Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Nghị Quyết của Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove

Nghị Quyết của Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove

Nghị Quyết
của Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove
liên quan đến việc thăm viếng hoặc di chuyển của giới chức thuộc nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam qua thành phố Garden Grove.

XÉT RẰNG, thành phố Garden Grove là nơi cư ngụ của nhiều người gốc Việt nhất tại Orange County;
XÉT RẰNG, đại đa số công dân và cư dân Mỹ gốc Việt cư ngụ tại Hoa Kỳ, đặc biệt tại Garden Grove, phản đối chế độ độc tài hiện tại của đảng Cộng Sản Việt Nam;
XÉT RẰNG, hàng ngàn công dân và cư dân Mỹ gốc Việt cư ngụ tại Garden Grove, kể từ khi miền Nam Việt Nam sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, đã liều mình trốn thoát Việt Nam để tìm tự do và dân dân chủ;
XÉT RẰNG, sự hiện diện của giới chức và đại diện Việt Cộng trong, hoặc gần, khu vực có đông đảo công dân và cư dân Mỹ gốc Việt, đặc biệt là vùng “Little Saigon,” khu vực nằm giữa hai thành phố Garden Grove và Westminster, sẽ bị biểu tình và chống đối một cách giận dữ;
XÉT RẰNG, Garden Grove đã phải hao tốn ngân sách bảo vệ an ninh công cộng lớn lao để hỗ trợ thành phố Westminster vào Tháng Giêng, 1999, nhằm bảo vệ an ninh, trật tự tại khu Little Saigon khi hàng ngàn cư dân biểu tình, trong 53 ngày liên tục, chống đối một người buôn bán trưng bầy cờ Việt Cộng và hình lãnh tụ Cộng Sản Hồ Chí Minh;
XÉT RẰNG, cuộc biểu tình tại Little Saigon năm 1999, và các cuộc xuống đường sau đó chống đối chính quyền Việt Cộng, đòi hỏi có sự hiện diện của nhiều nhân viên công lực thuộc nhiều thành phố để duy trì trật tự làm tốn kém hàng trăm ngàn đô la vượt mức ngân sách;
XÉT RẰNG, tinh thần chống Cộng trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Orange County, và đặc biệt tại Garden Grove, rất mạnh mẽ, có thể là hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới;
XÉT RẰNG, rủi ro liên quan đến an toàn công cộng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt và phái đoàn Việt Cộng, hoặc các tổ chức thương mại và mậu dịch có liên quan đến chế độ Hà Nội qua sự hiện diện vào phút chót, có giới chức cao cấp, có thông báo, đi ngang qua, hoặc thăm viếng trong hoặc gần Little Saigon, là rất cao;
XÉT RẰNG, các cuộc thăm viếng, hoặc đi ngang qua, Little Saigon thông báo vào phút chót của phái đoàn Việt Cộng, dù biết trước sẽ bị cộng đồng người Mỹ gốc Việt biểu tình phản đối, là một hành động khiêu khích, thách đố và có ý thăm dò phản ứng của cộng đồng;
XÉT RẰNG, yêu cầu thành phố bảo vệ an ninh vào phút chót của phái đoàn Việt Cộng khi dự tính đến hoặc đi qua thành phố sẽ gây ra nguy hiểm về an toàn không dự đoán được và trở thành gánh nặng tài chánh cho cộng đồng và thành phố;
XÉT RẰNG, sự thâm thủng ngân sách tại California hiện nay có ảnh hưởng bất lợi cho chính quyền quận hạt và thành phố trong tiểu bang, bao gồm Garden Grove, dẫn đến hậu quả là làm ngưng thuê mướn và cắt giảm nhân viên công lực và một số chương trình;
XÉT RẰNG, các phái đoàn cộng đồng và nhóm thương mại có liên quan chính thức với chế độ Hà Nội đến thăm Little Saigon không mang lại lợi ích kinh tế hoặc chính trị cho Garden Grove, mà ngược lại chỉ gây ra những phiền hà cho thành phố và cư dân;

VÌ THẾ, BÂY GIỜ, Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove ban hành Nghị Quyết với những điều lệ sau đây :
1- Hội Ðồng Thành Phố không hoan nghênh, không tiếp đón các cuộc thăm viếng công khai, đi ngang qua, hoặc tạm ngừng, trong thành phố, của giới chức hoặc đại diện của chính phủ Việt Cộng, hoặc các tổ chức có quan hệ với họ, trong phạm vi vùng đất của thành phố, bao gồm một phần khu vực Little Saigon;
2- Hội Ðồng Thành Phố phản đối việc sử dụng nhân viên và viên chức của thành phố trong công việc liên quan đến những cuộc thăm viếng của phái đoàn Việt Cộng khi đến Garden Grove trong giờ làm việc, hoặc trong khi đang thi hành phận sự với tư cách là nhân viên của thành phố;
3- Hội Ðồng Thành Phố nay chỉ thị cho cảnh sát trưởng phải soạn thảo chi tiết chính sách về việc “THÔNG BÁO TRƯỚC”, yêu cầu các cơ quan trong và ngoài khu vực thành phố khi yêu cầu Sở Cảnh Sát Garden Grove và các nhân viên đặc trách bảo vệ an toàn công cộng của thành phố giúp đỡ an toàn công cộng liên quan đến việc các phái đoàn chính phủ hoặc các nhóm có quan hệ với Việt Cộng, phải thông báo trước ít nhất là mười bốn ngày (14) trước khi sự việc xảy ra.
4- Hội Ðồng Thành Phố cũng chỉ thị cảnh sát trưởng phải báo cáo thị trưởng và tất cả nghị viên các cuộc viếng thăm, đi đến hoặc đi ngang qua thành phố trong thời gian sớm nhất, một khi nhận được sự yêu cầu này từ cơ quan trong và ngoài khu vực.
5- Hội Ðồng Thành Phố yêu cầu cảnh sát trưởng chuẩn bị một “Bản Chi Phí” hoàn tất để nộp cho Hội Ðồng Thành Phố, liên quan đến dịch vụ cảnh sát, và nộp cho các phòng ban hoặc cơ quan phụ trách, trong trường hợp các phái đoàn chính phủ hoặc các nhóm có quan hệ với Việt Cộng thăm viếng hoặc đi ngang thành phố thực hiện chính sách “thông báo trước” 14 ngày.
ÐỒNG THỜI QUYẾT ÐỊNH RẰNG, nghị quyết này sẽ hết hạn vào thời điểm mà Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chính thức tuyên bố Việt Nam là một quốc gia tự do và dân chủ 
 
 Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=31342

Sự hình thành Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Trong lịch sử Việt Nam, có một số trường hợp, người Việt ra nước ngoài tập thể: Ví dụ khi nhà Lý sụp đổ năm 1225, hoàng thân Lý Long Tường (nhà Lý) lo ngại bị nhà Trần đàn áp, nên cùng đoàn tùy tùng qua Triều Tiên lập nghiệp năm 1226. Năm 1789, vua Quang Trung chiến thắng oanh liệt ở Đống Đa; vua Lê Chiêu Thống (nhà Lê) sợ bị trả thù, liền cùng các cận thần qua Trung Hoa lưu vong. Dưới thời Pháp thuộc, trong thế chiến I (1914-1918) và thế chiến II (1939-1945), Pháp đưa hàng trăm ngàn binh sĩ Việt qua Pháp chiến đấu. Sau khi chiến tranh chấm dứt, một số người ở lại bên đó sinh sống rải rác nhiều nơi. Ngoài ra, trong thập niên 30 của thế kỷ trước, nhiều người Việt bị thực dân Pháp mộ phu, đưa qua quần đảo Tân Calédonie, ngoài khơi Thái Bình Dương, rồi ở luôn bên đó. Tuy đã nhiều lần ra nước ngoài, nhưng chưa lần nào người Việt tổ chức thành cộng đồng như Cộng đồng Người Việt Hải ngoại (CĐNVHN) sau năm 1975.
Diễn Hành

* Nguyên nhân

Có hai nguyên nhân chính đưa đến sự thành lập CĐVNHN sau năm 1975.
Thứ nhất là sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 30-4-1975, khiến nhiều người Việt bỏ nước ra đi. Thứ hai, người Việt di tản và vượt biên có cùng một mẫu số chung là tỵ nạn cộng sản, nên người Việt tự động tập họp với nhau, đầu ít, sau nhiều và dần dần đưa đến sự hình thành CĐNVHN.

* Di tản và vượt biên

Cuộc ra đi lần nầy của người Việt có thể chia thành bốn giai đoạn. Những số liệu dưới đây dựa vào thống kê của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees = UNHCR) Giai đoạn 1: Trước khi cộng sản kiểm soát được Sài Gòn ngày 30-4-1975 và sau đó vài ngày sau nữa, khoảng 150,000 người di tản ra nước ngoài, trong đó 140,000 qua Hoa Kỳ, 10,000 đến các nước Âu Châu và các nước khác. Giai đoạn 2 (từ 1975 đấn 1979): Khi người Việt ra nước ngoài đông đảo, nhất là qua Hoa Kỳ, tổng thống Gerald R. Ford (thay thế tổng thống Richard Nixon từ chức tháng 8-1974) ban hành đạo luật “Indochina Migration and Refugee Act” (Đạo luật về Di trú và Tỵ nạn Đông Dương) được quốc hội thông qua ngày 23-5-1975, theo đó “những người Nam Việt Nam và Cao Miên được phép nhập cư vào Hoa Kỳ theo một quy chế đặc biệt và sẽ được trợ cấp để tái định cư.” Các tổ chức thiện nguyện như Civitan International, The United States Conference of Catholic Bishops, The International Rescue Committee, và The Church World Service, sẽ bảo trợ những người đến định cư.(1) Từ tháng 6-1975 đến 1979, tổng cộng 326,000 người Việt vượt biên , trong đó có 311,400 thuyền nhân, và 14,600 người đi bằng đường bộ qua Cambodia, Thái Lan.(2) Người ta ra đi nhiều trong thời gian nầy vì Đỗ Mười, bí thư trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), vào Nam năm 1978, phát động chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, nhưng thực chất là đánh giới tư sản, kể cả tư sản người Việt gốc Hoa. Trong các tháng 3 và 4-1978, khoảng 30,000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa bị đóng cửa.(Wikipedia: "Thuyền nhân”.) Vì vậy, nhiều người Việt gốc Hoa đóng vàng cho nhà nước CS để được thoát khỏi Việt Nam theo chương trình ra đi “bán chính thức”. Phía Trung Quốc gọi là “nạn kiều”. Giai đoạn 3 (từ 1980 đến 1989, trước thời điểm UNHCR ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn, không nhận người vượt biên): Trước tình hình người Việt ra đi tỵ nạn đông đảo trên đây, chính phủ Hoa Kỳ ban hành thêm đạo luật "Refugee Act” (Đạo luật Tỵ nạn) ngày 17-3-1980 nhằm “cung cấp quy chế có tính cách hệ thống và vĩnh viễn để tiếp nhận và tái định cư một cách hiệu quả người tỵ nạn dựa trên những nhu cầu nhân đạo đặc biệt.” (3) Trong giai đoạn nầy, khoảng 450,000 người ra đi, gồm có 428,500 thuyền nhân và 21,500 người đi đường bộ, đến các đảo Hồng Kông, Palawan (Phi Luật Tân), Bidong (Malaysia), Galang (Indonesia), các trại ở Thái Lan, rồi từ đó đi định cư khắp thế giới. Giai đoạn 4 (từ 1990 đến 1995, tức từ khi Liên Hiệp Quốc khóa sổ năm 1989 cho đến lúc giải tán vĩnh viễn các trại tỵ nạn năm 1996): Số người ra đi vẫn tiếp diễn, tổng cộng khoảng 63,100 người, trong đó 56,400 là thuyền nhân và 6,700 người đi đường bộ. Như thế từ khi Sài Gòn bị cưỡng chiếm ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, trong bốn đợt ra đi, tổng số người Việt bỏ nước ra đi, theo thống kê của UNHCR là 989,100 người, cả đường biển lẫn đường bộ. Số người tử nạn trên đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.
Vược Biển
Những người di tản đầu tiên ngay sau ngày 30-4-1975, được đi định cư tương đối dễ dàng. Những người vượt biên sau đó phải trải qua nhiều thủ tục khó khăn rườm rà mới được đi định cư. Trong giai đoạn đầu, thoát khỏi Việt Nam, người vượt biên đến tạm cư ở những nước lân cận Việt Nam như Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông... và phải trải qua các thủ tục sau đây: Thứ nhất, là UNHCR phỏng vấn. Trong cuộc phỏng vấn nầy, người vượt biên phải chứng minh mình đúng là nạn nhân của chế độ cộng sản, mới được đi định cư. (Người nào không chứng minh được thì không được chấp nhận quy chế tỵ nạn.) Thứ hai, người tỵ nạn còn phải qua cuộc phỏng vấn của đại diện nước mà đương sự muốn xin đi định cư (Hoa Kỳ, Canada, Úc...). Nếu được chấp nhận mới có thể lên đường. Năm 1989, UNHCR quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông. Từ đây các thuyền nhân phải trải qua một cuộc thanh lọc chặt chẽ hơn, phải chứng minh đầy đủ giấy tờ là cá nhân hay gia đình thực sự bị chế độ cộng sản ngược đãi. Vượt qua cuộc thanh lọc (tức “đậu thanh lọc”), đương sự mới được đi định cư, nếu không vượt qua cuộc thanh lọc (tức “hỏng thanh lọc”), đương sự sẽ bị trả về Việt Nam. Những người đậu thanh lọc còn phải qua thêm một cuộc phỏng vấn của phái đoàn quốc gia mình muốn xin định cư, và nếu bị bác đơn thì phải xin đi nước khác.

* Ra đi có trật tự, H.O., con lai, du học, xuất khẩu lao động

Ngoài đa số người ra đi bằng thuyền, còn có khá nhiều người ra đi bằng đường hàng không, theo hai chương trình O. D. P. và H.O. Orderly Departure Program viết tắt là O. D. P. tức chương trình “Ra đi có trật tự” do thân nhân bảo lãnh, bắt đầu từ 1979. Văn phòng O.D.P. lúc đầu mở tại Bangkok, thủ đô Thái Lan vào tháng 1-1980. Chương trình O.D.P. đã đưa gần 500,000 người Việt tái định cư ở Hoa Kỳ. Văn phòng O.D.P. ở Bangkok ngưng nhận hồ sơ từ ngày 14-9-1994 và đến năm 1999 thì văn phòng nầy đóng cửa. Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn từ đây phụ trách việc xin cứu xét hồ sơ bảo lãnh.(4) H.O. là chữ người Việt thường dùng để gọi chương trình The Special Released Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích), hay còn gọi là Humanitarian Operation Program (Chương trình H.O.). Chương trình nầy bắt đầu từ năm 1989, do chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho các nhân viên và quân nhân VNCH bị ba năm tù cộng sản trở lên, cùng gia đình, tái định cư tại Hoa Kỳ. Có tài liệu cho rằng từ 1989 đến 2002, số cựu tù nhân chính trị cùng thân nhân, kể cả những người đi theo diện tỵ nạn trong chương trình Tu chính án McCain (McCain Amendment Program), đến Hoa Kỳ định cư lên đến hơn 210,000 người.(5)
 Ca sỉ Phi Nhung

Bên cạnh đó, còn có chương trình “Con lai” Mỹ. Trẻ Lai Mỹ được chính phủ Hoa Kỳ định nghĩa là "Ngoại kiều sinh tại Việt Nam sau ngày 1 tháng 1 năm 1962 và trước ngày 1 tháng 1 năm 1976 và có cha là công dân Hoa Kỳ" . Số con lai Mỹ cùng gia đình đến Hoa Kỳ định cư lên đến khoảng 100,000 người.(6) Thêm vào đó, sau năm 1975 có một số người ra đi do du học hoặc xuất khẩu lao động qua Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi chế độ cộng sản tại các nước nầy sụp đổ vào những năm 1990-1991, nhiều sinh viên du học hay những người xuất khẩu lao động đã xin ở lại tỵ nạn. Số nầy lên đến khoảng trên 100,000 người (số liệu trong nước cho biết khoảng 300,000 người), rải rác ở Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungaria, Đông Đức... Hiện nay nhiều người trong số nầy đã chuyển qua các nước phương tây định cư.

* Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Dầu di tản hay vượt biên từ năm 1975, hoặc ra đi theo các chương trình O.D.P., H.O., hay xin tỵ nạn từ các nước Đông Âu, và dầu hiện nay người Việt ở hải ngoại theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng căn nguyên của tất cả người Việt ở hải ngoại trên thế giới hiện nay đều mang tính cách chung là người Việt tỵ nạn cộng sản. Như thế căn cước của Cộng đồng người Việt hiện nay trên thế giới là cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Nếu ai cho rằng mình không phải là người tỵ nạn cộng sản thì đã được mời về nước ngay từ đầu. Chính vì cùng một mẫu số chung (tỵ nạn cộng sản), người Việt dễ dàng thông cảm nhau và dần dần tập họp lại với nhau thành những nhóm nhỏ (hội đồng hương, hội đồng nghiệp…), rồi tập họp thành CĐNVHN, chứ sau ngày 30-4-1975, những thành viên cũ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thành lập chính phủ lưu vong nhằm quy tụ người Việt. Người Việt tỵ nạn tập trung đông nhất tại Hoa Kỳ, sau đó đến Úc Châu, Canada và Âu Châu. Có một số ít ở vài nước Á Châu như Nhật, Singapore, Phi Luật Tân. Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê dân số năm 2007 cho thấy người Mỹ gốc Việt là 1,642,950, chiếm 0,55% dân số Hoa Kỳ.(7) Người Việt vốn quen với khí hậu nắng ấm miền nhiệt đới ở Việt Nam, nên sau khi nhập cư vào Hoa Kỳ, tạm thời ổn định đời sống, người Việt thường tìm đến sinh sống ở các tiểu bang nắng ấm miền nam Hoa Kỳ như California, Florida, Texas. Tại California, ở Orange County, các thành phố Garden Grove, Westminster, Santa Ana, Fountain Valley họp thành trung tâm Little Sài Gòn, được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn trên thế giới. Tính chung, tổng số người Việt ở hải ngoại hiện nay được ước lượng khoảng ba triệu người. Dân số nầy sẽ còn tăng nữa theo thời gian. Nhờ sống tại các nước TỰ DO DÂN CHỦ, người Việt hải ngoại có điều kiện học hỏi, phát triển khả năng, đỗ đạt nhiều và đỗ đạt cao, làm việc chăm chỉ, nên người Việt càng ngày càng thành công tại các nước định cư. Nhờ thế CĐNVHN nhanh chóng lớn mạnh. Về phương diện tôn giáo, người Việt hải ngoại tiếp tục theo những tôn giáo ở trong nước, và phát triển tôn giáo của mình một cách mạnh mẽ. Nhiều chùa Việt được xây dựng khắp nơi trên thế giới. Nhiều họ đạo Ky-Tô có nhà thờ riêng cho người Việt. Đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo được tự do truyền đạo và hành đạo, không bị đàn áp, ngược đãi như hiện nay ở trong nước. Về phương diện văn hóa, tại bất cứ nước nào, các cộng đồng người Việt hiện nay đều hoạt động tự phát rất tích cực. Ở một số địa phương, Việt ngữ trở nên một môn học chính thức trong học đường. Nhiều trường dạy tiếng Việt cho con cháu được mở ra. Tuy không phải là quê hương ruột thịt của mình, nhưng ở một số thị trấn, sinh hoạt hầu như hoàn toàn bằng tiếng Việt. Nhờ hệ thống chính trị tự do dân chủ nơi quê người, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, nghiên cứu, tiểu thuyết, báo chí người Việt hải ngoại rất đa dạng và phát triển mạnh mẽ. Nếu tính theo tỷ lệ dân số, thì ở hải ngoại, văn hóa phát triển mạnh mẽ hơn trong nước hiện nay. Nếu tính theo chiều không gian, thì báo chí, tác phẩm văn học Việt Nam ở hải ngoại bao trùm rộng rãi cả thế giới. Từ Mỹ Châu, qua Âu Châu, đến Úc Châu. Ngoài những tác giả viết sách bằng tiếng Việt, nhiều tác giả viết sách bằng tiếng nước ngoài, cũng như nhiều tác phẩm Việt ngữ đã được dịch ra tiếng nước ngoài. Về phương diện chính trị, sau khi tạm ổn định đời sống nơi vùng đất mới, đồng bào tỵ nạn hải ngoại tiếp tục cuộc tranh đấu chống cộng đang còn dang dở. Lúc đầu, nhiều người tham gia phong trào võ trang chiến đấu, tìm đường trở về phục quốc. Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan cũng như khách quan, các phong trào nầy đã thất bại. Sau đó, theo cách thức tranh đấu tại các nước tự do dân chủ, người Việt quay qua vận động chính trị bất bạo động và chống cộng sôi nổi khắp nơi trên thế giới. Sau hai thập niên tỵ nạn, sang đầu thế kỷ 21, CĐNVHN bắt đầu đi vào chính lưu (mainstream) sinh hoạt chính trị tại những nơi mình sinh sống. Nhiều người Việt Hoa Kỳ, Canada, Úc, Anh, Pháp … đắc cử vào các Hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và lập pháp ở mọi cấp. Về phương diện kinh tế, người Việt vốn thông minh, chăm chỉ, cần cù, chịu khó, tiết kiệm, giản dị, nên khá thành công trong sinh hoạt kinh tế, đóng góp không ít vào các nước định cư. Hiện nay, nhìn chung đời sống người Việt ở hải ngoại tương đối sung túc, nhất là những người lập nghiệp từ năm 1975. Một số người Việt bắt đầu làm chủ các cơ xưởng vừa, một số bước vào giới triệu phú nhỏ.

* Biểu tượng Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Khi rời đất nước ra đi tìm dự do, người Việt mang theo trong trái tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương gia đình, bà con, bạn bè thân thiết và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân chủ tự do mà mình đã sống, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam và sau đó Việt Nam Cộng Hòa.
Việt Mỹ
Trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng đều có làm lễ chào cờ quốc gia địa phương và chào cờ VNCH. Dần dần, khi đi vào chính lưu dòng sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Việt vận động các cấp lập pháp địa phương thừa nhận lá cờ VNCH là biểu tượng chính thức của cộng đồng người Việt. Đầu tiên, ngày 19-2-2003, thành phố Westminster ở California ra nghị quyết số 3750, thừa nhận Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng chính thức của Cộng đồng Việt Nam Westminster. Từ đó, nhiều thành phố và nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ đã theo gương Westminster, thừa nhận biểu tượng của CĐNVHN. Cho đến năm 2009, trên toàn nước Mỹ, có 14 tiểu bang, 7 quận hạt (county) và 88 thành phố công nhận Cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của CĐNVHN.(8)

* Ảnh hưởng của CĐNVHN đối với Việt Nam

Ngay từ những ngày đầu được hình thành, CĐNVHN chẳng những đóng góp cho các nước mình đang định cư, mà còn tác động ngược trở về trong nước. Về kinh tế, sau khi định cư, người Việt cặm cụi làm ăn vừa để nuôi sống gia đình, vừa để có tiền gởi về giúp thân nhân. Lúc đầu là những thùng quà và chuyển ngân bất hợp pháp qua các tư nhân. Sau đó, những đại lý chuyển tiền mọc ra khắp nơi. Số tiền gởi về càng ngày càng nhiều. Theo nguồn tin của đài phát thanh RFA ngày 05-01-2011, thì vào năm 2010, số tiền người Việt ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân và đầu tư lên đến khoảng 8 tỷ Mỹ kim. (Web đài RFA, trang lưu trữ, ngày 5-01-2011.) Dầu số tiền nầy chỉ để giúp bà con, gia đình, nhưng gia đình là đơn vị căn bản của xã hội, nên viện trợ cho gia đình còn có nghĩa là viện trợ cho xã hội, do đó số tiền lớn lao nầy cũng đã nâng đỡ rất nhiều nền kinh tế hiện nay trong nước. (Năm 1975, để có thể tiếp liệu cho chiến trường, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, xin chính phủ Hoa Kỳ viện trợ 300 triệu Mỹ kim, mà Quốc hội Hoa Kỳ từ chối.) Về chính trị, CĐNVHN là những người tỵ nạn CS. Lập trường của đại đa số trong CĐNVHN là lập trường chống cộng. CĐNVHN luôn luôn vinh danh lá Cờ vàng ba sọc đỏ và đồng thời chận đứng sự xuất hiện của cờ CS. Nơi nào có cờ CS xuất hiện là CĐNVHN kiếm cách triệt hạ ngay.

Đặc biệt hơn, vào tháng 5-2004, Hội đồng hai thành phố Westminster và Garden Grove ở Little Sài Gòn đã ra “Nghị quyết không hoan nghênh” (Unwelcome Resolution) buộc cơ quan Cảnh sát địa phương phải thông báo cho Hội Đồng Thành phố trước mười bốn ngày để xin bảo vệ an ninh khi có phái đoàn chính thức của CHXHCNVN đến viếng thăm thành phố. Ngoài ra, CĐNVHN theo dõi thật sát những diễn tiến chính trị ở trong nước, lên án những vụ vi phạm nhân quyền, những cuộc bắt giam tù nhân lương tâm của nhà nước cộng sản. Những cuộc vận động nầy phần nào tác động đến nhà cầm quyền CS, làm cho họ giảm bớt việc thủ tiêu, hay đàn áp đẫm máu những nhà tranh đấu đối lập như trước đây, đồng thời tạo nên điểm tựa tinh thần, yểm trợ những phong trào đòi hỏi dân chủ ở trong nước. Ở hải ngoại, sống trên đất nước tự do, mỗi người có quyền tự do suy nghĩ, hành động độc lập, nên trong CĐNVHN có một thiểu số muốn “hòa giải hòa hợp” với cộng sản. Những người nầy có hai lý do: Hoặc họ cộng tác làm ăn với một số tổ chức nước ngoài đang qua Việt Nam đầu tư, nhất là từ khi chính phủ Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam năm 1995. (Chính phủ hay thương nhân nước ngoài hành động theo quyền lợi của riêng họ.) Hoặc chính những người nầy trực tiếp về Việt Nam đầu tư kinh doanh, đưa sản phẩm về tiêu thụ, in ấn sách vở. Tốt nhất, những ai muốn hòa hợp hòa giải với chế độ cộng sản trong nước, nên đem vợ con, gia đình về hẳn trong nước sinh sống, thì sẽ có cơ hội tận hưởng được sự hòa hợp hòa giải nầy, chứ đừng ở nước ngoài xúi người khác làm những điều đầu môi chót lưỡi. Bên cạnh đó, nhà nước cộng sản Việt Nam đang cố gắng tuyên truyền để triển khai thực hiện nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị đảng CSVN, nhắm lôi cuốn người Việt định cư ở nước ngoài trở về hợp tác với nhà nước CSVN và chia rẽ CĐNVHN. Tuy nhiên, nghị quyết nầy không đạt được tác dụng như ý của CSVN vì qua tin tức gia đình, qua mạng lưới thông tin quốc tế, qua lời truyền miệng của những người đã từng về Việt Nam, CĐNVHN nắm biết rất rõ thực trạng độc tài, tham nhũng và nhất là hèn nhát đối với Bắc Kinh của chế độ hiện nay ở trong nước. về văn hóa, khi chiếm được miền Nam, Cộng sản Việt Nam đốt sách miền Nam, quyết tâm tiêu diệt nền văn hóa dân tộc cổ truyền còn được bảo lưu ở miền Nam, và thay thế bằng văn hóa Mác-xít. Ai cũng thấy rõ tình trạng văn hóa và giáo dục đang càng ngày càng suy đồi. Trong khi đó, ra nước ngoài, người Việt làm tất cả các cách phát huy nền văn hóa tự do, nhân bản, khai phóng cổ truyền của dân tộc. Trên nền tảng văn hoá dân tộc, người Việt hải ngoại còn được thêm cơ hội học hỏi, nghiên cứu văn hóa các nước trên thế giới, tạo thành dòng văn hóa và văn học Việt Nam hải ngoại hết sức sinh động. Ngoài sự tiếp xúc văn hóa trong đời sống bình thường giữa người Việt trong và ngoài nước (thăm viếng, du lịch), dòng văn hóa và văn học Việt Nam hải ngoại được đưa lên các mạng lưới toàn cầu, truyền về trong nước, góp phần làm dồi dào đời sống văn hóa trong nước, giúp mở mang kiến thức giới trẻ, vốn bị CS nhồi sọ trong nền văn hóa Mác-xít.

Kết luận

Sự thành lập CĐNVHN là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Đặc biệt vì các lý do sau đây: Thứ nhất, thông thường, khi chiến tranh xảy ra, người ta bỏ xứ đi nơi khác để tránh lửa đạn; đến khi hòa bình trở lại, người ta hồi hương về chốn cũ. Đàng nầy, sau ngày 30-4-1975, chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại mà người Việt lại bỏ xứ ra đi hết sức đông đảo. Đây là nghịch lý thứ nhất. Thứ hai, nghịch lý thứ hai là khi người Việt bỏ nước ra đi, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngăn chận, bắn giết, tù đày, ngược đãi, sỉ nhục, chửi mắng những người di tản và vượt biên. Ngay ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn đã lên đài phát thành Sài Gòn gọi những người di tản là “phản quốc”. Trong khi đó, khi được tái định cư ở một nước khác, người Việt nhanh chóng xây dựng đời sống mới. Chẳng những đóng góp cho quê hương thứ hai của mình, chính những người Việt bị gọi là phản quốc đó đã gởi tiền về cứu giúp thân nhân trong nước, từ đó cứu vãn luôn nền kinh tế suy sụp bấp bênh của Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Thứ ba, khi ra nước ngoài từ 1975, nhờ cùng mẫu số chung là tỵ nạn cộng sản, người Việt hải ngoại dần dần tự động tập họp thành CĐNVHN. Càng ngày CĐNVHN càng phát triển, đưa đến nhiều ảnh hưởng quan trọng ngược về trong nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, và thúc đẩy những thay đổi hiện nay ở trong nước. Trước đây, trong lịch sử thế giới, những người Trung Hoa hải ngoại đã giúp nâng cao trình độ hiểu biết chính trị về thế giới của những người trong nước, ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911. Sau đó, những người Ba Lan lưu vong từ năm 1945, đã cổ võ, viện trợ và thúc đẩy cuộc cách mạng ở Ba Lan vào cuối thập niên 80 vừa qua. Với đà phát triển như hiện nay, chắc chắn CĐNVHN tiếp tục lớn mạnh và tiếp tục tác động mạnh hơn nữa vào xã hội trong nước, cũng như tiếp tay với những phong trào đòi hỏi dân chủ ở trong nước, nhằm chấm dứt chế độ độc tài cộng sản, mới mong xây dựng một nước Việt Nam tự do, độc lập và phú cường.
Vietnamese
Vietnamese
English
English

Nguồn: http://www.vac-ga.com/DoiSong.aspx

Mỹ hối thúc Việt Nam cải thiện nhân quyền


Mỹ hối thúc Việt Nam cải thiện nhân quyền

Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ/ FB Lê Quốc Tuấn

 
Một quan chức Mỹ hôm qua cho biết rằng dù Việt Nam đã thực hiện những tiến bộ về nhân quyền, nhưng vẫn phải làm nhiều hơn nữa nếu muốn xây dựng quan hệ kinh tế và an ninh chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ.

Trợ lý Ngoại trưởng Tom Malinowski nói với các phóng viên tại Hà Nội vào cuối chuyến thăm năm ngày của ông rằng chính phủ cộng sản nên cải cách luật pháp của mình để phù hợp với Hiến pháp 2013 và nghĩa vụ quốc tế của mình.

Malinowski đến VN vào thứ Ba trong cùng một ngày mà Chính phủ Việt Nam vừa trả tự do cho blogger nổi tiếng Nguyễn Văn Hải và đưa ông lên một chuyến bay đi thẳng tới Mỹ. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Marie Harf nói ông Hải đã tự quyết định đi đến nước Mỹ.


"Tôi đã nói rõ rằng chúng tôi muốn làm nhiều hơn để làm sâu sắc thêm mối quan hệ của chúng tôi và chúng tôi có thể làm nhiều hơn nữa về hợp tác an ninh và TPP," Malinowski nói, đề cập đến hiệp định thương mại Thái Bình Dương mà Hoa Kỳ, Việt Nam và 10 quốc gia khác đã đàm phán. "Nhưng chúng tôi chỉ có thể làm được khi và chỉ khi có tiến bộ nhiều hơn nữa về nhân quyền."


Malinowski lưu ý rằng Việt Nam đã trả tự do 12 tù nhân lương tâm trong năm nay, nhưng kêu gọi chính phủ không được sử dụng các điều luật an ninh mơ hồ để bắt giữ những người ôn hòa bày tỏ quan điểm của mình.


"Sẽ không có tiến triển nếu cứ thả một chục người này lại bắt thêm chục người khác", ông nói. "Vì vậy, chúng tôi nhấn mạnh về sự cần thiết của việc chính phủ Việt Nam phải tiếp tục theo đuổi các cam kết đã thực hiện để cơ bản cải cách pháp luật ... đưa luật pháp của đất nước vào việc tuân thủ đầy đủ với Hiến pháp năm 2013 và các nghĩa vụ quốc tế của mình."


Malinowski cho biết, trong các cuộc họp với quan chức chính phủ Việt Nam, ông giải thích rằng một số điều của bộ luật hình sự đất nước này không phù hợp với các nghĩa vụ của họ và những điều luật ấy "là nhằm mục tiêu vào các quyền tự do ngôn luận và lập hội."


Malinowski nói rằng Mỹ "muốn có một quan hệ đối tác sâu sắc và bền vững hơn nhiều (với Việt Nam), như những gì mà chúng tôi đang có với các đồng minh thân cận của mình ở châu Á, châu Âu và các nơi khác", nhưng "chúng ta cần một nền tảng vững chắc dựa trên những giá trị chung của chúng tôi, và đó là lý do tại sao chúng tôi nói đến vấn đề nhân quyền một cách mạnh mẽ. "

Theo FB Lê Quốc Tuấn
 
Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=31336

 

DÂN CHỦ CHỐI TỪ TỰ DO?!

Mai Nguyễn HuỳnhSt.8872- Một thoáng chiến trường ly biệt!
VỊNH BÌNH THUỐC LÀO- ĐIẾU CÀY VN!

" Mình tròn vành vạnh, đít bảnh bao
Mân Mân...mó mó, nhét ngay vào
Thủy hỏa tương giao sôi sùng sụt
Âm dương, nhị khí sướng biết bao!!! "
Thơ, Tù cải tạo- nhiều tác giả

Xin chia sẻ bài viết trạng thái: DÂN CHỦ CHỐI TỪ TỰ DO?!, của Điếu Cày Xã Nghĩa VN, trên Blog Mai Đây Hòa Bình- Rất cảm ơn Phuc Tran và nhiều tác giả.

Ảnh Điếu Cày là của TT. Obama ?!






Phuc Tran
Phuc Tran đã thêm 2 ảnh mới — với Bichthuy Ly18 người khác.
1 giờ ·
Luận về cái Điếu Cày!

ChinhIrving
Ở Việt Nam người bình dân không dùng thuốc lá “Tây “ như dân thị thành, miệng ngậm ống tẩu (ống vố).
xì gà hay thuốc lá Basto, Melia Cotab v.v.v.v.....
Dân “miệt vườn” Nam bộ chơi thuốc Rê . các mệ miền Trung chơi Cẩm Lệ tương đương, đặc biệt dân Bắc Kỳ chơi thuốc lào , cũng là những lá thuốc lá được sắt , thái mỏng như thái lá dâu nuôi tằm , rồi tẩm - ướp phơi khô và đóng thành từng bánh hình chữ nhật, sau này đóng vào gói bao bì có in nhãn mác đặc trưng là Thuốc lào ba số 8 ( 888) . (Địch thủ với ba số 5 (555) của bác Anglê!
Có hai cách để” phê” thuốc lào .
Điếu bát: Thường được dùng trong các gia đình “có vẻ” quan liêu hay sang sang một tí , được đặt ngay trên chiếc “sạp gụ” giữa nhà!
Điết bát là lọai bình được nặn bằng sứ nung , có tráng men và hoa văn tinh xảo , đẹp mắt, hoặc chế biến bằng chất liệu bằng nhôm, có hình dáng như trái bí ngô nho nhỏ vừa vừa ( dân mỹ ưa trưng vào dịp “Lễ ma quỷ” (Hala win) vào cuối tháng 10 hàng năm hihihi..., ngay trên đỉnh được khóet một Lỗ, và gắn vào cái “lỗ” đó là cái “nõ điếu”, khi hút thì dùng một cái ống bằng một cây trúc nhỏ, đã đục bỏ những mắt trúc bên trong , trước khi thưởng thức phải có những thao tác quen thuộc và cần thiết như : Thông nõ, nhắp thử tiếng kêu xem có “như ý “ không, có thể thêm nước cho đủ độ, sau đó vê một liều thuốc cỡ đầu ngón tay út, hay lớn hơn hạt bắp chút xíu, nhét nhè nhẹ vào nõ điếu, vít cần ngậm vào miệng, dùng cây đóm châm lửa, kê mồi lửa ngay miệng nõ , và rít một hơi, lửa đốt thuốc , thành khói quyện với nước trong điếu làm lạnh bớt cái nóng của “lửa đốt cháy thuốc” , và phần đông đều chơi tới bến và nuốt khói, bằng cách “chiêu” một ngụm nước chè đặc, thế là nghiêng ngả - lơ mơ ......!

Điếu Cày:
Dân ruộng và các thợ thuyền, nói chung là giới bình dân thường thủ một cái điếu cày, nó được “tha đi” khắp hang cùng ngõ hẹp hay băng rừng lội suối, hoặc nằm êm ả trên những cánh đồng mênh mông gió lộng ......!
Muốn có một chiếc Điếu Cày đúng “Mode”, người chủ nhân phải tốn nhiều công sức và kiên nhẫn , việc đầu tiên là phải vác theo cái “Rựa” sắc lẻm, lặn lội vào rừng tre , tìm kiếm làm sao cho được một gốc tre “đẹn” tức là đã gìa gìa và nhỏ cỡ bắp tay thiếu nữ - có nghĩa là không nhỏ và không to chỉ vừa vặn và thanh mãnh, “bề dày” mỏng manh “ôm trọn” hai vành môi của mình thế là tuyệt.
Chủ nhân hí hửng ra khỏi rừng, đem khúc tre về phơi chừng một nắng cho heo héo thân tre, lựa xem khúc tre nào thẳng thớm, không có lỗ sâu hay có lỗ mọt kiến sau đó cắt gần sát ”mắt tre” phía gốc làm đế, và khéo léo đo đạc sao cho đủ chiều dài , để khi “rít” một hơi thuốc không bị “hụt hơi và phát ra tiếng kêu rôn rã sảng khóai, sau đó cắt phần miệng điếu . Thường là chiếc điếu cày có chiều dài là 1 đốt rưỡi tùy theo chiều dài của đốt cây tre!
Sau đó là phần “gỉai phẫu khóet bụng ống điếu , định vị không nông mà cũng không sâu kể từ đế của chiếc Điếu cày, khi khóet lỗ cho “Nõ điếu” là phần quan trọng không kém, khóet làm sao khi nhét nõ điếu vào thân chiếc điếu không ôm sát thân điếu mà cũng không lơi quá xa, ngả ngớn ra phía ngòai, sẽ bị vướng và âm thanh phát ra sẽ vẩn đục không thanh thóat!
Giai đọan cuối cùng và cũng là sự thành bại của người chế tác chiếc điếu cày là đẽo tạc ”Nõ điếu”, muốn cho cái nõ điếu không bị nứt khi phải giao tiếp với lửa thì phải là lọai gỗ tốt vừa phải , và cây gỗ mít đã được chọn để làm nõ điếu , nó không mềm và cũng không cứng qúa để gây phiền nhiễu khi đẽo gọt! Người chủ nhân phải chọn cành mít to cỡ đầu ngón chân cái hay nhỉnh hơn một chút để có nhiều “đất” cho vấn đề đẽo gọt, chế tác thành một chiếc nõ điếu ưng ý! Phân` quan trọng của nõ điều là chỗ “lưỡi gà” nằm dưới cuối thân của chiếc “nõ điếu”, phần này sẽ ngâm mình trong nước , để khi chủ nhân rít một hơi, nó sẽ khuấy động, đảo lộn để khói thuốc trộn lẫn với nước, giảm thiểu độ nóng và phát ra tiếng một tràng âm thanh ròn rã đáng yêu như tiếng cười “khúc khích” của nàng sơn nữ!
Khi chiếc nõ điếu được nung lỗ và đẽo gọt cho gọn gàng thanh tao, nó có hình thù như cây nấm loe loe!
Sau khi nhét cái “nõ điếu” vào lỗ bụng thân điếu, nó được trét chung quanh thân điếu và nõ điếu bằng một lọai keo, hay đơn giản là đất sét để không bị thóat hơi!
Công đọan cuối cùng là gắn vào thân điếu nơi gần đốt thứ hai một cái càng cũng bằng thân thanh tre được gọt mỏng phần bụng và uốn cong , ôm trọn thân điếu bằng những chiếc lạt mây mềm mại óng ả!
A hèm . mới đây cũng có một anh Bắc Kỳ Nguyễn Văn Hải lấy tên tắt là “Điếu Cày” tranh đấu chống Trung cộng xâm chiếm Hòang sa, Trường sa, tụi csVN sợ mất lòng chủ nợ, bèn đem nhốt lại, khi Mỹ can thiệp bèn tống xuất Hải sang Mỹ . Khi đặt chân đến phi Trường “Thiên Thần Thất Lạc” đã được con gái của Điếu Cày và đồng hương mang cờ Việt Nam Cộng Hòa ra đón , ôm ấp rất ư là “đầm ấm”, có người còn đưa tặng anh Hải một lá cờ Việt Nam Cộng Hòa biểu tượng của Miền Nam Tự Do; nhưng anh Hải đã nhẹ nhàng “Đẩy trả lại” cho chủ nhân. Hành động này đã nói lên vị trí, thế đứng của anh rất “khác” với những người cầm cờ Việt Nam Cộng Hòa ra chào đón anh!



Chiếc “ Điếu cày” của Nguyễn Văn Hải đã bị mất cái “Nõ Điếu”, nó chỉ còn là cái ống tre vô dụng!
ChinhIrving
---------------------------------------
KÍNH THƯA ÔNG AN- NAM HAY ÔNG ĂN -NẰM (Vì không dấu)
ÔNG ĐÚNG NHƯNG ÔNG KHÔNG HÒAN TÒAN ĐÚNG:
1/- Đừng nhận vơ.
Câu nầy ĐÚNG là vì có rất nhiều người Việt Tỵ Nạn Hải Ngọai hễ thấy ai trong nước CHỐNG VC thì ở ngòai nầy VỘI tự cho rằng những người ấy bạn cùng một lập trường, cùng một chiến tuyến với phe ta gốc VNCH. Một lần nữa chứng minh cho thấy Điếu Cày chống Cộng nhưng không phải cùng phe với Cờ VNCH. (* Có thể rất sợ CỜ VNCH nữa, nên đã từ chối cầm nó ?)
2/- Người QG độc quyền Chống Cộng?
Câu hỏi nầy không chính xác với thực trạng của Người Việt Tỵ Nạn gốc VNCH.
Bởi vì sau ngày 30-4-1975 người Việt đợt đầu tiên bỏ nước ra đi tỵ nạn đều tòan là những người Việt gốc Miền Nam với VNCH. (Di tản và vượt biển).
Cho nên họ mang một tâm trạng dứt khóat chống Cộng vô điều kiện và họ không thể nào đứng chung với NHỮNG NGƯỜI chống Cộng có điều kiện và chống Cộng với một va chạm, thiệt thòi nào đó.
Không phải người Việt Tỵ Nạn gốc VNCH độc tài chủ trương ”ĐỘC QUYỀN” chống Cộng. Nhưng họ chỉ mong có thêm những người bạn chống Cộng có”CHUNG MỘT LẬP TRƯỜNG” chống Cộng DỨT KHÓAT vô điều kiện.
Cụ thể như trường hợp ĐIẾU CÀY, anh ta được VC thả ra là nhờ vào lực lượng nào ? Có phải ĐIẾU CÀY đã nhờ vào lực lượng của những người CHỐNG CỘNG không dính líu tới Lá Cờ VNCH ?
Nếu ĐÚNG như vậy thì xin ông AN -NAM cho biết thế lực nào đó hòan tòan biệt lập với lá cờ VNCH !
Chúng tôi thiển nghĩ: Hành động từ chối Lá Cờ VNCH của ĐIẾU CÀY là thể hiện LẬP TRƯỜNG CHỐNG CỘNG CỦA ĐIẾU CÀY (Không cùng phe với lá cờ VNCH).
Và từ nay để xem ĐIẾU CÀY sống ở HOA KỲ sẽ chống Cộng như thế nào mà không cần đến lực lượng TỰ DO với biểu tượng Lá Cờ Tự Do VNCH ?
Chúng tôi tự nghĩ Người Việt Tỵ Nạn từ nay không nên NHẬN VƠ ĐIẾU CÀY LÀ PHE CỜ VNCH.
Và chúng ta cũng không nên ĐỘC QUYỀN CHỐNG CỘNG. Nghĩa là ĐIẾU CÀY nhứt định phải có QUYỀN CHỐNG CỘNG KHÔNG CẦN CỜ VNCH.
Và thưa ông AN-NAM,
Chắc chắn Người Việt Tỵ Nạn gốc VNCH chúng tôi không thể nào CÙNG ĐỨNG CHUNG VỚI ĐIẾU CÀY, người đã TỪ CHỐI CẦM CỜ VNCH.
Đất nước VIỆT NAM là của chung của mọi Người Việt Nam. Ai cũng có quyền tranh đấu cho đất nước mình có một THỂ CHẾ và CHÍNH QUYỀN TỐT NHỨT, phù hợp với sự tiến bộ của nhân lọai hiện nay.
Dĩ nhiên Điếu Cày cũng có quyền ngang hàng như thế. Nhưng không CẦM CỜ VNCH là một lựa chọn của riêng anhnên không thể nào cùng đứng chung một lập trường CHỐNG CỘNG DỨT KHÓA VÔ ĐIỀU KIỆN của Người Việt Tỵ Nạn gốc VNCH với Lá Cờ VNCH là biểu tượng chung một căn bản, duy nhứt hiện nay./-
Mt68
------------------------------------------------------
*Vấn đề là: “người Quốc Gia” luôn cho rằng, bất cứ ai - trong nước, hay ngoài nước - hễ “chống Cộng” thì đều là ”người Quốc Gia” và phải ủng hộ cờ vàng? Đừng nhận vơ !?
- Nếu chống Cộng mà không là “người Quốc Gia” và không ủng hộ cờ vàng là không được, phải không? Và bắt đầu bôi bác, đánh phá người ta? Cái thuật “Biết mình, biết người” sử dụng như thế hả?
Chống Cộng mà không giống mình là không được?
“Người Quốc Gia” độc quyền chống Cộng?
- Nên biết: Thời hậu Cộng Sản mà còn “Đỏ với Vàng” là chỉ đưa đất nước vào nội chiến, tương tàn.
*Hãy nhìn về phía trước để xây dụng đất nước.
*Hãy buông bỏ cái quá khứ đau thương (về Vàng, Đỏ) của dân tộc!?
An-Nam
  • 8 người thích điều này.
  • Phuc Tran Mất Gốc - Trần Mộng Lâm
    Nhiều khi thành thực quá cũng gây cho mình những bực mình.
    ...Xem thêm
  • Phuc Tran Sunday, 26 October 2014
    Chuyện Điếu Cầy Từ Chối Cầm Cờ Vàng Khi Đến Hoa Kỳ...
    Kính thưa quý đồng hương và quý chiến hữu,
    ...Xem thêm
  • Phuc Tran Thưa qúi vị,
    Xem qua video và nhìn những tấm hình được chụp lại từ Video, cho thấy rõ ra`ng Điếu cày Nguyễn văn Hải đã "đẩy" trả lại cho người muốn đưa cờ VNCH cho Điếu cày , hành động này cũng dễ hiểu thôi !
    Bao nhiêu năm là người công dân XHCN tại n
    ...Xem thêm
  • Minh Quang Bùi Phuc Tran cả hai bài của hai người Trần Mộng Lâm và Nguyễn Nhơn do Võ văn Sĩ chuyển lên DĐ viết hay và đúng đấy, có một hai điều nhỏ cần phải suy nghĩ một chút thôi!
  • Phuc Tran (HNPĐ) Trong video clip Chúc Mừng Điếu Cày đến Mỹ – Người Việt TV, ở phút 1:22 có một thanh niên cố chen đến gần Điếu Cày, trao ngọn Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa cho Điếu Cày. Điếu Cày không nhận và nói cám ơn!

    Cử chỉ nầy diễn giải ra sao?
    ...Xem thêm
  • Phuc Tran https://www.youtube.com/watch?v=J_6oAYzHvCE

    Cộng đồng người Việt nam Cali chào đón và chúc mừng anh Nguyễn Văn Hải, tức blogger Ðiếu Cày, vừa được...
    youtube.com
  • Biển Đông Việt Nam trong phần nhận xét của ông Nguyễn Nhơn thấy có phần quá hấp tấp vội vàng. Trong bối cảnh lúc đó lời cám ơn của anh Điếu Cày là cám ơn tập thể cộng đồng người tỵ nạn và những người đang có mặt tại nơi đó. Lúc đó có nhiều người vây quanh anh Điếu Cày và...Xem thêm
  • Phuc Tran Cung can them nhieu ngay nua de nhan ra chan tuong cua tung nguoi
Nguồn: permalink.php?story_fbid=305140436347271&id=100005539511262

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Chính phủ Campuchia cáo buộc Việt Nam chiếm đất

Chính phủ Campuchia cáo buộc Việt Nam chiếm đất

Quốc Việt, thông tín viên RFA, Campuchia
2014-10-24

P-2.jpg
Nhân sĩ trí thức, nhà sư Campuchia biểu tình đòi Việt Nam tôn trọng thỏa thuận Hiệp ước bổ sung nhân kỷ niệm Hiệp ước hòa bình Paris ngày 23/10/2014.
Photo by Quoc Viet


Chính phủ Hoàng gia Campuchia đã tố Việt Nam vi phạm Hiệp ước Bổ sung năm 2005 về hoạch định biên giới giữa Campuchia và Việt Nam.
Lần đầu tiên chính phủ lên tiếng
Có thể nói rằng lần đầu tiên chính phủ của Thủ tướng Hun Sen lên tiếng phản ứng Ủy ban Biên giới Việt Nam vi phạm chủ quyền quốc gia bằng các hoạt động sửa và làm đường dài khoảng 17km tại khu vực Đắc Đam thuộc địa phận huyện O Raing, tỉnh Mondulkiri của Campuchia giáp huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, Việt Nam.
Ông Var Kimhong, Bộ trưởng cao cấp, Cơ quan quyền lực phụ trách vấn đề biên giới, Chủ tịch Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới đất liền Campuchia – Việt Nam cho RFA biết rằng chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã vi phạm thỏa thuận Hiệp ước Bổ sung năm 2005.
Theo ông, Hiệp ước Bổ sung khẳng định chính phủ hai nước sẽ tiếp tục thảo luận, điều chỉnh đường biên giới trên sông suối biên giới ở khu vực Bu Prăng thuộc địa phận Tuy Đức không để vấn đề này cản trở tiến trình phân giới cắm mốc. Nhưng lúc Ủy ban biên giới hỗn hợp Campuchia – Việt Nam chưa đạt được sự thống nhất, phía Việt Nam đã ngang nhiên làm đường tại khu vực nói trên.
Ông Var Kimhong nói rằng phía Việt Nam làm đường tại khu vực ‘chưa có sự thống nhất’ không được sự đồng thuận từ phía Campuchia. Ông nói chính phủ xứ chùa Tháp coi đó là hành động xâm phạm chủ quyền và vi phạm Hiệp ước Bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Campuchia và Việt Nam được ký vào năm 1985.
Ông Var Kimhong cho biết thêm: “Sau khi nhận được thông tin trên, chúng tôi đã khiếu nại hàng chục lần thông qua Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh. Chính bản thân tôi đã từng làm việc với người đồng cấp Việt Nam, và Thủ tướng Hun Sen cũng từng nêu vấn đề này. Chúng ta chưa có sự thống nhất tại khu vực suối Đắc Đam – Đắc Huốt. Do đó, Campuchia và Việt Nam phải giữ nguyên khu vực trên nhưng đến nay Việt Nam vẫn tiếp tục làm đường.”
Tỉnh Đắk Nông, Việt Nam gồm 4 huyện là Tuy Đức, Đắk Song, Đắk Mil và Cư Jút có đường biên giới dài khoảng 130km giáp với tỉnh Mondulkiri của Campuchia. Hiện, hai nước đang có tranh chấp tại khu vực Đắc Đam – Đắc Huốt (Bu Prăng) do hai quốc gia đã căn cứ vào tài liệu và bản đồ khác nhau.
Phía Việt Nam khẳng định biên giới trên đất liền Việt Nam – Campuchia chạy theo hướng Tây tới suối Đắc Đam thuộc địa phận huyện Tuy Đức nhưng phía Campuchia cho rằng suối Đắc Đam thuộc địa phận huyện O Raing của Campuchia.
Còn Campuchia lại khẳng định biên giới trên đất liền của họ kéo dài tới suối Đắc Huốt thuộc địa phận O Raing nhưng bị Việt Nam từ chối. Vì Việt Nam cho rằng đó là địa phận thuộc huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
Xung đột thầm lặng giữa Ủy ban Biên giới Campuchia – Việt Nam dường như khó giải quyết đến nỗi Ủy ban Biên giới Campuchia tiết lộ tin này đến báo chí địa phương và lên án mạnh mẽ Việt Nam cố tình chiếm đất ở khu vực biên giới giáp tỉnh Đắk Nông; không tôn trọng thỏa thuận ký kết trong Hiệp ước Bổ sung năm 2005 và thỏa thuận năm 1997.
Nhân sĩ trí thức xuống đường
Cùng lúc chính phủ lên tiếng, khoảng 600 nhân sĩ trí thức, sư sãi Khmer Krom, các tổ chức nhân quyền và Hội đồng giám sát biên giới đã xuống đường biểu tình ngày 23/10 tại thủ đô Phnom Penh nhằm kêu gọi 19 nước tham gia ký kết Hiệp định hòa bình Campuchia (Hiệp định Paris) can thiệp và gây sức ép lên Việt Nam.
P-6-400.jpg
Nhân sĩ trí thức, nhà sư Campuchia biểu tình đòi Việt Nam tôn trọng thỏa thuận Hiệp ước bổ sung nhân kỷ niệm Hiệp ước hòa bình Paris ngày 23/10/2014. Photo by Quoc Viet
Nhà sư Lay Lath, Tổng thư ký Hiệp hội Sư sãi Khmer Kampuchia Krom, một trong những người dẫn đầu đoàn biểu tình chia sẻ với chúng tôi: “Chúng tôi biểu tình nhằm kêu gọi Việt nam tôn trọng Hiệp ước Bổ sung, công nhận các hoạt động cắm mốc biên giới Việt Nam – Campuchia. Tôn trọng lãnh thổ giữa Việt Nam và Campuchia; không xâm phạm giữa hai nước.
Việc phía Việt Nam làm đường nhựa mới đây, chúng tôi cảm thấy lo ngại vì Việt Nam đã không tôn trọng Hiệp ước mà Việt Nam đã ký kết với Campuchia do Thủ tướng Việt Nam đã ký kết với Thủ tướng Hun Sen. Chúng tôi là dân Campuchia yêu cầu Việt Nam tôn trọng những Hiệp ước mà Hun Sen và Việt Nam đã ký kết.”
Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Việt Nam từ chối trả lời chúng tôi liên quan vụ việc này dù trước đó nhân viên của ông yêu cầu chúng tôi gửi câu hỏi theo email.
Trong khi đó, ông Nguyễn Bốn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông cho biết phía Việt Nam chỉ làm đường đổ cấp phối trên lãnh thổ Việt Nam. Ông Bốn cho biết: “Mình chưa làm gì, tức là mình chỉ làm đúng Hiệp định biên giới hai bên thôi. Khu vực 52km vẫn tranh chấp mình chưa cắm mốc ở đó. Còn cái cầu Đắc Đam bây giờ nó hư rồi. Vì cầu đó liên quan tới biên giới hai nước nên chúng tôi muốn làm để nhân dân hai bên đi lại. Mình giao cho Sở nội vụ xin ý kiến của tỉnh Mondulkiri của Campuchia. Nếu họ đồng ý thì mình sẽ sửa cầu Đắc Đam cho nhân dân đi lại.
Còn Campuchia nói suối Đắc Đam của ai là chuyện của chính phủ hai nước. Suối Đắc Đam, trước đó có 52km, bây giờ là 49km. Giữa mình và Campuchia chưa thống nhất cắm mốc ở đó. Còn sửa đường thì mình sửa lâu rồi. Bây giờ mình chỉ cần xin họ thống nhất để mình làm cầu Đắc Đam để nhân dân hai bên đi lại. Nếu họ đồng ý thì mình làm. Mà đất đó là đất của Việt Nam mình thôi. Đất ông bà Việt Nam mình thời xưa để lại. Dân mình ở đó lâu đời rồi.”
Theo nội dung của Hiệp ước giữa Campuchia và Việt Nam bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985, do Thủ tướng Hun Sen và Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 10/10/2005 tại Hà Nội, đối với khu vực Bu Prăng, phía Việt Nam khẳng đinh là của Việt Nam nhưng nhằm không để vấn đề này cản trở tiến trình phân giới cắm mốc, Việt Nam đã đồng ý ghi vào Hiệp ước bổ sung là ‘hai bên tiếp tục thảo luận’ vấn đề này.
Đồng thời hai bên thống nhất điều chỉnh đường biên giới trên sông suối biên giới theo nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế, áp dụng nguyên tắc trung tuyến dòng chảy.
Việc cáo buộc Việt Nam lấn cột mốc vào lãnh thổ Campuchia không gì lạ so với các đảng đối lập và nhà quan sát xứ này tuy nhiên lần này không phải là nhà quan sát biên giới hay phe đối lập cáo buộc
Nhà nghiên cứu quan sát chính trị Campuchia lâu năm, tiến sĩ Lao Monghay cho rằng chính phủ Campuchia cần tìm sự can thiệp từ bên ngoài, chẳng hạn các nước tham gia ký kết Hiệp định hòa bình Campuchia (Hiệp định Paris), các nước ASEAN hoặc tòa án công lý quốc tế vì trước đó Việt Nam cũng từng nghiên cứu để tiến hành các thủ tục pháp lý khởi kiện Trung Quốc ra Tòa quốc tế.
Tiến sĩ Lao Monghay: “Quốc hội Campuchia đã thừa nhận Việt Nam đang làm đường vào sâu trong lãnh thổ Campuchia do đó chính phủ cần lấy Hiệp định Paris làm cơ sở. Chính phủ nên thông báo vấn đề này đến các quốc gia ký kết Hiệp định Paris vì đây là Hiệp định hòa bình, đảm bảo chủ quyền.
Ngoài ra, Bộ Ngoại giao cần gửi thư khiếu nại về hành động này tới Bộ Ngoại giao Việt Nam, hoặc kiện ra Tòa trọng tài quốc tế. Nếu chúng ta không làm như vậy thì Việt Nam tiếp tục không quan tâm đến kết quả đàm phán song phương và không tôn trọng thỏa thuận giữa hai nước.”
Tuy nhiên, ông Var Kimhong, Bộ trưởng cao cấp, Cơ quan quyền lực phụ trách vấn đề biên giới Campuchia cho biết chính phủ xứ chùa Tháp không kiện ra cơ quan quốc tế nào vì Việt Nam vẫn tiếp tục thảo luận.
Ông Var Kimhong nhấn mạnh vấn đề ở chỗ các cuộc thảo luận vừa qua sau khi Campuchia tìm thấy Việt Nam cắm cột mốc biên giới vào trong lãnh thổ Campuchia, phía Campuchia yêu cầu chấm dứt nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục công tác cắm mốc.
Được biết, Việt Nam và Campuchia có đường biên giới chung trên đất liền dài 1270km. Đến nay hai quốc gia Việt Nam và Campuchia hoàn tất khoảng 80% công việc cắm mốc. Việt Nam sẽ đẩy mạnh tiến độ cắm mốc biên giới với Campuchia và dự kiến sẽ hoàn tất công việc này vào năm 2015.

 
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/cbd-gov-accuse-vn-occupied-land-qv-10242014113629.html