Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

John Kerry và hội cựu chiến binh phản chiến: Những con rối trong tay Hà Nội * John Kerry and the VVAW: Hanoi's American Puppets?



 Hình ảnh cho www. Ông John Kerry kẻ phản chiến VN

John Kerry và hội cựu chiến binh phản chiến: Những con rối trong tay Hà Nội * John Kerry and the VVAW: Hanoi's American Puppets?

Jerome R. Corsi and Scott Swett (Winter Soldier) / Nguyễn Thu Trâm biên dịch (Danlambao) - Những tài liệu mới được phát hiện cho thấy có sự liên kết giữa các Cựu chiến binh phản chiến với Cộng Sản Việt Nam.
Hai tài liệu tịch thu được từ những cán binh cộng sản Bắc Việt trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Việt Nam, vừa mới được phát hiện gần đây đã hổ trợ mạnh mẽ cho quan điểm cho rằng có một sự liên kết chặt chẽ tồn tại giữa các chế độ cộng sản Hà Nội và Hội Cựu chiến binh phản chiến (VVAW) trong thời gian John Kerry từng làm phát ngôn viên hàng đầu của nhóm phản chiến toàn quốc.


Thông tư: Phối hợp quốc tế, tuyên truyền chống chiến tranh 

Các tài liệu đầu tiên là “Thông Tư 1971” được phân phối bởi những người cộng sản tại Việt Nam. Nội dung “Thông Tư” là thảo luận về các chiến lược để phối hợp nỗ lực tuyên truyền trong nước thông qua các hoạt động văn công nhằm tạo ra sự đồng cảm của các đối tác trong phong trào chống chiến tranh Việt Nam của người Mỹ. Cụ thể, các tài liệu ghi nhận rằng Việt Cộng và các đoàn đại biểu của phía Bắc Việt đến Pará để tham dự cuộc hòa đàm đã được sử dụng như một nối kết thông tin liên lạc nhằm chỉ đạo và điều hướng các hoạt động của các nhà phản chiến đến gặp gỡ họ tại Paris. 
Dưới đây là một số trích dẫn từ tài liệu:
Các phong trào chống chiến tranh tự phát tại Mỹ đã nhận được sự hỗ trợ và hướng dẫn từ đoàn “Thân Hữu Bắc Việt” tại hòa đàm Paris.
- Thông tư về các Phong Trào Phản Chiến ở Mỹ. Tham chiếu đến “VC” biểu thị cộng sản Việt N; “NVN” biểu thị chính phủ Bắc Việt.
Câu này là đặc biệt quan trọng trong sự thừa nhận của John Kerry rằng ông ta đã gặp gỡ với các nhà lãnh đạo của cả hai phái đoàn cộng sản vào hòa đàm Paris vào tháng Sáu năm 1970, trong đó có bà Bình, bộ trưởng ngoại giao của Chính phủ cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (PRG), còn được gọi là Việt Cộng. Hồ sơ của FBI từng ghi nhận rằng Kerry sau đó đã trở lại Paris để gặp gỡ với phái đoàn cộng sản Bắc Việt vào tháng Tám năm 1971, và cũng đã từng lên kế hoạch cho một chuyến đi thứ ba vào tháng Mười Một.
Trước khi phát hiện ra Thông tư này, thì không có bằng chứng trực tiếp rằng Hà Nội đã thực sự chỉ đạo các hoạt động của Phong Trào Phản Chiến ở Mỹ bằng cách truyền đạt các mục tiêu và mong muốn của Hà Nội đến các lãnh đạo phong trào phản chiến thông qua các chuyến thăm thường xuyên của họ đến Paris, mặc dù nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định điều đó là xác thực. Những Phân tích sâu hơn về các tài liệu này đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm cho rằng bà Nguyễn Thị Bình đã sử dụng các cuộc gặp gỡ của y thị với John Kerry ở Paris để hướng dẫn cho Kerry về phương cách mà ông và Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến của Mỹ có thể làm tốt nhất vai trò của người đại diện cho Hà Nội tại Hoa Kỳ. Vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1971, một chiến lược quan trọng của Hà Nội đã được xúc tiến gọi là Kế hoạch hòa bình Bảy điểm của Nguyễn Thị Bình.
Kế hoạch này được xây dựng khéo léo để buộc Tổng thống Nixon phải đưa ra một thời hạn để kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam và rút hết quân đôi Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Theo kế hoạch hòa bình 7 điểm của bà Bình, trở ngại duy nhất để Hà Nội đưa ra thời hiệu phóng thích các tù nhân chiến tranh của Mỹ ấy là Tổng Thống Nixon đã không sẵn sang đưa ra ngày giờ cụ thể cho việc rút quân. Tất nhiên, việc chấp nhận một cách đầy đủ các điều khoản của Kế hoạch hòa bình 7 điểm sẽ buộc chính phủ Hoa Kỳ phải thừa nhận bại trận và đầu hàng, một sự đầu hàng nhục nhã bao gồm việc bồi thường chiến tranh cho phía cộng sản Việt Nam như một là một sự thừa nhận trước công luận quốc tế rằng Hoa Kỳ là kẻ xâm lược sai trái trong một cuộc chiến tranh phi nghĩa.
Một phần của Thông tư có tiêu đề “CHUẨN BỊ CHO PHONG TRÀO PHẢN CHIẾN MÙA THU 1971” đã làm rõ ràng tầm quan trọng của sự phát triển kế hoạch hòa bình 7 điểm của bà Nguyễn Thị Bình mà cộng sản Việt Nam đặt để trên phạm vi nước Mỹ đó là:
Đề nghị hòa bình bảy điểm của Chính phủ cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam không chỉ giải quyết vấn đề liên quan đến việc phóng thích các tù binh Mỹ mà còn thúc đẩy người dân của tất cả các tầng lớp xã hội và thậm chí cả thân nhân của phi công Mỹ bị giam giữ tại Miền Bắc Việt Nam tham gia phong trào chống chiến tranh.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ cho thấy Chính phủ cách mạng lâm Nam Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam “SVN”, tức là Việt Cộng còn Chính Phủ Bắc Việt, “NVN” tức là đề cập đến miền Bắc Việt Nam.
Và một lần nữa, đã nhấn mạnh việc cộng sản Việt Nam xem sự nối kết các hoạt động của phong trào phản chiến Mỹ, nền chính trị Hoa Kỳ và nền chính trị tại Nam Việt Nam với nhau, như là mục tiêu tổng quát của Kế hoạch hòa bình 7 điểm của Thị Bình có một tầm quan trọng như thế nào:
Bè lũ Nixon - Thiệu bè lũ sẽ vô cùng lúng túng vì đề nghị hòa bình bảy điểm được ủng hộ bởi các phong trào đấu tranh trên mặt trận chính trị của các chính trị gia thuộc Chính Phủ Cách Mạnh Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và các phong trào phản chiến ở Mỹ. Vì vậy, tất cả các địa phương, các đơn vị, các phân khu phải phổ biến rộng rãi đề nghị hòa bình bảy điểm này, phải đẩy mạnh phong đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân cả ở các thành phố cũng như ở các vùng nông thôn, tận dụng lợi thế của các rối loạn và chia rẽ trong của phía đối phương (Việt Nam Cộng Hòa) trong cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống sắp tới. Các cơ quan đoàn thể phải phối hợp thành công hơn với các phong trào phản chiến ở Mỹ để cô lập các phe nhóm Nixon - Thiệu.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ. “RVN” nghĩa là Việt Nam Cộng Hòa, tức là chính quyền Miền Nam do Hoa Kỳ hậu thuẩn.
Các gia đình có con em là tù binh chiến tranh: Mục tiêu của Cộng Sản Việt Nam
Cuối năm 1970, một Việt Cộng chiêu hồi đã mô tả lại một kế hoạch mà cộng sản sử dụng những thành phần thân cộng ở Mỹ để vận động các thành viên gia đình của tù binh Mỹ bị giam giữ ở Miền Bắc Việt Nam cùng tham gia trong các phong trào phản chiến. Bản tóm tắt sau đây của cuộc phỏng vấn các cán binh cộng sản hồi chánh đã được cung cấp cho Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện:
Cộng sản Việt Nam đã hoạch đinh một kế hoạch tiếp tục những nỗ lực tuyên truyền, vận động của họ để giành sự đồng tình của thế giới đối với họ và để thu hút càng nhiều những sự hỗ trợ cho cuộc đấu tranh từ các nước khác của cộng sản càng tốt để tạo ra một môi trường thuận lợi cho cộng sản Bắc Việt tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình cho Việt Nam.
Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động phản chiến ở Mỹ, gây tình trạng bất ổn trong nước, bằng các phong trào phản đối sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam để tăng nhanh tiến trình triệt thoái quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam và tạo ra áp lực sớm chấm dứt chiến tranh.
Nỗ lực này sẽ được hướng trực tiếp đến các binh sỹ Hoa Kỳ Mỹ tại Việt Nam để họ yêu sách với chính phủ Hoa Kỳ rằng họ phải được trở về nước và được đoàn tụ với gia đình và vợ của của họ .
Cộng sản Việt Nam sẽ nổ lực để tạo ra các dự thảo chống chiến tranh và thái độ chống chiến tranh ở Mỹ bằng cách tổ chức các nhóm thân cộng tại Hoa Kỳ để các nhóm đó liên lạc với các gia đình có con em đang chiến đấu ở Việt Nam và xúi giục họ gọi con em bỏ ngủ về nước. Đồng thời, các băng nhóm thân cộng tại Hoa Kỳ cũng sẽ được tổ chức để phân phối các dự thảo và truyền đơn chống chiến tranh cho sinh viên và thanh niên Mỹ.
Vào ngày 01 tháng hai năm 1971, tại buổi điều tra của Winter Soldier ở Detroit, các Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã đưa ra lời tuyên bố của bà Virginia Warner, mẹ của tù binh chiến tranh Jim Warner, đôn đốc Tổng thống Nixon phải “kết thúc chiến tranh để các tù nhân chiến tranh có thể trở về nhà.” Jim Warner đã cáo buộc chính John Kerry đã khai thác nỗi sợ hãi của mẹ mình để có được lời tuyên bố đó.
Vào ngày 22 tháng bảy năm 1971, John Kerry đã tổ chức một cuộc họp báo ở Washington DC, kêu gọi Tổng thống Nixon chấp nhận kế hoạch hòa bình 7 điểm của Thị Bình. Tại cuộc họp báo đó, bao quanh Kerry là vô sô vợ con các tù binh chiến tranh cùng cha mẹ và anh chị em của họ được mời tham dự để quảng bá thông điệp của mình. Sự kiện này được tường trình trên tờ Thời Báo New York vào ngày 23 Tháng Bảy năm 1971 và trên tờ Thế Giới Cộng Sản Hàng Ngày vào hôm 24 tháng 7 năm 1971. Mỗi bài viết được đăng kè bức ảnh của Kerry được bao quanh bởi các thành viên gia đình tù binh chiến tranh.
Việc John Kerry sử dụng các gia đình tù binh chiến tranh trong hoạt động phản chiến đã trực tiếp tạo ưu thế cộng sản Bắc Việt trong chương trình nghị sự tại Hòa Đàm Paris như mô tả của cán binh cộng sản hồi chánh cũng như trong Thông tư mới được phát hiện, cho thấy thị Bình đã đề nghị cùng một kế hoạch hành động cho các nhà hoạt động phản chiến mà y thị đã từng gặp gỡ ở Paris.
[Lưu ý: Một số gia đình tù binh chiến tranh đã được liên lạc bởi một nhóm “giao liên” do Cora Weiss, con gái của tài nhà hổ trợ tài chính cho đảng cộng sản, Samuel Rubin, lãnh đạo với những đề xuất là sẽ giúp chuyển thư tín và các thông tin về người chồng tù binh của họ nếu gia đình đồng ý công khai lên án cuộc chiến tranh. Hầu hết các thành viên gia đình tù binh từ chối hợp tác với hành vi tống tiền này, ngay cả khi họ được hứa hẹn sẽ đối xử tốt hơn với chồng hoặc con của họ tại các nhà tù ở Hà Nội. Bốn người vợ tù binh tức giận phản đối tại cuộc họp báo của John Kerry vào tháng bảy, một trong số đó cáo buộc Kerry tội “thường xuyên sử dụng đau khổ và đau buồn của chúng tôi” để xiễn dương tham vọng chính trị của mình.]

Chỉ Thị: Hỗ Trợ Các Cuộc Biểu Tình, Bạo Lọan Trong Nước Mỹ 

Tài liệu thứ hai, lực lượng quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam vào ngày 12 tháng năm 1972, đã bắt giữ một điệp báo cộng sản với chỉ thị được soạn thảo để thúc đẩy các cuộc thảo luận tại Việt Nam về việc thúc đẩy các hoạt động phản chiến đang diễn ra tại Hoa Kỳ. Đoạn thứ năm của tài liệu này đã tường giải rằng những người cộng sản Việt Nam đã được sử dụng cho mục đích tuyên truyền về các hoạt động của Hội Cựu chiến binh Hoa Kỳ chống chiến tranh Việt Nam. Cuộc biểu tình được mô tả là diễn ra từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 4 năm 1971tại Washington DC trùng hợp trực tiếp với các ngày khởi đầu chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, là một cuộc biểu tình do John Kerry đầu têu, trong đó John Kerry làm chứng nhân của cuộc chiến tranh trước Ủy ban Đối ngoại của Thượng nghị sĩ Fulbright là một trung tâm truyền hình. Các mô tả về các hoạt động phản chiến theo Chỉ thị thậm chí bao gồm cả việc “trả lại huy chương” tại chính buổi lễ đó, chính John Kerry và các thành viên khác của nhóm Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã ném bỏ các huy chương và/hoặc ruy băng danh dự của họ xuống các bậc tam cấp của Điện Capitol Hoa Kỳ, cùng với hành động đó là nhiều tiếng la hét đe dọa bạo lực đối với chính phủ.


Các Kết Nối: Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ)

Một luận cứ quan trọng trong các tài liệu cho thấy mức độ mà những người cộng sản Việt Nam đã làm việc với và thông qua các Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý. Thông tư, ngay lập tức tiết lộ các Phái Đoàn Cộng tham dự cuộc đàm phán hòa bình Paris đã được sử dụng để hướng dẫn phong trào phản chiến Mỹ, đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) như thế nào đối với những nỗ lực này:
Đối với các phong trào phản chiến ở Mỹ, thì hai thực thể quan trọng hơn cả là: Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) và Ủy Ban Quốc Gia Hành Động Vì Hòa Bình (NPAC). Hai phong trào này đã tập [jpđược nhiều sức mạnh quần chúng và tổ chức nhiều cuộc biểu tình tuần hành. Trong đó, Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) là quan trọng nhất. Ủy Ban này vẫn duy trì mối quan hệ với chúng tôi.
- Thông tư về các phong trào phản chiến ở Mỹ (Nhấn Mạnh Bổ Sung).
Trong báo cáo thường niên 1971 của Cục Nội An đã mô tả Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) là một tổ chức đặt dưới quyền kiểm soát của cộng sản Mỹ: “Vấn đề đáng quan tâm ở đây là các đảng viên đảng Cộng sản đã tạo ra những ảnh hưởng lớn, và những hướng dẫn có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển các chính sách của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ)”.
Những tường trình về kết quả giám sát của FBI vừa công bố gần đây đã chứng tỏ một mối liên kết mạnh mẽ giữa John Kerry, Al Hubbard, các Cựu Chiến Binh Phản Chiến, Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) và các chuyến đi của họ đến Paris để gặp gỡ với thị Bình. Như những tranh luận được trình bày trong cuốn Unfit For Command, về Hubbard, trưởng ban điều hành của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến và một đường lối cứng rắn cực đoan có quan hệ với các thế lực đen Black Panthers và Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ), đã trực tiếp tuyển dụng John Kerry vào Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến, bỏ qua quá trình bầu cử của tổ chức. Tuyên bố của Al Hubbard rằng bản thân từng là một phi công vận tải, từng bị thương tích trong chiến đấu, đã trở nên bất khả tín khi Bộ Quốc phòng công bố các tài liệu chứng minh rằng, mặc dù Hubbard đã ở trong không lực lượng Không quân, nhưng ông không phải là phi công cũng chẳng phải là sĩ quan, và chưa bao giờ phục vụ tại chiến trường Việt Nam và cũng đã chưa từng tham gia chiến đấu ở bất cứ nơi đâu. Chính ông John Kerry chia sẻ câu chuyện tham chiến của mình với Al Hubbard trong cuộc biểu tình Phản Đối Cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 tại Washington, DC, và Kerry đã xuất hiện cùng với Hubbard trên chương trình Gặp Gỡ Báo Chí trên kênh truyền hình NBC vào ngày 18 Tháng Tư năm 1971. Hubbard cũng đã ký Hiệp ước Hòa Bình Dân Tộc People's Peace Treaty (Giữa Người Mỹ, Người Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam và người Việt Nam Cộng Sản ở Miền Bắc), một tài liệu của Ủy Ban Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ) mà đã tái khẳng định vị trí của Bắc Việt Nam và Việt Cộng, nhân danh Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến.
Một tường trình của FBI ấn ký ngày 11 tháng 11 năm 1971 báo cáo rằng FBI đã nắm bắt được thông tin tại Hội nghị Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến khu vực Norman Oklahoma, vào ngày 5-
Tháng 7, năm 1971, rằng John Kerry và Al Hubbard đã hoạch định chuyến đi đến Paris trong tháng 7 để tham gia vào các cuộc đàm phán hòa bình với các đoàn đại biểu cộng Sản Việt Nam. Trong khi tài liệu này đang được phối kiểm từ nhiều nguồn khác nhau, thì một báo cáo khác của FBI khác đã tường minh rằng Đảng Cộng sản Mỹ lo liệu mọi chi phí cho chuyến đi của Al Hubbard đến Paris.
Cần lưu ý rằng “ĐẢNG CỘNG SẢN” ĐƯỢC ĐỀ CẬP ĐẾN TRÊN RETEL là Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, VÌ AL HUBBARD LÀ THÀNH VIÊN phối hợp của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình Và Công Lý (PCPJ), CŨNG NHƯ GIL GREEN LÀ THÀNH VIÊN CỦA ỦY BAN QUỐC GIA CỦA CỘNG SẢN Hoa Kỳ và Jarvis TYNER LÀ GIÁM ĐỐC LIÊN ĐOÀN THANH NIÊN CÔNG NHÂN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC. HUBBARD, GREEN VÀ TYNER ĐÃ TỪNG CÙNG THAM DỰ CÁC CUỘC HỌP CỦA LIÊN MINH DÂN TỘC VÌ HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ (PCPJ).
- Trong một báo cáo về giám sát thực địa của Cục Điều Tra Liên Bang FBI, nộp ngày 11 tháng 11 năm 1971, gồm một bản sao của báo cáo này được gởi đến văn phòng FBI ở Boston bằng đường hàng không yêu cầu Văn Phòng lưu tâm đặc biệt đến John Kerry .
Một báo cáo khác của Cục Điều Tra Liên Bang FBI trong lĩnh vực giám sát thực địa ngày 24 Tháng 11 năm 19 đã tường trình chi tiết về phần trình bày của Al Hubbard cho các ủy ban điều hành và chỉ đạo Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến trong một cuộc họp tại thành phố Kansas, Missouri, trong suốt những ngày cuối tuần từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 11 năm 1971. Tại cuộc họp này các Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã xem xét, và sau đó đã từ chối kế hoạch ám sát một số thượng nghị sĩ Hoa Kỳ ủng hộ cuộc chiến tranh Việt Nam. John Kerry được ghi nhận là có hiện diện trong cuộc họp. Một lần nữa, Al Hubbard đã làm sáng tỏ thêm sự phối hợp của cộng sản có liên quan đến chuyến đi gần đây của ông đến Paris:
[BLACK OUT] Xin được thông báo rằng Hubbard đã cung cấp các thông tin sau về chuyến đi Paris của mình như sau:
Có hai thực thể nước ngoài, một là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, đã mời đại diện của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến cùng đại diện Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, và một nhóm cánh tả tại Paris, cùng tham dự cuộc họp của họ ở Paris. Hubbard khai là ông được bầu chọn để đại diện cho Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến. Một người đàn ông khác, không rõ danh tính đã được mời đại diện cho đảng cộng sản Hoa Kỳ và một cá nhân không rõ danh tính khác đã được tuyển chọn để đại diện cho các nhóm cánh tả ở Paris. Tại cuộc họp, Hubbard cũng đã trình bày rằng chuyến đi của ông được tài trợ bởi Đảng Cộng Sản Mỹ.
- Báo cáo giám sát thực địa của Cục Điều Tra Liên Bang, nộp 24 Tháng 11 năm 1971.
Một lá thư do Al Hubbard viết vào ngày 20 tháng 4 năm 1971 đã xóa tan mọi nghi ngờ về sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội Cựu chiến binh chống chiến tranh Việt Nam và Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý. Địa chỉ nơi gửi đi là từ các văn phòng Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến ở Washington, DC, bức thư đưa ra lời kêu gọi cho các thành viên của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến hãy dành sự hỗ trợ cho Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). Nội dung bức thư cũng bàn thảo về một số phương cách mà hai tổ chức đó đã làm việc chặt chẽ với nhau:
Đây là một lời kêu gọi giúp đỡ cho Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). Trong những tháng qua, Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ). đã hỗ trợ Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến bằng nhiều cách. Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ) đã cung cấp miễn phí văn phòng làm việc cho Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến, và Liên Minh cũng cho phép Hội được sử dụng tất cả các thiết bị văn phòng cần thiết như máy máy quay rô nê ô, máy làm stencil thư mục và máy đánh chữ. Họ cho chúng tôi mượn chiếc xe hơi, phương tiện thông tin, và thiết bị địa chỉ công cộng. Nhân viên của họ đã tiếp nhận thông tin báo chí cho chúng tôi và giúp chúng tôi tham gia cùng chúng tôi trong tình đồng chí để giúp đỡ cho chúng tôi cùng tiến bộ của chúng tôi. Bây giờ là lúc mà chúng ta có thể đáp trả lại bằng sự hỗ trợ này.
Vào ngày thứ bảy, 24 Tháng Tư, Liên minh cần sự giúp đỡ quyên góp tiền và bán các nút bấm tại cuộc diễu hành tuyệt và cuộc biểu tình lớn. Những người làm công việc quyên góp và bán hàng phải tràn đầy hang hái và quyết tâm. Sẽ có vấn đề rắc rối về an ninh trong việc mang số tiền lớn đến các ngân hàng. Liên minh cần quyền lực của nhân dân, và cần hàng trăm người tham gia trợ giúp.
Tôi tha thiết mong các bạn sẽ tiến lên để hỗ trợ cho bạn bè của chúng tôi trong trường hợp khẩn cấp này.
- Al Hubbard đã ký tên dưới bức thư, từ Văn Phòng Hội Cựu Chiến Binh Phản chiến tại phòng 900, 1029 Đại Lộ Vermont. N.W. Washington, DC, ngày ngày 20 tháng 4 năm 1971. Bức thư dược tìm thấy trong hồ sơ đối tượng tại Ủy Ban An Ninh Nội Địa, Washington, DC
Hai ngày sau khi bức thư được viết ra, John Kerry đã thực hiện một buổi làm chứng nổi tiếng của mình trước Thượng nghị sĩ Fulbright của Ủy ban Đối ngoại, trong đó ông so sánh quân đội Mỹ tại Việt Nam với quân đội của Thành Cát Tư Hãn. Cuộc tuần hành và biểu tình mà Hubbard đã được kêu gọi sự hỗ trợ của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã trở thành cuộc biểu tình với quy mô lớn của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ) vào ngày 24 tháng 4 ở Washington, DC mà ngay lập tức theo sau là một cuộc biểu tình của Hội Cựu Chiến Binh Phản chiến phản đối cuộc hành quân Lam Sơn 719 kéo dài một tuần. Tờ Thế Giới Cộng Sản hàng ngày đã tường thuật vào ngày 27 tháng 4 rằng “Cống vật đặc biệt đã được dùng để trả công cho vai trò đặc biệt của Cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam” đã tham gia vào cuộc biểu tình của Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ), và chương trình tường thuật được tiếp nối bằng phần trích dẫn bài phát biểu dài lê thê của John Kerry tại sự kiện đó.

Đối Tác Sẵn Sàng: Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến và Cộng Sản Việt Nam

Có vô số những ví dụ khác về sự vận động của Hội Cựu Chiến Binh Phản chiến cho vị thế của cộng sản Việt Nam trong thời gian John Kerry lãnh đạo hội. Nhóm Phản Chiến đã ban hành một tuyên bố vào tháng Hai năm 1971 kêu gọi đại chúng bất tuân dân sự và binh biến quân sự nếu các lực lượng Mỹ hành quân vào Lào. Sau chiến tranh, các nhà lãnh đạo quân sự Bắc Việt đã thừa nhận rằng một trong những lo ngại lớn nhất của họ là Mỹ sẽ di chuyển lực lượng đáng kể vào Lào để ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh. Sự háo hức của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến trong việc tuân thủ các nguyện vọng của cộng sản Việt Nam thậm chí còn mở rộng sự lựa chọn của danh mục. Ban Chấp hành Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến đã nói trong một cuộc họp tháng 7 năm 1971 rằng các thuật ngữ như “Việt Cộng” và “Cộng Sản Bắc Việt” đã không được sử dụng trong các thông cáo báo chí của truyền thông và của Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến. Thay vào đó, chúng ta chỉ sử dụng nhóm từ “Chính Phủ Cách Mạnh Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (Tức Cộng Sản Bắc Việt) để phản ánh sự chấp nhận của chúng ta đối với các chỉ định của họ. Và Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến vẫn không ngớt nhấn mạnh rằng các lực lượng Mỹ đã thảm sát hàng loạt thường dân Việt Nam, là hành động lặp lại một cách hoàn hảo những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc sự thật do chính bọn cộng sản Việt Nam đưa ra và được các đồng minh cộng sản quốc tế của họ hà hơi tiếp sức tuyên truyền, gồm cả mẫu quốc Liên Xô của cộng sản Bắc Việt.

Kết luận

Các tài liệu mới được phát hiện giúp làm rõ sự liên minh ma quỷ giữa của Bắc Việt, Việt Cộng , Liên Minh Dân Tộc Vì Hòa Bình và Công Lý (PCPJ), Đảng Cộng sản Mỹ, và Hội Cựu Chiến Binh Phản Chiến của John Kerry. Những cứ liệu đó đã chỉ ra rằng các tổ chức này đã làm việc chặt chẽ với nhau, bằng cách sử dụng hòa đàm Paris như một trung tâm thông tin liên lạc, để sử dụng các chiến lược và chiến thuật do cộng sản Bắc Việt hoạch định nhằm đạt được mục tiêu chính của họ là đánh bại Hoa Kỳ tại Việt Nam.
___________________________________

JOHN KERRY AND THE VVAW: HANOI'S AMERICAN PUPPETS?

Jerome R. Corsi and Scott Swett (Winter Soldier) Newly discovered documents link Vietnam Veterans Against the War to Vietnamese communists
Two recently discovered documents captured from the Vietnamese communists during the Vietnam War strongly support the contention that a close link existed between the Hanoi regime and the Vietnam Veterans Against the War (VVAW) while John Kerry served as the group's leading national spokesman.


The Circular: International Coordination of Antiwar Propaganda

The first document is a 1971 "Circular" distributed by the Vietnamese communists within Vietnam. It discusses strategies to coordinate their national propaganda effort with their orchestration of the activities of sympathetic counterparts in the American anti-war movement. Specifically, the document notes that the Vietcong and North Vietnamese delegations to the Paris Peace talks were being used as the communications link to direct the activities of anti-war activists meeting with them in Paris. To quote from the document:
The spontaneous antiwar movements in the US have received assistance and guidance from the friendly (VC/NVN) delegations at the Paris Peace Talks. 
- Circular on Antiwar Movements in the US. The reference to "VC" indicates the Vietcong; "NVN" is the North Vietnamese government. 
This sentence is particularly important in light of John Kerry's admission that he met with leaders of both communist delegations to the Paris Peace Talks in June 1970, including Madame Binh, foreign minister of the Provisional Revolutionary Government (PRG) of South Vietnam, also known as the Vietcong. FBI files record that Kerry returned to Paris to meet with the North Vietnamese delegation in August of 1971, and planned a third trip in November. 
Prior to the discovery of the Circular, there was no direct evidence that Hanoi was actually steering the U.S. antiwar movement's activities by conveying Hanoi's goals and wishes to movement leaders during their frequent visits to Paris, though many investigators had assumed that to be the case. Further analysis of this document supports the contention that Madame Binh used her Paris meeting with John Kerry to instruct him on how he and the VVAW might best serve as Hanoi's surrogates in the United States. In the spring and summer of 1971, a key strategy of Hanoi was to advance what was known as Madame Binh's Seven Point Peace Plan
The plan was cleverly constructed to force President Nixon to set a date to end the Vietnam War and withdraw American troops. According to the 7-Point Peace Plan of Madame Binh, the only barrier to Hanoi setting a date to release American Prisoners of War was President Nixon's unwillingness to set a specific date for military withdrawal. Of course, accepting the full terms of the 7-Point Peace Plan would have amounted to an American capitulation, a virtual surrender that included the payment of reparations to the Vietnam communists as an admission that America was the wrongful aggressor in an immoral war. 
A section of the Circular titled "PREPARATION FOR THE FALL ((1971)) ANTIWAR MOVEMENT" makes clear the importance the Vietnamese Communists placed on advancing Madame Binh's 7-Point Peace Plan within the United States: 
The seven-point peace proposal ((of the SVN Provisional Revolutionary Government)) not only solved problems concerning the release of US prisoners but also motivated the people of all walks of life and even relatives of US pilots detained in NVN to participate in the antiwar movement. 
- Circular on Antiwar Movements in the US. "SVN" indicates the South Vietnam Provisional Revolutionary Government, i.e., the Vietcong. "NVN" refers to North Vietnam. 
And again, highlighting how the Vietnamese communists viewed the activities of the US antiwar movement, US politics, and politics in South Vietnam as interconnected; all to be targeted by Madame Binh's 7-Point Peace Plan: 
The Nixon-Thieu clique is very embarrassed because the seven-point peace proposal is supported by the SVN people's (( political struggle)) movement and the antiwar movements in the US. Therefore, all local areas, units, and branches must widely disseminate the seven-point peace proposal, step up the people's ((political struggle)) movements both in cities and rural areas, taking advantage of disturbances and dissensions in the enemy's forthcoming (RVN) Congressional and Presidential elections. They must coordinate more successfully with the antiwar movements in the US so as to isolate the Nixon-Thieu clique. 
- Circular on Antiwar Movements in the US. "RVN" refers to the Republic of Vietnam, the government in South Vietnam supported by the US. 


POW Families: Targets of the Vietnamese Communists 

Late in 1970, a defecting Vietcong organizer described a communist plan to use Vietcong sympathizers in the US to recruit family members of American POWs held captive in North Vietnam. The following summary of his interview was provided to the House Foreign Affairs Committee: 
The Viet Cong plan to continue their efforts to win worldwide opinion to their side and to solicit as much material support for the VC struggle as possible from other countries in order to create a favorable climate for the VC at the Paris Peace Conference. 
The Viet Cong will continue to promote domestic unrest against the war in the United States in order to speed withdrawal of US troops and create pressure for an end to the war. 
Efforts will be directed toward the US soldier in Vietnam to demand that they be returned to the US and be reunited with their families and wives. 
The VC will strive to create anti-draft and anti-war attitudes in the US by organizing VC sympathizers in the US to contact families with sons in Vietnam and urge them to call their sons home. Also VC sympathizers in the US will be organized to distribute anti-draft leaflets to students and young people. 
On February 1, 1971, at their Winter Soldier Investigation in Detroit, the VVAW released a statement by Virginia Warner, mother of American POW Jim Warner, urging President Nixon to "end the war so the prisoners of war can come home." Jim Warner has accused John Kerry of exploiting his mother's fears to obtain this statement. 
On July 22, 1971, John Kerry held a press conference in Washington, DC, to call upon President Nixon to accept Madame Binh's 7-Point Peace Plan. Kerry surrounded himself at the press conference with POW wives, parents and sisters who had been recruited to promote his message. The event was reported in The New York Times of July 23, 1971 and the communist Daily World of July 24, 1971. Each article included a photograph of Kerry surrounded by POW family members. 
Kerry's use of POW families directly advanced the North Vietnamese communist agenda as described by enemy defectors and in the newly discovered Circular, which suggests that Madame Binh had recommended the same course of action to antiwar activists meeting with her in Paris. 
[Note: A number of POW families were contacted by a "liason" group headed by Cora Weiss, the daughter of Communist Party financier Samuel Rubin, with offers to provide mail and information about their husbands if the families agreed to publicly denounce the war. Most POW family members refused to cooperate with this extortion, even when promised better treatment for their husbands or sons in Hanoi. Four angry POW wives protested at Kerry's July press conference, one of whom accused Kerry of "constantly using our own suffering and grief" to advance his political ambitions.] 

The Directive: Supporting the US Domestic Insurgency 

The second document, captured by US military forces in South Vietnam on May 12, 1972, is a communist Directive designed to motivate discussions within Vietnam about promoting the ongoing antiwar activities in the United States. The fifth paragraph of this document makes clear that the Vietnamese communists were utilizing for their propaganda purposes the activities of the Vietnam Veterans Against the War. The protest described as occurring from April 19 through April 22, 1971 coincides directly with the dates of Dewey Canyon III, the Washington, DC, protest led by John Kerry, during which John Kerry's testimony before Senator Fulbright's Foreign Relations Committee was a televised centerpiece. The description of the protest activities in the Directive even include the "return their medals" ceremony in which John Kerry and other VVAW members threw their medals and/or ribbons toward the steps of the US Capitol, with several shouting threats of violence against their government as they did so. 

The Connection: The People's Committee for Peace and Justice 

Another key discussion in the documents reveals the degree to which the Vietnamese communists were working with and through the PCPJ (People's Coalition for Peace and Justice. The Circular, immediately after disclosing how the communist delegations to the Paris Peace talks were being used to guide the US antiwar movement, stresses the importance of the PCPJ to these efforts: 
Of the US antiwar movements, the two most important ones are: The PCPJ ((the People's Committee for Peace and Justice)) and the NPAC ((National Peace Action Committee)). These two movements have gathered much strength and staged many demonstrations. The PCPJ is the most important. It maintains relations with us. 
- Circular on Antiwar Movements in the US (emphasis added). 
The House Internal Security Committee in its 1971 Annual Report described the PCPJ as an organization strongly controlled by US communists: "There is no question but what members of the Communist Party have provided a very strong degree of influence, even a guiding influence, in the evolution and formation of policies of the Peoples' Coalition for Peace and Justice." 
Recently released FBI surveillance reports establish a strong link between John Kerry, Al Hubbard, the VVAW, the PCPJ, and their trips to Paris to meet with Madame Binh. As discussed in Unfit for Command, Hubbard, the Executive Secretary of the VVAW and a hard-line radical with ties to the Black Panthers and the PCPJ, had directly recruited John Kerry into the VVAW's Executive Committee, bypassing the organization's election process. Al Hubbard's own claim to have been a transport pilot wounded in combat was discredited when the Department of Defense released documents demonstrating that, though Hubbard had been in the Air Force, he was neither a pilot nor an officer, had never served in Vietnam and had never been in combat. John Kerry shared the stage with Al Hubbard during the Dewey Canyon III protest in Washington, D.C., and he appeared together with Hubbard on NBC's Meet the Press on April 18, 1971. Hubbard also signed the People's Peace Treaty, a PCPJ document that reiterated the positions of North Vietnam and the Vietcong, on behalf of the VVAW. 
An FBI field surveillance report stamped November 11, 1971 reported that the FBI had learned at the Regional VVAW Convention in Norman Oklahoma, on November 5-7, 1971, that John Kerry and Al Hubbard were planning to travel to Paris later in the month to engage in talks with the Vietnamese communist peace delegations. While this document is heavily redacted, other FBI reports make it clear that the Communist Party of the USA was paying for Al Hubbard's trips to Paris. 
IT IS NOTED THAT THE "COMMUNIST PARTY" REFERRED IN RETEL IS PROBABLY THE COMMUNIST PARTY, USA, BECAUSE AL HUBBARD IS A MEMBER OF COORDINATING OF PEOPLES COALITION FOR PEACE AND JUSTICE (PCPJ), AS ARE GIL GREEN, MEMBER OF NATIONAL COMMITTEE, COMMUNIST PARTY, USA AND JARVIS TYNER, NATIONAL DIRECTOR, YOUNG WORKERS LIBERATION LEAGUE. HUBBARD, GREEN AND TYNER HAVE ATTENDED SAME NATIONAL MEETINGS OF PCPJ. 
- Federal Bureau of Investigations, Field Surveillance Report, filed November 11, 1971. A copy of this report was air-mailed to the Boston FBI office in reference to John Kerry. 
An FBI field surveillance report dated November 24, 1971 details Al Hubbard's presentation to a VVAW meeting of the Executive and Steering committees in Kansas City, Missouri, during the weekend of November 12-15, 1971 -- the same meeting at which the VVAW considered, then rejected a plan to assassinate several pro-war US Senators. John Kerry is listed as present. Once again, Al Hubbard made clear the communist coordination involved in his recent trip to Paris: 
[BLACK OUT] advised that Hubbard gave the following information regarding his Paris trip: 
Two foreign groups, which are Democratic Republic of Vietnam (DRV) and Peoples Republic Government (PRG) (phonetic), invited representatives of the VVAW, Communist Party USA (CP USA), and a Left Wing group in Paris, to attend meeting of the above inviting groups in Paris. Hubbard advised he was elected to represent the VVAW. An unknown male was invited to represent the CP USA and an unknown individual was elected to represent the Left Wing group from Paris. He advised at the meeting that his trip was financed by CP USA. 
- Federal Bureau of Investigations, Field Surveillance Report, filed November 24, 1971. 
A letter written by Al Hubbard on April 20, 1971 leaves no doubt about the strong coordination between the Vietnam Veterans Against the War and the People's Coalition for Peace and Justice. Addressed from the offices of the VVAW in Washington, D.C., the letter is an appeal to VVAW members to provide assistance to the PCPJ. It discusses several ways in which the two organizations have worked closely together: 
This is an appeal for help for the Peoples Coalition for Peace and Justice. Over the past months the Peoples Coalition has supported the Vietnam Vets Against the War in many ways. The Coalition has made office space available at no charge, and permitted the use of all necessary office equipment such as mimeograph machines, stencil-making machines, folders and typewriters. They have loaned us cars, bullhorns, and public address equipment. Their staff has taken messages for us and joined fraternally in building our progress. Now we can return this support. 
Saturday, April 24, the Coalition needs help collecting money and selling buttons at the great march and rally. Collectors and sellers must be energetic and determined. Theree will be security problems in taking large amounts of money to banks. The Coalition needs people power, hundreds of workers. 
I earnestly hope that you will come forward to support our friends in this emergency. 
- Letter signed by Al Hubbard, addressed from the Vietnam Veterans Against the War office at Room 900, 1029 Vermont Ave. N.W., Washington, D.C., dated April 20, 1971. Found in the House Internal Security Committee subject files, Washington, D.C. 
Two days after the letter was written, John Kerry gave his famous testimony to Senator Fulbright's Foreign Relations Committee in which he likened the American military in Vietnam to the army of Ghengis Khan. The march and rally for which Hubbard was recruiting VVAW assistance was the PCPJ's massive April 24 demonstration in Washington, which immediately followed the VVAW's week-long Dewey Canyon III protest. The communist Daily world reported on April 27 that "Tributes were paid to the special role of the Vietnam Veterans" at the PCPJ rally, and went on to quote at length from John Kerry's speech at that event. 

Willing Partners: the VVAW and the Vietnamese Communists 

Other examples of the VVAW's advocacy of Vietnamese communist positions during the period of John Kerry's leadership abound. The group issued a proclamation in February 1971 calling for mass civil disobedience and military mutiny if American forces entered Laos. After the war, North Vietnamese military leaders acknowledged that one of their greatest fears was that America would move significant forces into Laos to interdict the Ho Chi Minh Trail. The VVAW's eagerness to comply with the wishes of the Vietnamese communists even extended to its choice of nomenclature. The VVAW's Executive Committee stated in a July 1971 meeting that the terms "Vietcong" and "North Vietnamese" were not to be used in VVAW press releases and communications. Instead, "PRG (Provisional Revolutionary Government)" and "DRV (Democratic Republic of Vietnam)"... "are to be used by us to reflect our acceptance of their designations." And the VVAW's unremitting insistence that American forces were mass-murdering Vietnamese civilians perfectly echoed the primary propaganda theme put forth by the Vietnamese communists, their international communist allies, and their Soviet sponsors. 

Conclusion 

The newly uncovered documents help clarify the relationship of the North Vietnamese, the Vietcong, the PCPJ, the Communist Party of the USA, and John Kerry's VVAW. They indicate that these organizations worked closely together, using the Paris Peace Talks as a central point of communication, to employ the strategy and tactics devised by the Vietnamese communists to achieve their primary objective: the defeat of the United States of America in Vietnam. 
- by Jerome R. Corsi and Scott Swett 
_______________________________
[Note 1: On October 22, 2004, Swift Veterans and POWs for Truth researchers Troy Jenkins and Tom Wyld located the two Vietnamese communist documents referenced above in the archives of the Vietnam Center at Texas Tech University, in the Douglas Pike Collection. Douglas Pike was a leading authority on the Vietnam War who collected over 2 million pages of original documents now archived at the Vietnam Center. James Reckner, Ph.D., Director of the Vietnam Center at Texas Tech, verifies that the documents in the Pike collection are original and authentic. The Circular and the Directive are listed as items numbered 2150901039b and 2150901041 respectively.] 
[Note 2: The authors wish to thank Max Friedman for making available two additional documents, first, Al Hubbard's April 20, 1971 letter to the VVAW membership. The full citation is: National Peace Action Coalition (NPAC) and Peoples Coalition for Peace & Justice (PCPJ) Part I, hearings before the Committee on Internal Security, House of Representatives, 92nd Congress, First Session, May 18-21, 1971, p. 1796. The second document, "Extracts from an interview with a Viet Cong returnee" comes from the American Prisoners of War in Southeast Asia 1971 hearings before the Subcommittee on National Security Policy and Scientific Development, House Foreign Affairs Committee, 92nd Congress First Congress, March 23-25, 30-31, April 1, 6 & 20, 1971, Testimony of Max P. Friedman, pg 299.]
Nguồn:  http://danlambaovn.blogspot.com/2013/12/john-keery-va-hoi-cuu-chien-binh-phan.html
 Bình luận


Phát hiện về việc “có một sự liên kết chặt chẽ tồn tại giữa các chế độ cộng sản Hà Nội và Hội Cựu chiến binh phản chiến (VVAW) trong thời gian John Kerry từng làm phát ngôn viên hàng đầu của nhóm phản chiến toàn quốc” được đưa ra lúc này không gì khác là nhằm vào Ngoại trưởng John Kerry, tức là nhằm vào đường lối ngoại giao của TT Obama. Chẳng quá là vì những người chống cộng đang ngày đêm ra rả về một chế độ CS ở VN đang tàn lụi, vậy mà John Kerry đã dám nói ngược thì chuyện chọi đá là đương nhiên. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. “Cách đây nhiều năm, chúng ta đều có một sự tưởng tượng là chúng ta muốn có thể nghĩ về Việt Nam, trong rất nhiều năm khi bạn nói từ “Việt Nam”, chúng ta chỉ nghĩ về một cuộc chiến. Nhiều người trong chúng ta không muốn nghĩ theo cách đó. Giờ đây, khi bạn nói từ “Việt Nam” và bạn nghĩ về một đất nước, bạn nghĩ về một sân chơi đã thay đổi, một trong những quốc gia đang tăng trưởng, đóng góp và chuyển đổi của thế giới. Tôi nghĩ rằng cơ hội cho tương lai là to lớn…”. Vậy là kết luận: John Kerry là con rối trong tay Hà Nội!


Có vài ngộ nhận mà "bienhoa" nên biết trước khi tự sướng
- Những "phát hiện..." về Kerry không phải mới được phát hiện và đưa ra vào lúc này, nó đã được người Việt tố cáo từ lâu nhưng truyền thông phương Tây lờ đi cho đến khi hắn (Kerry) ra tranh cử TT/Mỹ, khi đó ngưòi ta mới "rà soát" lại quá khứ (của tất cả ứng cử viên) và phát hiện nhiều dối trá trong tiểu sử của Kerry, những điều mà "bienhoa" đọc được trên diễn đàn này về hắn chưa là gì cả, nhiều điều khác còn bỉ ổi hơn mà hắn (và ủy ban tranh cử của hắn) đã dùng kẻ hở luật pháp để che dấu, cản trở truyền thông bóc mẽ.
- CS ở VN đang tàn lụi là việc có thật đang diễn ra, người ta nói về việc đó dựa trên những chỉ số kinh tế, niền tin, an toàn xã hội... những điều mà nhà cần quyền VN đang cố che dấu bằng những hào nhoáng phù phiếm, cái mà "bienhoa" tự sướng là "quốc gia đang tăng trưởng, đóng góp và chuyển đổi thế giới". Một quốc gia bị ngoại bang ức hiếp không biết đường mà đối phó, một đất nước mà nội trị nát bét, tệ nạn xã hội tràn ngập mọi ngóc ngách của cuộc sống, lòng người thì vô cảm, nghi kị, ly tán. Một đất nước như thế lấy cái gì để đóng góp và chuyển đổi thế giới ngoài việc bán rẽ nhân lực, tài nguyên cho thiên hạ bóc lột !?.
- Bây giờ nói về VN người ta không còn nghĩ về "một cuộc chiến", chỉ những kẻ đang ăn mày quá khứ mới níu kéo quá khứ cuộc chiến để hợp thức hóa sự độc quyền phi lý. Bây giờ nói đến VN là nói đến bất công, bất ổn, bất minh, nói đến VN là nói đến chính trị hà khắc, đạo đức suy đồi, xã hội lụn bại... Những người chống cọng là những người muốn thay đổi những tác tệ đó chứ không phải vì "hận thù chiến tranh" như dảng CSVN đang cố tình xuyên tạc.
- Bài viết trong một chừng mực nào đó cũng có ích cho Hà Nội, John Kerry là con rối trong tay Hà Nội hay Hà Nội là con rối trong tay Kerry thì phải coi ai khai thác được ai nhiều hơn. Trong cuộc chiến Hà Nội lợi dụng những người như Kerry cho những vận động chính trị của mình, thì Kerry cũng lợi dụng cuộc chiến, lợi dụng những quan hệ với Hà Nội để mở cho mình một "hoạn lộ" mà suýt chút nữa đã lên tột đỉnh vinh quang, qúa khứ đã vậy tương lai cũng sẽ vậy, bài viết sẽ giúp cho Hà Nội nếu họ biết học từ... "kẻ thù" (?).
Chẳng có gì gọi là "chọi đá" ở đây !!!



Mặt ngựa thì đã sao, vậy chứ Hồ Chí Minh có cái mặt cunt mà cả dân tộc Việt
Nam đều gọi là “Bác”, thậm chí là “Cha Già Dân Tộc” đó thôi!



  • (Trích)"Một bài báo ở phương Tây đã tiết lộ về chuyến đi của Bush đến HN năm 2006, ban đầu dự trù gặp gỡ các nhà đấu tranh dân chủ VN, nhưng đã không làm vì HN thoả thuận yêu cầu của Bush là không lên án chiến tranh của Mỹ ở Irag. ... Vụ Kerry hoạt náo có lợi cho HN biết đâu lại không có bàn tay của Nixon dính vào để sớm rút quân khỏi VN."
    Có thì hãy nói nhé. Nói mà không có căn cứ là nói xàm vậy.

Dân oan ngủ hè giá rét, thủ tướng lo chỗ ở cho công nhân Tàu.


Dân oan ngủ hè giá rét, thủ tướng lo nhà ở cho công nhân Tàu.


Hỗ trợ dự án nhà ở công nhân KKT Vũng Áng
Thủ tướng Chính phủ đồng ý ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho tỉnh Hà Tĩnh trong kế hoạch hàng năm để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư Dự án thí điểm nhà ở công nhân Khu kinh tế (KKT) Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo mức hỗ trợ không quá 281 tỷ đồng và giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xử lý cụ thể theo quy định.
UBND tỉnh Hà Tĩnh chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng số vốn được hỗ trợ trên đúng mục đích, đúng đối tượng và đúng quy định của pháp luật, chủ động bố trí ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện, đảo đảm hoàn thành dự án đưa vào sử dụng.
Theo Baomoi.com


Theo tin từ FB dân oan : rất nhiều dân oan đã nhiều ngày nay ngủ trên hè, dưới giá rét tại bên ngoài cổng trụ sở tiếp dân nhà nước Số 1 Ngô Thì Nhậm Hà Đông Hà nội.

Tối qua, công an ném mắm vào lều bạt của dân oan ngủ hè đường.



Trụ sở tiếp dân bên trong được khóa kín cửa, sân và sảnh chờ tiếp dân rất rộng, có điện và nhà vẹ sinh công cộng rất rộng rãi, có bảo vệ canh gác suốt ngày đêm, tuy nhiên ban đêm thì bỏ không, bảo vệ canh gác kỹ lưỡng.
Vậy trụ sở này được xây bằng tiền của ai ? Của dân hay của quan ? Kẻ nào gây ra các oan sai khiến dân khiếu kiện, khiến dân phải ngủ hè đường trong giá rét ? Chủ tịch Quốc hội và chủ tịch nước hãy trả lời xem ?


ĐMCS .
(Xuân VN)
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32668

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Một hình ảnh đầy ấn tượng về Henry Kisinger tên lái buôn chính trị


Một hình ảnh đầy ấn tượng về Henry Kisinger tên lái buôn chính trị kẻ thù của miền Nam tự do


Biểu ngữ viết "Henry Kisinger tên tội phạm chiến tranh" (nguồn The Christian Science Monitor)

Bức hình trên mô tả cảnh dân chúng Mỹ xông vào buổi họp thường kỳ của Ủy Ban Quân Sự Thượng viện do thượng nghị sĩ John Mc Cain chủ tọa vào ngày 29 tháng Giêng 2015 để phản đối sự có mặt của Henry Kisinger, người mà họ gọi là "tội phạm chiến tranh", và là người cứ có mặt ở đâu là dân chúng kéo đến biểu tình ở đó, giống như John Kerry và Jane Fonda. Henry Kisinger từng làm cố vấn tổng thống trước khi được bổ nhiệm làm ngoại trưởng Hoa Kỳ 1969- 1973. Với người Việt Nam, Kissinger không những là một "tội đồ chiến tranh" mà còn là một đồng minh phản bội, kẻ đã bán đứng miền Nam cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế khi đã chủ trương cắt đứt viện trợ quân sự cho miền Nam trong cơn lốc của cuộc chiến chống hiểm họa xâm lăng của cs miền Bắc, một mặt "đi đêm" với Bắc Kinh , bỏ mặc quân đội VNCH cô đơn trấn giữ tiền đồn chống cộng dưới sự tấn công mọi mặt của bè lũ VC-TC, trên mặt trận dân vận cũng như trên bàn thương thảo quốc tế !

Là một người tị nạn, tôi không bao giờ quên câu chuyện một cô sinh viên tị nạn ở Calif mà có lẽ đầu thập niên 1980's nhiều cư dân ở đó còn nhớ rõ hơn tôi, đã lợi dụng dịp Kissinger về trường cô thuyết trình, cô đã can đảm đứng lên hạch hỏi và chỉ mặt Kissinger, gọi ông là kẻ phản bội, kẻ bán đứng đồng minh VNCH chỉ vì muốn chia chác quyền lực với Bắc kinh. Có lẽ Kissinger cũng không thể ngờ được phản ứng quá quyết liệt của một cô gái tị nạn "miệng còn hôi sữa", tiếng Anh bập bẹ mà đã có lá gan Triệu Trưng to lớn đến thế để thay mặt dân tộc VN "rửa nhục" cho đồng bào chiến sĩ của mình ! Ai nghe chắc cũng hả dạ mặc dù cô bị Kissinger run môi mắng mỏ là "đứa con nít, biết gì" !!!

Mời đọc bài sau đây để nhận biết thêm về bộ mặt đáng ghê tởm của con sói già Do Thái nham hiểm và hạ cấp, kẻ thù không bao giờ người VN yêu tự do và dân chủ nên tha thứ

https://conglyvasuthat.wordpress.com/2014/01/30/bon-muoi-mot-nam-khong-quen-kissinger-ban-dung-vnch-cho-cong-san-de-tam-quoc-te/

Last edited by jasper; 01-30-2015 at 01:11 AM.

   
Chưa đọc 01-31-2015, 04:47
Tân binh


Smile Tôi đã từng đi đến kết luận này mà không có một tư liệu nào trong tay

Tôi đã từng nói VNCH thất trận vì Kisinger bán đứng VNCH. Nếu Ni Xon không sử dụng Kisinger làm bộ trưởng ngọai giao thì mọi việc đã khác . Tôi chỉ nhớ ông ta là một người Do Thái và lý lẽ của tôi là cũng chính người Do Thái khiến người La Mã đóng đinh Chúa Giê Su lên thập tự giá . Người Mỹ hôm nay là người La Mã ngày xưa . Người Do Thái có thể khiến cho người Mỹ quên đi sự công chính là đức tính hàng đầu của tín đồ Cơ Đốc giáo vì người Do Thái có niềm tin riêng của họ .

Jimmy Chăn bò trong nhà của Chúa

   
Chưa đọc hôm qua, 10:11 AM
Sĩ quan cấp uý
 

Thực ra, Nixon khôn như cáo

Ngay từ thuở tranh cử tổng thống giữa Nixon và Humphrey, lúc đó tình hình chưa ngã ngũ về Rep hay Dem, Nixon đã đu dây giữa hai vị này;

Sau này khi Nixon lên, rất nhiều thân tín trung thành trước đó bị loại bỏ, nhưng Kissinger thì không. Với lại Kissinger thực chất đánh hơi quyền lực rất tốt, vận mệnh Việt Nam Cộng Hòa thực chất đã được sắp xếp trước đó rất lâu, vào độ 1968.

Tôi có đọc rất nhiều sách của vị này viết, kể cả của những người khác viết về vị này, đối với Kissinger, không có danh dự, hay bạn bè, tổ quốc gì hết . Kissinger chỉ nói quyền lợi mà thôi.

Thành ra rất nhiều người thua cuộc dưới tay của Kissinger.

Kể cả chuyện Nixon với vụ Watergate, không có bằng chứng, nhưng lúc đó do Kissinger biết đã không thể lôi Nixon ra khỏi Việt Nam, nên đã kéo Nixon xuống

Các vị có thời giờ, nên tìm hiểu về Ronald Reagan, dù là tài tử, nhưng cái nhìn của Ronald Reagan về Kissinger rất sắc bén, Reagan đã đưa Kissinger đi dạy - cũng là để cách ly,

Con người này bán cả cha mẹ, anh em, con cái

   
Chưa đọc hôm qua, 07:05 PM
M&M M&M is offline
Tướng 4 sao



Quote:
Trích dẫn từ bài viết của Adelaide Xem Bài
Tôi có đọc rất nhiều sách của vị này viết, kể cả của những người khác viết về vị này, đối với Kissinger, không có danh dự, hay bạn bè, tổ quốc gì hết . Kissinger chỉ nói quyền lợi mà thôi.
Nói đúng hơn là quyền lợi của dân tộc Do Thái (DT) của ông ta.

Năm 1948 người Israel lập quốc. Bốn bề thọ địch, chỉ trông vào sự che chở của các quốc gia phương Tây, nhất là Mỹ. Do Thái không mong muốn gì hơn là Mỹ đặt trọn tâm huyết vào việc bảo vệ thành trì chống Ả Rập non trẻ của họ nơi cố quốc. Việc Mỹ "đắm đuối" với chiến trường VN hẳn làm cho Kissinger tên Do Thái ích kỷ thủ đoạn khó chịu và bằng mọi cách phải kéo Mỹ ra khỏi bàn cờ chính trị viễn đông, bỏ mặc VN chúng ta chống trả với thảm họa CS trong tuyệt vọng! Dù sao ở Mỹ những tập đoàn kinh tế Do Thái là thành phần "chỉ đạo" của kinh tế Mỹ. Số dân DT ở Mỹ chỉ 3% nhưng đã chiếm lãnh 1/2 tổng số tỉ phú, các hãng truyền thông, truyền hình, báo chí đều nằm dưới quyền điều khiển của giám đốc điều hành người DT. Với tầm ảnh hưởng kinh tế không hề nhỏ của họ, việc khuynh đảo trong chính trường Mỹ là chuyện không thể tránh khỏi, nhất là khi 15% tổng số chính trị gia hàng đầu của Mỹ đều là người DT .

http://www.rense.com/general27/jlobby.htm

 
Chưa đọc hôm qua, 07:09 PM
M&M M&M is offline
Tướng 4 sao





Anh Jimmy à thật ra Chúa không có nuôi bò, chỉ chăn chiên (lamb) thôi. Anh có muốn apply job này hay job thợ trồng nho và gặt lúa không vì hiện tại giáo hội Chúa đang cần nhiều thợ trồng nho và gặt lúa lắm đấy ! Mấy job này lúc nào cũng thiếu, thắc mắc xin hỏi bất kỳ người giáo hữu đạo Chúa nào cũng được vì họ đều biết mấy cái job mà tôi muốn ám chỉ đó là gì ! 
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32635


Ngành Chiến Tranh Chính Trị VNCH Và Chương Trình Dạ Lan


Ngành Chiến Tranh Chính Trị VNCH Và Chương Trình Dạ Lan


31/01/2015
Tác giả :Trúc Giang MN


1* Mở bài

Ngành Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa ra đời để phục vụ cho cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa sáng ngời của người dân miền Nam. Đó là cuộc chiến chống lại chủ nghĩa hắc ám độc tài Cộng Sản để bảo vệ dân chủ, tự do cho đồng bào miền Nam Việt Nam.

Ngành Chiến Tranh Chính Trị thực hiện các hình thức binh vận, dân vận, đồng minh vận và địch vận, thông qua những hình thức tuyên truyền, nổi bật nhất là chương trình Dạ Lan, những em gái hậu phương và những anh trai tiền tuyến.

Về địch vận, chiêu hồi được nâng lên tầm cao thuộc chính sách quốc gia. Từ năm 1963 đến tháng tư 1975 đã kêu gọi được 230,000 hồi chánh viên trở về với chính nghĩa quốc gia.

Hình ảnh chiêu hồi.


2* Chương trình Dạ Lan: “Em gái hậu phương”, “anh trai tiền tuyến”

2.1. Nội dung chương trình Dạ Lan

Đêm đêm trên làn sóng điện của đài phát thanh Quân Đội, từ 7 giờ đến 9 giờ, giọng nói rất đặc biệt của “người em gái hậu phương”, rất thiết tha, truyền cảm, “nhỏng nhẻo”, tình tứ có mãnh lực thu hút tình cảm của các binh sĩ trên bốn vùng chiến thuật. “Em gái hậu phương”, “anh trai tiền tuyến” là những từ ngữ rất quen thuộc được nghe thấy trong những bài thơ, bản nhạc thịnh hành thời đó.

Chương trình Dạ Lan là một nét độc đáo của Nha Chiến Tranh Tâm Lý, cộng với nét đặc biệt của giọng nói Dạ Lan, đã được anh em quân nhân hoan nghênh, nhất là những chiến sĩ độc thân, xa nhà.

Không ai ngờ được người xướng ngôn viên mang tên Dạ Lan nói giọng Bắc lại là người con gái Quảng Nam, có một thời sống ở Huế, tên là Hoàng Thị Xuân Lan.

Ấn tượng nhất, đi sâu vào lòng các chiến sĩ trên khắp bốn vùng chiến thuật, nhất ở các tiền đồn xa xôi, đèo heo hút gió, là giọng nói của người em gái hậu phương Dạ Lan đêm đêm gởi tâm tình đến những anh trai tiền tuyến.

Với giọng nói rặt Bắt Kỳ rất êm đềm, tha thiết đầy trìu mến. Giọng ngọt xớt đôi khi tình tứ lãng mạn, gởi tâm tình và sự quan tâm từ hậu phương ra tiền tuyến cảm thông tình trạng gian khổ và chấp nhận hy của người trai thời loạn trước sự nguy vong của đồng bào miền Nam.

Những binh sĩ từ cấp bậc thấp nhất cũng cảm thấy là họ không bị bỏ quên, vì lúc đó có nhiều thiếu nữ đặt yêu cầu rất cao: “phi sĩ quan bất thành phu phụ.”

2.2. Tổ chức thực hiện

Chương trình Dạ Lan bao gồm các mục: tin tức, thời sự, điểm báo, văn nghệ và thư tín.

Phần hấp dẫn nhất là nhạc và thư tín. Dạ Lan giới thiệu từng bản nhạc, trả lời từng bức thơ từ tiền tuyến gởi về KBC 3168. Trả lời riêng biệt tên từng anh, đơn vị, vị trí đóng quân…không ai bị bỏ quên cả.

Thơ từ tiền đồn xa xôi tới tấp gởi về đến nổi đài Quân Đội phải tuyển dụng thêm nhiều nữ nhân viên đọc thơ và viết bài trả lời để cho Dạ Lan đọc.

2.3. Vài nét về Đại tá Trần Ngọc Huyến

Đại Tá Trần Ngọc Huyến 1952 Khóa 2 Trường Sĩ Quan Thủ Đức* Nha CTTL

Cha đẻ của chương trình Dạ Lan là Đại tá Trần Ngọc Huyến.

Năm 1964, Đại tá Trần Ngọc Huyến được cử giữ chức Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Quốc Phòng, sau đổi lại Cục Tâm Lý Chiến, nằm trong Tổng Cục CTCT, thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Đại tá Huyến là người có óc sáng tạo. Nhiều sáng kiến của ông đã làm thay đổi hình thức và nội dung tuyên truyền đã có từ trước.

Ông có cử nhân Văn Khoa trước khi gia nhập quân đội.

Ngoài chương trình Dạ Lan, ông còn làm thay đổi hai tờ báo quân đội là Thông Tin Chiến Sĩ và Văn Nghệ Chiến Sĩ, thành tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa và Tiền Phong.

Đại tá Huyến cho biết, người quân nhân VNCH có quá nhiều gian khổ, khô cằn nên báo chí phải mang sự tươi đẹp của các kiều nữ. Hở hang một chút cũng không sao. Nội dung phải có hí họa, chuyện cười, văng tục một chút cũng OK.

2.4. Đi tìm xướng ngôn viên cho chương trình Dạ Lan

1). Dạ Lan 1

Chương trình mang tên Dạ Lan của đài phát thanh Quân Đội được hình thành trước khi có xướng ngôn viên của chương trình.

Dạ Lan được hiểu là hương thơm quyến rũ về đêm của một loài hoa.

Thiếu tá Nguyễn Văn Nam được giao nhiệm vụ đi tìm xướng ngôn viên (XNV) cho chương trình.

Qua thử giọng bằng máy thu âm của một vài ứng viên, một nữ XNV của đài Gươm Thiêng Ái Quốc, được chọn.

Đài Gươm Thiêng Ái Quốc đặt tại Đông Hà, phát thanh qua bên kia vĩ tuyến 17 trong chương trình địch vận, do Thiếu tá Phạm Huấn, tức nhà thơ Nhất Tuấn làm quản đốc và Hà Huyền Chi làm phó.

Một sự trùng hợp là xướng ngôn viên cũng tên Lan, Hoàng Thi Xuân Lan. Dạ Lan 1.

2). Dạ Lan 2

Hơn một năm sau, XNV Hoàng Thị Xuân Lan (Dạ Lan 1) nghỉ việc. Đài phát thanh Quân Đội chọn nữ XNV thay thế.

Lại có những trùng hợp, XNV mới cũng có tên Lan, Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) tức Mỹ Linh, cũng có giọng nói giống hệt như Dạ Lan 1.

Mỹ Linh là nhân viên của đài Quân Đội, phụ trách chương trình nhạc ngoại quốc yêu cầu.

Dạ Lan 2 phụ trách chương trình Dạ Lan cho đến ngày 29-4-1975. Di tản sang Mỹ, hiện định cư tại bang South Carolina (Mỹ).

Dạ Lan 1 hiện đang sống ở Sài Gòn.

3). Cuộc đời lận đận lao đao của Dạ Lan 1

Hoàng Hải Thủy

Cô rời Sài Gòn với cái bào thai mấy tháng mà tác giả cái thai là ca sĩ Anh Ngọc (Từ Ngọc Tản).

Năm 1968, Hoàng Thị Xuân Lan trở về Sài Gòn, phụ trách việc hành chánh ở đài phát thanh Sài Gòn.

Nhà văn Hoàng Hải Thủy, bút hiệu Công Tử Hà Đông cho biết, có một thời gian cô sống chung rất hạnh phúc với nhà văn Văn Quang nhưng vài năm sau đó thì họ chia tay. Văn Quang là cựu trung tá Nguyễn Quang Tuyến, quản đốc đài phát thanh Quân Đội từ 1969 đến 30-4-1975.

Dạ Lan 1 hiện là một cư sĩ tại ngôi chùa ở ngoại ô Sài Gòn. Cô đam mê làm công tác thiện nguyện, đi đến mọi nơi để giúp đỡ đồng bào nghèo.

2.5. Thành phần của chương trình Dạ Lan

Xướng ngôn viên: Hoàng Thị Xuân Lan (Dạ Lan 1) và Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2)

Câu chuyện hàng ngày: Lưu Nghi.

Điểm báo: Nguyễn Triệu Nam

Phần nhạc: Hai nhạc sĩ Đan Thọ và Ngọc Bích.

Chọn bài và dẫn nhạc: Huy Phương.

Phần tin tức: Ban tin tức của đài Quân Đội

Thư tín: Cô Ngọc Xuân và một số cô phụ trách, chọn lựa thơ, viết bài trả lời cho XNV Dạ Lan đọc.

Ngoài ra còn có nhiều văn nghệ sĩ đã từng tham gia, đóng góp cho chương trình Dạ Lan như các nhạc sĩ: Ngọc Bích, Đan Thọ, Anh Ngọc, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân, Nguyễn Đức, Văn Đô, Trần Thiện Thanh, Trần Trịnh, Đào Duy, Thục Vũ... Các nhà văn, nhà thơ như Huy Phương, Nguyễn Triệu Nam, Nhất Tuấn, Nguyễn Quốc Hùng (thầy khóa Tư), Dương Phục, Phạm Huấn, Châu Trị, Lâm Tường Dũ, Nguyễn Xuân Thiệp, Tô Kiều Ngân…

Chương trình Dạ Lan là một sáng tạo độc đáo, một bước đột phá thu hút thính giả với một số lượng lớn mà trước kia không có.

Nhiều anh em binh sĩ viết thơ tỏ tình với Dạ Lan. Nhiều bạn đi phép về Sài Gòn, đến đài phát thanh Quân Đội tìm gặp Dạ Lan, nhưng chưa có ai được diễm phúc gặp Dạ Lan bằng xương bằng thịt cả.

Dạ Lan trở thành một huyền thoại.

Giọng nói của hai cô Dạ Lan đã in sâu vào lòng người chiến sĩ một thời, trong cuộc chiến giữ nước chống độc tài Cộng Sản. Hai Dạ Lan đã cống hiến tài năng của mình trong cuộc chiến đầy chính nghĩa là bảo vệ tự do và dân chủ cho miền Nam.

Hình ảnh chiêu hồi.


3* Người sĩ quan chiến tranh chánh trị trong QLVNCH

Trung tướng Trần Văn Trung *Phù hiệu trường Đại Học CTCT

Chương trình Dạ Lan do Cục Tâm Lý Chiến thực hiện, nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Ngoài ra, Tổng Cục CTCT cũng đào tạo sĩ quan để phục vụ cho ngành nầy.

Do nhu cầu cấp bách, trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị được thành lập, và bắt đầu hoạt động từ ngày 1-1-1967, do Sắc luật số 48/SL/QP ký ngày 18-3-1966.

Thí sinh có bằng Tú tài toàn phần, qua một kỳ thi tuyển, được huấn luyện 2 năm, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. SVSQ/CTCT được huấn luyện về văn hóa, chính trị, quân sự, có thể nói là một sĩ quan đặc biệt so với từ trước, có khả năng căn bản toàn diện, cả văn lẫn võ. Những môn học về kinh tế, chính trị, triết học, lịch sử và nhất là về luật pháp, bao gồm dân luật, hình luật, luật tài chánh, hành chánh, luật quốc gia, luật quốc tế…

Số sĩ quan ra trường từ khoá 1 năm 1969 đến khóa 6 tan hàng ngày 30-5-1975 đã cung ứng khoảng 1,000 CTCT, một con số tương đối nhỏ so với quân số trên dưới một triệu của QLVNCH. Vì thế, SQ/CTCT chưa phát huy rộng rãi được khả năng đã thụ huấn. Hơn nữa, những năm sau cùng, cuộc chiến trở nên khốc liệt ở quy mô lớn, chủ yếu là xử dụng sức mạnh hoả lực của vũ khí và quân số. Nhiều sĩ quan tốt nghiệp Đại Học Chiến Tranh Chính Trị chỉ huy đại đội trực tiếp chiến đấu.

VNCH thất trận vì hết bom, hết đạn, hết xăng dầu cho xe tăng, thiết giáp, máy bay…chớ không phải do hết ý chí và tinh thần bảo vệ đất nước.

Đồng minh phản bội, lực yếu, thế cô, thất trận là tất yếu.

3* Người chính ủy trong quân đội Cộng Sản Việt Nam

Người SQ/CTCT Việt Nam Cộng Hòa không đại diện cho một đảng phái chính trị nào cả, họ chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với tinh thần trách nhiệm và danh dự của người quân nhân. Trái lại, người chính ủy trong quân đội CSVN chỉ bảo vệ Đảng của họ, với một thiểu số 3 triệu người, đè đầu cởi cổ một dân tộc 84 triệu.

Chính đảng CSVN đã công khai tuyên bố, quân đội và công an là lực lượng chuyên chính vô sản của đảng, là công cụ bảo vệ đảng, thực hiện cuộc cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa trên đất nước VN. Nhưng mỉa mai thay, công cụ trấn áp 84 triệu nhân dân lại mang tên là “Quân Đội Nhân Dân”, “Công An Nhân Dân”. Và từ đó, đảng tự nhận rằng Đảng là Tổ quốc VN, Đảng là dân tộc VN, CNXH cũng là Tổ Quốc, người nào không yêu CNXH là phản bội Tổ Quốc. Thật là một thứ lý luận ngu dốt và trơ trẻn hết nước nói. Sách vở và tài liệu còn ghi rõ ràng như thế.

Hình ảnh chiêu hồi.


4* Đảng Cộng Sản VN không còn tin tưởng đảng viên

Đảng CSVN lãnh đạo quân đội một cách toàn diện. Các cấp chỉ huy đơn vị phải là đảng viên, như thế còn chưa đủ, Nghị Quyết 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính Trị, đã lập lại chức chính ủy với cấp bậc và quyền lực ngang bằng với người chỉ huy trưởng đơn vị, từ cấp đại đội trở lên. Trước kia, chính ủy chính thức giữ vai trò cấp phó của đơn vị. Như thế, một đảng viên nầy nằm sát bên cạnh một đảng viên kia, trong một đơn vị có hai chỉ huy trưởng, mục đích dò xét, canh chừng lẫn nhau, chứng tỏ đảng không còn tin tưởng vào sự trung thành của đảng viên mình như trước kia nữa. Trái lại, đảng viên cũng không còn tuyệt đối trung thành vào đảng, bằng chứng là, những “lão thành cách mạng”, những tướng lãnh nghỉ hưu, và ngay cả những đảng viên trẻ cũng chống đảng, vì cái thời kỳ bưng bít sự thật không còn nữa. Thời đại thông tin hiện tại đã phơi bày ra ánh sáng những trò lừa bịp, gian trá của đảng.

Luật sư Lê Thị Công Nhân trước kia cũng đã từng được kết nạp vào đảng, và mới đây, người đảng viên Nguyễn Chí Đức, đi biểu tình chống Trung Cộng ngày chủ nhật 17-7-2011, đã bị đồng chí là Đại úy Công an với biệt danh là “Minh Đạp” sút cho những cú đạp như trời giáng. Nguyễn Chí Đức trả lời phỏng vấn đài BBC như sau, “Tôi bị khống chế như một con lợn, và nhận 4 cú sút, trong đó 2 phát được “ăn bánh giày” vào mồm, một phát qua cổ và một phát vào ngực”.

Hình ảnh Linh Mục Lý bị bịt miệng trước toà, hình ảnh “Minh đạp” cho ăn gót giày được tuyền đi khắp nơi trên thế giới, cho thấy bộ mặt hung tàn của chế độ Hà Nội.

Đảng CSVN hiện nay chỉ nhờ vào bạo lực trấn áp để tồn tại. Đó là cái bi đát của một chế độ sắp bị diệt vong.

Hình ảnh chiêu hồi.


5* Hoạt động của ngành Chiến Tranh Chánh Trị trong Quân Lực VNCH

Ngành CTCT của QLVNCH được tổ chức theo cơ cấu và nội dung của CTCT Trung Hoa Dân Quốc. Nội dung của Lục Đại Chiến là đúc kết những kinh nghiệm đấu tranh chống CS của Tưởng Giới Thạch chống lại Mao Trạch Đông. Lục Đại Chiến áp dụng thích hợp vào chiến tranh VN, vì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp áp dụng chiến tranh nhân dân, du kích và nổi dậy của Trung Cộng.

Tổng Cục CTCT được chia thành 5 cục với một trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị.

1. Cục Chính Huấn phụ trách huấn luyện

2. Cục Tâm Lý Chiến đảm trách tuyên truyền

3. Cục Xã Hội chăm sóc gia đình binh sĩ, giáo dục con em quân nhân, quản lý các Nha Tuyên úy.

4. Cục An Ninh Quân Đội bảo vệ an ninh nội bộ và phản gián

5. Cục Quân Tiếp Vụ cung cấp nhu yếu phẩm miễn thuế

6. Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị đào tạo sĩ quan trẻ có đầy đủ năng lực đảm trách công tác CTCT ở các đơn vị.

Hình ảnh chiêu hồi.


6* Lục đại chiến

Nội dung hoạt động căn bản của ngành Chiến Tranh Chánh Trị là “Lục đại chiến”, tức là 6 trận chiến lớn chống đối phương, bao gồm: Tư tưởng chiến, Mưu lược chiến, Tổ chức chiến, Tình báo chiến, Tâm lý chiến và Quần chúng chiến.

6.1. Tư tưởng chiến.

Tư tưởng là yếu tố quan trọng nhất, vì tư tưởng hướng dẫn hành động, có tư tưởng đúng mới hành động đúng và tích cực.

Nổ lực của ngành CTCT trong QLVNCH là làm cho nhân dân và chiến sĩ hiểu rõ được cuộc chiến đấu của quân dân Miền Nam là chính nghĩa, cụ thể là bảo vệ tự do, dân chủ cho nước Việt Nam Cộng Hòa, trước cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Đảng CSVN là tay sai của Cộng Sản Nga, Tàu trong mưu đồ bành trướng của CNCS, nhuộm đỏ thế giới của CSQT. Điều nầy được kiểm nhận là đúng, đó là ngày 1-5-1975, một ngày sau khi chiếm được miền Nam, Phạm Văn Đồng tuyên bố, “thống nhất đất nước để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”.

Quân dân miền Nam chiến đấu tự vệ chống lại bọn người “Sinh Bắc tử Nam”, đã vượt vĩ tuyến 17, vượt sông Bến Hải, vượt Trường Sơn, vượt đường mòn HCM, vào tận miền Nam, dùng vũ khí của Nga, Tàu và các nước CS, để giết hại đồng bào miền Nam đã tập họp lại trong những đơn vị của quân đội, chiến đấu giữ tự do, dân chủ, giữ nhà, giữ nước. Chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh là ở những mục đích cao cả đó. Chương trình Dạ Lan của đài phát thanh Quân Đội đã làm việc đó, và góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu của người thanh niên thế hệ, trước hiểm họa mất nước.

6.2. Mưu lược chiến

Nhận thức đúng, hành động đúng, nhưng phải hành động như thế nào để đạt kết quả to lớn mà tổn thất rất nhỏ thì mới hữu hiệu. Đó là phải dùng “cái trí”, mưu trí trong việc dụng binh cũng như ở tất cả hình thức đấu tranh.

Trong phép dụng binh, thì cái nguyên tắc “bất chiến tự nhiên thành”, thắng lợi mà không giao chiến, mới là thượng sách. Mưu lược cổ điển nhắc tới 36 kế, xem ra một số mưu kế vẫn còn giá trị xử dụng, và nhiều tướng lãnh VNCH đã áp dụng thành công những kế sách đó.

Mưu lược chiến nói chung là những suy nghĩ sáng tạo trong việc áp dụng chiến thuật, chiến luợc đối với kẻ thù.

Trong lịch sử, để nâng cao tinh thần chiến đấu của quân sĩ trước thế mạnh của quân xâm lược nhà Tống, danh tướng Lý Thường Kiệt đã cho thực hiện một mưu kế rất thần tình, ông sai người giả làm Thần Thánh, núp trong đền Trương Hát, khi trời sấm chớp, thì đọc bài thơ mắng chửi quân giặc như sau:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.

Binh sĩ nghe Thần phán những câu ấy, nức lòng đánh giặc, dứt khoát là phải cho quân giặc tơi bời như Thần linh đã phù trợ.

Cũng tương tự, Nguyễn Trãi vạch ra kế sách dùng mỡ (mật ong) viết trên lá cây câu chữ “Lê Lợi vi quân-Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua-Nguyễn Trãi làm tôi thần), để cho kiến ăn, hiện ra mặt chữ, rồi đem thả cho trôi sông, tạo ra một “điềm” trời, khẳng định yếu tố “thiên mệnh” khiến cho dân chúng nhanh chóng về Lam Sơn, tham gia nghĩa quân.

Ngành CTCT xem Nguyễn Trãi như là Thánh Tổ, dùng hai câu trong bài Bình Ngô Đại cáo:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Ngô Tất Tố dịch từ chữ Hán, “Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo”.

Mục đích nhấn mạnh, cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam là đại nghĩa, đầy chính nghĩa, phù hợp với thiên lương đạo lý, là cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng chống lại cường quyền, tàn bạo là chủ nghĩa Cộng Sản. Vũ khí giết đồng bào miền Nam, do các nước Cộng Sản cung cấp, là một chứng minh hùng hồn nhất. Cái tàn bạo của Cộng Sản thể hiện rõ ràng, cụ thể nhất trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế. Hơn nữa, Hồ Chí Minh là “người Nga gốc Việt”, được Nga nuôi dưỡng, giáo dục, làm việc và ăn tiền của Cộng Sản Quốc Tế, là điều không thể chối cãi được.

6.3. Tình báo chiến

Tình báo được định nghĩa tổng quát là những hành động thu thập, nghiên cứu, tổng hợp, xử lý những tin tức và tài liệu bí mật về quân sự, chính trị, quốc phòng, an ninh, khoa học kỹ thuật…của đối phương.

Tình báo là thu thập, báo cáo tình hình của địch, một yếu tố rất quan trọng, không những trong chiến tranh mà còn quan trọng trong những cạnh tranh về mọi mặt trong xã hội. Quan điểm căn bản được Tôn Tử ghi như sau:

Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách đãi
Bất tri bỉ, nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ
Bất tri bỉ, bất tri kỷ mỗi chiến tất bại.

(Biết người biết ta trăm trận không nguy. Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng, một trận thua. Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại). Ý nghĩa trên được rút gọn trong câu “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”, đó là quan niệm căn bản, chớ không có ý nghĩa tuyệt đối, bởi vì việc thắng bại còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như trường hợp một trong hai bên tham chiến, không có quyền lựa chọn giữa đánh hay không đánh, như bị vây đánh hội đồng chẳn hạn. Năm bảy thằng Cộng Sản vây đánh một người Việt Nam Cộng Hòa, thì mình không bị chột cũng bị què.

Tổng thống Obama bổ nhiệm ông Leon Panetta, Giám đốc CIA vào chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng là thích hợp nhất, vì khả năng biết người, biết ta của ông cao hơn những người ngoài khu vực an ninh, tình báo.

6.4. Tổ chức chiến

Tổ chức (Organize) là sắp xếp các bộ phận cho có hệ thống, hoạt động ăn khớp với nhau trong việc thực hiện một công tác, một chiến dịch. Công việc càng phức tạp, có liên hệ đến nhiều cơ quan, thì cần phải được tổ chức thật chu đáo, mang tính hợp lý và khoa học, như trong một bộ máy, những trục, những bánh xe răng phải hoạt động ăn khớp chặt chẽ với nhau thì máy mới vận hành được.

Vai trò của việc “tổ chức” trong công tác tiếp vận cho một chiến trường lớn rất quan trọng, trong đó, vũ khí, đạn dược, thuốc men, thực phẩm, nhiên liệu… cần phải có sự phối hợp ăn khớp với nhau của các ngành như quân cụ, quân nhu, quân vận, quân y, phi cơ và tàu bè vận tải của không quân và hải quân, lực lượng quân đội bảo vệ lộ trình, bảo vệ an ninh bãi đáp, bảo vệ bầu trời chống lại phòng không của địch…mà Tổng Cục Tiếp Vận đóng vai trò chính và Cục Truyền Tin là phương tiện chủ yếu.

Tóm lại ngành CTCT, người sĩ quan CTCT phải có óc tổ chức để thực hiện từng công tác về dân vận, binh vận, địch vận, tuyên truyền, phản tuyên truyền cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể đang xảy ra.

6.5. Tâm lý chiến

Cục Tâm Lý Chiến là cái xương sống của ngành CTCT trong QLVNCH. Chiến tranh tâm lý là chiến tranh về tư tưởng, dùng tư tưởng đánh bại tư tưởng, ý chí và tinh thần của quân địch, đồng thời nâng cao tinh thần quyết thắng của binh sĩ ta. Phương tiện chính của CTTL là tuyên truyền và phản tuyên truyền.

Có hai loại tuyên truyền: tuyên truyền công khai và tuyên truyền bí mật.

6.5.1. Tuyên truyền trắng

Tuyên truyền công khai còn gọi là tuyên truyền trắng, là dựa vào những tin tức chính thức, có nguồn gốc rõ ràng như những lời tuyên bố của các chức sắc cao cấp như thủ tướng, bộ trưởng hoặc phát ngôn viên chính phủ…từ đó triển khai, phân tích để chứng minh một điều gì muốn tuyên truyền. Ví dụ như ngày 1-5-1975, một ngày sau khi chiếm miền Nam, thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố “thống nhất đất nước để đưa cả nước, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Đảng CSVN là lá cờ đầu, là đội quân tiên phong của Cộng Sản Quốc tế tiến hành cuộc cách mạng vô sản thế giới”. Đó là lời tự thú có giá trị, chứng minh CSVN là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế CS. Xâm chiếm miền Nam để bành trướng CNCS trong mưu đồ nhuộm đỏ thế giới của CS. Hết chối cãi. Lòi bộ mặt giả dối, lừa bịp là chiêu bài “giải phóng dân tộc”. Lộ liễu hơn nữa, đảng Xã Hội lấy lại bản chất thật sự của nó, là chính thức mang tên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ngày nay, đảng Cộng Sản hết thời, vì chủ nghĩa Cộng Sản đã bị nhân loại ném vào sọt rác.

Tuyên truyền trắng lấy những câu thơ nâng bi của Tố Hữu chứng tỏ thân phận tay sai của Liên Xô, cụ thể như sau:

Vui biết mấy khi con tập nói
tiếng đầu lòng con gọi Stalin…
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.

Cái độc đáo của tài nâng bi là, con nít VC biết học nói “tiếng người nước ngoài” trước khi biết nói tiếng Việt, đó là biết phát âm tên ông Stalin. Người không có học “tiếng người nước ngoài” thì chỉ phát âm như sau, “ông Ăn Tờ rô Bốp Mốc Cu ra Đớp”, ông Ni Cô Lai Nhai Quai Dép hoặc ông Ê Rích Hôi Nách Cơ…

Tuyên truyền bí mật có hai dạng là tuyên truyền đen và tuyên truyền xám.

6.5.2. Tuyên truyền đen

Tuyên truyền đen là dựa vào những tin tức có nguồn gốc “gần như có thật”, từ đó phân tích, bổ sung, tăng cường, thêm mắm dậm muối, làm cho đối phương hoang mang, bất mãn.

6.5.3. Tuyên truyền xám

Tuyên truyền xám là dựa vào tin tức “không có nguồn gốc rõ ràng”, hoặc căn cứ vào những sự việc đang xảy ra mà bịa thêm câu chuyện, như: bà con đồn rằng, dư luận cho rằng, người giấu tên cho biết…

Tuyên truyền xám mang tính đánh phá nhẹ nhàng, tưởng chừng như vô hại, nhưng tác dụng rất thâm hậu. Cái “không có” mà được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, khiến cho người nghe, từ hoang mang cho đến chỗ tin là “có thật”. Trong Cổ học tinh hoa, có câu chuyện Tăng Sâm giết người. Tăng Sâm là người con lương thiện, thuần hòa hiếu thảo, người có học sách thánh hiền, tôn trọng đạo lý. Một hôm, có người chạy đến báo với bà mẹ, “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ thản nhiên tiếp tục dệt vải. Người thứ hai đến báo, bà mẹ vẫn tin con mình không sát nhân. Người thứ ba đến báo, bà mẹ lo lắng, chạy đi tìm hiểu vì không còn niềm tin.

Tuyên truyền là một vũ khí đấu tranh rất lợi hại. Một ví dụ về tuyên truyền của tay sai VC ở hải ngoại, như muốn đánh phá các cựu quân nhân của QLVNCH, thì trước hết đánh phá Tổng Tư Lịnh quân đội là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Và để che dấu thân phận tay sai VC, chứng tỏ khách quan, công bằng, nên chúng một mặt ca ngợi Tổng thống Ngô Đình Diệm, một mặt đánh phá Tổng thống Thiệu. Người đọc tưởng như khách quan, công bằng, nhất là khi người viết tự nhận mình là một cựu SQ/QLVNCH…

Hiện nay VC trong nước rất sợ sự thật, cho rằng đó là các loại tuyên truyền xuyên tạc, là “diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch”, và lo ngại, cảnh giác, sợ rằng các đơn vị “tự diễn biến”.

Mikhail Gorbachev (Tổng Bí Thư Xô Viết)

I have devoted half of my life for communism.

Today, I am sad to say that The Communist Party only spreads propaganda and deceives..

Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.

6.5.4. Phản tuyên truyền

Phản tuyên truyền là căn cứ vào những lời tuyên truyền của địch về những chương trình, những chủ trương sẽ đem ra thi hành, từ đó, diễn dịch, phân tích mặt sai trái, tiêu cực, tác hại… mục đích cản trở, phá hỏng kế hoạch của đối phương.

Chiến tranh tâm lý được thực hiện trên mọi lãnh vực của xã hội. Hiện nay, Internet và điện thoại vệ tinh là phương tiện được xử dụng hữu hiệu nhất.

6.6. Quần chúng chiến

Quần chúng chiến là việc tranh thủ, vận động sự ủng hộ, hợp tác, tham gia của quần chúng nhân dân. Vai trò của quần chúng rất quan trọng trong Chiến Tranh VN, vì cuộc chiến khởi đầu bằng chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, gốc của Mao Trạch Đông được HCM và Võ Nguyên Giáp đem áp dụng vào VN. Trong thời gian đầu, VC sống được là nhờ bám vào dân, ăn chực của dân ở nông thôn, nên lấy lòng dân bằng chủ trương cùng ăn, cùng ở, cùng làm song song với hành động khủng bố tàn nhẩn để trấn áp người dân, nhất là ở những vùng nông thôn hẻo lánh.

Vai trò của quần chúng rất quan trọng nên người thi hành công tác TLC phải hiểu biết rõ về tâm lý quần chúng. Trong chương trình chính huấn có những bài học về tâm lý quần chúng, tâm lý đám đông…

Tóm lại Lục Đại Chiến là những kinh nghiệm xương máu và đắng cay về Cộng Sản mà Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc đã rút tỉa ra được sau khi thua trận, và sẵn sàng phổ biến lại cho đồng minh VNCH.

Hình ảnh chiêu hồi.


7. Chương trình Chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa

Tung cánh chim tiềm về tổ ấm

Một thành tích của ngành CTCT là Chiêu Hồi. Chiêu hồi thuộc diện địch vận, được nâng lên tầm mức quốc gia. Chiêu hồi được thực hiện từ năm 1963, áp dụng kinh nghiệm của Philippines trong việc chiêu dụ Cộng Sản Hukbalahap, và kinh nghiệm của Sir Robert Thompson thuộc quân đội Anh để bình định Malaysia.

Chương trình Chiêu Hồi kêu gọi những thành phần VC trong Mặt Trận Giải Phóng MN và CSBV trở về với chính nghĩa quốc gia. Từ năm 1963 cho đến ngày tàn cuộc chiến 1975, Chiêu hồi trải qua nhiều cơ cấu tổ chức khác nhau, kêu gọi được hơn 230,000 hồi chánh viên, buông súng trở về với “quốc gia”.

7.1. Tổ chức và thành quả

Ngày 17-4-1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Quyết định thành lập Chương trình Chiêu hồi, theo đề nghị của Cơ Quan Nghiên Cứu Việt-Mỹ và Viện Trợ Mỹ (USOM).

Ý kiến ban đầu do Sir Robert Thompson, chuyên viên Tâm Lý Chiến của cơ quan viện trợ Anh Quốc đề xướng.

Năm 1968, chương trình phát triển mạnh, kết quả tốt nên được nâng lên thành một Bộ trong chính phủ, Bộ Chiêu Hồi, mỗi tỉnh có một Ty Chiêu Hồi. Ngân sách Bộ Chiêu Hồi do viện trợ Mỹ đài thọ.

7.2. Hoạt động

Bộ Chiêu Hồi (BCH) phối hợp với Bộ Quốc Phòng, Bộ Thông Tin, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, các quân binh chủng, cơ quan Thông Tin HK (JUSPAO), cơ quan viện trợ USOM, Cố Vấn Mỹ, Tổng Cục CTCT, Cục Trung Ương Tình Báo, Cục An Ninh QĐ, Tổng nha Cảnh Sát QG, Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật Bộ TTM, Chiến Dịch Phượng Hoàng, các đài phát thanh và truyền hình, đài Gươm Thiêng Ái Quốc, đài Mẹ Việt Nam và báo chí.

Bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác được dùng làm nhạc hiệu của các chương trình chiêu hồi.

Nhiều truyền đơn được phi cơ thả xuống các vùng VC, kể cả tờ Giấy Thông Hành có in hình quốc kỳ VNCH và của các quốc gia đồng minh. Quân đội Úc có truyền đơn riêng dùng trong các cuộc hành quân Tâm Lý Chiến, mang tên “Xuân Đoàn Tụ” kêu gọi hồi chánh.

Ngày 18-2-1973, Bưu Điện phối hợp với BCH phát hành con tem 10$ để kỷ niệm người hồi chánh thứ 200,000.

7.3. Chính sách Hồi Chánh

Giúp đở tái định cư, đoàn tụ gia đình, xử dụng tài năng tương xứng với công việc ở bên kia chiến tuyến.

Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Bộ Thông Tin Chiêu Hồi ký tên tờ Cam Kết ghi rõ như sau:

1. Đối xử đúng đắn

2. Hưởng quyền công dân

3. Chăm sóc thuốc men tại Trung tâm Chiêu Hồi

4. Đoàn tụ gia đình

5. 30$ tiền ăn cho mỗi hồi chánh viên, vợ và mỗi con lớn. Con nhỏ 15$ mỗi ngày.

6. Hàng tháng 200$ tiền tiêu vặt. 100$ cho mỗi người trong gia đình cư trú tại TT/CH

7. Tiền thưởng về vũ khí mang về từ 500$ đến 75,000$

8. Hai bộ quần áo mới hoặc 1,000$

9. Tiền hoàn hương cho gia đình 1,000$

10. Giúp đỡ kiếm công ăn việc làm

11. Những hồi chánh viên định cư trong các Ấp Chiêu Hồi được cấp xi măng, mái và 1,000$ tiền mặt để xây nhà, 2,000$ sắm vật dụng trong nhà và 6 tháng gạo.

Ghi chú: Một đô la Mỹ năm 1963 bằng 35$ VN. Những năm 1970, giá khoảng 200VNĐ

7.4. Những nhân vật hồi chánh

1. Thượng tá Tám Hà, Trần Văn Đắc, Chính ủy sư đoàn 5

2. Thượng tá Huỳnh Cự

3. Trung tá Phan Văn Xướng

4. Bác sĩ Đặng Văn Tân

5. Nhà văn Xuân Vũ, Bùi Quang Triết

6. Nhạc sĩ Phan Thế

7. Diễn viên Cao Huynh

8. Mai Văn Sổ (Em song sinh với Mai Văn Bộ)

9. Bùi Công Tương, Ủy viên Tuyên huấn tỉnh Bến Tre

10. Ca sĩ Đoàn Chính (Con của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) và nhạc sĩ Bùi Thiện.

Thượng tá Tám Hà (Trần Văn Đắc), chính ủy sư đoàn 5, hồi chánh ở Bình Dương năm 1970. Ông làm việc tại TC/CTCT và toà Đại sứ Mỹ. HK bốc sang Mỹ năm 1975.

Thượng tá Phan Văn Xướng và binh đoàn Cửu Long hồi chánh tập thể ở Đồng Ông Cộ, cách toà hành chánh Gia Định 3 km, khu vực Ngã tư Hàng Xanh, trong cuộc tấn công đợt hai hồi năm Mậu Thân 1968. Ngoài trung tá Xướng ra, còn có 2 ca sĩ nổi tiếng là Đoàn Chính và Bùi Thiện.

Ông Phan Văn Xuớng được Bộ Chiêu Hồi bổ nhiệm vào chức tham nghị với lương bổng và phụ cấp của một giám đốc. Đoàn Chính và Bùi Thiện được tiếp tục hát ở các đài phát thanh và truyền hình.

Trung tá Lê Xuân Chuyên thuộc quân đội chính quy Bắc Việt, hồi chánh năm 1967 tại Bình Tuy. Ông giúp Bộ CH khai sinh các Đội Võ Trang Tuyên Truyền, được cử giữ chức vụ ngang hàng với một Tổng giám đốc, kiêm Chỉ huy trưởng Võ Trang Tuyên Truyền Trung Ương.

Trung tá Huỳnh Cự, hồi chánh ở Quảng Ngãi, được cử giữ chức Tham nghị, tương đương với một giám đốc, Trường đoàn Thuyết Trình Trung Ương.

Ông Bùi Công Tương, hồi chánh ở Kiến Hòa năm 1970, ông giúp BCH hoàn thành cuốn Bạch Thư tố cáo tội ác của VC. Ông cung cấp những hình ảnh mà VC Bến Tre đã ngụy tạo ra cảnh cán bộ CS đóng vai linh mục trong thánh lễ, dàn dựng ra cảnh binh sĩ VNCH đánh đập phụ nữ, cầm đuốc đốt nhà trước vẻ mặt căm giận của một cụ già. Những hình ảnh ngụy tạo đó được VC phổ biến và báo chí phản chiến Tây phương chụp lấy để đánh phá VNCH.

7.5. Câu chuyên chiêu hồi

Vào buổi saáng cuối tuần tháng 5 năm 1967, tiểu khu Phước Tuy nhận được tin VC đào đường, đấp mô trên quốc lộ 15. Theo thông lệ, Trung tá tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Lê Đức Đạt cử Đ/U Dung, phó tỉnh trưởng nội an và Đ/U Hiệp, chỉ huy BĐQ đi mở đường tái lập giao thông.

Khoảng 1 giờ trưa, một cán binh VC hớt hải chạy ra hồi chánh và yêu cầu đuợc gặp Trung tá tỉnh trưởng gấp để báo tin 2 sư đoàn VC là công trường 5 và công trường 7 đã tập kết ở núi Thị Vải, với kế hoạch tấn công đơn vị dọn đường trên đường về, và đánh vào tỉnh lỵ.

Một kế hoạch hành quân được nhanh chóng thực hiện với sự tham gia của cố vấn Mỹ. Lịnh báo động toàn tỉnh Phước Tuy được ban hành.

Mở màn trận đánh. Được các phi cơ quan sát hướng dẫn, những chiếc F-4 và F-105 ném các loại bom một cách chính xác vào đội hình của VC. Trực thăng, pháo binh luân phiên nhau tấn công vào các mục tiêu đã xác định. Chiều tối, B-52 trãi thảm vào đám tàn quân.

Sự xuất hiện đúng lúc của người hồi chánh viên đã tiêu hủy phần lớn sinh lực của 2 sư đoàn 5 và 7 của VC.

Các hồi chánh viên chống cộng một cách tích cực và dũng cảm, vì các anh đã vạch rõ bộ mặt ghê tởm của CS, nên chúng xem các anh là kẻ thù, vì thế, cuộc chiến của các anh không có chỗ lùi. Các anh chỉ biết tiến tới, hoặc chiến thắng, hoặc chết, chết theo quân dân và đất nước VNCH.

8* Kết luận

Chế độ Cộng Sản đã nâng cao các hình thức tuyên truyền lên tầm mức quốc gia, đó là chế độ giáo dục nhồi sọ con người từ lúc mới sanh cho đến chết. Ở nhà trẻ nghe cái điệp khúc “hôm qua em mơ gặp bác Hồ”. Về già, công nhân viên chức cũng phải học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trước tiên bức màn sắt, bức màn tre buông xuống để cô lập nhân dân với thế giới bên ngoài. Bưng bít thông tin để cho bọn văn nô, bồi bút tha hồ bịa chuyện thần thánh hoá lãnh tụ. Những tên đồ tể, tay đẫm máu đồng bào của mình như Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Kim Chánh Nhật, kim chi, Fidel Castro và Hồ Chí Minh đều trở nên thần thánh cả.

Ở Việt Nam, thế hệ thanh niên bị nhồi sọ chỉ biết “cầm gươm ôm súng xông tới” “sanh Bắc Tử Nam”. Đến khi mọi dối trá được phơi bày ra ánh sáng thì tất cả đều bật ngữa, nhưng để bảo vệ miếng cơm manh áo, che dấu những sai làm, mù quáng của bản thân nên ngậm đắng nuốt cay âm thầm chịu đựng.

Tay tổ Cộng Sản là Mikhail Gorbachev thú nhận: “Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”

Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa làm nổi bật chính nghĩa sáng ngời của người dân miền Nam là “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” để bảo vệ dân chủ, tự do cho đồng bào và Tổ quốc Việt Nam.

Trúc Giang

Minnesota ngày 30-1-2015
(VietVungVinh)

Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32658