Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

"Hanoi Jane " và nỗi ân hận sẽ đem theo khi chết

Jane Fonda gọi bức hình chụp ở Bắc Việt là một lỗi lầm lớn mà bà sẽ đem xuống tuyền đài


Jane Fonda về chiều với sự ân hận bẽ bàng về những lỗi lầm của thời "sleeping with the enemy" (đi đêm với kẻ thù)

(The Huffington Post)- Vào ngày thứ Sáu 1/16 vừa qua, khi biết tin Jane Fonda cô đào phản chiến người Mỹ từng nghe lời xúi dại của nhà cầm quyền Hà nội về thăm VN vào năm 1972, đội nón cối, chụp hình bên nòng đại bác từng bắn rơi máy bay đồng hương Mỹ của bà, và tuyên bố những câu phản chiến sặc mùi phản bội lại lý tưởng đấu tranh cho tự do và hòa bình của những binh lính Mỹ đang có mặt tại miền Nam để giúp người dân tại đây giữ vững tiền đồn dân chủ tự do non trẻ của mình. Jane Fonda sau đó nhiều năm đã dần dà hiểu được những phát biểu và hành động đó của
mình là nông cạn và sai lầm . Bà đã chính thức ngỏ lời xin lỗi . Nhưng những cựu chiến binh Mỹ dường như đã phải chịu quá nhiều hệ lụy do ảnh hưởng của Jane Fonda đem lại khiến họ không thể quên, và đó là lý do tại sao họ luôn có mặt để phản đối sự xuất hiện của Jane Fonda mỗi khi bà được mời đi diễn thuyết ở đâu .

Buổi diễn thuyết tại Weinberg Center for the Arts ở Frederick, Maryland hôm thứ Sáu tuần qua là một thí dụ điển hình . Nghe tin Jane Fonda sắp có buổi thuyết trình tại đây, khoảng 50 cựu chiến binh Mỹ đã có mặt . Bất chấp thời tiết giá lạnh rất khắc nghiệt cho tuổi già của mình, họ cầm những biểu ngữ bày tỏ sự căm phẫn dành cho người nghệ sĩ nổi danh mà họ gọi bằng danh từ đầy tính khinh miệt mỉa mai là "Hanoi Jane", "kẻ phản bội". Rất nhiều người cầm bảng viết hàng chữ "Tha thứ thì có nhưng quên thì không"


"Hanoi Jane" hí hửng đội nón cối chụp hình với bộ đội miền Bắc 1972


Sau khi từ VN về Jane tiếp tục kêu gào chống chiến tranh VN



Khi được hỏi cảm tưởng của bà về tấm hình đã gây nhiều căm phẫn cho cả người Việt nam tự do lẫn những binh lính Mỹ đã từng xả thân để giúp nhân dân miền Nam bảo vệ lãnh thổ và chống hiểm họa cs, Jane đã ngậm ngùi thú nhận đó là "một lỗi lầm lớn khiến bà sẽ mang theo xuống mồ khi bà qua đời, vì những hệ lụy quá sâu sắc và đáng trách mà nó đã đem lại cho hàng trăm ngàn quân nhân Mỹ ở VN thời đó . Đặc biệt có một cựu quân nhân tên Ted R Warfield ở Wyoming đã tiết lộ trong forum rằng chính Jane Fonda là người cầm những mẩu nhắn tin của những binh sĩ Mỹ đã nhờ bà cầm về cho người nhà ở Mỹ, nhưng lại không làm thế mà đưa cho lính Bắc Việt để sau đó tung tích của họ bị lộ .

Quote:
Ted R Warfield
This lady deserves all the "protests" anyone can throw at her. If you read the whole story, Jane Fonda is the reason MANY more soldiers died in Vietnam while they were in custody at prisons. She should have been tried and convicted as a traitor! I just can't get the picture out of my head of her passing information on to the Vietnamese after her visit to the prison camp. They trusted her to give their families information that they were still alive and she gave all that information to the enemy.
Nói về những chiến binh mà bà đã từng giúp bôi nhọ và hạ nhục, rồi sau đó tiếp tục xát muối thêm vào lòng tự hào đã bị tổn thương trầm trọng của họ khi trở về cố quốc bị chính người dân Mỹ dè bỉu, hiểu lầm, Jane Fonda thổ lộ là "Bất cứ khi nào có dịp là tôi lại ngồi nói chuyện với họ để hiểu nhau, và điều đó làm tôi buồn lắm"

Khó có thể biết được Jane Fonda có thật sự hối hận hay "ám ảnh" vì hành động nông cạn thời trẻ tuổi của mình hay không, vì theo tiết lộ của tờ Frederick News Post , bà chưa hề tỏ ý hối tiếc chuyến viếng thăm VN của mình khi vẫn gọi đó là chuyến viếng thăm "ngoài sức tưởng tượng"

Video chiếu cảnh cựu chiến binh Mỹ biều tình chống sự có mặt của Jane Fonda ngày 1/16/2015 tại Maryland

http://www.nbcwashington.com/news/local/Jane-Fonda-Draws-Protesters-in-Maryland-288958811.html

Và video clip chiếu cảnh Hanoi Jane bôi bác cuộc chiến tranh chống cộng ở miền Nam là phí phạm, gọi những sĩ quan cao cấp miền Nam là tham nhũng, buôn lậu, phung phí tiền viện trợ Mỹ cho cuộc sống tốt đẹp của riêng họ và gia đình
http://youtu.be/aLvnDXZZ5u0
      

Last edited by jasper; hôm nay at 04:06 AM
Nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32493

Công nhận VNCH để khẳng định chủ quyền đối với HS và TS

 Công nhận Việt Nam Cộng hòa để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa

(Nhân 41 năm ngày mất Hoàng Sa)

Nguyễn Tường Thụy


41 năm nay, Hoàng Sa là một nỗi đau nhức nhối trong tâm khảm người Việt Nam. Làm thế nào để giành lại Hoàng Sa? Đó là câu hỏi đau đáu của mỗi người VN yêu nước. Để giành lại HS về đất mẹ, điều này vô cùng khó khăn. Nhưng không phải vì thế mà buông xuôi, theo kiểu đời này không đòi được thì đời sau con cháu sẽ đòi. Lối nói đó nhằm phủi trách nhiệm và bao biện cho thái độ lần nữa trong việc đòi lại chủ quyền của Đất nước.

Bằng chứng để chứng minh Hoàng Sa (và cả Trường Sa) là của Trung Quốc gần như không có, ngoài mấy lý lẽ cù nhầy như trên đảo có xương của người Hán cùng với mấy mảnh gốm sứ được tìm thấy… Lập tức, TC bị VN phản bác lại: Gò Đống Đa cũng có rất nhiều xương người TQ, chẳng lẽ Thăng Long cũng là đất của TQ sao? Câu đáp trả rất sắc sảo đó làm cho TC cay cú và rụt chuyện xương xẩu, sành sứ lại.

Ngược lại, xét về lịch sử, bằng chứng của VN rất chắc chắn, đó là nhà nước Việt Nam kể từ thời Nguyễn đã liên tục thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo này cho đến tận khi bị TC cưỡng chiếm.

Về lý lẽ và bằng chứng cụ thể để khẳng định hai quần đảo nói trên của VN là việc của các học giả, các nhà ngoại giao và nhiều bài viết đã trình bày nên xin không nhắc lại.


Bây giờ TC chỉ có thể bám nhằng lấy công hàm của ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 và loa lên rằng, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công nhận HS, TS là của TQ. Cho đến nay, về phía chính phủ VN chưa bao giờ bác bỏ công hàm (công thư) của ông Phạm Văn Đồng mà lý giải theo hướng khác. Một trong những lý lẽ đó là công hàm chỉ nói VN tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ chứ không hề nhắc đến HS, TS nên không thể suy diễn thành VN công nhận HS, TS là của TQ. Cách lý giải này có vẻ như đúng với câu chữ trong công hàm mà ông PVĐ đã cân nhắc. Những giải thích khác như quan hệ đặc thù, bối cảnh lịch sử… xem chừng khó thuyết phục.

Nhưng có một lý lẽ thuyết phục nhất mà gần đây, báo chí Việt nam đồng loạt đưa ra, đó là: Trong thời điểm 1958, hai quần đảo HS, TS thuộc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý nên không có quyền xác nhận hai quần đảo đó là của TQ. Tức là, người ta không thể cho cái mà không có trong tay.

Có lẽ Đại đoàn kết là tờ báo đầu tiên đưa ra luận điểm này, với bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” (20/07/2011)

Bài báo viết “theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế”

Vào thời điểm TC đem giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN (tháng 5/2014), báo chí VN phản công rầm rộ. Nhiều tờ báo dẫn lại đọan trích trên của Đại Đoàn Kết hoặc dựa theo luận điểm này để bác bỏ sự suy diễn của TC cho rằng Công hàm 1958 đã công nhận HS và TS là của TQ.

Còn báo điện tử của Chính phủ viết:

"Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974".

Ông Trần Công Trục nguyên trưởng ban Biên giới của Chính phủ trong chương trình thời sự 19 giờ ngày 22/5/2014 của đài VTV1 giải thích:

“Các bạn hãy nhớ rằng tuyên bố của chúng ta vào thời kỳ 1958 nghĩa là cái lúc mà hai miền Bắc, Nam được hiệp định Genève ký kết năm 1954 phân chia quyền quản lý cho 2 nhà nước với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế là Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam Cộng Hòa. Quần đảo Hoàng Sa của chúng ta nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý của VNCH với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo hiệp định Genève, Và vì vậy, mọi tuyên bố, mọi hành vi của VNCH có giá trị pháp lý thay mặt Nhà nước VN quản lý vùng đất ấy còn VNDCCH chúng ta không trực tiếp quản lý. Vì vậy cho dù tuyên bố đó như thế nào thì giá trị pháp lý trong quan hệ quốc tế không có. Cho nên TQ họ muốn dùng tất cả mọi lý lẽ để nói rằng chúng ta thừa nhận thì đấy hoàn toàn là sự bịa đặt”.

Mời xem lại tại đây (từ phút thứ 6)

http://youtu.be/lLzwPf-42Pk
Không phải ngẫu nhiên mà báo chí VN thừa nhận vấn đề này mặc dù đó là thực tế. Nó được đưa ra trong bối cảnh chủ quyền của Đất nước bị đe dọa tới mức không thể chấp nhận được nữa.

Như vậy, Chính thể Miền Nam Việt Nam từ 1954 (đến 1975) trong những năm gần đây đã được nhìn nhận là một Nhà nước có chủ quyền, là một chủ thể trong quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại như thế thì chưa đủ cơ sở pháp lý cho cách nhìn nhận này. Điều cần làm tiếp theo là nâng vấn đề này lên thành quan điểm quốc gia, chứ không thể chỉ để cho báo chí hoặc một ông “nguyên” nào đó phát biểu. Đó là, Bộ Ngoại giao phải ra tuyên bố dưới góc nhìn này và các nhà lãnh đạo cao nhất cần lên tiếng. Đồng thời, phải tuyên dương công trạng và cư xử bình đẳng đối với các anh hùng, tử sĩ đã hy sinh khi bảo vệ Hoàng Sa cũng như đối với gia đình họ.

Làm những việc này, quả thật là rất khó khăn đối với Đảng CSVN và Nhà nước VN vì những vấn đề đặt ra tiếp theo như công nhận thể chế Việt Nam Cộng hòa và như vậy, bản chất của cuộc chiến tranh 1955 – 1975 cũng phải xác định lại cho đúng với thực chất, chứ không phải là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước như trước nay vẫn tuyên truyền.

Mặc dù thế, nhưng nếu biết đặt lợi ích Dân tộc, lợi ích của Đất nước lên trên hết thì những việc làm đó không phải là điều không thể.

19/1/ 2015

(NTT blog)

Nguồn:  http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32490

Vài nét về hoạt động của Biệt Kích Dù VNCH tại Bắc Việt

 


 Vài nét về hoạt động của Biệt Kích Dù tại Bắc Việt

Thứ Hai, 12 tháng Giêng năm 2015
Tác Giả: Trung Tá Nguyễn Văn Vinh

VNCH đã giữ vững được cuộc sống tự do trong suốt 21 năm ngắn ngủi nhưng đầy gian truân, máu và nước mắt, đầy sự hy sinh của biết bao nhiêu người.

Trong số những sự hy sinh đó, phải nói tới sự hy sinh của người lính Biệt Kích Dù hoạt động tại Bắc Việt. Số phận của họ rất bi thảm khi bị kẹt tại Bắc Việt. Bảng tổng kết sơ khởi cho biết trong số những Biệt Kích Dù được thả ra miền Bắc có 7 người đã bị CS tuyên án tử hình và đã bị hành quyết, 9 người tử trận, 21 người chết trong các trại tù khổ sai miền Bắc, 7 người chết sau khi được thả về, 2 người mất tích khi thi hành nhiệm vụ, 11 người bị chỉ định phải định cư tại các nông trường hay hợp tác xã miền Bắc. Đa số những người còn lại đều bị tra tấn dã man và bị bắt lao động khổ sai trong những trại tù khắc nghiệt nhất. Tại sao hầu hết các biệt kích thả xuống miền Bắc đã bị CS bắt ?

Bài viết sau đây là của Trung Tá Nguyễn Văn Vinh, người trực tiếp phụ trách các toán Biệt Kích Dù được thả xuống Bắc Việt, sẽ cho chúng ta biết những nét đại cương về tổ chức các đơn vị Biệt Kích, các hoạt động của họ và cách thức điều hành của cơ quan tình báo Hoa Kỳ.

o O o

Vài nét về hoạt động của Biệt Kích Dù tại Bắc Việt

Ít ai biết đến các tên P45, Sở Bắc hay Sở Khai Thác, tiền thân của Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu.

Đó là những bí danh của một cơ quan tình báo chiến lược, được thành lập từ cuối năm 1958, đặt trực thuộc Phủ Tổng Thống và nằm trong mạng lưới chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt VNCH.

Cơ quan này được Hoa Kỳ yểm trợ cả về tài chánh lẫn các phương tiện cần thiết để thực hiện cuộc chiến tranh không quy ước chống miền Bắc CS.

Sau Hiệp định đình chiến Geneva, vĩ tuyến 17 được chọn làm vùng phi quân sự và sông Bến Hải là biên giới thiên nhiên, ngăn cách 2 miền Nam Tự Do và Bắc CS. Quân đội viễn chinh Pháp, dưới áp lực của Hoa Kỳ, đã phải kéo cờ tam tài xuống khỏi dinh Norodom, nhường chỗ cho quốc kỳ VN tung bay tại dinh Độc lập vừa được đổi tên và đổi chủ.

Để đáp lại, quân đội Pháp đã không nương tay, xóa sạch mạng lưới tình báo mà họ đã khổ công gầy dựng trong nhiều năm tại miền Bắc. Đây là một sự thiệt hại khá lớn cho ngành tình báo non trẻ của miền Nam.

Trong khi đó, CS đã để lại tại miền Nam vô số cơ sở tình báo mà họ đã gầy dựng trong suốt thời kỳ chống Pháp, trong đó phải kể đến các thân nhân của các cán bộ và bộ đội tập kết. Thêm vào đó, các khuyết điểm to lớn chồng chất của 2 chế độ lỗi thời Thực dân và Phong kiến đã làm mồi nuôi dưỡng các phong trào chống đối trong nội bộ miền Nam, rất thuận lợi cho các cán bộ CS nằm vùng khai thác.

Dù vậy, ngành tình báo miền Nam, tuy phải xây dựng trễ và phải đặt nền móng từ đầu, nhưng lại được hưởng ứng nồng nhiệt vì đa số người Việt thời ấy, nhất là đồng bào di cư, các bộ lạc dân tộc thiểu số, các đảng phái chính trị và tín đồ các tôn giáo, đã thấy rõ bộ mặt gian dối của CS.

Có người đã chứng kiến những vụ tàn sát hay đấu tố dã man các thành phần quốc gia yêu nước nhưng bất đồng chính kiến với CS và có khi họ chính là thân nhân của các nạn nhân đó.

Ngoài ra, những tài liệu sống động như cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống đã gây được một ấn tượng ghê tởm CS trong mọi tầng lớp nhân dân miền Nam.

Nắm được các yếu tố thuận lợi trên đây, Sở Bắc đã gấp rút gửi nhân viên đến các trại định cư, liên lạc với các vị lãnh đạo tinh thần cũng như các bộ lạc dân tộc thiểu số, chiêu mộ các thanh niên nhiệt tình yêu nước còn thân nhân ở tại miền Bắc, để cấp tốc đưa về huấn luyện và tạo vỏ bọc thuận lợi, đưa họ về quê quán hoạt động.

Từ những năm đầu tiên đến năm 1966, các toán xâm nhập miền Bắc thường xử dụng một trong những phương cách sau đây:

- Nhảy dù đêm vào vùng mục tiêu.

- Xâm nhập đường biển bằng thuyền mẹ, và từ đó sử dụng thuyền con bơi vào vùng công tác.

- Xâm nhập vào vùng phi quân sự, vượt sông Bến Hải và lén lút đi bộ vào điểm công tác, móc nối với thân nhân đã nằm vùng, hoặc giới chức được tín nhiệm tại địa phương. Trường hợp sau này thường phải xử dụng “bona fides” để nhận nhau.

- Cử chuyên viên phục vụ tại Tòa Đại Sứ của một vài nước thứ 3 như Lào, Cam-bốt, Pháp, Thái Lan hay Hong Kong … rồi từ đó tuyển mộ và huấn luyện các công tác viên có khả năng, và tạo cho họ cái vỏ bọc thích hợp cũng như giấy tờ hợp lệ để họ dễ dàng xâm nhập vào miền Bắc hoạt động. Phương pháp này đã được nghiên cứu tỉ mỉ, nhưng vì quá tốn kém nên chỉ được thực hiện từng giai đoạn.

Tuy có nhiều hình thức xâm nhập khác nhau như vừa trình bày trên, nhưng trong bài này, tôi (Trung Tá Nguyễn Văn Vinh) chỉ xin đề cập đến những toán Biệt Kích xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng không mà thôi, vì đây là phần việc mà chính tôi đã đảm nhận trong nhiều năm tại cơ quan tình báo chiến lược này.

Những chuyến bay đêm

Các toán Biệt Kích Dù thường được thả xuống miền Bắc vào những đêm trăng. Mùa trăng thuận lợi cho công tác này bắt đầu từ ngày mồng 10 – 20 âm lịch hằng tháng. Giờ giấc được chọn tùy thuộc vào điều kiện an ninh và thời tiết tại vùng công tác. Để có đủ phương tiện đối phó với các bất trắc có thể xảy ra khi toán chạm đất, các nhân viên Biệt Kích Dù phải mang theo các trang bị cá nhân khá nặng nề. Ngoài súng tiểu liên Swedish K. của Thụy Điển hoặc Sten của Anh hay Uzi của Do Thái có trang bị ống giảm thanh và 3 đơn vị hỏa lực, họ còn phải đèo thêm các dụng cụ khác trên 20 món, nào bidon nước, bản đồ vùng mục tiêu, địa bàn, lựu đạn, 3 ngày lương khô, đèn bấm, pamean, dao găm, túi cứu thương cá nhân, cà mèn, pháo hiệu (pen flare), đồng hồ đeo tay, radio v.v…

Các dụng cụ này thường được mua ở các nước thứ 3 và không một trang cụ nào được mang nhãn hiệu Hoa Kỳ hay miền Nam VN. Các đồ trang bị tập thể nhưng dụng cụ phá hoại, đồ cứu thương, lương thực dự trữ dùng cho 3 tháng v.v…đều được đóng thành kiện. Máy truyền tin dự trữ và máy beacon là máy phát tín hiệu có tầng số nhất định, được đặt tại kiện hàng số 1. Các toán viên khi nhảy dù xâm nhập vào đêm, chiếc dù có thể bị ảnh hưởng của gió, bạt ra xa cách bãi thả 1-2 km. Nhưng nhờ các radio cá nhân, họ có thể dễ dàng bắt tín hiệu từ máy beacon phát ra, để đi về hướng tập trung.

Thông thường, các nhân viên quê quán vùng nào được thả về mục tiêu vùng đó. Để đảm bảo an ninh cho công tác, mục tiêu và nhiệm vụ của toán chỉ được thuyết trình vào giờ chót, trước khi lên máy bay.

Các chuyến xuất phát trong những năm đầu đến năm 1964, chính cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đã yểm trợ cho các chuyến bay bí mật này và lộ trình duy nhất được xử dụng là Tân Sơn Nhất – Đà Nẵng – Vùng mục tiêu.

Tại Đà Nẵng, đợi lúc trời tối, phi cơ cởi bỏ hết mọi huy hiệu trước khi khởi hành xâm nhập vào vùng hành quân. Phi cơ được xử dụng là loại DC7 hoặc DC6. Phi hành đoàn thường là người Trung Hoa. Tuy nhiên, cũng có lúc phi hành đoàn là người VN, được tuyển chọn trong số sĩ quan có khả năng và được tín nhiệm nhất của Không Quân Việt Nam. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hồi còn mang lon Đại úy, đã nhiều lần làm phi công chính thức cho các phi vụ đặc biệt này.

Đến cuối năm 1966, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ rút vào bóng tối, nhường chỗ cho MAC-SOG, một cơ quan tình báo quân sự, thay thế yểm trợ cho Nha Kỹ Thuật.

Khi cường độ chiến tranh VN đi đến giai đoạn khốc liệt nhất thì nhu cầu tin tức gia tăng cao, do đó số toán Biệt Kích Dù hoạt động phải được tăng cường nhiều hơn. Các phương tiện xâm nhập cũ được thay thế bằng C123 hoặc C130 và nơi phát xuất được chuyển sang Nakor-Phanum, một sân bay nằm sát biên giới Thái-Lào hoặc sân bay đón nằm ở phía Đông -Bắc Thái Lan. Từ các nơi đó các toán Biệt Kích Dù được chuyển qua trực thăng CH3 để bay băng qua lãnh thổ Lào, tiến về vùng mục tiêu nằm trên ranh giới Lào-Việt. Cũng có lúc mục tiêu được lựa chọn nằm sâu trong nội địa Bắc Viêt.

Trực thăng là phương tiện xâm nhập vừa rẻ tiền vừa tiện lợi nhưng lại là phương tiện kém an toàn nhất, vì tiếng động cơ quá lớn, địch dễ phát hiện. Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân thất bại của công tác Biệt Kích tại miền Bắc?. Vấn đề này đã được phía VN quan tâm và nêu lên nhiều lần trong các phiên họp Việt-Mỹ, nhưng phía đối nhiệm không quan tâm.

Số phận những con chim lạc loài

Đến cuối năm 1968, trong số gần 40 toán được cho xâm nhập bằng đường hàng không và đường bộ để hoạt động dài hạn, chỉ con có 5 toán là còn giữ được liên lạc với Trung Ương, đó là các toán Tourbillon (1962), Ares (1962), Remus (1963), Easy (1963) và Eagle (1963).

Theo đánh giá chung của các chuyên viên hữu trách Việt – Mỹ thì cả 5 toán này hình như đã bị địch kiểm soát, nhưng cá nhân tôi vẫn còn tin tưởng một toán, đó là toán Ares.

Sự tin tưởng này có thể đúng vì lý do sau đây:

Vào những năm đầu ở trại “cải tạo”, tôi thường bị cán bộ, không biết thuộc cơ quan nào và cấp nào, đã thay nhau thẩm vấn tôi về các toán Biệt Kích. Một trong những lần thẩm vấn ấy, tôi bị 3 tên cùng một lúc thay nhau hạch hỏi suốt buổi sáng, khiến tôi không còn sức chịu đựng, tôi đã bị gục ngã vì tức giận và xây xẩm. Họ cho người dẫn tôi về phòng, nhưng 2 giờ sau lại kéo tôi lên tiếp tục thẩm vấn. Họ dùng đủ trò ma giáo “hỉ, nộ, ái, ố”, … lúc thì mời tôi hút thuốc lá “có cán” (tức loại thuốc có đầu lọc, một loại thuốc cao cấp vào thời ấy), lúc lại đập bàn quát mắng, khinh bỉ. Họ chưa bao giờ đánh đập tôi lúc thẩm vấn, nhưng họ đã dùng những lời rất cộc cằn và thô lỗ để áp đảo tinh thần tôi.

Một điều làm tôi quan tâm hơn cả là họ hỏi tôi rất nhiều về toán Ares, như trưởng toán tên gì, quê quán ở đâu, tuổi tác độ bao nhiêu, dáng điệu bên ngoài như thế nào, có những đặc điểm gì, những liên hệ gia đình, địa chỉ của các người thân lúc ở miền Nam, v.v… Tôi thầm nghĩ nếu Ares đã thật sự nằm trong tay họ thì mắc mớ gì họ phải hỏi tôi những chuyện thừa thải ấy. Tôi có lý do để không trả lời họ, vì Ares đã xuất phát năm 1962, trước khi tôi được thuyên chuyển về Sở Bắc. Tuy nhiên, hôm nay tôi xin nói ra đây những gì tôi có thể nói ra được. Một vài chi tiết khác tôi thấy chưa thể tiết lộ lúc này vì có thể phương hại đến sự an toàn của toán đó, nếu quả thật toán đó đến nay vẫn còn dấu được tung tích.

Ares hay Hạ Long có tên thật là …, một cán bộ trung cấp và là đảng viên CS bị khai trừ vì bất mãn. Anh đã theo đoàn người di cư vào Nam năm … và được một giới chức miền Nam báo cáo lên ông Ngô Đình Nhu. Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã lưu tâm và giúp đỡ cho người này. Sau đó, Sở Bắc đã cử người đến tiếp xúc thuyết phục và bố trí cho anh trở về Bắc hoạt động. Anh đã đồng ý và đã được đưa xâm nhập vào Vịnh Hạ Long năm 1962, rồi từ đó tiến dần về cảng Hải Phòng và nhà máy điện Uông Bí. Đây là 2 mục tiêu mà anh có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo mọi sinh hoạt. Ares tỏ ra rất tích cực trong mọi nhiệm vụ giao phó, và điều rất kỳ lạ là anh đã mộ mến Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách khác thường. Hàng năm, trước ngày Song Thất hoặc 26/10, anh đều có đánh điện chúc mừng TT Diệm và nguyện trung thành phục vụ tổ quốc.

Khi nghe tin TT Diệm bị giết qua đài phát thanh, anh rất thắc mắc và sau khi được Trung Ương xác nhận, anh đã tỏ ra chán nản tột độ. Dù vậy, anh vẫn thi hành mọi công tác giao phó một cách chu đáo. Những chuyến tàu cập bến Hải Phòng, nhất là các tàu chở vũ khí hay quân dụng, đã được anh theo dõi và báo cáo khá chi tiết. Ngoài nhiệm vụ trên, anh còn báo cáo kết quả oanh tạc của một số mục tiêu khác nhau như cầu Hàm Rồng và nhà máy điện Uông Bí ở quanh vùng Hải Phòng.

Để giúp anh thi hành nhiệm vụ trong thời gian anh bị bị bịnh sốt rét, Trung Ương đã chấp thuận đề nghị của anh, tuyển mộ thêm người em ruột và một hai người khác trong họ hàng, để phụ anh thực hiện quan sát các mục tiêu ở xa. Trong những năm 1966, 1967 và 1968, bệnh sốt rét của anh trở nên trầm trọng, nhưng Trung Ương không tiếp tế cho anh được vì địa điểm nhận tiếp tế của anh nằm trong Vịnh Hạ Long đã bị lộ. Thêm vào đó, vùng biển Hải Phòng bị Mỹ gài mìn khiến mọi cố gắng tiếp tế bằng thuyền cho anh đều không thể thực hiện được.

Khoảng giữa năm 1968, do lời yêu cầu của phía VN, Hoa Kỳ đã tìm được kế hoạch tiếp tế cho Ares. Trung Ương báo ngay cho anh tọa độ một số bãi thả tiếp tế và yêu cầu toán đến tận nơi nghiên cứu và báo ngay địa điểm ưu tiên được chọn. Sau khi nhận phúc đáp, Trung Ương đã hướng dẫn các chi tiết mà toán phải thi hành để có thể nhận tiếp tế đúng như dự liệu.

Đến ngày N, giờ G, một đoàn phản lực đã xuất hiện bắn phá một số mục tiêu ở Hải Phòng, cùng lúc đó một phản lực cơ khác đã bắn một thùng “container” đựng hàng tiếp tế xuống thửa ruộng đã ấn định và được Ares đánh dấu bằng 2 cụm khói trắng như đã chỉ thị. Cách tiếp tế này đã được thực tập 2 lần tại trại Long Thành và cả 2 lần đều đem lại kết quả mong muốn. Trong container đựng hàng tiếp tế, ngoài lương thực, thuốc men, áo quần còn có 10 khâu vàng để toán trao đổi thực phẩm hoặc thuốc men mỗi khi cần đến. Ngoài các vật dụng trên, còn có 4 lá thơ, trong đó có một lá thơ thăm hỏi của Trưởng công tác, còn 3 lá thơ khác được dán bì kín. Toán được chỉ thị dán tem vào và tuần tự gởi đến một địa chỉ trung gian tại Thái Lan. Mỗi thơ đều có dấu hiệu riêng mà toán không được biết lý do.

Chỉ trong một thời gian ngắn, 2 thơ có nội dung thường đã đến tay người nhận, thơ còn nguyên xi không bị mở, nhưng thơ thứ 3 có “gài” một tài liệu bí mật giả tạo lại không đến tay người nhận. 2 tháng sau, khi được Trung Ương hỏi về lá thơ này thì toán cho biết, trên đường đi tới bưu điện, bị còi báo động, đương sự phải chạy tìm hầm trú ẩn, không may đánh rơi lá thơ xuống vũng bùn nên đương sự đã không gửi. Lý do này đã khiến bạn đồng minh Hoa Kỳ nghi ngờ lòng trung thành của Ares.

Nhiệm vụ mới

Đến năm 1968, sau đợt tấn công của địch vào dịp Tết Mậu Thân, Nha Kỹ Thuật phải lãnh nhận thêm rất nhiều công tác ngoại biên với những toán mới được thành lập:

– Các toán STRATA là những toán quân nhân được huấn luyện thuần thục để thi hành những công tác đột kích hay phá hoại các căn cứ địch nằm trên lãnh thổ Bắc Việt.

– Các toán PICK-HILL là những toán người Miên gốc Việt hoạt động trong lãnh thổ Cam-bốt, có nhiệm vụ quan sát và phá hoại các căn cứ địa của VC nằm trên lãnh thổ nước láng giềng Cam-bốt.

– Các toán EARTH-ANGEL, còn được gọi là Đề Thám, là những toán được thành lập với thành phần tù binh bộ đội Bắc Việt hồi chánh. Các toán này hoạt động rất đắc lực, được trang bị như bộ đội chánh quy miền Bắc. Nhờ đó họ len lỏi vào vùng địch khá dễ dàng và đã nhiều phen lập được nhiều thành tích đáng kể. Một số toán viên sau đó đã gia nhập Quân đội VNCH.

– Các toán SINGLETON hoạt động riêng biệt từng cá nhân. Họ là những Việt kiều từng sống nhiều năm tại Cam-bốt, được móc nối trở lại hoạt động nằm vùng tại Mimote, Krek, Sihanoukville, Kratié, Ba Thu v.v… Đây là những nơi địch đặt căn cứ quân sự và hoạt động rất mạnh. Các nhân viên này có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo hoạt động địch và hướng dẫn phi cơ oanh tạc lúc cần thiết.

Ngoài các toán hoạt động như trên, còn có chương trình công tác lừa địch và ly gián địch, được gọi là chương trình Borden, mà toán viên là những tù binh bộ đội Bắc Việt cứng đầu. Họ được học nhảy dù vài hôm trước khi được trang bị như một toán viên rất trung thành của miền Nam: một bản đồ, lệnh hành quân, thơ giới thiệu v.v… Các thứ này được dấu kín trong áo nhảy và chỉ được trao cho toán viên tù binh cứng đầu mặc vào trước khi được thả dù xuống vùng địch chiếm đóng.

Các chương trình mới này đã đem lại những kết quả hết sức khích lệ, nên phía Hoa Kỳ đã yêu cầu phía VN chấm dứt liên lạc với 5 toán còn lại ở miền Bắc, bằng cách ra lệnh cho các toán ấy tìm cách xâm nhập qua Lào, trình diện với bộ đội Vang Pao hoặc rút về miền Nam. Tuy nhiên, nhiều tháng sau khi lệnh được ban hành, không một toán nào xuất hiện.

Hướng về những người anh em kiêu hùng

Các Biệt Kích Dù bị CS bắt đã phải chịu đủ thứ cực hình. Tuy vậy, họ vẫn giữ vững tinh thần quốc gia và đồng đội. Thái độ cương quyết của họ đã phải làm các cán bộ CS khâm phục và gọi họ là những người “không cải tạo được”. Mãi đến một thời gian lâu sau khi VNCH bị chiếm đóng, CS mới tuần tự tạm trả tự do cho các tù nhân Biệt Kích.

Người được trả sớm nhất đã phải ở tù suốt 15 năm và người lâu nhất trên 20 năm.

Khi họ trở về, chúng ta đã biết thêm được nhiều chuyện đã xảy ra khi họ công tác tại Bắc Việt. Tuy nhiên, vẫn còn một số toán bặt tin, trong đó có toán VOI do anh Trần Hiếu Hòa làm trưởng toán cùng với 4 toán viên.

Toán Ares mà tôi đã đề cập ở trên và một vài toán khác nữa, cũng đang nằm trong danh sách những toán mất tích này.

Phải chăng họ đã bị thủ tiêu hay đã hy sinh trên đường thi hành nhiệm vụ. “Hy sinh trong bóng tối, tất cả vì Tổ quốc”, đó là phương châm hành động mà mọi Biệt Kích đã chấp nhận khi gia nhập vào binh chủng này.

Tôi còn nhớ năm 1970, các sĩ quan trong Bộ chỉ huy Nha Kỹ Thuật đã được xem một cuốn phim mà một đơn vị VNCH vừa tịch thu được của bộ đội Bắc Việt khi tấn công vào một căn cứ địch ở Mimot, Cam-bốt. Cuốn phim ghi lại phiên tòa xét xử một toán Biệt Kích mang tên toán Jackson, hoạt động tại vùng Nghệ Tĩnh. Bản cáo trạng rất dài, luận tội rất nặng “nào là tay sai đế quốc Mỹ, tay sai Ngô Đình Diệm, nào là xúi dục nhân dân lật đổ chính quyền và phá hoại tài sản nhân dân v.v…

Toán Jackson đã bị bắt toàn bộ với tất cả vũ khí và chất nổ khi toán phá chiếc cầu thứ 2 tại Cửa Lò. Hầu hết toán viên đã lãnh án tử hình, chỉ 1-2 người lãnh án chung thân. Điều làm anh em chúng tôi xúc động và hãnh diện, là được chứng kiến thái độ hiên ngang và bình tĩnh của các toán viên khi bản án tử hình được tuyên đọc.

Theo lời một nhân chứng quê ở Thọ Ninh, bà con với một toán viên cho biết, 6 người lãnh bản án tử hình đã bị bắn ngay sau đó, và lời nói cuối cùng của họ là:

Việt Nam Cộng Hòa muôn năm !
Tổng Thống Ngô Đình Diệm muôn năm !

Anh em chúng tôi là những người đã đi qua nhiều trại “cải tạo” ở miền Bắc và đã được nghe nói rất nhiều về những việc làm đáng phục của anh em Biệt Kích. Trong số đó có các vị linh mục, đại đức tuyên úy, các bạn bè của tôi đã sống chung trại với các anh ấy. Ngoài ra, các tù hình sự miền Bắc mà đa số chúng tôi thường gọi họ bằng danh từ “bọn hình sự”, vì phần đông họ thuộc thành phần bất hảo, trộm cướp, đâm chém, giết người … khi được hỏi về anh em Biệt Kích thì họ tỏ vẻ rất khâm phục.

Họ nói với tôi: “Các anh Bê Ka là những người rất hào hùng, cán bộ trại cũng phải nể, các anh ấy rất kỷ luật và đoàn kết với nhau, họ thương nhau và giúp đỡ nhau. Khi một người bị biệt giam được thả hay bị ốm, là các anh khác tìm cách giúp đỡ. Dù ai cũng đói, nhưng họ nhịn bớt phần ăn để bồi dưỡng cho anh em bị bệnh hay bị ốm. Đã có những anh Bê Ka cướp súng bắn cán bộ rồi chạy thoát, có nơi các anh toàn bộ đứng lên làm reo tuyệt thực không đi lao động, nhưng cán bộ trại cũng đành phải làm ngơ …”

Riêng cá nhân tôi, trong 13 năm tù CS, đã không may mắn gặp lại các anh em Biệt Kích, nhưng tôi không bao giờ quên những con người hào hùng cùng chung lý tưởng đã cùng chung sống với nhau trong tình huynh đệ chân thành. Tôi là người đã từng sống chung với họ ở trại huấn luyện Long Thành và lúc họ lên đường đi công tác, tôi đã tiễn chân hoặc nhiều khi đã cùng với họ bay vào vùng mục tiêu xâm nhập, đưa tay vẩy chào họ khi họ rời máy bay … Những kỷ niệm đó khó quên được.

Những kỷ niệm khó quên

Tôi nhớ lại năm xưa, có lần trước ngày lên đường công tác, tôi lái xe đưa một nhân viên của tôi đến thăm lần cuối người bạn gái, hay nói đúng hơn, một người yêu, có nhà ở hẻm xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng, nay đổi tên là Lê Văn Sỹ. Đến nơi, người thanh niên ấy vội vã bước xuống xe như muốn tận dụng những giây phút ngắn ngủi và quý báu còn lại. Khoảng 10 phút sau, anh trở ra với người bạn gái đi theo tiễn chân, trên tay anh còn mang một gói quà nhỏ mà tôi đoán chắc đó là quà kỷ niệm của người yêu. Họ nhìn nhau, mắt đẫm lệ, và tôi chỉ biết im lặng cảm thông nỗi buồn chan chứa đang xâm chiếm 2 tâm hồn. Xe chạy được một quãng đường, người thanh niên ấy quay nhìn tôi, vừa nói vừa mở món quà: ”Đây, anh xem, quà cô ấy tặng em”.

Tôi liếc nhìn, thấy một nắm tóc thề được gói trong một chiếc áo lót. Cả hai chúng tôi đều im lặng trên đường về trại.

Lần khác, một nhân viên của tôi cũng sắp lên đường, anh đến gặp tôi và trao cho tôi một chồng thơ khá dày đã đề bì sẵn và nói:

”Anh Dũng, anh biết em là con một, em đi nhưng em đã không dám nói thật với mẹ em. Vì vậy, em nhờ anh mỗi tháng đến thăm mẹ em và trao cho mẹ em một bức thơ này, nói là em đang đi học ở ngoại quốc gửi về để mẹ em yên tâm”.

Tôi xúc động nhìn người thanh niên ấy với tất cả lòng yêu thương và mến phục. Tôi đã nhận thơ anh giao và hàng tháng, tôi đã đến thăm mẹ em và trao cho bà quả phụ ấy bức thư của con bà. Nhưng đau đớn thay, lá thơ cuối cùng của anh đã được trao mà “khóa học” của anh vẫn chưa mãn.

Hai nhân viên Biệt Kích mà tôi vừa kể trên đây, cả 2 đều trở về từ cõi chết, sau gần 20 năm sống trong lao tù CS, một anh hiện đang sống ở Cali, đó là anh Lâm, em ruột của anh Nguyễn Ngọc Trâm, còn người kia, trước ngày tôi rời Saigon, anh ấy đang vất vả hành nghề thợ mộc ngoài Vũng Tàu. Hy vọng một ngày không xa, anh Độ cũng như bao nhiêu anh hùng Biệt Kích khác còn ở VN sẽ được đoàn tụ với chúng ta tại quê hương thứ hai này.

Trung Tá Nguyễn Văn Vinh

================================================== ==========


Tiểu sử của Trung Tá Nguyễn Văn Vinh (NVV)
Houston Sept. 04, 2011
Matthew Trần

Trung Tá NVV hơn tôi (MT) dộ 3,4 tuỗi và có bà con xa với tôi: Chúng tôi cùng quê ỡ làng Dốc Sơ và nhà cách nhau một xóm. Làng Dốc Sơ nằm về hướng Bắc cách thành phố Huế độ 5,6 cây số, dọc theo quốc Lộ 1. Làng Dốc sơ cũng có giáo xứ Dốc sơ: Nơi mà sau nầy (1980?) đã một thời gian, trở nên họ đạo được cai quãn bỡi linh mục dáng kính Tadêô Nguyễn Văn Lý đối đầu với csVN trong vụ chúng ngăn cản lần Cha Tadêô đưa đám thanh niên trong họ đi hành hương Dức Mẹ Lavang.

Vào tuổi niên thiếu, chúng tôi đều được gia-đình cho vào Huế để học. Chúng tôi không học chung cùng trường nhưng khi “hè về”, chúng tôi đều trở về làng và thường gặp nhau hàng ngày trong các trò tiêu khiển cũa tuổi trẽ như: câu cá, bắn chim.. Nếu được sáp giữ trâu "mời" chúng tôi theo tụi vào các trò chơi ban dêm thì chúng nó sẽ cho chúng tôi ăn trái cây mà chúng nó đi "ăn trộm" được từ các vườn có trái trong làng như: thanh trà, bưỡi, mít, cam, quýt ..vv. Những vườn nầy cũng thuộc các gia đình bà con cũa chúng tôi cả !! Đó là thời vàng son của tuổi trẽ mà bây chừ chúng tôi không thể níu kéo lại được.

Hình như anh NVV được gọi nhập ngũ vào khóa 3 SQTB/TĐ (đầu 1953) thì phải. Tôi được gọi nhập ngũ 6 tháng sau: Khóa 4 SQTB/TĐ (1953-54).

Trong suốt thời gian trong quân ngũ, điều khôi hài là thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau, chúng tôi nhận thức ra nhau là cã hai chúng tôi đều: đội mũ nồi (béret) xanh lục đậm, với huy hiệu (logo) LLĐB, bằng Dù và mặc đồng phục bằng vãi dù hoa, cả 2 chúng tôi đều tự nhận biết là cùng binh chủng LLĐB nhưng chúng tôi không biết là người kia ỡ đơn vị nào, giữ chức vụ gì.

Trong LLĐB chúng tôi “không” có thói quen tìm hiễu công việc cũa nhau. Chúng tôi vẫn có những SQ ăn mặc thường phục và được dùng xe mang số ẩn tế. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau trên các đường phố trong lúc lái xe ngược chiều thì chúng tôi .. hoặc là nhìn nhau mĩm cười .. hoặc là đưa tay vẫy.. thế thôi.

Vào những ngày dầu sôi lữa bỏng trước khi VNCH bị tên phản quốc: tướng Dương Văn Minh bán đứng cho csBV (30/04/1975) bằng cách lên đài phát thanh ra lệnh cho chiến sỉ khắp nơi đầu hàng địch .. vào một hôm nào đó (April 28?/1975) trên đường đến bộ TTM (giai đoạn nầy tôi phục vụ ỡ Bộ TTM), tôi gặp Tr. Tá NVV lần cuối cùng khi anh từ ngõ sân bay Tân Sơn Nhất lái xe nhà với gia đình ra, chúng tôi có ngừng xe đễ nói chuyện vài phút. Đầu đề không ngoài việc hỏi thăm nhau về các quyết định hệ trọng liên quan đến việc di tãn khỏi Vietnam.

Anh NVV có hỏi tôi về quyết định của tôi và anh cho biết là HK đã lo việc di tản cho anh và gia dình trong ngày hôm nay (April 28?/1975) nhưng anh & gia dình đã không vào phi

trường được
.
Mọi ngã - ra vào - đều có xe kẹt cứng hết .. nên anh & gia đình đang trở ra ..

Tôi cho anh hay là nhờ trong thời gian trước đó, tôi đã được phục vụ như là TVQL/ QLVNCH tại Đại Hàn, nên có liên hệ tương đối mật thiết với DAO (VP TVQL/HK) và DAO có hứa sẽ giúp phương tiện di tản. Nguyên thủy, gia-đình tôi được dự trù di chuyển bằng máy bay, nhưng vào ngày dự-trù, phi trường TSN bị địch pháo kích, vì vậy, cuối cùng, gia đình chúng tôi được di tản bằng đường thủy (từ Tân cảng, SG).

Thế rồi chúng tôi không gặp nhau nữa cho đến …. năm 1992, khi tôi từ Mỹ về Viet
Nam đễ lo vấn đề riêng tư gia đình và đã gặp lại anh NVV khi tôi đi xem lễ tại DCCT ỡ đường Kỳ Dồng, Sàigòn.

Vào giai đoạn đó thì anh NVV đã dược csVN trã tự do. Gia đình anh có lập một cái tiệm cho thuê "băng" chuyện film (lúc nớ chưa có DVD) bằng nhựa. Nó nằm đâu đó trên dường Trương Minh Giãng. Business không đến nỗi tệ lắm.

Anh NVV hơi chán nãn khi nhận thức là tôi vừa “về hưu” và đang về Việt Nam lúc đó tôi vào 56 tuổi thì anh NVV trong giai đoạn chờ chực đễ được phỏng vấn hầu dịnh cư tại HK. Anh khá lo lắng cho tương lai.
Trong thời gian chờ đợi để được HK phỏng vấn, anh may mắn được một cựu nhân viên đang định cư tại HK, gỡi cho anh một bài báo (lá kãi) có hình ãnh của anh & một dám nhân viên BK củ. Bài báo mô tả hoạt động của anh trong quá khứ. Vì vậy, cuộc phỏng vấn của phía HK đối với anh trở nên dễ dàng. Họ giúp đỡ gia đình Tr.Tá NVV tối đa để được di chuyển sớm.

Thế rồi gia đình của Tr.Tá NVV qua định cư tại Baton Rouge (Louisiana) theo lời khuyến khích của một cựu nhân viên cũa anh.

Vào lúc dó thì Tr.Tá NVV với tuỗi đã trên dưới 6 bó, anh sống với sự trợ giúp cũa chính phủ HK. Nhân viên cũ cũng hăng hái giúp đỡ trong khã năng. Các con của anh thì vừa qua, họ chỉ kiếm được các công việc với đồng lương khiêm nhượng mà thôi.

Độ 5, 6 năm sau, một cựu nhân viên khác của anh, mời gia đình anh lên Denver (CO) để định cư và người nầy hứa là sẽ giúp đỡ cụ thể hơn (chỗ ỡ free thì fãi). Hình như người nầy may mắn hơn nên họ hoặc là thuê bao ..hay xây một ngôi nhà để cho gia đình Trung Tá Vinh ở mà chẳng phải lo gì về tiền thuê mướn ..

Thế là gia đình Tr Tá NVV lại di chuyễn một ngoai nữa. Coi bộ lần nầy cuộc sống tương đối được thoải mái hơn. Thêm vào dó, một người rễ cũa anh (cựu giáo sư Anh Văn bên VN) và người vợ nhân dịp Bưu Điện HK đang mỡ kỳ thi tuyễn. Không biết 2 vợ chồng chuẫn bị ra sao mà khi thi tuyễn vào, diễm cũa mỗi người là 100 % !! Tối đa !! Thế là cã 2 vợ chồng đều được thu nhận vào các positions tốt. Lương khá.

Mấy sấp nhỏ sau đó cũng đã lai rai bắt đầu ra trường. Thế là cuộc sống của gia đình Tr. Tá NVV được bão đãm. Anh Chị hằng ngày chĩ có chăm lo việc tinh thần (đạo) mà thôi.

Thế rồi chuyện phải đến đã đến. Chị Vinh đã qua dời vì một bạo bệnh ngặt nghèo. Như vậy cũng đã cách nay hơn mười năm. Tr. Tá NVV cũng di theo chị dộ 3, 4 năm sau.

May God save their souls.

(Saigon Echo)

Nguồn:http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32477 

Nấm "Hoàng Tử" của Tầu... muốn chết thì mời... xơi

Đây là nấm " Hoàng Tử", người VN cho là bổ béo lắm, lại bị bọn Tàu lừa. Chúng đang đầu độc cả thế giới
”: Các loại nấm trồng bằng hóa chất

Đây là các loại nấm ươm ủ bằng hóa chất độc hại bán la liệt tại các chợ Tàu Việt.

Nấm cũng từ hóa chất, giá đỗ cũng từ hóa chất. Và 2 loại này được làm thành nhiều loại thức ăn chay ngon miệng!

Thật đáng sợ!


Mong là báo chí địa phương nên đưa tin về những loại thức ăn được làm từ hóa chất của Tàu như các loại nấm này.

Để bảo vệ sức khỏe cho chính chúng ta, nên in ra những hình ảnh này, đem đến các chợ yêu cầu chủ chợ không nên bán nhựng thứ độc hại này. Nếu không, chúng ta cần thu thập hình ảnh chứng cớ gởi lên văn phòng FDA địa phương yêu cầu kiểm tra và cấm bán.


FDA Office
San Francisco District (Pacific Region)
1431 Harbor Bay Parkway
Alameda, CA 94502
Reply With Quote
  #2  
Cũ hôm nay, 04:41 AM
Thống soái
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 3,427
Thanks: 48
Được cảm ơn 1,595 lần trong 1,028 bài
Default

Gần 50% nhà máy thực phẩm Trung Quốc không đạt chuẩn
19/01/2015 09:22 GMT+7
TT - Theo khảo sát của Hãng kiểm tra chất lượng AsiaInspection, có tới 48% số nhà máy sản xuất thực phẩm tại Trung Quốc không đạt tiêu chuẩn mà các đối tác phương Tây đề ra trong năm 2014.
Thực phẩm được bày bán tại một khu chợ ở tỉnh An Huy - Ảnh: Reuters “Ðây rõ ràng là một chuyện khủng khiếp - Hãng tin CNN dẫn lời ông Mathieu Labasse, phó chủ tịch AsiaInspection - Chúng tôi phát hiện nhiều nhà máy Trung Quốc hoàn toàn không quan tâm đến các tiêu chuẩn vệ sinh cơ bản. Ở đó công nhân dùng tay trần để xử lý thực phẩm chứ không hề đeo bao tay”.
Hàng loạt sản phẩm thực phẩm Trung Quốc bị nhiễm dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, kim loại nặng, các loại vi khuẩn và virút.
Ông Labasse nhấn mạnh sự yếu kém này đe dọa sức khỏe của người tiêu dùng. Ngoài ra thực phẩm Trung Quốc còn có những vấn đề khác như dán nhãn sai quy định, có màu sắc bất thường, mùi hôi, vết bẩn... Các mặt hàng hải sản có những lỗi “chỉ có ở Trung Quốc”, ví dụ như một số nhà máy bơm nước vào cá để tăng cân nặng.
Trong vài năm gần đây, hàng loạt xìcăngđan thực phẩm bẩn đã nổ ra ở Trung Quốc. Gần nhất là vụ một nhà máy sản xuất thịt của Mỹ tại Trung Quốc bị cáo buộc bán thịt nhiễm độc và hết hạn sử dụng cho các khách hàng nổi tiếng như McDonald’s, Starbucks, KFC, Pizza Hut...
“Các công ty như McDonald’s hoặc KFC giao dịch từ xa với nhà cung ứng. Họ biết rõ các đối tác nhưng không hiểu những gì diễn ra bên trong nhà máy” - chuyên gia Labasse đánh giá.
Ngoài ra theo báo Bưu Ðiện Hoa Nam Buổi Sáng (SCMP), trong một khảo sát gần đây Tổ chức Hòa bình xanh phát hiện 1/3 lượng rau trồng ở tỉnh Quảng Ðông bị nhiễm thuốc trừ sâu quá mức an toàn.
Một số mẫu rau tại tỉnh này có lượng hóa chất trừ sâu cao gấp 64 lần tiêu chuẩn cho phép ở Trung Quốc.
Tổ chức Hòa bình xanh cho biết nông dân trồng rau Trung Quốc thường trộn nhiều loại thuốc trừ sâu với nhau để đạt hiệu quả cao hơn, khiến rau bị nhiễm độc nặng.
Ước tính Trung Quốc có khoảng 500.000 nhà máy sản xuất thực phẩm, 70% trong số đó là các cơ sở nhỏ có dưới 10 nhân công.
AsiaInspection đánh giá với các vụ bê bối chất lượng liên tiếp trong thời gian qua, Trung Quốc khó lòng lấy lại được niềm tin của người tiêu dùng trong nước và nước ngoài.
ÐÔNG PHƯƠNG

****
Với dân số 1,3 tỉ người, nếu không có chiến tranh, Trung Quốc cần có bệnh dịch, thiên tai, ... để giải quyết nạn nhân mãn. Nếu có chết vài triệu dân , thì cũng là chuyện nhỏ đối với những tên đang ngồi tại Bắc Kinh .

Đó là chuyện của Tầu. Còn chúng ta, nên tránh xa tất cả các loại "Made in China" để khỏi oan mạng   
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32471 
 

Người Về Từ Đại Dương - đặc vụ hạ cờ TC và dựng lại cờ của VNCH đã bị bọn TC xâm lược phá hủy năm 1974

Người Về Từ Đại Dương

Thứ Năm, 15 tháng Giêng năm 2015 Tác Giả: Nguyễn Việt Kim




LTS: Bài này được viết theo lời kể của 15 chiến sĩ Hải-quân thuộc Tuần Dương Hạm Lý-Thường-Kiệt (HQ.16) đổ bộ lên quần đảo Hoàng-Sa hôm 17-01-1974 để hạ cờ TC và dựng lại cờ của VNCH đã bị bọn TC xâm lược phá hủy. Sau trận hải chiến 19-01-1974 và khi bị phi cơ, các chiến sĩ này bị mất liên lạc với chiến hạm, do đó 15 chiến sĩ Hải-quân thuộc TDH. Lý-Thường-Kiệt đã rút ra khỏi đảo bằng bè cao su. Sau 10 ngày lênh đênh đói khát trên biển cả, 15 chiến sĩ này được ngư dân cứu thoát đưa về Quân Y Viện Qui-Nhơn, tuy nhiên có một người kiệt sức và hy sinh, 14 người còn lại trong tình trạng sức khỏe khả quan.

LỆNH ĐỔ BỘ LÊN ĐẢO

Ngày 17-01-1974, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên quần đảo Hoàng-Sa với một nhiệm vụ rất ư là đặc biệt. Tâm trạng chúng tôi lúc này 15 người thật háo hức, không một ai lo sợ gì hết, mặc dù biết rằng đổ bộ lên đảo chắc chắn sẽ gặp trở ngại lớn, vì hiện tại trên đảo đã có một số quân Trung Cộng lén đóng trên đó. Đây chính là một thử thách tinh thần to lớn, và chúng tôi biết rằng cuộc chạm trán này thật quan trọng, không những chỉ ảnh hưởng đến Quân Chủng Hải Quân mà còn cho cả 19 triệu dân Miền Nam ngàn đời không biết khuất phục. Bởi vậy, chúng tôi hết sức hâm hở, mặc dù biết rằng phải đối đầu với lực lượng rất hùng hậu. Đã là con cháu Hưng Đạo Vương Trần-Quốc-Tuấn, Quan-Trung, Lê-Lợi... mang giòng máu hào hùng bất khuất của tiền nhân, chúng tôi phải nối gót để tô đậm thêm cho những chiến tích lẫy lừng, Bạch-Đằng, Chương-Dương, Hàm-Tử... mồ chôn hàng vạn tinh binh Mông-Cổ. Giờ đây, thời gian đã cách xa hàng ngàn năm, nhưng chiến trường vẫn là kẻ thù xưa - Bọn Tàu đỏ xâm lược. Bởi vậy , chúng tôi háo hức, chúng tôi sôi máu, chúng tôi hãnh diện khi cầm những lá cờ Việt-Nam vàng chói cấm lên đảo để tái xác định chủ quyền VNCH trên mảnh đất xa xôi nhỏ bé nhưng đầy thân yêu này.

Cuộc đổ bộ bắt đầu, 15 đứa chúng tôi được hướng dẫn thật kỹ càng, khi gặp trường hợp giao tranh với lực lượng của bọn Trung Cộng, những lời dặn dò càng tránh gây hấn càng tốt, chỉ tự vệ khi thích đáng cũng như có chỉ thị mới được nổ súng.

Để phòng ngừa bất trắc, chúng tôi được trang bị vũ khí nhẹ, gồm súng phóng lựu, lựu đạn và súng cá nhân, máy vô tuyến và phao cá nhân.

Những chiếc bè cao su được hạ thấp xuống từ Tuần Dương Hạm Lý-Thường-Kiệt. Chúng tôi bắt đầu rời tàu. Nhìn đồng hồ lúc này là 7 giờ 45 phút. Trời cũng vừa hừng đông. Mặt trời đỏ hồng từ dưới biển khơi chui lên thật đẹp. Chúng tôi có cảm tưởng mặt trời bị nhuộm máu. Máu sẽ đổ trong đó sẽ có máu của những người trai Việt hào hùng chống xâm lăng, bảo vệ lãnh thổ yêu dấu của quê hương, và máu của bọn TC xâm lược sẽ đổ như cha ông của chúng ngày xưa trên sóng nước Bạch-Đằng, Chương-Dương, Hàm-Tử...

Sóng dập dềnh tung bọt trắng xóa, chiếc bè cao su nhấp nhô, không đầy 10 phút, chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình.

Những ánh mắt nhìn nhau ngời sáng, niềm tin tất thắng trong nụ cười. Chúng tôi cùng bắt tay thề sống chết có nhau. Nếu một người hay nhiều hơn trong toán bị hy sinh thì bằng mọi giá những người còn lại sẽ ăn thua đủ cùng bọn hải khấu và cố gắng đưa thân xác trở lại với gia đình.

Trung úy L. trưởng toán kiểm qua một lượt quân số trước khi chúng tôi rời bè lên đảo. Mặt trời cao dần, ánh sáng thật rực rỡ, niềm tin chiến thắng càng bừng lên trong óc chúng tôi. Tay cầm những lá cờ phần phật trước gió, chúng tôi hăm hở bước trên đá và san hô lởm chởm. Khi đặt chân lên đảo, một vài ngư phủ (quân Trung Cộng trá hình) ra hiệu cho toán dừng lại nhưng chúng tôi vẫn bước đi và nhìn chúng bằng đôi mắt ngạo nghễ. Trung úy L trưởng toán căn dặn chúng tôi:

- Các bạn nên thận trọng, đừng bao giờ nổ súng trước.

Chúng tôi thi hành lệnh và vẫn lẫm liệt tiến bước. Một vài cọc sắt, một vài bảng gỗ có ghi chữ Tàu (do bọn TC mới đặt lên để tạo vết tích) bắt gặp, bị chúng tôi nhổ ngay, và thay vào đó là lá cờ Việt Nam. Lúc này chúng tôi cũng vừa nhận ra, ngoài chúng tôi còn có các đơn vị khác đang tiến vào như anh em Biệt Hải, các nhân viên chiến hạm bạn. Tinh thần chúng tôi lên thật cao. Trên đường đi, toán chúng tôi bắt gặp một số ngư phủ của TC nhìn chúng tôi bằng đôi mắt cú vọ như muốn ăn tươi nuốt sống. Chúng chưa có phản ứng gì thì kệ chúng, chưa vội gì. Nếu chúng chửi bằng mồm thì mình chửi lại, tiếng chúng chúng nghe... và chúng tôi vẫn thản nhiên cắm Cờ.

Anh bạn mang máy truyền tin vẫn liên lạc đều với cấp chỉ huy ngoài chiến hạm. Cắm cờ quốc gia trên đảo, niềm hãnh diện mọc lớn trong tâm hồn chúng tôi. Thân thể của mẹ Việt-Nam phải được nguyên vẹn. Đất đai của Việt-Nam phải vẹn toàn, một tấc đất cũng không thể mất vào tay bọn TC xâm lăng. Chúng tôi như đi ngược lại thời gian, anh em luôn miệng kể chuyện tiền nhân ta đánh Tàu, nào Ô-Mã-Nhi phải lủi như chuột, Thoát-Hoan phải chui vào ống đồng mới bảo toàn được tính mạng. Hùng khí cao lên ngất trời, chúng tôi nghỉ lúc này mà được giao tranh với địch thì sướng biết mấy.

Cắm hết số cờ có sẵn, chúng tôi chờ lệnh. Lúc này, chúng tôi vừa nhận ra trên trời cao, phản lực của địch gầm thét, ngoài biển khơi, tàu của TC xuất hiện. Chúng tôi kiểm soát lại vũ khí. Đạn đã lên nòng, bây giờ dù cho quân số địch có đông đảo cỡ nào đi nữa, chúng tôi vẫn sẵn sàng nghênh chiến, ví dù 15 người chúng tôi có hy sinh, thì ít nhất cũng phải có hàng trăm tên giặc phơi thây và chắc chúng phải kiêng nể.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, chúng tôi phải dùng lương khô tiếp tục chờ lệnh. Ngoài khơi, chiến hạm ta và chiến hạm TC cũng đang trong tư thế ghìm nhau. Chúng tôi vững bụng, nếu bọn TC không đổ quân lên đảo thì đối với bọn lính TC, ngụy trang ngư dân, thì chúng tôi cũng như các đơn vị bạn thừa sức chống trả.

Một ngày trôi qua, bình minh lại rạng rỡ, chúng tôi tiếp tục dùng lương khô và chờ lệnh. Người hạ sĩ liên lạc máy cho biết là có mấy tàu lớn của TC đổ quân lên đảo Quang Hòa. Ngoài ra, chiến hạm của ta cũng như của địch đang còn vờn nhau, chưa bên nào được lệnh nổ súng.

GIỜ PHÚT QUYẾT LIỆT

Ngày 19- 01, ngày lịch sử của trận thư hùng trên đảo đã tới. Chúng tôi được tin các chiến hạm của TC xâm lược ồ ạt vây kéo, với ý định nuốt sống những chiến hạm của ta, đồng thời, chúng cho đổ bộ thêm quân lên đảo.

Khoảng 10 giờ hơn, chúng tôi nghe hải pháo nổ ầm ầm. Thật xa, chúng tôi nhận ra các chiến hạm đang nã hải pháo vào tàu địch. Tiếng súng lớn quen thuộc của chiến hạm cùng tiếng súng lạ của tàu địch khiến cả toán nôn nóng. Trung úy L ra lệnh cho chúng tôi bình tĩnh, kiểm soát lại súng đạn. Chúng tôi hồi hộp đợi chờ và tất cả đều thầm khấn vái Đức Thánh Trần phù hộ cho đoàn hậu duệ của Ngài lập lại những chiến công hiển hách ngày xưa.

Trên đảo đã có nhiều tiếng nổ, chúng tôi nhận ra vài đơn vị bạn đang giao tranh lẻ tẻ với địch và chúng tôi cũng nhận ra bọn TC đang đổ hàng chục đại đội lên đảo. Lúc này địch quân đông như kiến cỏ.

Nhiệm vụ cắm cờ của chúng tôi đã hoàn tất, chúng tôi được lệnh rút ra khỏi đảo để hải pháo của ta bắn vào những vị trí đổ quân của địch.

Thời gian này thật nghiêm trọng. Không một ai lo sợ cho bản thân, mà chỉ mong sao chiến hạm toàn thắng quân thù, vì thủy thủ yêu con tàu như yêu chính bản thân mình.

Tiếng đạn vẫn nổ ầm ầm rung chuyển cả mặt biển khơi. Hai bên đang dàn trận quyết sinh tử.

Ra tới mép đảo, bè cao su chỉ còn lại một cái duy nhất. Trung úy L. cho biết cứ theo con sóng mà rút ra. Mười lăm người chỉ còn một chiếc bè quá nhỏ. Chiều dài khoảng 2 thước, chiều rộng chỉ 1 thước mà thôi. Một số người bơi giỏi thì bám theo bè, còn những người khác ngồi trên bè, súng cầm tay, phòng ngừa bất trắc.

Chúng tôi đi dưới làn mưa đạn của bọn TC, một vài anh em cũng đã phóng lên mấy quả M.79 khi thấy bọn TC lấp ló. Chiếc bè xa dần bờ. Đột nhiên Trung úy L. la lớn khi ông vừa thấy một cột lửa khổng lồ trên biển khơi. Mọi người hồi hộp nhìn bóng dáng con tàu đang bị cháy. Lúc này 30 con mắt chúng tôi đều mở thật lớn, 15 trái tim hầu như ngừng đập. Rồi 15 khuôn mặt rang rỡ sáng ngời. Con tàu đang bốc cháy màu đen, đó là con tàu của bọn TC xâm lược. Chúng tôi vỗ tay thật lớn, reo hò thật to, gào lên hết sức hết hơi mình để lấn át tiếng sóng của biển khơi như ngày xưa quân Nam đã reo hò trên Bạch-Đằng-Giang khi đánh tan tinh binh Mông Cổ.

Chiến thắng đến rực rỡ như ánh sáng đang ngập tràn biển khơi. Trung úy L. kêu nhân viên mang máy truyền tin liên lạc với vị Chỉ-huy Chiến-trường và được biết chiến công này do chiến hạm của chúng tôi tạo nên. Trung úy L. đề nghị hát một bài. Bản "Việt Nam, Việt Nam". Tiếng hát rộn ràng trong nắng, vang vang trên một vùng biển khơi, tiếng hát đầy chân thành cảm động mà quên đi là tất cà đang phải vật lộn với gian nguy hiểm nghèo.

Trung úy L. khích lệ Tinh thần anh em. Mọi người hăng hái tay chèo.

Nắng lúc này thật gắt, bây giờ anh em mới cảm thấy khát và đói. Máy vô tuyến bị nước biển vào hư luôn. Sóng mỗi lúc một cao úp lên chiếc bè mong manh. Chúng tôi ướt như chuột lột. Tuy vậy anh em vẫn cố gắng tay chèo để vật lộn với thủy thần.

THOÁT HIỂM

Ngày lại ngày, trời nước vẫn mênh mông. Trời sáng rồi lại tối, tối rồi lại sáng... ban ngày chúng tôi phải chịu đựng với cái nắng cháy của mặt trời, da bị nứt nẻ, nước biển dính trên người đóng khô thành muối thật xót. Tối lại, cái lạnh cắt da đồng lõa với những cơn sóng phủ lên người làm mọi người tê dại. Không nước uống, không thức ăn và dù bây giờ có thức ăn đi nữa thì có lẽ cũng không ai ăn nổi vì đã kiệt sức.

Biễn vẫn mênh mông, chúng tôi không còn đủ sức để nói với nhau một câu nào. Sáng rồi lại tối, ngày này qua ngày khác, chúng tôi tính là đã được tới ngày thứ chín. Mặt trời mọc rồi lại lặn thật bình thản, mặc 15 thân xác đang đi dần vào cỏi chết. Chúng tôi chỉ còn biết xin Thượng đế, Thánh tổ phù hộ. Đến ngày thứ 10, hầu như tất cả đều ngất đi vì quá kiệt lực. Mắt chúng tôi chẳng còn thấy gì nữa, ngay cả tiếng sóng biển cũng chẳng nghe. Thân xác đã chịu đựng quá giới hạn con người. Nắng, gió, sương lạnh, và những cơn sóng lớn cùng thiếu thực phẩm và nươc uống đã khiến chúng tôi tuyệt vọng, chờ chết.

Cho đến lúc chúng tôi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trên một ghe chài của dân. Trong số 15 người, chỉ có một vài người ... mở mắt được, nhưng cũng chẳng nói được lời nào, chỉ lờ đờ nhìn, tuy nhiên vẫn còn đủ tinh thần nhận định là ... MÌNH CÒN SỐNG - MìNH ĐÃ SỐNG.

Khi được đưa về Quân Y Viện Qui-Nhơn, và được săn sóc thì tất cả mới đươc hồi sinh lại, và trong số 15 người chúng tôi, có một bạn đồng đội đã quá kiệt sức nên tắt thở khi về bệnh viện... đó là Cố Hạ Sĩ Nhất Quản kho Nguyễn-Văn-Duyên.

Bấy giờ nằm trong Quân Y Viện nghĩ lại, chúng tôi không khỏi rùng mình. Chúng tôi còn sống hôm nay có lẽ là nhờ Phật Trời, Thánh Tổ phù hộ, che chở cho những người con yêu của đất nước, đã chiến đấu cho sự sống còn của Tổ quốc cũng như cho chính nghĩa rạng ngời của một quốc gia nhỏ bé trước bọn TC bạo tàn xâm lược. Mười ngày lênh đênh trên biển cả với nắng cháy da, với sương lạnh cắt thịt, với những cơn sóng lớn nhồi cao cùng với 10 ngày không ăn uống mà chúng tôi vẫn còn sống quả là một phép nhiệm mầu.

Nguyễn Việt Kim
(Saigon Echo)

Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=32476

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

Kẻ sống sót trong trận hải chiến Hoàng Sa.

 
 
 
 
Kẻ sống sót trong trận hải chiến Hoàng Sa.
HQ 402 đã được Đệ Thất Hạm Đội của HQ/HK phá hủy và bắn chìm tại hải phận Quốc Tế để tránh trở ngại cho các tàu qua lại vào chiều ngày 2/5/1975. • QUỐC HẬN 30/4: KÝ ỨC 40 Năm 1975-2015
Lời phi lộ
Lướt Sóng mới nhận được bài "Kẻ sống sót trong trận hải chiến Hoàng Sa" của tác gỉa Vương Văn Hà. Vì tính chất quan trọng của dữ kiện không ít thì nhiều cũng là một sử liệu của cuộc hải chiến và đã biểu lộ được tinh thần quả cảm và lòng căm hận của người chiến sĩ HQ/QLVNCH trước kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng luôn nuôi tham vọng xâm chiếm hải phận và đất đai của cha ông chúng ta mà CSVN không những đã là kẻ nối giáo cho giặc mà còn công khai, trơ trẽn bán đứng quê hương chúng ta nữa! Để tài liệu thêm phần khả tín, phần tiểu sử người viết do chính tác giả cung cấp.
LS xin trình bày bài viết với bố cục:
Phần I : tiểu sử tác giả
Phần II : Người về từ Hoàng Sa
Lướt Sóng chân thành cảm tạ sự cộng tác nhiệt tình của tác giả và xin trân trọng giới thiệu cùng đọc giả.
Lướt Sóng
----------------
Phần I : Tiểu sử tác giả
- Họ và tên : Vương Văn Hà
- Ngày và nơi sinh : 17/6/1950 tại Lạng Sơn, Bắc Việt
- Học Lực : Tốt nghiệp Trung Hoc Kỹ Thuật.
- Ra nhập HQ/VNCH tháng 11/1968.
- SQ: 70A 706340.
- Thụ huấn Khoá 53Tân Binh tại TTHL/HQ/Cam Ranh.
- Khoá I OJT năm 1969 do HQHK đảm trách huấn luyện về Thủy Bộ, Tuần Dương, Tuần Giang.
- Cuối năm 1969 mãn khoá phục vụ thực tập với GD Patrol Boat River 514 của HQHK.
- Thuyên chuyển về GD54TT(2GĐ 53 và 54 Tuần Thám do HQHK giao lại cho HQVN/CH)
- Tham dự các chiến dịch Trần Hưng Đạo 1, 2, 3, và 4.
- Thuyên chuyển về Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ 10 năm 1972.
- Bị thương, sống sót trong trận hải chiến Hoàng Sa 21/1/1974.
- Huy Chương: Anh Dũng Bội Tinh, Chiến Thương Bội Tinh, và Hải Dũng Bội Tinh.
- Được thăng cấp HS1/TP thuyên chuyển về TTTL/HQ Saigon.
- Di tản ngày 30/4/1975 trên Hải Vận Hạm Lam Giang HQ 402. Lúc đó chiến hạm BKZ đã phụ giúp Tr/Úy Hùng "Bắc Kỳ" giựt máy ép gió, khởi động máy tàu ra khơi với gần 2000 đồng bào và quân cán chính. ( ** )
- Định cư tại Pháp Quốc.
- Làm việc cho hãng Citroen.
- Gia cảnh: ly dị-Có một con đã trưởng thành.
- Hiện sống với phụ cấp tàn phế 80%.
( *** ) Ghi chú của Lướt Sóng: HQ 402 đã được Đệ Thất Hạm Đội của HQ/HK phá hủy và bắn chìm tại hải phận Quốc Tế để tránh trở ngại cho các tàu qua lại vào chiều ngày 2/5/1975. Chi tiết xin đọc cuốn: HQ/VNCH Ra Khơi năm 1975 của nhà văn nữ Điệp Mỹ Linh.

Phần II : Người về từ Hoàng Sa
Gần hai mươi bảy năm qua, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 đã và đang nằm yên giấc ngàn thu dưới lòng biển Hoàng Sa mà nay Trung Cộng đã trắng trợn xâm chiếm. Từ bấy lâu nay, tôi đã tưởng những kỷ niệm đau buồn này đã đi vào quên lãng! Nhưng nay trước sự cổ võ của các bạn trong Hải Quân, dù rằng chưa bao giờ tôi viết bất cứ một đề tài nào, nhưng nghĩ lại, là một trong những người trực tiếp tham dự trận chiến Hoàng Sa thì cũng nên cố gắng ghi lại những sự kiện có thật mà mình đã chứng kiến để rộng đường dư luận cùng tưởng niệm những chiến hữu HQ/VNCH đã dâng hiến thân mình cho tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Tôi được tân đáo đến Hộ Tống Hạm Nhật Tảo vào mùa hè đỏ lửa năm 1972 sau một thời gian phục vụ tại Giang Đoàn 54 Tuần Thám với cấp bậc Hạ Sĩ trọng pháo. Xuất thân khóa 53/TB Cam Ranh, SQ 70A706340. Ham Trưởng HQ 10 lúc đó là HQ Thiếu Tá Đức sau làm Hạm Trưởng HQ 17. Những ngày đầu trên chiến hạm thật khá vất vả đối với tôi vì nếp sống quen thuộc từ các đơn vị chiến đấu như Giang Đoàn Thủy Bộ, Ngăn Chặn, Tuần Thám . . .nay phải bị gò bó nhiều về kỷ luật trên chiến hạm. Một phần cũng có mặc cảm về hải nghiệp còn bỡ ngỡ. Nhưng với thời gian tôi đã thích ứng rất mau. Khoảng gần một năm sau thì thay đổi Hạm Trưởng.
Tân Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà là một vị Hạm Trưởng được rất nhiều cảm tình của Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, và Đoàn viên trên chiến hạm. Nhiệm vụ chính của HQ 10 vẫn thường xuyên biệt phái cho Vùng I Duyên Hải với những cuộc tuần phòng viễn duyên. Thỉnh thoảng có các cuộc yểm trợ hải pháo. Cứ mỗi lần yểm trợ hải pháo tôi thấy thích thú vô vùng vì đã được sống lại với những kỷ niệm của các cuộc hành quân hồi còn ở giang đoàn. Tôi luôn luôn ở bên ổ trọng pháo 76. 2 ly mà sau này tôi rất quen thuộc. Công việc trên chiến hạm của tôi là đi ca đài chỉ huy, tu bổ chiến hạm, bảo trì cây 76.2 ly. Bản tính bẩm sinh đã hơi phóng túng và ngang tàng do đó tôi thường hay bị ông Quản Nội Trưởng là Thượng Sĩ TP Châu la rày ( Thượng Sĩ Châu là HSQ Huấn Luyện Viên của các khóa SVSQ). Trên chiến hạm lúc đó có hai phe: một bên là những người rất quen thuộc với các chiến hạm thuộc Hạm Đội, một bên là nhân viên từ các giang đoàn thuyên chuyển về do đó nhiệm vụ của ông Quản Nội Trưởng rất mệt nhọc để tạo nên bầu không khí hài hoà thông cảm. Dù vậy, với thời gian chúng tôi trở nên những người bạn thân thiết. Đời tôi nay đã quen với biển cả trùng dương, dù rằng đôi lúc cũng nhớ tới lục bình Cửu Long Giang hoặc Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây . . .
Chuyến ra khơi lần cuối của HQ 10.
Trời gần vào Xuân, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 tháo dây rời bến Hải Quân Công Xưởng vào lúc xế chiều. Khí hậu Sài Gòn có phần nào mát mẻ, dễ chịu hơn. Chiến hạm từ từ chạy qua Bộ Tư Lệnh Hải Quân, với hàng dàn chào trong quân phục tiểu lễ trắng toát uy nghi. Quốc Kỳ, Chiến Kỳ của HQ 10 tung bay lộng gió. . . Tàu chạy ngang qua nhà hàng Majestic tráng lệ để lần lần rời xa Sài Gòn với đầy thương nhớ: gia đình, người yêu và thành phố thân yêu quen thuộc. Cũng như mọi chuyến tuần dương, thời gian biệt phái công tác của HQ 10 từ tháng 11/73 đến cuối tháng 01/74.
Sau hai tháng chu toàn nhiệm vụ, tàu được lệnh về căn cứ thuộc Vùng I Duyên Hải để bàn giao công tác cho Chiến Hạm thay thế là HQ 11.
Mọi người trên chiến hạm ai cũng hân hoan ra mặt vì sẽ được xum họp cùng gia đình vợ con vào dip Xuân Con Cọp 1974. Hai Quân Đại Tá Trần Văn Triết đã lên tàu chúc chiến hạm về Saigon ăn Tết vui vẻ. Chúng tôi lãnh lương, và được đi bờ. Chia nhau từng nhóm nhỏ ra phố mua sắm quà Tết cho gia đình. Có người lo gửi tiền về để ở nhà kịp sắm sửa lo Tết trước. Tôi và một số các bạn khác tung hoành trên các đường phố Đà Nẵng để tiêu khiển một vài chung lếu láo. Sau đó qua đường rày xe lửa nổi tiếng là khu vực nóng của Đà Nẵng. . . thế là thoải mái sau những ngày gò bó lênh đênh trên biển cả.
Cuộc chơi nào cũng tàn, chúng tôi trở về tàu thì chiến hạm lại được lệnh đi công tác khẩn cấp đạc biệt. Tôi vẫn bình tĩnh phì phà điếu thuốc nhìn sang bên kia sông thấy chiếc HQ 5 đang đậu tại cầu BTL/VIZH. Riêng HQ 10 đang đậu tại cầu tàu CCYT/ĐN. Chiến Hạm HQ 10 rời cầu tàu vào khoảng 2000H. Trên HQ 5 có sự hiện diện của HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy Trưởng Chiến Dịch Hoàng Sa.
Trên đài chỉ huy HQ 10, với không khí khác thường so với các cuộc tuần dương thường lệ. Máy truyền tin inh ỏi. Tiếng ra lệnh lập lại liên hồi khiến tôi có cảm tưởng chuyến công tác lần này rất quan trọng và khẩn trương. Tôi đi ca từ 20:00 giờ đến 24:00 giờ. Đài chỉ huy có sự hiện diện của Hạm Trưởng HQ Th/Tá Thà và Hạm Phó HQ Đ/úy Nguyễn Thành Trí cùng một vị sĩ quan đương phiên. Đoàn tàu vận chuyển theo đội hình hàng dọc. Đi đầu là HQ 5. Lúc này tôi có dịp quan sát trên khuôn mặt mọi người như có chuyện gì rất căng thẳng với chút ưu tư, lo lắng. Mãn ca, như thường lệ, tôi trở về khu vực nghỉ ngơi. Sau một ngày mệt mỏi nên tôi đã ngủ một giấc ngon lành. Giật mình vào lúc sáng sớm vì tiếng còi gọi nhiệm sở tác chiến kéo lên như thúc giục. Tôi vội vã mặc nhanh quân phục chạy vào nhiệm sở tác chiến là khẩu 76.2 ly quen thuộc. Tại đây có HS/VC Trứ, HS/TP Hùng mập, TT/TP Đức, TS/TP Nam và Trưởng khẩu là HQ/Tr/Úy Đông. Mọi người ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu một mất một còn với bọn xâm lăng Trung Cộng. Về phía HQVN tôi thấy có các chiến hạm như sau: HQ5, HQ10, HQ4, HQ16. Hạm đôi của chúng tôi được chia làm hai toán. Toán 1 là HQ5 và HQ4; toán 2 là HQ10 và HQ16. Quan sát phía địch tôi thấy chúng có 4 chiến hạm, tôi nghĩ có lẽ là loại Constadt của Liên Sô? Phiá xa hơn xuất hiện thêm hai chiến hạm nhỏ có trang bị đại bác 57 ly không giật.
Thấy bạn bè có vẻ căng thẳng tôi đã khích lệ họ và mời họ hút thuốc Captan cho lên tình thần và xuống nhà bếp lấy cháo trắng với thịt mỡ lên ăn tại chỗ cho đỡ đói vì nhiệm sở từ sáu giờ sáng mà bây giờ đã hơn chín giờ. Không xa là quần đảo Hoàng Sa, mảnh đất ngoài khơi từ đời nào vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Trên đảo cây cỏ mọc không cao lắm, chim én bay lượn đày trời. Trần mây dày và thấp. Biển êm và rất oi bức. Lòng tôi rất rộn rã, bị kích thích bởi ý chí chiến đấu chống kẻ thù xâm lăng, tôi tự nhủ khi được lệnh là đánh chìm ngay chiếc tàu địch kế cận. . . Đang quan sát các tàu Trung Cộng thì Hạm Trưởng ra lệnh tất cả các khẩu trọng pháo chĩa thẳng vào chúng. Nhờ ở sân trước với tầm nhìn khá xa, tôi thấy HQ16 đang ở bên HQ10. Trái lại HQ4 và HQ5 ở khá xa chúng tôi. Nếu tôi nhớ không lầm thì đó là ngày 21/01/74 và giờ giấc thì tôi hoàn toàn không nhớ rõ, chúng tôi được lệnh từ đài chỉ huy là trực xạ ngay vào các tàu Trung Cộng.
Ngay từ phút đầu của cuộc hải chiến, trái đạn 76.2 ly từ khẩu hải pháo của HQ10 đã trúng ngay đài chỉ huy của tàu địch rồi tiếp theo là 10 trái nữa khiến tàu Trung Cộng mất đều khiển và quay vòng vòng ở phiá tả hạm của HQ10. Chiếc thứ hai, bên hữu hạm HQ10 đã dùng hỏa tiễn bắn vao hầm máy HQ10, cùng lúc thi các khẩu 37.2 ly nhả đạn vào đài chỉ huy của HQ10. Lần này thì đến phiên HQ10 bị bất khiển dụng khiến cho tàu địch đã bị bắn ở phía tả hạm đụng vào tàu chúng tôi. Lợi dụng lúc HQ10 bị mất ưu thế, tàu địch đã dùng 37.2 ly bắn tiếp vào đài chỉ huy của HQ10 và khẩu 76.2 ly của chúng tôi. Sau những loạt đạn của địch, trước mắt tôi là cả một thảm kịch đau lòng. Trên đài chỉ huy Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà đã hy sinh. Thượng sĩ vận Chuyển Lễ bị đạn vào đầu gục chết ngay tại tay lái. Hạm Phó Nguyễn Thành Trí bị thương nặng cùng các nhân viên giám lộ, vô tuyến khác. Riêng ở khẩu 76 ly 2 Trung Úy Đông trưởng khẩu hy sinh. TS/TP Nam, HS/TP Trứ, TT/TP Đức đều hy sinh tại vị trí chiến đấu. Chỉ mình tôi vô sự. Lòng tôi đau đớn vô cùng trước cảnh Hạm Trưởng, các Sĩ Quan và bạn bè chung quanh đã hy sinh không toàn thây!
Trong khi đó thì tàu địch quá sát tàu ta lại bắn xối xả vào. Đau đớn trong cảnh bất lực của minh, tôi ao ước như được ở giang đoàn, giá mà có vài trái M72 tôi sẽ đứng thẳng xơi tái ngay chúng nó. Ở phiá sân sau các khẩu Baufort 40 ly, 20ly vẫn còn đang nhả đạn oanh liệt tuy rằng một số đã bị thương và chết. Nhân viên cơ khí còn đủ sức từ hầm máy chạy lên lối đào thoát phía trước, tôi thấy người nào người nấy cũng bị cháy đen thui với thân mình đày dầu, mỡ. Sau một hồi giao tranh thì một con sóng đã làm tàu địch và HQ10 tách ra xa khoảng 50 mét. Tiếng súng đã êm bớt. Hạm Phó Trí mặt đày máu đứng gần bè cấp cứu dõng dạc tuyên bố: " Hạm Trưởng đã hy sinh, tôi thay mặt Hạm Trưởng tuyên bố ra lệnh đào thoát". Còn một mình trên khẩu 76ly 2, tôi chạy nhanh đến hai bè bên hữu hạm, giựt bè rớt xuống và nhảy xuống biển.
Bọn Trung Cộng đã không tôn trọng quy ước quốc tế tiếp tục bắn vào bè của chúng tôi và lần này tôi bị trúng thương ở chân trái nhưng cũng may nhờ mang đôi giầy chiến đấu ở giang đoàn nên không đến nỗi nặng lắm. Trong lúc nhảy xuống biển đào thoát, xương sống tôi đã bị đập vào thành bè đó là hậu qủa nặng nề nhất cho tôi tới ngày nay. Xương sống bị yếu gây thiệt thòi cho cuộc sống của tôi ở hải ngoại. Dù bị thương nặng, cuối cùng Hạm Phó Trí cũng đã xuống được bè đào thoát. Tôi vớt được Trung Sĩ Vô Tuyến Tuấn, bị thương đang lềnh bềnh trôi xa bè. Lúc này tôi thấy 4 chiếc bè trên mặt biển và bọn Trung Cộng vẫn tiếp tục nhả đạn vào bè chúng tôi. Đạn văng tung toé trên mặt biển. Nhờ có chút kinh nghiệm trên chiến trường, tôi vội la lớn anh em chỉ để l đầu ti xíu để tránh đạn địch. Vào lúc này tôi không thấy hai chiếc HQ4 và HQ5. Chắc chắn cũng đang hải chiến với các tàu Trung Cộng khác. Riêng HQ16, phần sau lái bên tả hạm đã bị nghiêng. Tôi nghĩ có lẽ tàu Trung Cộng đã dồn hết hỏa lực để tấn công HQ10 vì là chiếc khai hỏa đầu tiên và rất mãnh liệt tấn công gây thiệt hại nặng nề cho chúng. Bốn chiếc bè đã được cột chặt vào nhau và rời xa tàu mẹ thân yêu đang từ từ chìm vào lòng biển. Buổi lễ thủy táng đầu tiên cho TS/VT Tuấn bị thương nơi đầu vào chiều tối đầu tiên của ngày đào thoát. Qua sáng hôm sau Hạm Phó Trí ra đi vì vết thương qúa nặng.
Đến đêm thứ hai thì vì sóng gió 4 chiếc bè đã bị đứt giây nối văng ra xa mỗi chiếc một nẻo. Thật đau đớn thay! Trên bè tôi vẫn còn một ít thực phẩm khô dù rằng đã bị mục nát và ít nước ngọt. Được vậy là do công ơn của Thượng Sĩ Lê, lúc nào ông cũng săn sóc để ý đến các bè cấp cứu. Tiếc thay ông đã ra đi ngay từ phút đầu. Trên bè tôi gồm có Thượng Sĩ Châu, TS/GL Vương Thương, HS Tuấn và một người nữa mà lâu ngày tôi không còn nhớ tên. Đến ngày thứ tư thì TS'/GL Thương đã bắt đầu mê sảng vì thiếu nước và không chịu nổi sức nóng kinh khủng ở giữa biển và Thương đã chết dù rằng trước đó anh không bị thương. Chúng tôi đã giữ xác anh trên bè một ngày nhưng vì mùi hôi nên cuối cùng đã làm lễ thủy táng vào khoảng 17.00 giờ. Chúng tôi đã cầu nguyện và khấn vái anh:"là nghề nghiệp Giám Lộ, xin anh chỉ dẫn đường để được gặp tàu bạn".
Đến khoảng 20.00 giờ, Thượng sĩ Châu đã bắt đầu quaù mệt mỏi. Còn lại tôi và hai anh em khác nữa cũng gần trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Bỗng như có vong hồn anh Thương cứu độ, tôi thấy một chiếc thương thuyền đang chạy từ đằng xa đã đổi hướng quay đầu về phía chúng tôi. Său này tôi biết đó là chiếc tàu của Hoà Lan. Trời đã tối, tôi thấy mấy ngọn đèn pha chiếu vào bè chúng tôi và sau đó chiếc cano cấp cứu đã vớt chúng tôi lên tàu. Vì vết thương đã làm độc và quá mệt mỏi sau bốn ngày ba đêm ngâm trong nước biển, nên tôi đã ngất xỉu hồi nào không hay. Lúc tỉnh dậy, tôi thấy tất cả mọi người trên thương thuyền đã tận tình giúp đõ lo lắng cho anh em HQ10. Các cô trên tàu đã cho chúng tôi dùng soup. Vì quá đói, thay vì ăn uống từ từ, chúng tôi đã phạm sai lầm ăn uống quá nhiều nên thân nhiệt tăng lên cao rất nhanh. Vì quá nóng, Thượng Sĩ Châu lê vào phòng tắm xối nước cho mát đã ngất xỉu và chết trong buồng tắm trên tàu. Riêng tôi cũng gần chết nhưng nhờ còn trẻ nên đã vượt qua được. Sau đó tàu Hoà Lan cũng vớt được các bè khác trong đó có Thiếu Úy Ngưu.
Có lẽ Thiếu Úy Ngưu là người biết nhiều về cuộc vượt thoát này. Hiện ông đang ở Mỹ.
Sau cùng thì chúng tôi được chuyển sang HQ17 kể cả xác của Thượng Sĩ Châu đem về Đà Nẵng. Vào đến Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng, Chúng tôi được Đại Tá Thiện, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đón tiếp. Riêng tôi được chuyển đến Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng đê giải phẫu vết thương ở chân. Său đó tôi được chuyển tiếp về Bệnh Viện Hải Quân Saigon đìều trị . Về huy chương, tôi được Chiến Thương Bi Tinh do Đô Đốc Trần Văn Chơn Tư Lệnh Hải Quân gắn. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh VICT ban tặng Anh Dũng Bội Tinh. Về đến Saigon được Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm gắn Hải Dũng Bội Tinh.
Ngày nay khi viết lại những ngày này, tôi không khỏi bùi ngùi tưởng nhớ tới những người anh, người bạn đã dũng cảm hy sinh thân xác để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Xin ghi ơn những người đã vị quốc vong thân! Miến Nam Việt Nam lúc đó một mặt dù phảỉ chiến đấu cam go, và một mình đương đầu với CSBV có cả một khối Cộng Sản Quốc Tế lớn lao đứng đằng sau, vẫn hiên ngang, can đảm bảo vệ chủ quyền đất nước mà trận Hoàng Sa là tiêu biểu. Những người Cộng Sản cầm quyền ở Việt Nam vẫn luôn luôn rêu rao, tuyên bố láo khoét là bảo vệ vùng đát, vùng biển, vùng trời của nước Việt, vậy mà không giám đả động gì tới quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Cộng, một đàn anh và cũng là một đồng chí của họ đã chiếm đoạt từ hai mươi bảy năm nay. Than ôi !
HS1/TP Vương Văn Hà
Paris Mùa Xuân 2001
hqvnch.net
Tân Sơn Hòa chuyển

Hoàng Sa và những kỷ niệm



Hoàng Sa và những kỷ niệm   |      Contributed by: phuochung  |  Views: 6.412
Tam Giang Hoàng Đình Báu

Trong suốt chiều dài lịch sử của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, người lính biển cho đến giờ phút nầy vẫn không bao giờ quên trận hải chiến Hoàng Sa giữa HQ/VNCH và HQ/Trung Cộng. Mặc dù người lính biển đã tham dự biết bao trận đánh với Công quân khắp các vùng duyên hải và sông ngòi nhưng khi nhắc dến trận Hải Chiến nầy có người lính biển nào mà không khỏi ngậm ngùi thương tiếc, xúc động đến bàng hoàng hay hãnh diện vì đã góp phần xương máu cho tổ quốc Việt nam thân yêu. Riêng tôi khi nói đến Hoàng Sa tôi lại mường tượng được một khung trời, một giải đất màu xanh xanh nhỏ xíu giống cái đuôi mắt lá râm của nàng thôn nử Việt Nam nằm thon thả giữa trời và nước trong xanh.
Trời Cali lành lạnh bắt đầu một mùa đông thật sự đưa tội về lại kỷ niệm những ngày giá lạnh trên biển đông năm 1964 với Hải Vân Hạm Hương Giang [HQ 404] đang chuyển một đại đội ĐPQ từ thành phố Đà Nẳng ra thay thế một đại đội ĐPQ khác đang trú đóng ở đảo Hoàng Sa hơn 6 tháng trời. Nhìn những người lính chiến nai nịt gọn gàng đang ngồi im lặng trên sàn tàu, tôi cũng cảm nhận đôi phần tâm sự của họ khi vừa mới xa gia đình, xa người yêu, xa bạn bè và xa cả thành phố thân thương Đà Nẳng.
Họ đến Hoàng Sa không biết đây là lần thứ mấy, riêng tôi đây là lần đầu tiên đến viếng Hoàng Sạ.. Chiến hạm khởi hành lúc 6 giờ chiều thì 3 giờ sáng radar chiến hạm bắt được echo của đảo. Chiến hạm giảm tốc độ chờ trời vừa sáng là nhiệm sở vận chuyển, rồi chiến hạm từ từ vừa ủi bãi vừa cập cạnh chiếc cầu gảy mà từ lâu vẫn còn mằm trơ trọi như muốn thi gan cùng sóng gió với những chân cầu đứt mất một nửa, còn một nửa thì han rỉ, cong queo. Khi đai đội ĐPQ rời khỏi chiến hạm dể đổ bộ lên đảo, tôi nhanh chân theo họ rồi tách ra chạy một vòng quanh đảo để thỏa mản những mơ mông, những háo hức lúc còn ở ghế nhà trường về một hoang đảo xa xăm nào đó với bao huyền thoại về đời sống hoang dã của những chàng thủy thủ bị đắm tàu trôi dạt vào nơi hoang đảo nầy mà ngay cả khi làm SQ trực phiên trên đài chỉ huy HQ 404 tôi cũng chỉ thấy đảo qua ống nhòm như một vệt xanh mỏng manh nhô lên khỏi mặt biển mà thôi.
Buổi sáng không khí ở đảo mát diu , trên trời không một đám mây báo hiệu những ngày thật đẹp của biển Đông, những bầy hải âu bay lượng tìm mồi quanh những làn sóng trắng xóa bắn tung tóe trên những bãi san hộDưới nước cạnh các ghềnh đá lác đác mấy người lính ĐPQ đang mò ốc hay câu cá,họ phải tranh thủ để khi cơn nắng cháy da ập vào ban trưa thì tất cả vào nghỉ trong những căn hầm do quân đội Nhât xây trước năm 1945 để chống lại quân đội Pháp. Đi vòng quanh đảo mất nửa tiếng, Tôi ghé vào một pháo đài của Nhât trên đó còn để lại một khẩu đại liên khổng lồ đã rỉ sét đặt trên giá súng cao hướng ra biển.Bên cạnh là đài khí tượng do Pháp xây trong thời Pháp thuộc nhưng nay không còn nhân viên khí tượng nào còn làm việc ở đó nữạLúc tôi đến thì đài khí tượng trở thành phòng truyền tin của đại đội ĐPQ.
Toán lính mới đến thay thế thì toán lính cũ chuẩn bị rời đảo để lên chiến hạm.Tốp lính cũ nầy mệnh danh là người về từ hoang đảo, gầy như những người tù ở xà lim mới ra, da đen sậm,tóc dài dến tận vai,râu ria lỡm chởm, bộ quân phục xanh lá cây trở nên dày cứng loan lỗ những lớp muối trắng phau Ngoài hành trang mang theo, người lính nào cũng đem theo về một túi cá khô, vi cá,sò biển hay các thứ hải sản mà họ đã câu đựoc hay mò tìm được dưới các hang đá hay san hô rồi đem phơi nắng thật khộTrong suốt thời gian canh giữ hải đảo,ngoài giờ trực gác họ không có việc gì làm ngoại trừ việc đi dọc quanh đảo để kiếm thức ăn như cá ,tôm ,cua; đôi khi có cả rùa biển hay còn gọi là con vít mà có con cân nặng cả trăm ký lộRùa biển ăn không hết lại xẻ ra phơi khô đem về làm quà cho gia đình hoặc bán đi để có thêm chút phụ vào tiền lương ít ỏi của họ. Đây là giờ phút vui nhất của người lính chiến vừa hoàn tất nhiêm vụ giữ đất, giữ nước và trở về nhà như người lính thú đời xưa phải ba năm trấn thủ lưu đồn mới được vế thăm gia đình sau bao năm tháng dài vật lộn với thiên nhiên khắt nghiệt ,với thiếu thốn trăm đều Rồi chỉ một dêm lắc lư ,biển sẽ ru họ vào những giấc mộng tuyệt vời để sáng hôm sau họ gặp lại cảnh cũ người xưa.
Như vậy trong suốt thời gian phục vụ HQ 404,tôi được đi công tác Hoàng Sa 3 lần, đến giữa tháng giêng năm 1974 chiến ham HQ 403 của tôi lại đựợc lệnh ra công tác Vùng 1 Duyên Hải trong lúc đang diễn ra trận hải chiến Hoàng Sạ.Tôi theo dỏi trận đánh qua đài phát thanh Saì Gòn từ lúc hai bên giàn trận,gờm tay súng cho đến lúc mặt đối mặt tấn công nhau bằng đủ mọi loại súng có sẳn trên tàụNhững tin tức trên đài phát thanh BBC,VOA và những công điên nhận đươc từ BTL/HQ về trân đánh đã làm nứt lòng người lính biển nhưng khi được biết chiến hạm HQ 10 bị địch bắn chìm với hạm trưởng,hạm phó và nhiều chến sỉ hải quân tử trận thì tôi lặng người,cả tàu cũng lặng người đi!
Bốn vi ham trưởng của bốn chiến hạm tham dự trận Hoàng sa đều là các bạn quen thân từ trước với tôi như hạm trưởng Lê văn Thư [HQ16],anh hoc trên tôi một lớp ở Huế, vào Hải Quân Nha Trang trước tôi một khoá,nhưng nhà anh và nhà tôi lại ở cùng chung một xóm . Đến khi ra trường tôi lại phục vụ trên cùng Hộ Tống Hạm Vạn Kiếp [HQ 02]mà anh là sỉ quan dệ tam. Hạm trưởng Nguy văn Thà [HQ !0] quen biết lúc hai đứa cùng học lớp tham mưu cao cấp ở TTHL/ HQ Sài Gòn.Còn hạm trưởng Vũ hửu San [HQ4] và hạm trưởng Phạm trọng Quỳnh [HQ 5] thì cả hai đều là bạn cùng khóa và cùng ở chung một khu nhà mà anh em lúc còn sinh viên sỉ quan gọi là xóm Nhà Lá. Tất cả bốn vị hạm trưởng tham gia trân hải chiến Hoàng Sa mà tôi quen thân như nói ở trên đều là những hạm trưởng giỏi, có tư cách lảnh đạo và tinh thần kỷ luật cao. Tôi nghĩ nói những điều đó ra đây cũng bằng thừa nhưng biết mà không nói là một điều đáng trách vì những cấp chỉ huy dù nhỏ hay lớn mà có tinh thần tự trọng và kỷ luật cao thì lúc đối mặt với kè thù không bao giờ họ chiụ khuất phục hay nao núng.huống chi kẻ thù đó lại là kẻ xâm lượt từ phương Bắc thì chắc chắn không một ai trên chiến hạm lại không chiến đấu một mất một còn với quân thù.
Vậy thì không lấy thắng hay bai. mà luận anh hùng vì thắng hay bại còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan bên ngoài tác động vào mà tôi không muốn bàn đến ở đâỵTrước hết xin thắp nén hương lòng cho các chiến sỉ Hoàng Sa đã Vị Quốc Vong Thân.Tổ Quốc và Dân TộcViệt Nam đời đời ghi ơn các anh.Còn các thủy thủ đoàn năm đó,nay phần đông đã quá lục tuần,một số đã yên nghỉ trong lòng đất khắp bốn phương trời,một số đang chiến đâu' với bệnh tật,cô đơn và nghèo khó. Trong số những thủy thủ đoàn còn lại nầy,tôi xin nói rằng các bạn đã làm cho tất cả người lính biển VNCH hảnh diện vì các bạn đã đóng một vai trò xứng đáng trong trận Hải Chiến Hoàng Sạ Tuy vậy nỗi đau đớn của người đi biển vẫn còn lãng vãng đâu đây vì nghĩa vụ chưa tròn, vì những lời phê phán thiếu chính xác mặc dầu chúng ta đã chiến đấu hết mình. Sau ba thập niên nhiều tài liệu tối mật quốc phòng của cả các bên đã được phơi bàỵ
Mới đây trên những trang internet của đối phương Trung Cọng ngoài việc ca ngợi Hồng quân Cọng sản, cũng có nhắc đến vai trò tác chiến của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư [HQ 4] oai hùng dũng mãnh như ba chiến hạm khác xung trân ở Hoàng Sạ Trong cõi tận cùng của ước mơ ,ai mà không mong đợi những lời công bằng ,những lời phải lẽ hầu được an ủi trước khi nằm xuống thanh thản.Một lần nữa càc chiến sỉ Hải quân Việt Nam Cọng Hòa đã làm tròn bổn phận mà quốc gia giao phó,.trong khi cọng sản Việt Nam vẫn im hơi lặng tiếng vì "Mở miệng mắc quai." Nhưng các sỉ phu Bắc Hà mà đại diện là Tiến sỉ Nguyễn thanh Giang đã hết lời ca ngợi Quân Đội Viêt Nam Cọng Hòa trong trận chiến với Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa, ông còn đề nghị xây một đài kỷ niệm để vinh danh những chiến sỉ đã hy sinh trong trận chiến đó. Trên ba chục năm rồi,hãy quên đi những chi tiết nhỏ nhặt.Toàn thể người lính biển chỉ còn nhớ có một đều là chúng ta đã chiến đấu chống ngoại xâm giống như cha ông chúng ta đã làm và trận Hải Chiến Hoàng Sa là trận hải chiến đầu tiên trong lịch sử Việt Nam chống ngoại xâm trên vùng biển Thái Bình Dương.
Riêng tôi vẫn nhớ đảo Hoàng Sa như đôi mắt lá răm màu xanh nâu của người con gái Việt Nam.
Năm 1999,tôi có xuất bản tâp thơ "Mẹ và Quê Hương" trong đó có bài "Hoàng Sa",xin trich lại để qúy độc giả xem:
Em gái Hoàng Sa
Em đẹp như bài ca
Thân em dài thon thả
Nằm giữa biễn trời xanh
Gối đầu lên sóng bạc
Em nằm cạnh Việt Nam
Sáng hôm tàu ta đến
Em mơ màng từ xa
Mặt trời lên chói lọi
Em phơi mình kiêu sa
Da thịt em vàng óng
Ta ôm vào ngất ngây
Em thì thào sóng vỗ
Em quyện vào thiết tha
Em Hoàng Sa!
Ta quen em từ dạo đó
Ta yêu em từ đây
San hô làm đồ cưới
Ốc vỏ kết tình thâm
Thời gian bao mộng đẹp
Tưởng chừng như trăm năm
Hôm nay ta nhớ em
Hoàng Sa như giấc mộng! 
California 24-11-2003

Nguồn:  http://www.vn.net/article.php/20080501104627216