi em 16 tuổi, đến khi em sinh con thì từ con và giết Nông thị Xuân. Đ6y là một tội ác. Sự kiện tội ác, không phải là việc Y ăn ở với người khác phái, dù không cưới hỏi. Hoặc làm “ vua” thì có năm thê bảy thiếp nhỏ tuổi. Nhưng sự ác là việc giết ngưòi cách man rợ và quăng xác ra ngoài đường để tạo hiện trường gỉa là một tai nạn lưu thông để bảo vệ cho cái sự kiện gian trá là “ bác không có vợ” của HCM. Quả là một chuyện man rợ cổ kim chưa từng có.

b. Về bài học phản luân lý,


” phải căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bồ mẹ”. (Đèn Cù tr 74), được coi là kim chỉ nam trong đào tạo các đoàn đảng viên CS, lớp trẻ ngày nay cho rằng: Bài học này, người trước nhất phải áp dụng là Vũ Trung còn gọi là Nguyển tất Trung, con đẻ của Hồ chí Minh và Nông thị Xuân. Trung phải ngậm đắng một đời thù hận Hồ chí Minh vì cái chết của ngừoi mẹ là Nông thị Xuân, và không thể thanh minh cho mẹ dù là một câu? Và bản thân Hồ chí Minh thì trong suốt một đời cũng đã thực hiện bài kiểm thảo này một cách trọn vẹn. Y không hề đốt cho cha mẹ một nén nhang! Lời thề “căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ” của HCM đúng vào cả hai trường hợp, dù cha mẹ Y là ngưòi ở làng Kim Liên hay là ở bên Tàu! Thử hỏi, với cái thứ “đạo đức” phản luân lý này đuợc cộng sản đem vào học đường, tuổi trẻ và xã hội Việt Nam đi về đâu? May là lớp trẻ ở đây đã được di truyền nền tảng đời sống luân lý từ gia đình, từ tôn giáo, theo đó, hầu như chỉ có một số rất ít, khoảng 5% dân số học theo thứ luân lý không có quần này mà thôi.

c. Về việc gọi là cứu nước:



Nay thì mọi chuyện giối trá của CS đã bị những thế hệ trẻ này phơi bày ra trước bàn dân thiên hạ. Theo họ, tập đoàn CS Minh, Đồng, Chinh, Duẫn, Giáp… luôn cho mình là những kẻ “đánh Mỹ” cứu nước, thật ra, đây chỉ là một tập đoàn đánh thuê, nhân danh Trung cộng giết ngưòi Việt Nam cho Trung cộng mở rộng bờ cõi về phương nam mà thôi. Bằng chứng là, bản thân Hồ chí Minh là thiếu tá Hồ Quang, (ngưòi Tàu?) đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, tùng sự tại bát lộ quân của Chu Đức trước khi xâm nhập vào đảng CSVN. Kế đến Trường Chinh thì kêu gọi người Việt Nam học tiếng Tàu, dùng thuốc tàu để được làm chư hầu cho Trung Cộng. Phần Lê Duẫn thì hãnh diện tuyên bố để lập công trước mặt Mao là: “ Cuộc chiến này là ta đánh cho Trung Cộng và Liên Sô”. Và “tất cả mọi viêc của chúng tôi làm là tùy thuộc vào Mao chủ tịch”, Phần PVĐ thì đã sớm ký giao Hoàng Sa, Trường Sa của Vỉệt Nam cho Trung Cộng từ 1958. Đến Tố Hữu thì nổi danh với bài thơ “ bên đây biên giới là Tàu (nhà), bên kia biên giới cũng là Trung hoa ( quê hương)!” nên Biển Đông, Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm chỉ còn là bóng mờ nhớ thương trong lòng người Việt, phần thực tế là quê hương của Tàu cộng theo đúng chủ trương của HCM.!

Với những bài học từ Cờ Đỏ như thế, dù chưa nói ra, ai cũng biết Cờ Đỏ không có đất sống trong lòng những thế hệ trẻ hôm nay. Nó chết vì sự vay mượn từ bên Tàu. Nó chết vì đã gây ra quá nhiều tội ác. Và nó chết vì sự gian trá, và bội phản của nó. Theo đó, việc giải thế nó, xé bỏ nó chỉ còn là thời gian. Bởi vì, tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đã lên đường để tìm đến khát vọng của dân tộc. Ngày nay, không một người Việt Nam nào không khao khát đời sống Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và sự Độc Lập của tổ quốc. Sự khát vọng này đã xướng khởi, đã là những nguyên do bùng phát những cuộc tránh đấu tại Việt Nam. Những cuộc tranh đấu tuy còn giới hạn trong phạm vi nhỏ, hay nhiều khi mang tình cá nhân, nhưng nó đã có sẵn và đầy đủ những tố chất cần thiết cho một bước đi toàn diện và quyết liệt. Một bước đi quyết liệt sẽ làm thay đổi toàn cảnh Việt Nam trong tương lai. Thử hỏi, khi người Việt Nam cùng đứng lên xé bỏ Cờ Đỏ, màu cờ nào sẽ là Linh Hồn cho một ước nguyện của dân tộc?

Tôi cho rằng đó là Màu Cờ của Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và Độc Lập Dân Tộc. Đó là Lá Cờ đánh đuổi ngoại xâm đã có từ thời Hai bà Trưng. Đất nước này, dân tộc này còn tồn tại là do màu cờ Chính Nghĩa này đã khởi xướng và lưu truyền lại cho con cháu qua nhiều triều đại. Đó là Lá Cờ truyền thống của dân tộc mà người Miền Nam đã kéo lên lễ đài “ dinh Toàn Quyền” để chấm dứt cuộc đô hộ của thực dân Pháp. Đó là Màu Cờ mà chính phủ miền nam đã kéo lên để mở đường cho hơn một triệu người miền bắc trốn chạy cộng sản, di cư vào nam, xây dựng đời sống vào năm 1954. Đó là Màu Cờ đã phủ lên mình Nguỵ văn Thà và đồng bạn của anh, những người chiến binh đã hy sinh vì tổ quốc trong cuộc chiến Hoàng Sa đánh đuổi quân xâm lăng Trung cộng. Đó là Màu Cờ Vàng mà ngày nay vẫn ngạo nghễ tung bay, khoe sắc trên bầu trời thế giới. Đó là Màu Cờ ở trong tim lòng ngươi dân Việt Nam.

III. Ai và những ai chiến đấu cho Cờ Đỏ, Cờ Vàng? Phần 2.


1.2 .15
Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2015/02/mau-co-bieu-tuong-va-niem-tin-p1.html#more

Bình luận
"Cờ vàng còn, Tổ quốc VN còn. Cờ vàng mất, nước VN mất theo".
"Cộng sản còn, VN mất vào tay Tàu cộng. Cộng sản mất, VN mới trường tồn".
Sự thật đã và đang chứng tỏ tính đúng đắn của 2 mệnh đề trên. Không thể chối cãi.

Cờ vàng là lá cờ truyền thống của dân tộc VN. Cờ đỏ sao vàng là đảng kỳ của cộng sản nguồn gốc bên Tàu. đánh đồng là phạm thượng. Chỉ có những tên Việt gian mất gốc mới suy nghĩ như nick "Mĩ Miều" .
Những sự thật cần phải biết (Phần 8) - Lịch sử lá cờ của dân tộc. Tác giả Đặng Chí Hùng. http://danlambaovn.blogspot.co...
Ảnh Thu Nhỏ 
Và đây 2 bà Trưng hàng ngàn năm trước phất ngọn cờ vàng.
Ngày 17.8.45 từ một buồi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh: “Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.
Và Hồ khựa đã cho mấy tà lọt nó đem cờ đỏ ra để cướp chính phủ Trần Trọng Kim!!!
Tôi không là tôi thì tôi là ai? Chỉ có những kẻ vong bản lấp liếm sự thật, chối bỏ lá cờ truyền thống của dân tộc là chúng không còn là người VN nữa mà thôi.
Nghị Quyết 36 Và Những Hệ Lụy Hình Sự. Tác giả Đỗ Thái Nhiên.
http://chinhnghiaquocgia.blogs...
Gây Tranh Cãi Cờ Vàng, Cờ Đỏ Là Việc Làm Của Bọn “Ăn Cơm Cờ Hoa Thờ Ma Cờ Đỏ”. Tác giả Lão Móc.
http://bacaytruc.com/index.php...

Hoa Kỳ, hãy tỉnh thức: TQ là mối đe dọa thật sự


Hoa Kỳ, hãy tỉnh thức: Trung Quốc là một mối đe dọa thật sự

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 780x520.


Hoa Kỳ phải vượt lên trên nỗi lo sợ phải vạch mặt những hành vi xấu xa của Bắc Kinh vì sợ việc đó sẽ gây thù chuốc oán với Trung Quốc.

By James Jay Carafano
Ngày 07 tháng 2 năm 2015

Nằm giữa sự tự mãn và biện pháp đối đầu là một phương cách nhằm giữ cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương là một nơi đủ lớn để tiếp tục phục vụ các lợi ích sinh tử của cả Bắc Kinh lẫn Washington. Phần trọng trách sẽ phải do Hoa Kỳ đảm nhiệm. Cái đó cũng được thôi. Công việc này sẽ làm cho Hoa Kỳ hùng mạnh hơn và trở thành một đồng minh tốt hơn của châu Á.

Trong suốt thập niên vừa qua, nhà cầm quyền quyền Trung Quốc đã tỏ ra là một cơ chế phản dân chủ, chẳng phải là bạn hữu của thị trường tự do, một tên đầu gấu hạng nhất trên mạng điện toán và là kẻ quan tâm nhiều đến việc làm khác đi hoặc làm ngơ hơn là tôn trọng các chuẩn mực quốc tế. Do không bị kiểm soát, phương pháp quản lý các quan hệ quốc tế của Bắc Kinh đã không có khả năng làm cho thế giới trở thành một nơi tốt lành hay an toàn hơn cho đời sống con người.

Nếu không nằm trong cùng khu vực với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể bỏ qua hành vi của Bắc Kinh và để người khác đối phó với họ. Nhưng hiện nay Trung Quốc và Hoa Kỳ đang bị mắc kẹt với nhau.

Thật không may, chính sách đối phó với Trung Quốc của Hoa Kỳ hiện nay chẳng được tích sự gì. Đó là lý do tại sao TQ cho rằng chính sách đối phó với Hoa Kỳ của họ vẫn hữu hiệu, và mục tiêu của Bắc Kinh là giảm thiểu và gạt bỏ ảnh hưởng của Washington trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Có một chiều kích ngoại giao để cân bằng mối quan hệ ấy, nhưng việc này đòi hỏi Hoa Kỳ phải làm một cách nhịp nhàng hơn với các quốc gia trọng yếu, có nhiều thứ để mất nếu Trung Quốc cứ lấn lướt mãi không ngừng. Những quốc gia đó gồm có Ấn Độ, Australia và Nhật Bản.

Ngoài ra cần phải bao gồm yếu tố quân sự trong cách tiếp cận của Hoa Kỳ. HK sẽ không được tôn trọng trong khu vực nếu các lực lượng vũ trang của họ không đủ nhân số để bảo vệ lợi ích sinh tử của mình, cụ thể là việc bảo đảm tự do cho công chúng (trên không, dưới nước và trên mạng) cũng như ngăn chặn các cuộc xung đột chủ yếu trong khu vực (mà không phải hoàn toàn dựa vào các loại vũ khí hạt nhân).

Nhưng còn có nhiều việc khác nữa để Hoa Kỳ phải làm.

Cần phải có những bước khởi động về ngoại giao và quân sự nhằm đối phó với các mối đe dọa bởi Trung Quốc. Nhưng chính những hành vi vụng về đó (của TQ) lại nảy sinh ra những cơ hội cho phía Hoa Kỳ.

Để tận dụng tối đa những cơ hội này, Hoa Kỳ cần tăng lực cho hai yếu tố bổ sung vào sức mạnh quốc gia: sức mạnh kinh tế và sự tham gia của công chúng. Nhiệm vụ này cũng dễ dàng và thoải mái bởi chúng không chỉ nhằm kiểm soát Trung Quốc, mà còn giúp xây dựng một Hoa Kỳ hùng mạnh và kiên trì hơn nữa, lại còn cải thiện được vị trí của mình trong số đối tác và đồng minh ở châu Á.

Thái độ của Trung Quốc ngày càng làm mòn vẹt các quan hệ của Bắc Kinh đối với các nước chia chung quyền lợi với Hoa Kỳ. Hoa Kỳ không cần phải ganh đua từng li từng tí với Trung Quốc trong việc chi tiêu cho các trường đại học, hệ thống truyền hình và các đoàn thể du lịch. Trung Quốc đã tự tạo những cơ hội rất lớn để chống lại nỗ lực của chính mình. Ngay cả khi họ đổ càng nhiều tiền vào ngoại giao và các chương trình tiếp cận công cộng của mình, thái độ đầu gấu của họ đang bán rẻ thương hiệu Bắc Kinh. Hoa Kỳ lúc này chỉ cần tận dụng cơ hội đó .

Hoa Kỳ không phải ra chiêu với Trung Quốc. Phía Trung Quốc đã tự làm điều đó. Nhưng Hoa Kỳ phải lên tiếng một cách nhất quán và với nhiều quyết tâm hơn. Từ chính quyền, đến cơ quan tư nhân và những tổ chức phi chính phủ, tất cả đều phải vượt thắng nỗi lo sợ phải vạch mặt những hành vi xấu xa của Bắc Kinh vì sợ việc đó sẽ gây thù chuốc oán với Trung Quốc. Hoa Kỳ đã không gây hấn với Trung Quốc trong nhiều năm, và tất cả những gì (HK) đã làm chỉ tạo ra một bầu khí giúp cho Trung Quốc tự tung tự tác hơn trong việc gây hấn với các nước khác.

Hoa Kỳ nên quyết tâm hơn trong việc nói lên sự thật với Bắc Kinh, vạch ra những vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, tham nhũng, trộm cắp sở hữu trí tuệ và kêu gọi sự dung hòa nơi các chế độ độc tài. Hoa Kỳ cũng nên tranh đấu cho các thương hiệu Mỹ, đề cao sự xuất chúng của Mỹ, cũng như doanh nghiệp tự do và dân chủ.

Ở bất cứ nơi nào có người Trung Quốc, người Mỹ phải có mặt và nói, "Khoan đã, còn có một khía cạnh khác của câu chuyện nữa đấy nhé"

Thay vì xóa nhòa sự khác biệt giữa những gì Bắc Kinh muốn và lập trường của mình, Hoa Kỳ cần phải cho bạn bè và đồng minh của mình một lựa chọn rõ ràng về tầm nhìn cho tương lai. Các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương sẽ có những lựa chọn riêng cũng như một biểu đồ vận mệnh minh bạch của họ. Hoa Kỳ cần phải đánh cược rằng, nếu cho họ quyền lựa chọn, sẽ có nhiều nước ngả về phía (Hoa Kỳ) hơn.

Hoa Kỳ cũng cần một nền kinh tế tăng trưởng thực sự. Điều này được thực hiện hiệu quả nhất bằng cách mở rộng tự do kinh tế trong và ngoài nước. Bắc Kinh đã quá sẵn sàng để chờ nhìn sự suy thoái của nền kinh tế như một dấu hiệu cho thấy sự suy yếu không thể tránh khỏi của Hoa Kỳ đã bắt đầu, cũng là lúc cho Trung Quốc bắt đầu thay thế vị trí.

"Chỉ số Tự do Kinh tế" năm 2015 cho thấy, sau 7 năm suy giảm liên tục, tự do kinh tế ở Hoa Kỳ đang thoát ra khỏi tình trạng suy sụp của nó. Sự phục hưng năng lượng của Hoa Kỳ đã phần nào tiếp tay cho việc hồi phục này. Chính trị cũng thế. Khi nhân số trong lưỡng viện đảo ngược, Quốc hội Hoa Kỳ tuy không hoàn thành được nhiều, nhưng nó đã làm chương trình nghị sự của Tổng thống Obama trong việc đối phó với tăng thuế, thâm thủng ngân sách - chi tiêu và các chương trình khác của chính phủ phải khựng lại .

Nếu kinh tế Mỹ thực sự cất cánh, nó sẽ là một trở ngại thật sự cho Trung Quốc. Những trao đổi mậu dịch thật sự thúc đẩy tự do mậu dịch và tự do hóa thị trường sẽ giúp hoàn thành việc này. Việc cải cách thuế, chính sách năng lượng của thị trường tự do và việc giảm bớt gánh nặng tê tái về luật lệ mà ông Obama vẫn bao vây nền kinh tế từ hồi nào đến giờ cũng sẽ giúp ích như thế.

Trong lúc đó, Trung Quốc sẽ tiếp tục mất tự do kinh tế một cách đều đặn. Họ đã đầu tư quá lố ở trong cũng như ngoài nước, nhưng nhiều khoản đầu tư trong số đó thấy rõ là không an toàn.

Cú sốc liên hoàn từ việc hồi sinh một tiếng nói tự tin, cộng với nền kinh tế dũng mãnh của Mỹ, đi đôi với một chính sách ngoại giao khu vực chủ động và sự phục hưng về sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ sẽ làm Bắc Kinh phải suy nghĩ lại xem việc họ hô phong hoán vũ suốt năm vừa qua có đem lại cho chế độ này cái gì tốt đẹp hơn ... hay tệ hại hơn so với ban đầu.

Cuối cùng, Trung Quốc có thể vẫn là ... Trung Quốc. Nhưng điều đó có thể không quan trọng nhiều như bây giờ nếu Hoa Kỳ hồi sinh lôi kéo được tất cả các đòn bẩy theo ý của mình để nâng cao triển vọng cho nền hòa bình, thịnh vượng và tự do trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Về tác giả: James J Carafano là phó chủ tịch của tổ chức Heritage Foundation, trong vai trò giám sát nghiên cứu của các chuyên gia về ngoại vụ và an ninh quốc gia

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/...l-threat-12204
 
Theo: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32754