Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

“Cánh tay nối dài” của Trung Quốc gây quan ngại ở Mỹ


“Cánh tay nối dài” của Trung Quốc gây quan ngại ở Mỹ

Cờ của Trung Quốc vả Mỹ bay trên Đại lộ Pennsylvania gần tòa nhà quốc hội tại Washington trong chuyến thăm của chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Trung Quốc được cho là đang dùng mọi nỗ lực để gây ảnh hưởng tại Hoa Kỳ.
Việc Bắc Kinh đổ tiền của ra để xây dựng một mạng lưới có ảnh hưởng trong lòng xã hội và hệ thống chính trị Mỹ nhằm làm lợi cho Trung Quốc đã đặt ra một mối nguy cơ về an ninh đối với Hoa Kỳ, còn lớn hơn cả sự can dự của Nga, một nghị sĩ Mỹ cảnh báo.
Lời cảnh báo này được đưa ra trong bối cảnh các nước phương Tây như Úc, New Zealand và cả Canada, mới đây đã bị rúng động vì các tin bị phanh phui về các nỗ lực của Bắc Kinh tìm cách gây ảnh hưởng lên các chính trị gia, các trường đại học, các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp tại các nước này. Các chính khách và các nhà chiến lược Hoa Kỳ đã bắt đầu nhận thức được vấn đề và đang tìm cách giải quyết.
Hôm 13/12, Ủy ban Điều hành của Quốc hội Mỹ về Trung Quốc (CECC) đã tổ chức một buổi điều trần có chủ đề ‘Cánh tay nối dài của Trung Quốc’ để xem xét tình trạng Bắc Kinh đang xây dựng ảnh hưởng chính trị, kiểm soát các cuộc thảo luận về các chủ đề nhạy cảm, can thiệp vào các tổ chức quốc tế, đe dọa các nhà hoạt động nhân quyền, kiểm duyệt sách vở của các nhà xuất bản nước ngoài, và tác động vào các trường đại học và các viện nghiên cứu.
“Chúng ta nói rất nhiều về việc Nga tác động vào cuộc bầu cử ở nước chúng ta, nhưng nỗ lực của Trung Quốc để ảnh hưởng tới chính sách và các quyền tự do cơ bản của chúng ta còn ở quy mô rộng lớn hơn nhiều, so với những gì chúng ta nghĩ,” Thượng nghị sỹ Marco Rubio, đồng chủ tịch của CECC, phát biểu trong phiên điều trần.
Ông nói: “Đó là một nỗ lực toàn diện không chỉ nhằm mục đích thuyết phục để mọi người có cái nhìn thiện cảm hơn với Trung Quốc, mà còn để gây hại cho người Mỹ ngay trong lòng nước Mỹ.”
Theo tờ Washington Post thì chiến dịch gây ảnh hưởng của Trung Quốc tại Hoa Kỳ có ‘quy mô và phạm vi rất lớn’. Mục đích bao trùm của chiến dịch đó là bảo vệ chế độ chuyên chế của Bắc Kinh trước những lời chỉ trích, và xuất khẩu mô hình của Trung Quốc đến phần còn lại của thế giới.
Chiến lược của Bắc Kinh ở Hoa Kỳ trước hết, là chặn đứng những chỉ trích về Trung Quốc và sau đó là lôi kéo những người có ảnh hưởng ở Hoa Kỳ a dua theo luận điệu của Trung Quốc.
Một trong những dẫn chứng mà Thượng nghị sĩ Marco Rubio đưa ra là các Viện Khổng Tử mà chính phủ Trung Quốc mở tại các trường đại học ở Hoa Kỳ vẫn hoạt động theo những hợp đồng mờ ám và thường bị chỉ trích là can thiệp vào các hoạt động giảng dạy có liên quan đến Trung Quốc.
Các hoạt động tài trợ của Bắc Kinh cho các nghiên cứu của các viện chiến lược và các quan hệ đối tác trí thức cũng cần được xem xét kỹ lưỡng, ông Rubio nói trong một phiên điều trần.
Một bài viết mới đây trên tạp chí Foreign Policy mô tả chi tiết làm sao mà ông Đổng Kiến Hoa, từng là Trưởng đặc khu Hong Kong, đã bỏ tiền ra để tài trợ các công trình nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp (SAIS) của Đại học John Hopkins, Viện Brookings và các cơ quan khác thông qua Quỹ Trao đổi Trung-Mỹ (CUSEF). Ông Đổng hiện là Phó Chủ tịch của Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân Trung Quốc, cơ quan có liên quan đến nhiệm vụ thúc đẩy tuyên truyền về Đảng Cộng sản Trung Quốc ở nước ngoài.
Những cơ quan nhận tiền tài trợ của Trung Quốc thường xuyên nhấn mạnh rằng tính độc lập về mặt học thuật của họ vẫn được đảm bảo. Nhưng trong bối cảnh các cơ quan này đang rất cần tiền, họ lâm vào thế phải tự kiểm duyệt các sản phẩm của mình để tiếp tục được Trung Quốc tài trợ. Các nhà nghiên cứu hiểu rằng họ không nên ‘chõ mũi’ vào chuyện của Trung Quốc nếu muốn được tài trợ, còn các nhà xuất bản thì đồng ý xóa những bài báo chỉ trích khỏi các ấn phẩm của họ để được tiếp cận thị trường Trung Quốc.
Glenn Tiffert, nhà nghiên cứu khách mời tại Viện Hoover, nhận định:
“Bằng cách gây ảnh hưởng với các nhân vật có ảnh hưởng của Mỹ, Trung Quốc đang dùng chính người Mỹ để truyền bá thông điệp của Bắc Kinh đến với dân Mỹ. Cách làm này hiệu quả hơn rất nhiều so với việc các quan chức Trung Quốc đích thân vận động.”
Tờ Washington Post dẫn lời nhà nghiên cứu Tiffert nói:
“Cần phải có nhận thức ở Washington về mức độ các cơ quan nghiên cứu và học thuật của Mỹ đang dựa vào tiền của Trung Quốc,” ông Tiffert nói. “Mọi người đang bắt đầu đặt câu hỏi là người chi tiền có thể chi phối mọi chuyện như thế nào.”
Trước mối nguy đó, hình như Hoa Kỳ không có những biện pháp thích nghi để chống trả một cách hữu hiệu. Bắc Kinh cảm thấy tự tin hơn rất nhiều trước sự thoái lui của chính quyền Tổng thống Donald Trump, không còn mạnh mẽ bảo vệ các giá trị truyền thống của Mỹ như dân chủ và nhân quyền.
Trung Quốc dưới quyền Chủ tịch Tập Cận Bình ngày càng thúc đẩy thế giới đi theo mô hình chuyên chế của họ và áp dụng cách làm của họ vào các định chế quản trị thế giới.
Bằng cách gây ảnh hưởng với các nhân vật có ảnh hưởng của Mỹ, Trung Quốc đang dùng chính người Mỹ để truyền bá thông điệp của Bắc Kinh đến với dân Mỹ. Cách làm này hiệu quả hơn rất nhiều so với việc các quan chức Trung Quốc đích thân vận động. Write Your Quote Here ...
Nỗ lực của Trung Quốc nhằm gây ảnh hưởng tại Hoa Kỳ càng được nêu bật khi câu chuyện tương tự xảy ra ở Úc. Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull mới đây ban hành lệnh cấm nước ngoài tài trợ chính trị viện lý do là ‘những phúc trình đáng lo ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc’.
Một thượng nghị sỹ của nước này là ông Sam Dastyari, thuộc Đảng Lao Động, bị cáo buộc là đã ‘ủng hộ hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, đi ngược với với lập trường của Đảng của ông để đổi lại sự tài trợ của nhà tài phiệt Trung Quốc Hoàng Hướng Mặc’.
Ông Dastyari còn bị cáo buộc là đã khuyên ông Hoàng phải làm sao để tránh sự theo dõi của phía Úc vào lúc cơ quan tình báo Úc đang tiến hành theo dõi ông Hoàng. Ông nghị sĩ này còn tìm cách gây sức ép lên một lãnh đạo Đảng Lao động để ông này không gặp một nhà hoạt động dân chủ Hong Kong hồi năm 2015, mặc dù kế hoạch này bất thành.
Mới đây, Quỹ Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy) của Hoa Kỳ công bố một phúc trình về các chế độ chuyên chế. Phúc trình này nhận định rằng một mặt, Trung Quốc đang ngày càng đặt thêm rào cản trước ảnh hưởng chính trị và văn hóa từ bên ngoài, trong khi mặt khác, lại lợi dụng sự cởi mở của hệ thống dân chủ của các nước để làm lợi cho mình.
“Chính quyền Trung Quốc đã bỏ ra hàng triệu đô la để chi phối các giá trị, các phát ngôn và thái độ chính trị ở các nước khác,” ông Shanthi Kalathil, chuyên gia của NED nói.
Báo The Washington Post nhận định, dưới chính quyền của Tổng thống Donald Trump, không có dấu hiệu gì cho thấy Washington có chiến lược gì để đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Tờ báo nói, chuyến công du châu Á mới đây của ông Trump được đánh dấu bởi sự mơ hồ về chính sách và sự kiện ông Trump không đạt được nhượng bộ nào đáng kể từ phía Bắc Kinh, mặc dù ông được Bắc Kinh đón tiếp trọng thị.
“Vấn đề của nước Úc là việc Trung Quốc sẵn sàng dùng các biện pháp cưỡng chế để đạt được giấc mơ của họ là sự phục hưng của đất nước Trung Hoa,” ông Alan Dupont, người sáng lập công ty tư vấn Cognoscenti Group, viết trên báo The Australian. “Trong khi với việc nước Mỹ của Tổng thống Trump đã tuyên bố rút khỏi vai trò lãnh đạo thế giới và việc nước Mỹ không có một chính sách châu Á rõ ràng thì Trung Quốc ngày càng gặp ít trở ngại trong việc thúc đẩy ảnh hưởng và tham vọng của mình.”
Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/canh-tay-noi-dai-cua-trung-quoc-gay-quan-ngai-o-my/4163871.html

Phản ứng về nghị quyết của Quốc Hội Liên Minh Châu Âu lên án đàn áp nhân quyền tại Việt Nam

Phản ứng về nghị quyết của Quốc Hội Liên Minh Châu Âu lên án đàn áp nhân quyền tại Việt Nam

Tiến Thiện, thông tín viên RFA
2017-12-15
Phòng họp của Hội Đồng Liên Minh Châu Âu tại Brussels vào ngày 14 tháng 12 năm 2017.
Phòng họp của Hội Đồng Liên Minh Châu Âu tại Brussels vào ngày 14 tháng 12 năm 2017.
AFP
Một bản nghị quyết lên án hành động đàn áp quyền tự do thông tin của nhà cầm quyền Việt Nam vừa được Quốc hội Liên minh Châu Âu biểu quyết thông qua hôm 14 tháng 12. Quốc hội Châu Âu kêu gọi Việt Nam trả tự do cho blogger Nguyễn Văn Hóa và các nhà báo công dân, cũng như ngưng các hành động trấn áp nhắm vào các nhà bảo vệ nhân quyền.

Một bước tiến tích cực

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với các nhà hoạt động trong và ngoài nước về phản ứng của họ trước bước tiến mới này.
Ông Ngô Duy Quyền thuộc Hội Bầu Bí Tương Thân ở Hà Nội chia sẻ:
Đây là một điều khá đặc biệt. Ở vị thế đối tác của một quốc gia thì có lẽ đây là lần biểu thị có thái độ có tính cách cao nhất phản đối phiên tòa bất công. Điều này chứng tỏ rằng dù nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn kể cả dối trá để bưng bít che đậy thảm họa Formosa nhưng có lẽ họ đã không thành công.
Nhà hoạt động này nói rằng ngay từ khi thảm họa môi trường biển Miền Trung xảy ra vào tháng 4 năm 2016, toàn bộ hệ thống chính trị Việt Nam đã được huy động để thực hiện điều ông Quyền gọi là “bịt miệng những nỗ lực minh bạch hóa thông tin”. Và các phóng viên, nhà báo là đối tượng bị đàn áp mạnh tay nhất. Trường hợp blogger Nguyễn Văn Hóa là một điển hình.
Bà Julie Majerczak, người đứng đầu Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới văn phòng ở Brussels, Thụy Sỹ cũng bày tỏ sự tán đồng với nghị quyết mới của Liên Minh Châu Âu.
Bà nói: “Chúng tôi hoan nghênh hành động này của các nghị sĩ quốc hội.Trong năm qua, nhà cầm quyền Hà Nội đã hình sự hóa cách hệ có hệ thống những ai thực hành quyền tự do thông tin. Ít nhất 25 blogger đã bị bắt hoặc trục xuất khỏi đất nước họ.
Một người bạn của Nguyễn Văn Hóa và cũng là một phóng viên tự do hiện đang sống tại Hà Tĩnh, anh Nguyễn Hồng Ân tỏ ra ấm lòng về nghị quyết này.
Nguyễn Hồng Ân bày tỏ:
Cảm nhận của tôi là một người bạn của Hóa thì tôi ủng hộ quốc hội Châu Âu đã nói lên tiếng nói và ra nghị quyết này. Hiện tại Hóa đang ở trong tù mà nghe tin này thì chắc chắn sẽ nỗ lực hơn để vượt qua những thử thách mà nhà cầm quyền Việt Nam đặc biệt là Hà Tĩnh đã kết án 7 năm tù giam đối với nhà hoạt động trẻ Nguyễn Văn Hóa.
Người ở trong nước còn bất ngờ với những chiêu trò, những thủ đoạn của cộng sản,  thì người ở nước ngoài đôi khi họ bị cộng sản Việt Nam “qua mặt lần này đến lần khác.
- Ngô Duy Quyền

Không lừa được Liên Minh Châu Âu

Trong các vụ án mang tính chính trị, báo chí Việt Nam thường đồng loạt đưa tin rằng phiên tòa diễn ra đúng trình tự thủ tục tố tụng, đúng người đúng tội.
Nhà hoạt động Ngô Duy Quyền cũng mô tả những điều mà ông gọi là “thủ đoạn” đối với phóng viên Nguyễn Văn Hóa cũng là tình trạng tương tự của các nhà đấu tranh khác. Qua bản nghị quyết thấy rằng Liên Minh Châu Âu nay không còn “mơ hồ” về Việt Nam nữa, nhà hoạt động này suy nghĩ.
Nhiều khi người ở trong nước còn bất ngờ với những chiêu trò, những thủ đoạn của cộng sản, thì người ở nước ngoài đôi khi họ bị cộng sản Việt Nam qua mặt lần này đến lần khác. Sau khi mà có sự kiện không chỉ là sự kiện Formosa, mà sự kiện gần đây nhất là việc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở bên Đức càng làm cho cái nhìn về bản chất của cái nhà nước này càng ngày càng rõ hơn nữa.
Từ Paris, Pháp - Anh Trần Đức Tuấn Sơn, một thành viên trong đoàn vận động Quốc hội Liên Âu thông qua nghị quyết, cho biết chính phiên tòa bất ngờ xử Nguyễn Văn Hóa càng làm cho các dân biểu Châu Âu nhanh chóng có phản ứng.
Trước khi các dân biểu họ đệ nạp nghị quyết này thì họ cũng đã biết khá nhiều về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Nhưng mà việc anh Hóa nhận 7 năm tù là quá bất công, thành ra họ đẩy mạnh hơn nữa cái nghị quyết. Kết quả là ngày hôm qua nghị quyết được quốc hội Âu Châu chấp thuận và kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cấp bách cho anh Hóa và kêu gọi ngưng ngay đàn áp tự do ngôn luận và những người tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam.”, anh Tuấn Sơn chia sẻ.
Hiện nay Quốc Hội Châu Âu có 751 dân biểu và 8 liên đảng. Các dân biểu không được sắp xếp theo quốc gia mà theo quan điểm chính trị. Nghị quyết này được sự bảo trợ và thúc đẩy của 6 liên đảng lớn nhất trong Quốc Hội Châu Âu.
Để có được sự bảo trợ của 6 liên đảng trên là thành quả của những cuộc vận động liên tục từ cuối tháng 10 tới nay trong chiến dịch “Stop The Crack down VN” – “Ngưng Ngay Đàn Áp” do Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) và Luật Sư Vì Luật Sư (Lawyer For Lawyer) cùng với Đảng Việt Tân và vài NGOs khác khởi xướng.

Còn nhiều việc phải làm

Nghị quyết được thông qua sau Đối thoại Nhân Quyền Châu Âu – Việt Nam hôm 02 tháng 12 vừa qua. Cũng đồng thời xuất hiện ở những giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán gia nhập Hiệp định Thương mại Tự do giữa Châu Âu và Việt Nam (EVFTA).
Ở buổi làm việc với đại sứ Bruno Angele, Trưởng Phái Đoàn Liên Minh Châu Âu vào ngày 21 tháng 11 vừa qua,  Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Đại diện Chính phủ Việt Nam đề nghị không nên đưa nhân quyền vào nội dung chỉnh sửa của EVFTA.
Bàn về điều này anh Trần Đức Tuấn Sơn cho rằng Việt Nam “dù là một thể chế độc tài nhưng vẫn sợ mang tiếng xấu”. Để khỏi bất lợi cho mình, Việt Nam đã đề nghị loại bỏ nhân quyền ra khỏi nội dung hiệp định quan trọng này.
Dù là một thể chế độc tài nhưng vẫn sợ mang tiếng xấu.
- Trần Đức Tuấn Sơn
Anh Tuấn Sơn tin rằng: “bên phía Việt Nam có thể đòi hỏi một số điều nhưng không có nghĩa là bên phía Châu Âu phải hoàn toàn chấp nhận những điều đó.
Dù vậy, vẫn theo lời anh Tuấn Sơn: “Xác suất mang nhân quyền vào hiệp định này là không cao. Nhưng không vì vậy mà chúng ta bỏ rơi. Chúng ta có thể vận động các dân biểu Châu Âu trước khi phê chuẩn hiệp định này có thể nêu lên vấn đề nhân quyền.”
Anh cũng cho biết nghị quyết của Quốc Hội Châu Âu không mang tính chế tài ràng buộc. Tuy vậy, việc bị điểm mặt trong danh sách những quốc gia có thành tích nhân quyền tồi tệ thì chẳng chính quyền nào mơ ước cả.
Sự kiện Quốc Hội Châu Âu ra nghị quyết về trường hợp của phóng viên Nguyễn Văn Hóa là một minh chứng rằng các nhà hoạt động vẫn còn có những kênh khác để tác động lên chính sách của nhà cầm quyền Việt Nam và cũng còn nhiều việc ở phía trước để làm.

Tướng Lương Xuân Việt điều Lữ đoàn Pháo bắn rung trời cảnh cáo Bình Nhưỡng h

Tướng Lương Xuân Việt điều Lữ đoàn Pháo bắn rung trời cảnh cáo Bình Nhưỡng

http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=1120989
Vào cuối tuần trước, tướng Lương Xuân Việt điều Lữ đoàn pháo 210 tới gần biên giới bắn pháo cảnh cáo chính quyền Bình Nhưỡng.
Lữ đoàn pháo 210 với nhiều xe Pháo Tự Hành M109 howitzer trang bị súng 155 mm. M109 là loại vũ khí yểm trợ trực tiếp cho các lực lượng bộ binh và thiết giáp.
M109 có một phi hành đoàn gồm sáu người: chỉ huy, lái xe, xạ thủ, trợ lý xạ thủ và hai người tiếp tế đạn. Loại M109A6 Paladin chỉ cần một phi hành đoàn gồm bốn người: chỉ huy, lái xe, xạ thủ và người nạp đạn.
Lục quân Mỹ hiện có khoảng gần 1000 pháo tự hành M109A6 Paladin, ngoài Mỹ thì Hàn Quốc cũng trang bị gần 1200 pháo tự hành phiên bản M109-K55 và Đài Loan 225 pháo tự hành M109A2/A5.













Ảnh một xe pháo tự hành M109 trong thời chiến tranh Việt Nam
Advertisements
 
Nguồn:  http://chauxuannguyen.org/2017/12/14/tuong-luong-xuan-viet-dieu-lu-doan-phao-ban-rung-troi-canh-cao-binh-nhuo

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

Mỹ đang hình thành chiến lược mới đối với Châu Á

Mỹ đang hình thành chiến lược mới đối với Châu Á

Nguyễn Cao Quyền (Danlambao) - Trước chuyến công du 12 ngày vừa qua của tổng thống Donald Trump, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Herbert McMaster cho biết là trong chuyến đi này tổng thống Trump sẽ thúc đẩy xây dựng một khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương Tự Do Và Cởi Mở.
Chuyến đi của ông Trump tuy chỉ đạt được ít thành công cụ thể nhưng đã tạo ra một sự thay đổi quan trọng cho chiến lược của Mỹ tại khu vực. Bài tham luận này sẽ đề cập đến sự thay đổi quan trọng đó, xin mời qúy vị theo dõi.
Chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương Tự Do Và Cởi Mở
Ngày 18/10/2017 Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson lần đầu tiên đưa ra khái niệm “Ấn Độ - Thái Bình Dương Tự Do Và Cởi Mở” tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (CSIS) tại Washington.
Chiến lược này trở thành điểm nhấn khi tổng thống Donald Trump phát biểu tại APEC CEO SUMMIT tại Đà Nẵng (Việt Nam) ngày 10/11/2017. Ông nói: “Hôm nay tôi có mặt tại đây là để đề nghị làm mới mối quan hệ hữu nghị và thương mại giữa tất cả các quốc gia trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, cùng nhau thúc đẩy sự thịnh vượng và an ninh của chúng ta”. 
Trước đó, ngoại trưởng Tillerson định nghĩa rõ ràng rằng khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương bao gồm tất cả các quốc gia ở ven bờ Ấn Độ Dương và phía Tây Thái Bình Dương, sẽ là bộ phận quan trọng nhất của thế giới trong thế kỷ 21. Ông Tillerson cho biết là Mỹ cần tăng cường hợp tác với các nước đó.
Khai thác tối đa sức mạnh và ảnh hưởng của đồng minh trong khu vực
Nhiều người hoài nghi về hiệu quả của tầm nhìn chiến lược của ông Trump. Tuy nhiên có thể nói rằng không phải ngẫu hứng mà ông Trump đã đưa ra ý tưởng ấy trong bối cảnh tình hình hiện tại của khu vực này. 
Ở Nhật Bản, khi ông Trump đến thăm trong chuyến công du nhiều nước vừa qua, thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đề nghị với ông “chiến lược tứ giác kim cương” liên kết bốn nước Mỹ, Nhật. Úc và Ấn Độ, nên có thể coi như Nhật Bản cũng đã khởi xướng cho ông Trump ý niệm về "chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương".
Ý nghĩa sâu xa của khái niệm này là tạo dựng một cuộc chơi “địa chính trị” mới để bảo toàn và thực hiện tốt hơn những lợi ích cơ bản cũ cũng như mới. 
Ở khu vực Á Châu – Thái Bình Dương Trung Quốc được coi như là trung tâm cho tới nay, và Trung Quốc cũng đã làm gần như tất cả những gì có thể làm được để mọi chuyện luôn luôn xoay quanh Trung Quốc. Vai trò của Trung Quốc hiện rất lớn. 
Nhưng trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, Trung Quốc sẽ không có ảnh hưởng như thế nữa. Trong khu vực này bộ tứ Mỹ, Nhật, Ấn, Úc, cả trên đất liền cũng như trên đại dương sẽ không chỉ là đối trọng mà còn là đối thủ đáng gờm hơn trước nhiều đối với những lợi ích chiến lược về mọi phương diện của Trung Quốc.
Đặc biệt ở khía cạnh đó dự án “một vành đai, một con đường” của Trung Quốc không thể còn được tầm vóc như trước nữa. Khu vực mới trở thành đa cực với nhiều trung tâm quyền lực.
Chiến lược mới xác định lại phạm vi hoạt động, giúp ông Trump vừa không phải mang tiếng kế thừa ý tưởng của ông Obama, vừa mở rộng lợi ích chiến lược cơ bản của Mỹ trong khu vực. Mỹ không chỉ có sân chơi mới mà còn có cả cuộc chơi chính trị quyền lực thế giới mới, ở đó Mỹ sẽ dễ dàng tập hợp và liên kết đồng minh để đối phó, ganh đua hay cả kiềm chế Trung Quốc khi cần thiết. 
Nhật, Úc, Ấn Độ, cả ba đôi tác này không thể không lo ngại trong tình hình mới và do đó không thể không xích lại gần Mỹ để tạo thảnh sức mạnh liên thủ với nhau.
Nhân quyền không bị bỏ quên nhưng đã rơi xuống hàng thứ yếu 
Trong chuyến đi lần này chủ nghĩa thực dụng đã xuất hiện một cách triệt để trong chính sách đối ngoại của Trump. Tổng thống Mỹ đã công khai làm mọi phương cách để đem lại lợi ích cao nhất cho Hoa Kỳ, đúng như những gì ông đã hứa khi tranh cử.
Trên diễn đàn APEC ông nói rằng: “Từ hôm nay trở đi chúng ta sẽ cạnh tranh một cách công bằng và bình đẳng. Chúng tôi không để nước Mỹ bị lợi dụng thêm nữa... và tôi mong muốn tất cả các bạn trong hội trường này cũng đặt tổ quốc mình lên trên hết”. 
Với đầu óc thực dụng, ông Trump tuy không quên "nhân quyền" nhưng đã không để cho nhân quyền trở thành rào cản trong chính sách đối ngoại với Việt Nam và với các nước khác nói chung.
Thông cáo Việt Mỹ chỉ nhắc đến nhân quyền bằng vài từ trong một câu vắn tắt: “...ghi nhận tầm quan trọng và thúc đẩy quyền con người...”. Tất cả những đoạn văn còn lại không đả động gì đến nhân quyền nữa mà chỉ đề cập đến những việc khác. 
Vì biết được chính sách thực dụng nêu trên nên của ông Trump nên nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã coi thường công luận và thẳng tay đàn áp những nhà bất đồng chính kiến ở trong nước trước khi ông Trump tới Việt Nam.
Tuy nhân quyền bị bỏ rơi nhưng cũng không thể nói là chuyến đi sang Việt Nam lần này của ông Trump đã thất bại, vì ông đã bán được hàng tỷ đô la vũ khí và hàng hóa. Qua hình ảnh phát tán trên internet toàn cầu người ta thấy nhân dân Việt Nam tự nguyện kéo nhau ra hai bên đường đón chào ông, còn rầm rộ hơn cả lần trước họ đón chào tổng thống Obama. Trong khi đó thì số người tự nguyện tự giác đã không thấy xuất hiện ở những nơi mà phái đoàn Tập Cận Bình đã đi qua. 
Trump muốn triệt tiêu các chế độ độc tài bằng vũ khí kinh tế
Thương mại là cách hành động “Nước Mỹ trên hết” của Trump. Ông muốn bảo vệ và thậm chí khôi phục lại những việc làm mà nước Mỹ đã đánh mất. Quan điểm này được Wilbur Ross (Bộ Trưởng Thương Mại), Robert Lighthizer (Giám Đốc Hội Đồng Thương Mại Quốc Gia) và Peter Navarro, chia sẻ.
Họ đồng ý rằng thâm hụt thương mại song phương quá lớn giữa Mỹ và các nước như Trung Cộng, Nhật Bản, Đức, Mexico là bằng chứng cho thấy là Mỹ đang bị các đối thủ cạnh tranh lừa gạt. Nếu Mỹ tìm được cách giảm bớt hoặc loại bỏ những thâm hụt đó thì có thể tạo ra công ăn việc làm với thu nhập cao cho công nhân Hoa Kỳ.
Hiểu biết căn bản là phải như vậy, nhưng chúng ta thử tìm hiểu xem từ ngày lên cầm quyền tổng thống Donald Trump đã làm được những gì. Cho đến nay, ông đã rút nước Mỹ ra khỏi TPP và mở ra những cuộc đàm phán với Mexico và Canada để cập nhật Hiệp Định Thương Mại Bắc Mỹ năm 1994. Nhưng đây mới chỉ là những việc nhỏ.
Trong năm tới. Trump sẽ biến lời nói thành hành động trên hai mặt trận chính. 
Mặt trận thứ nhất, Trung Quốc sẽ được Trump coi là nước trục lợi lớn nhất. Trump sẽ khởi động những bước đi nhằm chống những việc bán phá giá của Trung Cộng (đặc biệt là thép) và những cuộc tấn công trên diện rộng nhằm chống lại những vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. 
Mặt trận thứ hai của Trump là Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO thành lập hồi đầu năm 1990. Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer đã công khai mô tả là hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO có hại cho nước Mỹ.
Bên cạnh đó, Mỹ sẽ khởi động sáng kiến mới trong việc ký kết các thỏa thuận thương mại song phương, cách tiếp cận mà Trump đã nêu rõ trong Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC ở Đà Nẵng (Việt Nam). Vì Mỹ vẫn là thị trường quan trọng đối với các nước xuất khẩu nên sáng kiến đó sẽ tạo được nhiều ảnh hưởng tích cực. 
Khôi phục TPP là một lối đi đúng hướng do Nhật Bản phát động, nhưng nếu gặp sự chống đối của Hoa Kỳ thì việc thực thi cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong tương lai.
Kết luận
Tổng thống Donald Trump không hứa hẹn giúp đỡ gì cho nhân quyền và dân chủ ở những nước độc tài mà ông chỉ bình tĩnh dùng vũ khí kinh tế để buộc các nước đó phải làm ăn sòng phẳng, là một cách chơi vừa văn minh vừa đúng cách.
Đúng cách có nghĩa là muốn tồn tại trong sân chơi họ phải làm những việc chân chính, phù hợp với những quy định làm ăn chung, phù hợp với những giá trị nhân quyền phổ quát của thế giới. Đây là cơ sở để chế độ độc tài nhìn nhận ra vấn đề, để dân chúng các nước độc tài đó có những bước tiến bộ trưởng thành. 
Ai cũng biết sự làm ăn chân chính lâu dài sẽ dẫn đến sự sụp đổ nếu các chế độ thiếu dân chủ không có đủ can đảm để cải thiện thể chế chính trị của họ nhưng khi đã chấp nhận đi vào sân chơi mới này thì đồng thời cũng có nghĩa là họ đã mặc nhiên chấp nhận luật chơi mới này và bắt buộc phải thi hành.
Làm ăn song phẳng là biện pháp để nước Mỹ chống bị mất cắp trên mọi phương diện, để sức mạnh của Mỹ được củng cố và nền kinh tế của Mỹ được thịnh vượng không ai bì kịp.
Có thể nói là Donald Trump đã nhìn đúng cách đấu tranh chống độc tài và đang làm cho nước Mỹ trở lại vĩ đại như xưa. Ông Trump vừa là một doanh gia và một chính trị gia đáng tin cậy, là một người có tâm cốt ghét cộng sản và ông ta đã thề sẽ triệt tiêu hết cộng sản trên quy mô toàn thế giới.
Viết xong ngày 8/12/2017. 
Nguồn:  http://danlambaovn.blogspot.com/2017/12/my-ang-hinh-thanh-chien-luoc-moi-oi-voi.html#more

Ý kiến:
Avatar
Mỹ quay trở lại Châu Á TBD chắc hẳn có vấn đề quan trọng . Vì nguyên nhân gốc rễ mâu thuẫn kinh tế thế giới , kích động khủng bố , chiến tranh hạt nhân .... nằm ở trung tâm quyền lực cộng sản . Đó là TQ . Trước đây , khi khủng bố đánh vào tòa tháp đôi 2001 , nước Mỹ đã động binh Iraq , Apganistan , Lybia ... Trong suốt nhiều năm chống khủng bố , thế giới không thấy một TQ chia sẻ trách nhiệm , chỉ nói cái miệng thôi . Đã thế , lại dùng con bài Bắc Hàn hù dọa Mỹ nhằm trao đổi , thỏa thuận lợi ích quốc gia , mặt khác lại bành trướng xuống phía nam qua đường lưỡi bò , " one belt , one road " , chà đạp hiến chương LHQ , ăn hiếp các quốc gia nhỏ , yếu khác trong khu vực . Vấn đề Ấn Pakistan có bàn tay nhám của TQ hỗ trợ Pakistan nhằm làm suy yếu kinh tế , quốc phòng Ấn , vì TQ biết Tây Tạng là nguồn nước ngọt khổng lồ một khi Ấn mạnh thì khả năng Tây Tạng sẽ mất và TQ sẽ chết vì khát . Mỹ quay lại Châu Á vì giải quyết gốc rễ cộng sản . Bắc Hàn , Việt Nam , Myanmar , Lào , Cambodia chỉ là chân rết của TQ mà thôi . Khi chiến tranh kinh tế , quân sự xảy ra , TQ đỡ đòn không nổi , chắc chắn quốc gia sẽ bị chia xé trăm mảnh , dân tình nổi loạn .. và cộng sản hoặc thu nhỏ lại hoặc bị triệt tiêu hoàn toàn trên TQ
........

Phong trào cộng sản và người Thượng - Nguyễn Văn Huy

- Phong trào cộng sản và người Thượng
Từ sau 1938, cán bộ Việt Minh thành lập nhiều mật khu trên các vùng rừng núi phía Ðông dãy Trường Sơn, cạnh các buôn làng Thượng, để chống Pháp. Sự kề cận này buộc những cán bộ Việt Minh phải giao tiếp với cộng đồng người Thượng để được tiếp tế và, qua đó, hiểu biết phong tục, tập quán của người Thượng. Tại Bình Ðịnh, cán bộ Việt Minh còn giả làm người Thượng để che mắt quân đội Pháp trong các cuộc bố ráp. Sau 1945, cán bộ Việt Minh chính thức xuất hiện trên cao nguyên và hoạt động ngay trong các thành phố lớn. Với khẩu hiệu dân tộc Tây Nguyên tự trị, phong trào Việt Minh đã thu phục toàn bộ thành phần ưu tú người Thượng do Pháp đào tạo. Hàng ngàn cán bộ và binh sĩ Thượng gia nhập phong trào Việt Minh và được giao những chức vụ quan trọng tại các địa phương như các ông Nay Phin (đại biểu Cheo Reo), Y Wang (đại biểu Ðắt Lắc), Nay Der (đại biểu Kontum, Pleiku kiêm chủ tịch ủy Ban Sắc Tộc), Y Klam (trưởng Ðoàn Thanh Niên Sắc Tộc) và các ông Y Ngô Buôn Ya, Y Thang Niê Kdam, Y John Niê Kdam là những sĩ quan cao cấp… Tiểu đoàn Cứu Quốc Quân Ðắt Lắc, do ông Y Bih Alêo chỉ huy, đã tham gia nhiều trận đánh lớn trên Cao Nguyên.
Sau 1954, khoảng 120.000 cán bộ Việt Minh từ miền Nam ra Bắc tập kết, trong đó có khoảng 6.000 người sắc tộc, đa số là người Rhadé và Djarai. Thanh niên Thượng tập kết được Chu Văn Tấn, chủ tịch ủy Ban Dân Tộc, cho đi học tại Trường Các Dân Tộc Thiểu Số Phía Nam tại Gia Lâm. Chương trình học tập văn hóa bằng tiếng Việt, trình độ tiểu học, gồm các bộ môn lịch sử và văn hóa Việt Nam. Các học viên Thượng còn được hướng dẫn sử dụng bản đồ, địa bàn và học tập chính trị (chủ nghĩa Mác Lênin và các khẩu hiệu chống Ngô Ðình Diệm). Cuối năm 1959, hơn 4.000 thanh niên Thượng đã tốt nghiệp từ trường này, mỗi khóa 400 người. Trong thời gian học tập, các học sinh được nuôi ăn ở và đưa đi thăm các danh lam thắng cảnh của miền Bắc. Thỉnh thoảng các lãnh tụ đảng cộng sản đến ủy lạo tinh thần học sinh Thượng.
Từ tháng 3-1955 trở đi, những học sinh Thượng ưu tú được gởi vào Trường Sư Phạm Trung ương để trở thành giáo viên và cán bộ sắc tộc. Thời gian học tập gồm 9 tháng, mỗi khóa đào tạo khoảng 410 cán bộ, trong đó có 120 người Thượng. Nhiều cán bộ Rhadé, Djarai và Sedang ưu tú, sau khi tốt nghiệp được đưa sang Liên Xô và Trung Quốc tu nghiệp trong những trường sắc tộc. ông Y Ngôn Niê Kdam, đại biểu quốc hội năm 1956, được đưa sang Liên Xô học tập chính trị và quân sự.
Trong thời gian này, Hà Nội chuẩn bị kế hoạch đưa cán bộ vào miền Nam vận động tổng tuyển cử, dự trù vào tháng 7-1956 theo qui định của hiệp định Genève. Các đoàn thám hiểm đầu tiên được cán bộ Thượng tập kết hướng dẫn, đi từ Nam Lào vào Tây Nguyên, rồi từ Tây Nguyên xuống Sông Bé tiến vào Tây Ninh. Cuộc tổng tuyển cử đã không xảy ra, tất cả ở lại nằm vùng trong các thôn xóm và vận động dân chúng chống lại chính quyền miền Nam.
Năm 1958, lợi dụng tình trạng xáo trộn trên cao nguyên, cán bộ cộng sản vào các làng Thượng tuyển mộ và đưa từng đợt 50 thanh niên ra Bắc học tập, sau đó đưa về Tây Nguyên hoạt động.
Ðể đối trọng với phong trào Bajaraka của Y Bham nuôl, tháng 10-1960 Hà Nội thành lập Phong Trào Dân Tộc Tự Trị Tây Nguyên, gọi tắt là Phong Trào Tự Trị Tây Nguyên, do các ông Y Bih Aleo, Y Thang Niê Kdam, Y Ngôn Niê Kdam cầm đầu tại Kon Hanung. Phong trào này là một bộ phận của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (thành lập tháng 12-1960), có nhiệm vụ mở đường Trường Sơn (đường mòn hồ Chí Minh) vận chuyển người và vũ khí vào Nam.
Người Hré, Ktu, Bru Vân Kiều và Tà Ôi trên Cao Nguyên miền Trung được giúp đỡ tận tình vì nơi sinh trú của họ nằm trên đường mòn Hồ Chí Minh, giữa Khe Sanh và Nam Lào. Người Stiêng và Mnong trên cao nguyên miền Nam càng được chiếu cố vì địa bàn sinh sống của họ (phía Tây Bắc Sài Gòn) là nơi đặt bản doanh của cục R, cơ quan đầu não của phe cộng sản ở miền Nam. Sóc Bombo của người Stiêng đã một thời được thổi phồng như một thành trì chống Mỹ. Khu vực Tam Biên (nơi giáp ranh cũ giữa Kampuchea, miền Nam và miền Trung) gần như là vùng giải phóng. Qui chế tự trị được áp dụng ngay tại Dak Goklam, Ban Tăng, Ban Het, Dak Sút, Sa Thầy, Plei Ya… 40% thanh niên trong mỗi làng được huy động xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh.
Mặc dù được phong nhiều chức vụ danh dự trong các tổ chức vệ tinh của đảng cộng sản và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, như phó chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (ông Y Bih Alêo), chủ tịch các ủy ban sắc tộc, sĩ quan quân đội…, vai trò của những lãnh tụ Thượng rất là lu mờ. Họ không được tham gia vào bất cứ quyết định quan trọng nào liên quan tới cuộc chiến. Ban lãnh đạo cộng sản rất sợ người Thượng kết hợp lại với nhau nên đã bằng mọi cách ly gián hay gây chia rẽ các nhóm Thượng với nhau. Mọi liên lạc với các tổ chức Thượng khác, kể cả những tổ chức chống lại chính quyền miền Nam, đều bị ngăn chặn.
- FULRO Dega và chính quyền cộng sản
Lợi dụng tình trạng hỗn độn trên Cao Nguyên giữa tháng 3-1975, dân chúng Chăm và Thượng thu nhặt vũ khí, quân trang và quân dụng, do quân lực Việt Nam Cộng Hòa vứt bỏ trong các cơ quan và dọc các Quốc lộ 1, 14, 19, nộp cho lực lượng FULRO Dega. Với số lượng vũ khí và lương thực khô thu nhặt được, bộ tham mưu FULRO Dega, cảm thấy đủ khả năng đối đầu với quân đội cộng sản, ra lệnh cho các đơn vị FULRO chiếm nhiều đồn bót dọc vùng biên giới, một số buôn làng tại Kontum, Pleiku, Ðắt Lắc, Quảng Ðức, Lâm Ðồng và Ninh Thuận. Lực lượng FULRO Dega và FULRO Champa lúc đó có trên 12.000 tay súng và hơn 8.000 du kích.
Tại Phan Rang, giữa tháng 4-1975, Huỳnh Ngọc Sắng (về lại Việt Nam từ đầu năm 1973) cùng Vạn Thanh Bình và Kiều Ngọc Quyên chỉ huy FULRO Champa quân khu V. Lực lượng Chăm, gồm 2.000 tay súng, thành lập những đội du kích bảo vệ thôn ấp. Cờ FULRO được treo khắp nơi. Khi bộ đội cộng sản tiến vào, du kích Chăm nổ súng chống lại, nhưng sau vài cuộc chạm súng các đội võ trang Chăm bị đánh bại dễ dàng, nhiều người bị thiệt mạng, một số bị bắt và một số khác trốn lên cao nguyên Di Linh hợp cùng các nhóm Dega tổ chức kháng chiến.
FULRO Quân khu I chặn đánh các đường tiếp tế từ Đồng Bằng lên Kontum. FULRO Quân khu II tấn công các buôn làng quanh Pleiku và Cheo Reo, sát hại nhiều cán bộ cộng sản. FULRO Quân khu III chiếm các quận Lạc Thiện, Buôn Hô, Krong Pách… giết và làm bị thương hàng chục cán bộ và bộ đội, phục kích các đoàn xe quân sự và hành khách trên các Quốc lộ 14 và 19. FULRO Quân khu IV đánh phá các quận Ðơn Dương, Ðức Trọng, Lạc Dương, Di Linh, chặn xét xe đò trên các quốc lộ 15, 20 và 21. FULRO Quân khu V, lôi kéo hàng ngàn thanh niên Chăm và Roglai vào bưng.
Tháng 6-1975, chính quyền cộng sản tung chiến dịch truy quét FULRO trên khắp Tây Nguyên. Nhiều cuộc hành quân qui mô, có chiến xa và trọng pháo yểm trợ, đánh thăng vào những sào huyệt của FULRO tại Ðắt Lắc, Lâm Ðồng và Tuyên Ðức. Những quận huyện và buôn làng bị chiếm đều lấy lại được, nhiều cán bộ FULRO Dega cao cấp lần lượt bị bộ đội cộng sản Việt Nam bắt (Y Chôn Mlô Duôn Du, Y Bliêng Hmok, Y Nguê, Y Djao Niê, Nay Guh, Nay Fun, Nay Rong) và bị giam trong các trại cải tạo tại Buôn Ma Thuột và Lâm Ðồng.
Hơn 2.000 quân FULRO Dega chạy sang Kampuchea lánh nạn và được Khmer Ðỏ tiếp nhận. Lực lượng này do đại tá Y Peng Ayun chỉ huy với ban tham mưu gồm nhiều sĩ quan cao cấp như Trung Tá Y Hinnie, Y Bhong Rcam, Y Yỗn, Kpa Koi, Htlon…, trong đó có cả Mục sư Budar Su Kbông. Binh sĩ Dega được giúp đỡ và trang bị thêm để tiến qua Việt Nam đánh chiếm các làng ven biên tại Lâm Ðồng, Sông Bé và Ðắt Lắc. Những trận đánh tại vùng biên giới và dọc các quốc lộ trong những năm 1975 và 1976 rất là dữ dội.
Tại Ðắt Lắc, cuối tháng 5-1976, một số lãnh tụ Thượng bị giam (Y Djao Niê, Nay Ful, Nay Rong, Nay Guh cùng nhiều người khác) vượt ngục và ám sát ban lãnh đạo FULRO Dega cũ gồm các ông Kpa Koi, Htlon, Y Bách êban, Y Dhê Buôn Dap, Hmang Mbon… để giành quyền lãnh đạo. Tháng 7-1977, nhóm này thành lập một chính phủ mới, bộ chỉ huy đặt tại Lạc Dương, phía Bắc Ðà Lạt. Y Djao (bí danh thiếu tướng Dampa Kwei) tự phong thủ tướng và cử Ya Duk (người Koho) làm Đổng lý Văn phòng, Nay Guh Bộ trưởng Quốc Phòng, Nay Rong (Trung tá) Bộ trưởng Ngoại Giao, Nay Ful Bộ trưởng Nội Vụ (cả ba là người Djarai)… Tổ chức quân sự vẫn giữ y như cũ gồm năm quân khu, nhưng chỉ Quân khu IV, do Paul Yưh (người Bahnar) làm Tư lệnh, thực sự còn hoạt động. Vụ đảo chánh này làm nhiều cán bộ FULRO nản chí, một số buông súng ra đầu hàng, một số khác bỏ về làng làm nương rẫy.
Y Djao Niê cùng Huỳnh Ngọc Sắng lập nhiều chiến khu từ Ðơn Dương (Drang), Tùng Nghĩa (Laba) đến Sông Pha (Krong Pha) và phối hợp với Thiếu Tá Phong (Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 302 Tuyên Ðức cũ) tấn công các đồn bót và sự di chuyển của bộ đội cộng sản trên Cao Nguyên Lâm Ðồng. Từ 1977 đến 1978, lực lượng du kích này – do Krajang Hput, người Koho, chỉ huy – đã tổ chức nhiều cuộc đột kích, đốt phá nhiều trụ sở ủy ban nhân dân xã, huyện bắn pháo vào các đồn bót, phục kích và bắt giữ những đoànđịa chất và lâm nghiệp, khủng bố những người làm nghề khai thác cây rừng, chận xét xeđò, bắt cóc và ám sát cán bộ thu mua lương thực trong các xã ấp quanh thị xã Ðà Lạt, các quận Ðơn Dương và Lạc Dương.
Nhưng tranh chấp quyền lực giữa các lãnh tụ FULRO với nhau làm tổ chức Dega yếu hăn đi. Y Djao Niê bị giết ngày 12-10-1978 tại Ðức Trọng, Y Ghok Niê Krieng lên làm thủ tướng ngày 22-1-1979, Ya Duk làm phó thủ tướng thứ nhất đặc trách nội trị và ngoại giao kiêm phó chủ tịch thứ nhất FULRO Dega, Paul Yưh là phó thủ tướng thứ hai đặc trách an ninh và quốc phòng; ban lãnh đạo phong trào đặt tại Ðầm Ròn (Lâm Ðồng).
Tổng kết từ 1975 đến 1979, khoảng 8.000 binh sĩ Dega bị loại khỏi vòng chiến, phần lớn bị chết dưới những trận tập kích của pháo binh và thiết giáp, số còn lại chết vì thiếu thuốc men và bệnh tật. Nhiều người chịu không nổi cảnh thiếu thốn trong rừng sâu đã ra đầu thú và đi ở tù. Sau 1980, phong trào kháng chiến Thượng, thiếu sự hỗ trợ của dân chúng, yếu dần theo thời gian, những ổ kháng cự cuối cùng lần lượt bị tháo gỡ và đến cuối năm 1982 thì phong trào FULRO trên Tây Nguyên gần như tan rã, một số bị bắt, số còn lại ra đầu hàng.
Dân thiểu số vùng Cao Nguyên trốn sang Cam Bốt để tránh sự đàn áp khủng bố của cộng sản VN
Tại Kampuchea, hơn một ngàn người Thượng đã chạy qua Thái Lan tị nạn khi bộ đội cộng sản Việt Nam tiến vào Mondolkiri cuối năm 1979, hơn 200 binh sĩ Dega sau đó được sang Hoa Kỳ tị nạn và 800 người Stiêng được Pháp nhận vào Guyane (Trung Mỹ) năm 1986. Lực lượng Dega còn lại phân tán thành nhiều toán nhỏ sống lẫn vào dân chúng trong các buôn làng xa xôi.
Năm 1980, khoảng 1.500 FULRO Dega về lại Việt Nam hoạt động. Các toán du kích Thượng đột nhập vào các tỉnh Pleiku, Kontum, Ðà Lạt và Ðắt Lắc khủng bố, ám sát cán bộ xã ấp rồi rút về Kampuchea. Năm 1981, quân FULRO đặt mìn phá trạm biến điện tại Gia Lai Kontum, phục kích những toán công an tại Lâm Ðồng, chặn xét xe đò, kêu gọi dân Thượng chống lại Việt Nam và bắt theo nhiều thanh niên Thượng từ 15 tuổi trở lên vào bưng kháng chiến. Sự phản công của bộ đội cộng sản Việt Nam cũng rất dữ dội: năm 1984 có 358 FULRO Dega bị giết, 1.734 bị bắt, 600 vũ khí bị tịch thu. Từ 1985 đến 1990, bộ đội cộng sản Việt Nam tổ chức 63 cuộc hành quân trên Tây Nguyên, hạ sát 102 quân FULRO, bắt sống 167 người khác và vô hiệu hóa hơn 10.000 dân Thượng trong những buôn làng xa xôi, tất cả được dời về gần nơi thị tứ hay cạnh các trục lộ giao thông để dễ canh chừng. Thiệt hại về phía bộ đội và cán bộ cộng sản Việt Nam cũng rất cao, con số không được tiết lộ nhưng chắc cũng bằng hoặc hơn nhóm Dega Thượng vì không quen đường đi nước bước trong rừng và thường bị phục kích bất ngờ bởi những cựu Biệt kích Thượng.
Chính quyền Khmer thân Việt Nam, trong những năm 1981-1983, cũng tổ chức nhiều cuộc hành quân tấn công vào sào huyệt của lực lượng Khmer Ðỏ và FULRO Dega tại Mondolkiri nhưng bị thiệt hại nặng phải lùi về đồng bằng. Phải chờ đến năm 1986, với sự trợ lực của bộ đội Việt Nam, đại bản doanh FULRO Thượng tại Mondolkiri mới bị phá hủy, tàn quân FULRO tản mác khắp nơi. Tháng 9-1991, lực lượng UNTAC (United Nations Transitional Authority in Cambodia) của Liên Hiệp Quốc bắt gặp hơn 400 FULRO Thượng với 175 súng cá nhân sống lây lất trong rừng, tất cả được đưa sang Hoa Kỳ tị nạn năm 1992. Tháng 5-1998, một nhóm sáu người (gồm ba đàn ông, một đàn và hai trẻ em, trang bị bằng cung nỏ) thuộc lực lượng FULRO cuối cùng còn lẩn trốn bị bắt tại Ðắt Lắc, phong trào FULRO tại Việt Nam và Kampuchea coi như chấm dứt.
Tuy vậy, tại hải ngoại, phong trào FULRO vẫn còn hoạt động. Y Bhan Kpor, thoát sang Thái Lan và được tị nạn tại Hoa Kỳ, tiếp tục lãnh đạo phong trào Dega tại hải ngoại. Y Jut Buôn Tô, cựu Đốc sự Hành chánh, và Kok Ksor là những người đại diện phong trào trong việc ký kết hay hợp tác với các tổ chức khác. Hiện nay có trên ba ngàn người Thượng tại Hoa Kỳ, đa số sinh sống tại hai tiểu bang North và South Carolina trong bốn thành phố: Raleigh, Greenboro, Charlotte và Spartanburg.
- Người Thượng dưới chế độ cộng sản
Phong Trào Tự Trị Tây Nguyên của Y Bih Alêo chết theo Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam năm 1976, những hứa hẹn trong thời chiến tranh về quyền tự trị của người Thượng không còn được nhắc đến, thay vào đó là chính sách dân tộc. dân tộc ở đây phải hiểu là sắc tộc thiểu số và chính sách dân tộc là chính sách phòng vệ biên giới, thuộc lãnh vực quốc phòng, chứ không phải để nâng cao đời sống người thiểu số.
Việt Nam có trên ba ngàn cây số biên giới đường bộ, một khu vực đang còn tranh chấp với các lân bang và là nơi sinh trú của các sắc tộc thiểu số. Ðịa bàn cư trú của người Thượng trên Tây Nguyên có một vị thế chiến lược quan trọng, đó là yết hầu của ba nước Ðông Dương: làm chủ Tây Nguyên là làm chủ Việt Nam, Lào và Kampuchea. Tây Nguyên chính vì vậy là một khu quân sự, do đảng cộng sản trực tiếp quản lý qua trung gian các chính quyền địa phương, mặt trận tổ quốc, quân đội và công an biên phòng. Một số làng-biên-giới được thành lập dọc biên giới Kampuchea và Lào, các làng Thượng ven biên được dời vào sâu trong nội địa.
Tùy theo mức độ phục tùng của từng nhóm Thượng mà sự kiểm soát của chính quyền tăng hay giảm. Những lãnh tụ thời chiến như Y Bih Alêo, Y Dhơn Niê Kdam, Nay Der, Nay Phin… đều đã già hay đã chết, những cán bộ và đại biểu Thượng đang còn trong đảng hay tại quốc hội và các chính quyền địa phương không có thực quyền, thành phần cán bộ trẻ không được tin cậy, mọi chức vụ quan trọng đều do người Kinh nắm giữ. Nơi cư trú của người Rhadé, Djarai, Bahnar và Stiêng bị canh chừng nghiêm ngặt, mọi ngỏ ra vào Tây Nguyên đều bị kiểm soát. Ðoạn đường từ Sài Gòn lên Ðà Lạt có hơn 20 trạm kiểm soát. Ðoạn đường từ Nha Trang lên Buôn Ma Thuột có trên 15 trạm kiểm soát. Ðoạn đường liên tỉnh từ Pleiku đến Kontum cũng có hơn 10 trạm. Du kích địa phương theo dõi gắt gao quan hệ của từng người trong làng, nhất là quan hệ với các tu sĩ và người ngoại quốc.
Trốn sang Cam Bốt bằng đường bộ
Phần lớn người Thượng ngày nay đã định cư và định canh, chỉ còn khoảng 300.000 người vẫn còn duy trì nếp sống du canh du cư. Từ sau 1976, đất công xã của các buôn làng đều bị tập thể hóa, các định chế mẫu hệ (nhà rông, nhà tập thể) bị giải tán. Các tòa án nhân dân thay thế các tòa án phong tục. Cán bộ lấn át vai trò của các già làng, thanh thiếu niên Thượng tại những nơi đông dân bị đoàn thể hóa. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính giảng dạy trong các trường học, tiếng mẹ đẻ cho trẻ em ở bậc tiểu học bị cấm. Tỷ lệ thất học trên Tây Nguyên cao nhất nước, 60% trẻ em Thượng không đi đến trường vì thiếu ăn và nghèo khó. Số học sinh tốt nghiệp trung học, rất ít, thường không tìm được việc làm phải trở về buôn làng canh tác nông nghiệp. Bệnh tật nhiệt đới (cùi, lao, kiết lỵ, sốt rét rừng…) là tác nhân gây tử vong cao trong cộng đồng người Thượng, nhất là trẻ em. Mọi trợ giúp nhân đạo bất cứ từ nguồn gốc nào đều bị thanh lọc gắt gao.
Tây Nguyên có từ 1,5 đến 1,8 triệu hécta đất trồng trọt được nhưng hiện nay chỉ khai thác trên 400.000 mẫu. Từ 1976 đến nay, chính quyền cộng sản đã đưa hơn ba triệu người từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng và hơn 70.000 người thiểu số từ các tỉnh thượng du miền Bắc lên Tây Nguyên khai thác số đất đai còn lại. Người Thượng trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ: 1,6 triệu (30%) trên tổng dân số 5,4 triệu người. Theo luật sử dụng đất đai ban hành năm 1999, diện tích canh tác của người Thượng bị thu hẹp lại, mỗi hộ dân chỉ được thuê tối đa ba mẫu. Cũng nên biết trong mỗi nhà sàn (là một hộ) nhiều gia đình sống chung với nhau theo chế độ sở hữu tập thể. Luật sử dụng đất đai mới này phá vỡ nếp sống cổ truyền của người Thượng, vì mỗi nhà sàn phải phân tán thành từng hộ nhỏ để có thể thuê thêm đất canh tác, nếu không sẽ bị đói. Ðó là chưa kể nạn lợi dụng sự thật thà của người Thượng bởi những di dân bất hảo để chiếm đoạt những khu đất tốt dọc các con suối và các trục lộ giao thông. Tại một số nơi, do thiếu văn hóa, những di dân còn đối xử với người Thượng như những nô lệ.
Sự có mặt ồ ạt của di dân từ đồng bằng lên làm xáo trộn toàn bộ sinh thái trên Tây Nguyên. Do đời sống nghèo khó và không được chính quyền giúp đỡ, sự hủy hoại môi trường sinh sống của những di dân mới này rất là báo động. Hơn hai triệu hécta đất rừng trên các vùng đồi núi biến thành đồi trọc, gây hạn hán mùa khô và lũ lụt mùa mưa. Diện tích rừng từ 3,3 triệu hécta năm 1976 giảm xuống còn 2,5 triệu năm 1984 và ngày nay chưa tới một triệu. Ðó là chưa kể nạn khai thác gỗ rừng bừa bãi của các công ty quân đội và công an biên phòng tại các vùng biên giới để xuất khẩu. Thêm vào đó là nạn đào tìm kim loại và đá quí bằng hóa chất gây ô nhiễm môi sinh, nhiều loại thú quí như cọp, khỉ, công và rắn lục bị tuyệt chủng.
Tương lai của cộng đồng người Thượng rất là bấp bênh, vấn đề hội nhập người Thượng vẫn còn nguyên vẹn. Dân tộc Việt Nam đã trả những giá rất đắt cho hận thù và chia rẽ, chúng ta phải thức tỉnh và nhìn ra những vết xe đổ. Xây dựng đồng thuận dân tộc phải là ưu tư hàng đầu của những người muốn lãnh đạo Việt Nam tương lai.
Nguyễn Văn Huy
Nguồn:https://www.facebook.com/kimlien.le.35574/posts/378422829255007

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

Đề xuất bỏ Chí Phèo khỏi SGK



Đề xuất bỏ Chí Phèo khỏi SGK: ‘Đừng hiểu văn học theo tư duy của Xã hội học’

Cát Linh, RFA
2017-12-13

Nhân vật Chí Phèo và Thị Nở trong phim "Làng Vũ Đại ngày ấy", phóng tác từ truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.
Nhân vật Chí Phèo và Thị Nở trong phim "Làng Vũ Đại ngày ấy", phóng tác từ truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.
Screenshot photo

Một tác phẩm nghệ thuật

Chí Phèo là tên của nhân vật chính trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao, được ông sáng tác vào tháng 2 năm 1941.  Là một đứa trẻ mồ côi, Chí Phèo được người làng Vũ Đại thay phiên nhau nuôi lớn. Ở đợ là nghề của hắn. Thêm cái nghề canh điền cho Bá Kiến. Bị Bá Kiến hãm hại dẫn đến 7 năm tù, sau đó Chí Phèo đã trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại chuyên vạch mặt ăn vạ.
Từ bát cháo hành nóng hổi của Thị Nở, Chí Phèo ‘hồi sinh’ với mối tình đầy bản năng của con người và nỗi khao khát làm người lương thiện. Thế nhưng, bà cô của Thị Nở đã ngăn cản, hay nói cách khác, chính xã hội từ chối con đường trở về của Chí Phèo. Tuyệt vọng, Chí Phèo tìm đến Bá Kiến, người đã đưa hắn từ 1 người nông dân bình thường trở thành tên tù tội, thành nỗi sợ hãi của làng Vũ Đại. Chí Phèo giết Bá Kiến rồi tự sát.
Chí Phèo của Nam Cao được cho là một kiệt tác văn xuôi Việt Nam hiện đại, có giá trị hiện thực, khắc hoạ rõ nét từng vết nứt bi kịch của một xã hội phong kiến thời phân chia giai cấp.
Hơn 70 năm sau, bình luận về Chí Phèo, vị nghiên cứu sinh ngành giáo dục ở Đại học Newcastle, Australia, ông Nguyễn Sóng Hiền cho rằng nhân vật này “chẳng đại diện cho ai cả. Anh ta chỉ đơn giản là một đứa trẻ không được giáo dục, bị lưu manh hóa. Nếu nói rằng Chí đại diện cho tầng lớp nông dân bị áp bức thì thật là "tội nghiệp" cho nông dân mình quá.”
Còn đối với nhà văn Tạ Duy Anh, tác giả của Mối Chúa, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng được săn lùng ráo riết do bị cấm xuất bản, nhìn về nhân vật Chí Phèo là một số phận, số phận của xã hội, số phận của một con người “nhân chi sơ, tính bổn thiện”, số phận của một con người có cái bản ngã của con người. Ông nói.
“Đấy là một số phận. Số phận ấy có thể đại diện cho nông dân nhưng trước hết, nó là một thế giới, 1 ngã thể. Những khao khát của ông ấy, những bi kịch của ông ấy, những xấu xa trong tâm hồn ông ấy, tại sao không nghĩ là nó cũng có trong tâm hồn người khác?
Nó là 1 phản chiếu, một ẩn ngữ của nhà văn để nói lên 1 điều gì đó về mặt nhân cách, tự do, về nhu cầu của con người trước cái đẹp, trước tình yêu.”
Đấy là một số phận. Số phận ấy có thể đại diện cho nông dân nhưng trước hết, nó là một thế giới, 1 ngã thể. Những khao khát của ông ấy, những bi kịch của ông ấy, những xấu xa trong tâm hồn ông ấy, tại sao không nghĩ là nó cũng có trong tâm hồn người khác? Nó là 1 phản chiếu, một ẩn ngữ của nhà văn để nói lên 1 điều gì đó về mặt nhân cách, tự do, về nhu cầu của con người trước cái đẹp, trước tình yêu. - Nhà văn Tạ Duy Anh
Theo cách nhận xét và lập luận của nhà nghiên cứu sinh Nguyễn Sóng Hiền, ông viết rằng: “Chí Phèo phải bị phê phán vì hành vi cưỡng bức Thị Nở. Nở là người bị hại, bị Chí lợi dụng lúc ngủ say để cưỡng bức. Vậy thì tại sao chúng ta có thể ghép đôi cho một kẻ lưu manh với cô gái vô tội? Chưa kể sau này, Nở lại mang bầu và lại ôm thêm nỗi khổ vào thân. Dù đánh giá ở khía cạnh nào đi nữa, Chí vẫn là kẻ xấu.”
Lời kết tội của ông Nguyễn Sóng Hiền dành cho Chí Phèo khá hợp lý, phù hợp với tư duy của một người đánh giá vấn đề mang cơ sở lý tính.
Và nếu xét ở xã hội hiện tại với luật pháp của một phiên toà xét xử thì cũng hoàn toàn hợp lý.
Nhưng đối với nhà văn Tạ Duy Anh, ông nhìn Chí Phèo, và cả Thị Nở không giản đơn như thế. Ông đặt nhân vật của Nam Cao ở cương vị là những nhân tố hư cấu của tác phẩm nghệ thuật. Mà nếu đã như thế thì theo ông:
“Nghệ thuật cao xa hơn tất cả những thứ qui chụp về mặt xã hội học”
Hơn thế nữa, nhà triết học, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức, từ Hà Nội nói với chúng tôi nhận xét của ông về Chí Phèo của Nam Cao là một tác phẩm của lịch sử.
“Nó đầy tri thức, nhân văn, là một giai đoạn lịch sử, tôi tạm gọi nó được kết cấu từ những dư vị của thời gian đấy, quá khứ đấy. Văn học là tâm cảm của thời đại. Mà nếu bỏ tâm cảm của thời đại ấy đi thì mình không có gì cả.”
Với góc nhìn của nhà văn Tạ Duy Anh, ông cho rằng “Ở Việt Nam hiện nay, cho đến thời điểm này, chưa có 1 tác phẩm văn học nào có thể thay thế được tác phẩm Chí Phèo về mọi mặt”. Còn đối với nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức thì ông khẳng định “Chí Phèo của Nam Cao là tác phẩm truyện ngắn thành công nhất Việt Nam.”
Ông Nguyễn Hoàng Đức không ngần ngại nói rằng “rất ngu xuẩn khi đề nghị loại bỏ tác phẩm này khỏi chương trình sách giáo khoa văn học.”
Nó đầy tri thức, nhân văn, là một giai đoạn lịch sử, tôi tạm gọi nó được kết cấu từ những dư vị của thời gian đấy, quá khứ đấy. Văn học là tâm cảm của thời đại. Mà nếu bỏ tâm cảm của thời đại ấy đi thì mình không có gì cả. - Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức

Đừng hiểu văn học như đạo đức học

Chí Phèo đã “sống” qua nhiều thập kỷ, đi vào chương trình sách giáo khoa văn học của thời nay để trở thành hình tượng tiêu biểu của một nghệ thuật văn học hiện thực và sâu xa hơn nữa, biểu tượng của một thời kỳ lịch sử…
Cho đến khi vị nghiên cứu sinh ngành giáo dục, ông Nguyễn Sóng Hiền đưa ra đề xuất việc bỏ tác phẩm Chí Phèo ra khỏi chương trình sách giáo khoa ngữ văn lớp 11.
Lý do ông nêu ra là “Một nhân vật khi bế tắc là uống rượu rồi chửi bậy, đốt quán, xin đểu, bí bách quá thì rút dao giết người rồi tự sát. Với hình tượng như thế thì trẻ sẽ học được gì? Ở lớp 11, tôi không tin là học trò đủ nhận thức để nhìn thấy được tính nhân văn và sự tốt đẹp của Chí Phèo”.
Không ít người đã bày tỏ ủng hộ với đề xuất này. Cô Trang Nhung, một nhà hoạt động nhân quyền khá nổi tiếng ở Việt Nam viết trên trang cá nhân quan điểm của cô là: “Giả sử tại một trường PTTH tư thục do tôi lập ra trong tương lai, tác phẩm này không có cửa trong chương trình giáo dục của tôi. Giáo dục con người trở nên CON NGƯỜI đích thực thì thiếu gì hình tượng mà cứ Chí với chả Phèo.”
Đưa ra ý kiến về điều này, nhà văn Tạ Duy Anh cho rằng “đối với văn học, thì mỗi người có 1 cách hiểu khác nhau trong tâm thế của họ. Do đó, ông tôn trọng đề xuất cá nhân của ông Nguyễn Sóng Hiền.
“Họ hiểu tác phẩm văn học theo cách như thế. Đúng hay sai thì mình chưa biết nhưng ít nhất cậu ấy cũng dám bộc lộ suy nghĩ trong đầu cậu ấy.”
Nếu vị nghiên cứu sinh ngành Giáo dục Nguyễn Sóng Hiền đề nghị lấy Chí Phèo ra khỏi sách giáo khoa vì lo lắng là học sinh sẽ học được những gì từ nhân vật ấy -  1 nhân vật “vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu là hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai. Tức mình, hắn chủi ngay tất cả làng Vũ Đại”?
Thì câu trả lời của nhà văn Tạ Duy Anh là “phải dạy và dạy kỹ hơn nữa”. Ông nói
“Không những nên dạy mà phải dạy 1 cách đầy đủ, 1 cách nghiêm túc ở chỗ cho học sinh được nói lên những suy nghĩ của nó, được hiểu theo cách của nó, được quyền cảm nhận về mặt thẩm mỹ và đạo đức của học sinh.”
Có một cách phân tích khác từ nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức. Ông đặt ra câu hỏi “Tại sao Chí Phèo chửi đổng?” Câu trả lời được ông đưa ra cũng chính là cách ông định nghĩa về văn học, đó là “Văn học là phải bất mãn với thời cuộc.”
“Tại sao lại có nhân vật Chí Phèo? Nó chửi đổng là sự bất mãn của nhà văn. Nó chửi đổng vì nó không thể làm gì khác hơn là chửi đổng. Chí Phèo buộc phải rạch mặt và chửi đổng, thì phải hiểu rằng đó là tính biểu tượng của văn học và chỉ văn học mới làm được điều ấy.”
Tại sao lại có nhân vật Chí Phèo? Nó chửi đổng là sự bất mãn của nhà văn. Nó chửi đổng vì nó không thể làm gì khác hơn là chửi đổng. Chí Phèo buộc phải rạch mặt và chửi đổng, thì phải hiểu rằng đó là tính biểu tượng của văn học và chỉ văn học mới làm được điều ấy - Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức
Khi bàn về vấn đề này với báo giới trong nước, Nữ Tiến sĩ Văn học Trịnh Thu Tuyết nói rằng “Cần trân trọng những giá trị văn hoá đích thực. Cần ứng xử với văn chương cho xứng đáng với văn chương.” Bà nhấn mạnh bà không đồng tình với đề xuất loại bỏ Chí Phèo ra khỏi sách giáo khoa văn học.
Tuy chưa có người cầm bút nào đưa ra phản biện về câu nói “văn là người”, nhưng theo nhà văn Tạ Duy Anh, đánh  giá, nhận thức về văn học lại là một chuyện khác. Đặc biệt, không thể bóc tách tác phẩm nghệ thuật ra từng mảnh để đánh giá tác động của nó về mặt xã hội.
“Họ hiểu văn học theo tư duy của xã hội học, đạo đức học, những quan điểm mang tính chất xa rời mục tiêu cao hơn của nghệ thuật.”
Sau khi sự việc gây ra nhiều tranh luận trên báo chí, ông Nguyễn Sóng Hiền giải thích là ông không phủ nhận giá trị nhân văn và nghệ thuật của tác phẩm. Điều làm ông lo lắng là liệu các giáo viên có thể truyền tải được hết và đầy đủ những điều tốt đẹp của nhân vật và tác phẩm không?
Thế nhưng theo nhà văn Tạ Duy Anh, ông cho rằng có lẽ chính cách dạy theo khuôn khổ có sẵn, bình văn theo sườn bài có sẵn của giáo viên mà đã tạo ra cho vị nghiên cứu sinh kia “một phản ứng như thế” đối với một tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam.
“Cái khả năng, cái tâm thế xã hội, tất cả những gì họ được tiếp xúc, được cảm nhận về xã hội chỉ đủ để hiểu đến thế thôi.”
Rất nhiều những tranh cãi từ dư luận về đề xuất loại bỏ tác phẩm Chí Phèo ra khỏi sách giáo khoa văn học. Nhưng theo những ý kiến chúng tôi ghi nhận được, thì nhân vật Chí Phèo đã vượt qua khỏi ranh giới của tác phẩm văn học, trở thành biểu tượng của một thời kỳ văn hoá lịch sử không thể chối bỏ.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Remove-chi-phep-of-nc-out-of-textbook-do-not-think-about-literature-with-a-social-study-mind-12132017093835.html

 Hình ảnh có liên quan Kết quả hình ảnh cho www. Bộ TTM/Sài Gòn

Kết quả hình ảnh cho www. Bộ TTM/Sài Gòn

VC Nằm Vùng Trong Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng Và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa

1* Mở bài

Việt Cộng nằm vùng thời nào cũng có, ở đâu cũng có. Khi tập kết ra Bắc, cài người ở lại. Cho gián điệp trà trộn vào đoàn người di cư vào Nam. Chiêu dụ trí thức háo danh, lừa gạt người có máu phản bội…thế là bọn nằm vùng, bọn người ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản, bọn trở cờ tràn lan ở đâu cũng có khắp miền Nam.

Những trí thức háo danh bị lừa gạt, khi mở mắt ra thì đã muộn. Một số phóng lao phải theo lao, một số ngậm bồ hòn để còn hưởng chút lợi danh dỏm. Một số còn chút đỉnh liêm sỉ trước khi tắt thở nói những lời ăn năng sám hối, đó là những Trương Như Tảng, bác sĩ Dương Huỳnh Hoa, Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Hộ…. Ngay cả thiếu tướng tình báo, anh hùng quân đội nhân dân, Phạm Xuân Ẩn, trước khi chết cũng trối trăng “Xin đừng chôn tôi gần Cộng Sản”. Bạn thân của Phạm Xuân Ẩn là phóng viên chiến trường David DeVoss viết trên Weekly Standard số ngày 9-10-2006, Volume 012-Issue 04 do Trà Mi dịch.

Tất cả bọn vô liêm sỉ và phản bội đó đã góp phần đưa dân tộc Việt Nam vào chế độ độc tài, tàn bạo cai trị bằng đàn áp và những mánh khóe, chiêu bài lừa bịp.

Người dân miền Nam mất nước, mất dân chủ và tự do, mất tài sản cũng vì cái chế độ quái ác nầy, cũng vì cái đảng mắc dịch có thành tích cướp của giết người trong “cải tạo công thương nghiệp (đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới để cướp nhà cướp đất). Nhưng tiếc thay, đánh tư sản lại trở thành tư sản như vậy là “Kách Mệnh” thoái trào. Không gì bằng phải vực cái hồn của Đỗ Mười dậy tiến hành khẩn trương cuộc đánh tư sản lần thứ hai. Tịch thu nhà cửa tài sản hắn, vợ hắn ta xài, con cái hắn ta bắt làm nô lệ. Đó chỉ là bài bản cũ, bổn cũ soạn lại, “nôm na” gọi là dĩ bỉ chi đạo, hoàn thi bỉ thân.

Đảng nầy chỉ có một thành tích muôn đời là tham nhũng đầy ấn tượng thôi.

2* Nằm vùng trong các cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa

Áp dụng chủ trương trèo cao lặn sâu, gián điệp Cộng Sản đã xâm nhập vào nằm vùng ngay tại những cơ quan đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Bắt đầu từ cụm tình báo A-22 tại Dinh Độc Lập gồm có Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy…

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

Tại Nha Cảnh Sát Đô Thành thì có đại úy Triệu Quốc Mạnh mà Dương Văn Minh phong chức Chỉ huy trưởng Nha Cảnh Sát Đô Thành. Người nầy cho những trưởng ty cảnh sát ở các quận đô thành được bỏ nhiệm sở, về nhà lo thu xếp chuyện gia đình, đồng thời hắn lấy lịnh của Tổng Thống Dương Văn Minh, phối hợp với Tư lịnh phó Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia là đại tá Phạm Kim Quy thả tù VC, người đầu tiên là Huỳnh Tấn Mẫm.

Tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH thì có đại tá VC nằm vùng trong văn phòng của Đại tướng Cao Văn Viên, đó là người giữ chìa khoá tủ hồ sơ tối mật, thượng sĩ nhất Nguyễn Văn Minh.

Tại phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo thì có Nguyễn Văn Tá, bí danh Ba Quốc tức là thiếu tướng tình báo VC Đặng Trần Đức. Như vậy, không còn chỗ nào lưu giữ hồ sơ gọi là tối mật của quốc gia cả.

Tại Hạ Viện Quốc Hội VNCH thì có đại tá Đinh Văn Đệ, bí số U-4.

Tóm lại chỗ nào cũng có bọn sâu bọ nằm vùng đánh phá đó cả. Số phận chết yểu của Việt Nam Cộng Hòa là ở chỗ đó. Đại tướng Cao Văn Viên tức mình phải nói: “Tài liệu của Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Tham Mưu Trưởng chưa đọc mà Hà Nội đã đọc hết rồi”

3* Người giữ chìa khoá tủ hồ sơ mật của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

3.1. Người thân tín nhất của Đại tướng Cao Văn Viên là đại tá Việt Cộng

Theo tài liệu Việt Cộng thì người thân tín nhất của Đại tướng Cao Văn Viên là một đại tá Việt Cộng mang bí số H-3. Người nầy được phép ra vào văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng bất cứ lúc nào cũng được, không cần phải xin phép. Người tin cẩn nầy được giữ chìa khoá tủ hồ sơ mật của văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.

Đó là thượng sĩ nhất Nguyễn Văn Minh, thơ ký đánh máy của văn phòng Đại tướng Cao Văn Viên. Nằm vùng suốt 10 năm, từ Nguyễn Hữu Có rồi Đại tướng Cao Văn Viên, đến ngày 30-4-1975 mà vẫn chưa bị lộ. Ba Minh giữ toàn bộ tài liệu mật của Bộ Tổng Tham Mưu gồm hồ sơ hơn một triệu quân của VNCH cùng toàn bộ giấy tờ thuộc văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, không mất một tờ nào, rồi giao lại cho Việt Cộng.

Cho mãi đến năm 2006, CIA Mỹ cũng chưa biết người đó là ai.

Năm 2006, trong một cuộc hội thảo quốc tế về Tình Báo Trong Chiến Tranh Việt Nam, Merle Pribbenow, cựu nhân viên CIA cho biết: “Đúng là phải có một điệp viên Cộng Sản nằm vùng ngay trong lòng Bộ Tổng Tham Mưu. Dường như không phải là một sĩ quan cao cấp, không phải là một tùy viên thân cận Tổng thống Thiệu nhưng chắc chắn là người nầy đã gởi ra Bộ Chính trị Bắc Việt những tin tình báo chiến lược”.

3.2. Phương thức chuyển tài liệu

Thượng sĩ nhất Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1943, học hết tiểu học, cao 1.7 m, nặng 40kg, vợ và có 10 con thường xuyên nghiên cứu và đánh số đề, lương hàng tháng không đủ nuôi gia đình nên Việt Cộng xuất tiền mua một chiếc xe Honda để y chạy xe ôm. Đó là phương tiện chuyển tài liệu mật một cách công khai mà không bị nghi ngờ. Ba Minh là người che giấu thân phận rất kín, luôn luôn đánh số đề và chạy xe ôm.

Đường dây giao liên chung quanh người Việt Cộng nằm vùng nầy gồm cả gia đình, vợ tên Đinh Thị Nữ, em gái tên Nguyễn Thị Nguyệt (H-4), em rể và em trai là Nguyễn Văn Chí, (cảnh sát áo trắng).

Lịch hẹn trao tài liệu ban đầu là 2 tháng một lần, rồi nhồi lên mỗi tháng một lần và thời điểm cao nhất là 5 ngày một lần. Hàng chục giao liên được cử để phục vụ cho đường dây của H-3, Nguyễn Văn Minh, họ phải thề độc là bị bắt, bị đánh ngay cả sắp bị giết cũng không khai H-3.

3.3. Những “tài liệu vàng”

Tài liệu của Việt Cộng cho biết chưa đầy một năm, Ba Minh chuyển ra 90 tài liệu, mỗi bản hàng chục trang giấy pelure viết tay. Những tài liệu quan trọng được gọi là “tài liệu vàng”.

“Tài liệu Ba Minh gởi về rất sớm. Ngay từ tháng hai năm 1974 mà kế hoạch quân sự năm 1975 của Sài Gòn đã nằm trong văn phòng bộ chỉ huy Hà Nội”, một cán bộ cho biết như thế.

Tài liệu vàng gồm có:

- Kế hoạch năm 1974-1975 của Hải Quân VNCH.

- Những thơ của Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự DAO về kế hoạch Mỹ viện trợ cho VNCH. (DAO=Defense Attaché Office).

- Những văn bản mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gởi cho Cao Văn Viên cũng đã qua tay thượng sĩ nhất H-3 Nguyễn Văn Minh nầy. Thậm chí những tài liệu thuộc diện tối mật chỉ có 5 người được đọc cũng được Ba Minh lưu vào tủ hồ sơ mật.

4* Việt Cộng nằm vùng từ Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội đến Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH

4.1. * Sở Nghiên Cứu Chính Trị, Xã Hội và bác sĩ Trần Kim Tuyến

4.1.1. Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xã Hội

Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xã Hội (tiếng Pháp là Service des Études Politiques et Sociales), là cơ quan tình báo, phản gián chiến lược của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập năm 1956, trực thuộc Phủ Tổng Thống. Nhiệm vụ điều tra, thu thập tin tức tình báo chiến lược về mọi mặt. Tổ chức và chỉ huy các hoạt động gián điệp tại Bắc Việt và bảo vệ an ninh nội bộ.

Sở có chi nhánh ở Huế, Vientiane (Lào), Phnom Penh (Campuchia), Bangkok (Thái Lan), Kuala Lumpur (Malaysia) và Singapore.

Bác sĩ Trần Kim Tuyến làm giám đốc sở nầy, ngoài ra còn có những người thân cận của ông Ngô Đình Nhu như Hoàng Ngọc Điệp, Cao Xuân Linh, Nguyễn Văn Chiểu và Nguyễn Duy Bách.

4.1.2. Bác sĩ Trần Kim Tuyến

1). Thân thế

Bác sĩ Trần Kim Tuyến sinh năm 1925 tại Thanh Hoá. Năm 1949 lên Hà Nội ghi tên hai đại học là Trường Luật và Y Khoa. Tốt nghiệp ngành luật năm 1952. Về Y Khoa, đang học thì bị động viên và chuyển sang Trường Quân Y. Tốt nghiệp với cấp bậc trung úy.

Thời gian ở Hà Nội, ông kết bạn với nhóm trí thức trong đó có Ngô Đình Nhu. Ông gia nhập đảng Cần Lao và trở thành người thân tín của Ông Nhu.

Năm 1956 được giao chức vụ Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xã Hội, thực chất là Sở Mật Vụ, còn có tên là Phòng 4, thuộc Phủ Tổng Thống.

2). Trần Kim Tuyến bị thất sủng

Sau cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông, và việc hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc dội bom Dinh Độc Lập mà Sở Mật Vụ không dự đoán được những vụ đó. Trần Kim Tuyến bị thất sủng. Sở Mật Vụ bị giải thể.

Trần Kim Tuyến được cử đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập. Trên đường đi, khi quá cảnh Hongkong, ông xin tỵ nạn chính trị. Lưu vong lần thứ nhất.

Sau vụ đảo cháng 1-11-1963 lật đổ Ngô Đình Diệm, ông trở về Sài Gòn và bị bắt, biệt giam, nhờ đại tá Phạm Ngọc Thảo cứu vớt nên khỏi chết.

Chính quyền mới không trọng dụng vì ông đã có quá khứ liên hệ chặt chẽ với chế độ Ngô Đình Diệm. Ông chuyển sang viết báo với hai bút hiệu là Thảo Lư và Lương Khải Minh. Viết cho tờ Chính Luận và tờ Xây Dựng.

Ngày 30-4-1975, trên đường chạy đến Toà Đại sứ Pháp xin tỵ nạn, ông được một phóng viên làm việc cho tờ báo ngoại quốc (Time) giúp đở phương tiện rời Việt Nam. Lưu vong lần thứ hai. Trớ trêu thay, người đó là tình báo chiến lược Việt Cộng, Phạm Xuân Ẩn.

Trước đó, năm 1963 ông liên hệ với một sĩ quan quân đội âm mưu đảo chánh Ngô Đình Diệm, người đó cũng là tình báo chiến lược của VC, Đại tá Phạm Ngọc Thảo.

Sau khi thoát khỏi Việt Nam ông xin tỵ nạn ở Anh Quốc. Ông mất ngày 23-7-1995. Thọ 70 tuổi.

4.2. Gián điệp Việt Cộng Nguyễn Văn Tá (Ba Quốc) tiếp cận với Trần Kim Tuyến

Trong bối cảnh chuyển giao quyền hành giữa Pháp và Mỹ, Nguyễn Văn Tá, biệt hiệu là “Tá bụt” nắm được tin tức, có một chuyến tàu chuyển vàng lậu về Pháp, tin tức do trưởng Phòng Nhì Pháp là Trần Ginard tiết lộ. Người Việt Cộng nằm vùng nầy liền xử dụng tin tức đó làm quà ra mắt với mục đích “tiếp cận” với trùm mật vụ, bác sĩ Trần Kim Tuyến. Người làm trung gian là Kiều Văn Lân, quản lý nhật báo Tự Do, thân cận với bác sĩ Tuyến.

Ngay lúc đó một chỉ thị mật được ban hành, là biệt phái người kế toán Nha Công An Nam Phần về Ban Công tác Đặc biệt Phủ Tổng thống, đặc trách điệp vụ săn vàng.

“Nào ngờ sự việc mới bắt đầu thì bổng nhiên tôi bị bắt mà không biết lý do gì. Trong phòng giam hai nhân viên của tôi cũng bị bắt, họ ném giấy cho biết: “Bọn em bị tra tấn tàn bạo. Chúng buộc bọn em phải khai là anh cùng bọn em đã nhận lịnh của bác sĩ Tuyến ám sát trung tá Lý Thái Như, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống và trung tá Nguyễn Cao, biệt bộ Phủ Tổng Thống.

Sau khi phân tích và kiểm điểm mọi việc, tôi biết mình là nạn nhân giữa hai phe đàn em của Ngô Đình Nhu và đàn em của Ngô Đình Cẩn. Bác sĩ Tuyến là người của ông Nhu, trung tá Lý Thái Như và trung tá Nguyễn Cao là người thuộc phe Ngô Đình Cẩn.

Tôi quyết định đứng về phía ông Nhu. Khoảng một tuần lễ sau, đại úy Nguyễn Đức Xích vào phòng giam cho biết: “Anh cứ an tâm. Bác sĩ Tuyến bảo tôi phải lo cho anh ra”.

Một tháng sau, trung tá Như bị cách chức, và bác sĩ Tuyến được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xã Hội, thay thế ông Vũ Tiến Huân”.

Từ đó, Ba Quốc trở thành thuộc hạ trung thành của bác sĩ Trần Kim Tuyến.

4.3. Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung và Dương Văn Hiếu

1). Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung

Là cơ quan tình báo, phản gián của Ngô Đình Cẩn do Dương Văn Hiếu chỉ huy và Nguyễn Tư Thái làm phụ tá về hành chánh. Nguyễn Tư Thái có biệt hiệu là Thái Đen, biệt danh là “Đại tá Thanh Tùng”. Thái Trắng là Lê Văn Thái làm việc cho Sở Mật vụ của bác sĩ Trần Kim Tuyến.

Đoàn được thành lập năm 1957 với mục đích là “Cải tạo và xử dụng các cán bộ cựu kháng chiến”. Trụ sở đặt tại Trại Lê Văn Duyệt, gần Biệt Khu Thủ Đô. Đoàn có 8 nhân viên, hai thư ký đánh máy, được coi như trực thuộc Ty Công An Thừa Thiên và thành phố Huế.

“Tôi làm việc gần với ông Nhu hơn. Khi có chuyện hệ trọng Tổng thống Diệm gọi tôi và Dinh. Tôi chỉ gởi bản sao một vài phúc trình cho ông Ngô Đình Cẩn mà thôi”. Trong những ngày cuối cùng trước cuộc đảo chánh 1-11-1963 ông Cẩn đã hiểu lầm tôi làm tôi rất nhức đầu”. Dương Văn Hiếu trả lời phỏng vấn như thế.

Tóm lại ĐCT/ĐB/MT làm việc với ông Ngô Đình Nhu nhiều hơn với ông Cẩn. Sở dĩ gọi ĐCT/ĐB/MT là do thi hành “chính sách” đặc biệt của ông Ngô Đình Cẩn.

Đoàn công tác nầy có những thành công đặc biệt, đã từng bắt giữ những cán bộ tình báo gộc của Việt Cộng như: Mười Hương (tháng 6, 1958), Vũ Ngọc Nhạ (tháng 12, 1958), Lê Hữu Thúy (năm 1959), Nguyễn Văn Nghiệp (1960), đại tá Lê Câu (1961). Lê Câu là chỉ huy quân báo Việt Cộng ở miền Nam. Đoàn nầy cũng theo dõi Phạm Ngọc Thảo và đề nghị tổng thống Diệm lưu ý đến người nầy.

Sau vụ lật đổ tổng thống Diệm đoàn công tác nầy bị giải tán và Dương Văn Hiếu bị điều tra và kết án khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo.

2). Phương pháp thẩm vấn đặc biệt của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung

Dương Văn Hiếu, trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung (ĐCT/ĐB/MT) cho biết:

“Trong các nhà tù không song sắt, công an, mật vụ ăn ở, học tập, chơi và sinh hoạt chung với những cán bộ Việt Cộng sa lưới. Các toán trưởng thu thập những lời khai của các cán bộ VC, nạp cho Ban Cải Tạo.

Khi phát hiện những VC nằm vùng chúng tôi không bắt công khai mà tổ chức bắt bí mật. Giữ kín hoàn toàn các cá nhân đầu hàng hay hợp tác. Đoàn của tôi tạo nên một màng lưới phục kích, bao vây từ những đường dây giao liên và các cơ sở cũ.

Khi bị bắt về, thay vì hỏi cung thông thường, chúng tôi áp dụng biện pháp mạn đàm, trao đổi, tranh luận cởi mở với các đối tượng. Nếu cần, mua chuộc dụ dỗ chuyển hướng.

Đối với những cán bộ VC ngoan cố chúng tôi xử dụng tập thể cải tạo để khuyên nhũ, lôi cuốn hoặc tấn công bằng xa luân chiến, tranh luận áp đảo đối với các thắc mắc và các phản ứng của những người bị bắt. Tuyệt đối không có tra khảo hay chửi bới…

Với phương pháp nầy Đoàn đã phá hai màng lưới tình báo chiến lược và quân báo VC từ Bến Hải đến Sài Gòn”.

Ông Dương Văn Hiếu cho biết, ông đã đưa Trần Quốc Hương (Mười Hương) từ Sài Gòn ra Thuận An để bí mật gặp hai ông Nhu và Cẩn. Chuyến bay đặc biệt do phi công Nguyễn Cao Kỳ lái.

Mười Hương đã giao ước gì với hai ông Nhu và Cẩn tôi không được biết.

Mười Hương đã được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng phóng thích vào tháng 5 năm 1964.

Trần Quốc Hương (tên thật là Nguyễn Ngọc Ban) là ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, người chỉ huy mạng lưới tình báo của Việt Cộng ở miền Nam, là cấp chỉ huy trực tiếp của Vũ Ngọc Nhạ (thiếu tướng tình báo VC), Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo (đại tá), Phạm Xuân Ẩn (thiếu tướng).

“Đại tá Lê Câu (VC) đã giúp tôi khám phá ra Phạm Bá Lương, công cán ủy viên của Bộ trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu. Lương ăn trộm và chuyển hồ sơ mật về kế hoạch kinh tế Staley&Vũ Quốc Thúc. Tôi gài bẫy và bắt Lương khi lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất để đi Thái Lan vì công vụ. Ông Mẫu không hay biết việc nầy”.

3). Dương Văn Hiếu với Phạm Ngọc Thảo

“Trong vai trò phản gián tôì theo dõi Phạm Ngọc Thảo. Thảo trình báo với Tổng thống Diệm là ĐCT/ĐB/MT đã bám sát y. Tôi lưu ý Tổng thống Diệm vì y có bà con làm việc cho Bắc Việt với chức vụ hệ trọng”. Anh ruột là luật sư Gaston Phạm Ngọc Thuần, tập kết ra Bắc, làm đại sứ Cộng Sản Hà Nội (CSHN) tại Đông Đức. Một người anh khác là Phạm Ngọc Hùng, ủy viên chánh phủ Cộng Hoà miền Nam Việt Nam. Vợ Thảo là Phạm Thị Nhiệm, em của Phạm Thiều làm đại sứ CSHN ở một số nước Đông Âu”.

Dương Văn Hiếu cho biết, tướng Đỗ Mậu không ưa ông vì ông đã phát hiện và bắt giữ thiếu úy Lê Hữu Thúy, một điệp viên VC được Đỗ Mậu đặt làm trưởng phòng An Ninh tại Nha An Ninh Quân Đội. ĐCT/ĐB/MT cũng đã bắt Vũ Ngọc Nhạ khi làm công chức tại Bộ Công Chánh. Bộ trưởng Nội Vụ Hà Thúc Ký đã thả Vũ Ngọc Nhạ sau năm 1963.

4). Vài nét về Dương Văn Hiếu.

Dương Văn Hiếu sinh tại Hà Nam trong một gia đình trung lưu. Học trung học Louis Pasteur và Thăng Long. Có bằng Diplôme d’Études primaire supérieures. Sau năm 1954 được tuyển vào làm công an. Năm 1957 giữ chức trưởng ban khai thác Nha Công An Cảnh Sát Trung Phần, rồi làm trưởng ty Công An Thừa Thiên-Huế. Giữa năm 1957 được bổ nhiệm làm Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung.

Sau khi Đệ Nhất Cộng Hoà sụp đổ, bị kết tội chung thân khổ sai, đày đi Côn Đảo.

Năm 1964, Dương Văn Hiếu được phóng thích và làm nghề bán thuốc tây sinh sống.

Đêm 28-4-1975 Dương Văn Hiếu và con trai đầu lòng rời Việt Nam bằng tàu hải quân trên đó có Trung tướng Nguyễn Văn Là, cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia.

Năm 1989 vợ và 8 con của Dương Văn Hiếu được đoàn tụ gia đình ở Hoa Kỳ.

4.2. Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo

Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa (Central Intelligence Office-CIO) là cơ sở tình báo chiến lược trực thuộc Phủ Tổng Thống. Tên giao dịch hành chánh là “Nha Hành Chánh và Nhân Viên Phủ Tổng Thống”. Trụ sở đặt tại số 3 Bến Bạch Đằng, nằm cạnh Nha Quân Pháp và Bộ Tư Lịnh Hải Quân.

Cơ quan nầy được thành lập do sắc lịnh số 109/TTP ngày 5-5-1961 do tổng thống Ngô Đình Diệm ký.

4.2. Hệ thống tổ chức của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo

Phủ Đặc Ủy gồm có những tổ chức như sau:

4.2.1. Cục Tình Báo Quốc Nội

Cục Tình Báo Quốc Nội gồm có:

1). Nha Điệp Báo (Ban K)

2). Nha Phản Gián (Ban U)

3). Nha Chính Trị (Ban Z)

4.2.2. Cục Tình Báo Quốc Ngoại

Cục Tình Báo Quốc Ngoại gồm có các tổ chức:

Phú Xuân (Pháp), Lam Sơn (Anh), Thái Bình Dương (Nhật), Tiền Giang (Thái Lan), Phú Quốc (Campuchia)

4.3. Các Đặc Ủy Trưởng

Theo thời gian: Đại tá Lê Liêm, Đại tá Nguyễn Văn Y, Trung tướng Mai Hữu Xuân, Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, Trung tướng Linh Quang Viên, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình và ông Nguyễn Phát Lộc.

Sau ngày 30-4-1975 phần lớn nhân viên Phủ Đặc Ủy bị kẹt lại ở Việt Nam. Chiều ngày 28-4-1975 tòa Đại Sứ Mỹ yêu cầu tất cả nhân viên tập hợp tại trụ sở số 3 Bến Bạch Đằng để chờ. Sau đó chuyển sang địa điểm số 2 đường Nguyễn Hậu nhưng đến 1 giờ sáng 30-4-1975 thì tất cả liên lạc giữa Tòa Đại Sứ và Phủ Đặc Ủy đều bị cắt.

5* Gián điệp Việt Cộng Đặng Trần Đức

5.1. Tiểu sử Đặng Trần Đức (Nguyễn Văn Tá)

Đặng Trần Đức (1922-2004) sinh tại Thanh Trì, Hà Nội. Bí danh Ba Quốc, Thiếu tướng tình báo, Cục trưởng Cục 12 thuộc Tổng Cục 2, Bộ Quốc Phòng.

Vợ của Ba Quốc tên Ngô Thị Xuân, 3 con: hai trai tên Phong, Vũ và con gái tên Thảo. Ba Quốc còn có một vợ bỏ lại Hà Nội khi di cư.

Năm 1954 Đặng Trần Đức theo đoàn người di cư vào Nam mang tên Nguyễn Văn Tá (Tá bụt). Làm kế toán tại Nha Công An Nam Phần. Từ năm 1963 trở thành phụ tá trung thành của bác sĩ Trần Kim Tuyến.

Sau khi ông Diệm bị lật đổ, nhiều cấp chỉ huy Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội bị điều tra, thẩm vấn, bắt giam, kết án tù hoặc tịch thu tài sản. Ba Quốc bị chuyển sang Ty Sưu Tầm thuộc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Sau đó giáng xuống làm nhân viên thường và bi điều về Sở Giao Tế Dân Sự, một bộ phận chống đảo chánh của Phủ Đặc Ủy TW Tình Báo. Nhờ có quan hệ tốt với trung tá Trần Ngọc Châu, giám đốc Sở, và sau đó vào làm việc tại Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Chết ngày 26-3-2004 tại Quân Y Viện 175, Sài Gòn.

5.2. Hoạt động tình báo

Đặng Trần Đức đánh phá Việt Nam Cộng Hòa bằng những cách: gây chia rẻ giữa Nguyễn Cao Kỳ với Tổng thống Thiệu, giữa các đoàn thể và các dân biểu nghị sĩ chống lại chính quyền. Đánh cắp và chuyển tài liệu mật cho Việt Cộng đồng thời khám phá những cán bộ VC làm nội tuyến cho Việt Nam Cộng Hòa.

1). Xúi giục Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh

Việt Cộng nằm vùng Nguyễn Văn Tá (Ba Quốc) xúi giục Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chánh nhưng không thành công vì ông Kỳ không được Phật giáo ủng hộ do vụ Phật Giáo miền Trung, và do Mỹ không chấp nhận một cuộc đảo chánh.

2). Gây chia rẻ giữa bà Thiệu và bà Trần Thiện Khiêm

Gián điệp nằm vùng Ba Quốc kể lại như sau:

“Qua điều tra tôi biết bà Thiệu và bà Khiêm có mâu thuẩn nhau, tôi xúi giục cháu bà Thiệu là trung úy trẻ Nguyễn Thành Long báo cáo với bà Thiệu là Tướng Nguyễn Khắc Bình trọng dụng người của Trần Thiện Khiêm là Đại tá Nguyễn Phi Phụng, trong kế hoạch sẽ đưa Nguyễn Thành Long lên thay thế Phụng ở chức vụ chỉ huy Phòng Chính Trị (Ban Z).

Kết quả ngoài dự tính là, Đại tá Nguyễn Phi Phụng bị đưa ra khỏi Phủ ĐU/TW/TB, về Tổng Nha Quan Thuế. Người thay thế Phụng là Đại tá Huỳnh Thới Tây.

Riêng Trung úy Nguyễn Thành Long thì bị đổi về Trường Bộ Binh Thủ Đức làm Phó phòng An Ninh Quân Đội. Trung tá Võ Thanh Phong thay thế Long chỉ huy phòng Chính Trị (Ban Z)

Về sau Đại úy Nguyễn Thành Long bị bắn gãy chân trong một vụ nhậu nhẹt ở Sài Gòn.

3). Ba Quốc ăn cắp tin mật của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

Ba Quốc thuật lại: “Biết được sự mâu thuẩn giữa Tướng Nguyễn Khắc Bình và Đại tướng Cao Văn Viên nên không chính thức chia xẻ tin mật, tôi móc nối với trung úy Vũ Văn Mùi, em của bạn thân tôi là trung tá Vũ Văn Nho, Trưởng Phòng 2 Bộ TTM. Mùi thuộc trung tâm trận liệt và lãnh thổ, tin rằng những tin tức đó được cung cấp cho Phủ ĐU/TW/TB.”

Một hôm trung tá Vũ Văn Nho cho biết, ở Bộ TTM có gián điệp VC nằm vùng, Nho nói: “Đại tướng Cao Văn Viên gọi tôi lên văn phòng, đập bàn hét “Tài liệu của Bộ TTM, Tổng Tham Mưu Trưởng chưa đọc mà Hà Nội đã đọc hết rồi”.

Cao Văn Viên nghi thủ phạm là Vũ Văn Nho, nhưng thực ra đó là Vũ Văn Mùi, em của Nho.

Ngày 22-5-1974, đến địa điểm hẹn thường xuyên, tôi được cho biết là người nữ giao liên của tôi bị bắt ở Hồng Ngự.

Ngày 23-5-1974, tôi được lịnh của cấp trên là phải ra căn cứ gấp vì có thể bị lộ. Cấp trên cho biết quy ước bắt liên lạc vào các ngày lẻ là 25, 27, 29.

Tôi đến điểm hẹn là một rạp chiếu bóng ở Mỹ Tho và được giao liên đưa ra căn cứ.

Trước khi ra căn cứ Ba Quốc dặn vợ và các con cứ khai thật tất cả những gì đã làm. Người con thứ hai khai là đã chụp hình các tài liệu và phụ giúp cha trong công việc của Phủ Đặc Ủy.

4). Ba Quốc giải cứu Nguyễn Văn Linh

Ba Quốc thuật lại, do lời khai của tên phản bội Huỳnh Kim Hiệp về hoạt động của 10 thành ủy viên của Đặc Khu ủy Sài Gòn-Gia Định, Ba Quốc được chỉ định theo dõi điều tra. Ngô Đình Nhu ra lịnh cho Phủ Đặc Ủy phối hợp với Nha An Ninh Quân Đội tổ chức truy bắt.

Trước tình thế khó xử, Ba Quốc lập một kế hoạch báo cáo cho An Ninh Quân Đội làm thế nào để y có đủ thì giờ báo động để các ủy viên lẫn trốn trước khi An Ninh QĐ mở cuộc hành quân.

Bí thư Đặc Khu ủy có bí danh là Trịnh Văn Thanh đang làm thợ sửa radio tại tiệm của Nguyễn Văn Ba ở đường Nguyễn Trãi.

Sau nầy đối chiếu lại mới biết Trịnh Văn Thanh là Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh.

5). Khám phá cán bộ Việt Cộng làm việc cho Việt Nam Cộng Hòa

“Tháng 5 năm 1972 cấp trên chỉ thị cho tôi phải lấy cho bằng được hồ sơ của hai cán bộ làm mật vụ cho địch ở hai tỉnh, cần nhất là tên họ và chức vụ”.

Đó là một công tác vô cùng khó khăn, vì tổ chức an ninh ở Phủ ĐU/TW/TB rất chặt chẽ. Làm việc ở ban nào thì chỉ biết trong phạm vi của ban đó mà thôi.

Tôi tìm cách kết thân với người giữ hồ sơ là Nguyễn Đăng Khiêm qua việc hùn hạp trồng trọt ở Long Khánh.

Qua Nguyễn Đăng Khiêm tôi phát hiện ra 2 cán bộ làm việc cho địch, một là bác sĩ dân y của Mặt Trận Giải Phóng tỉnh Quảng Đà, một là tỉnh ủy viên trong đảng bộ Tây Ninh. Danh sách được người giao liên là Nguyễn Văn Thương chuyển đi, nhưng rủi thay là Thương đã bị địch bắt. Cũng may là Thương đã hủy bản tin và nhất quyết không khai, mặc dù đã bị cưa chân 6 lần”.

6). Người giao liên bị cưa chân sáu lần mà vẫn không khai

Nguyễn Văn Thương sinh năm 1938 tại xã Lộc Hưng, quận Trảng Bàng, Tây Ninh. Giữ nhiệm vụ giao liên khu vực Bắc Sài Gòn, gồm Sài Gòn, Bến Cát (Bình Dương).

Tài liệu Việt Cộng cho biết, ngày 10-2-1969, bị máy bay Mỹ phát hiện, hạ thấp xuống định bắt sống nhưng Hai Thuơng đã dùng tiểu liên bắn rơi một chiếc máy bay lên thẳng và diệt được 3 tên lính Mỹ. Ngay sau đó, quân đội Mỹ huy động 72 chiếc máy bay lên thẳng chở toàn bộ Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 5 mới bắt được tên giao liên nầy sau khi bị anh ta bắn hạ 3 trực thăng bằng súng tiểu liên.

Sau nhiều lần mua chuộc bằng đô la, xe hơi, nhà lầu và gái đẹp nhưng vẫn không thu phục được Hai Thương, Mỹ ngụy đập nát hai bàn chân và sau đó họ đã 6 lần cưa sáu khúc xương của hai chân.

Hai tài liệu ngày hôm đó là của Ba Quốc (thiếu tướng Đặng Trần Đức) và của Hai Trung (thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn.

Việt Cộng thường hay “nổ sảng” để thần thánh hóa các điệp viên xuất quỷ hập thần của họ. Những công việc bí mật thuộc về tình báo gián điệp thường không có nhân chứng, nên tự do vẽ rồng vẽ rắn, thêm mắm dậm muối nhưng những điều quá lố không che đậy được người đọc, người nghe.

6* Vụ án Việt Cộng nằm vùng Thái Khắc Chuyên

Vụ án Thái Khắc Chuyên là những diễn tiến chung quanh vụ hạ sát thủ tiêu gián điệp đôi là thông dịch viên người Việt Nam tên Thái Khắc Chuyên, thuộc toán biệt kích B-57 của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ vào tháng sáu năm 1969.

6.1. Lịnh thủ tiêu

Ngày 20-6-1969, lịnh thủ tiêu gián điệp hai mặt Thái Khắc Chuyên được thi hành.

Khoảng 8 giờ tối, đại úy Robert Marasco và những nhân viên của ông thi hành lịnh của chỉ huy trưởng Lực lượng mũ xanh, đại tá Robert B. Rheault, là hạ sát và thủ tiêu Thái Khắc Chuyên.

Binh sĩ Ed Boyle đè giữ Thái Khắc Chuyên nằm duới sàn nhà trong khi Brumley chích mũi morphine thứ hai vào Chuyên. Vài phút sau, Chuyên nhắm nghiền đôi mắt, hơi thở yếu dần và mê mang như một xác chết.

Dán băn keo bịt miệng. Trói hai cườm tay ra sau lưng. Thân thể Chuyên được cuốn tròn trong chiếc poncho, và chi trong vài phút cuộn poncho được đưa lên xe tải chở ra bờ sông.

Hai quân nhân Mỹ khiêng cuộn poncho xuống tàu, trên đó đã có đại úy Robert Marasco và Williams chờ sẵn.

Chiếc tàu vượt qua những con sóng lớn, nhấp nhô hướng ra cửa biển. Bổng nhiên có tiếng rên nho nhỏ từ chiếc poncho, đó là tiếng của Thái Khắc Chuyên sau khi thuốc ngủ đã tan dần.

Brumley vội rút khẩu súng nòng dài có gắn ống hãm thanh, loại súng đặc biệt để trang bị cho nhân viên CIA, số súng không có ghi trong các danh mục vũ khí của quân đội, mà nó được đăng ký ở trung tâm Okinawa. Một phát súng bắn vào đầu Chuyên. Tiếng rên im bặt.

Đến nửa đêm, con tàu ra tới cửa biển, đảo Hòn Tre lù lù hiện ra ở phía xa. Ba người dùng dây xích thật nặng bó chặt chiếc poncho rồi ném xuống biển.

Tưởng đâu việc thủ tiêu gián điệp hai mang nầy là kết thúc câu chuyện nhưng không ngờ nó lại bắt đầu một vụ án mà tạp chí Time gọi là “vụ bê bối tình báo nghiêm trọng chỉ đứng sau vụ Mỹ Lai mà thôi”.

6.2. Thái Khắc Chuyên và trung sĩ Alvin P. Smith

Ngày 15-10-1968, trung sĩ Alvin P. Smith, mật danh là Peter Sands, được cử đến toán biệt kích Mỹ B-57, căn cứ tại Mộc Hóa, Kiến Tường. Một tuần lễ sau, Thái Khắc Chuyên, 31 tuổi nguyên quán ở miền Bắc Việt Nam, đến Mộc Hóa nạp đơn xin làm thông dịch viên. Alvin Smith tuyển dụng anh ta dưới số nhân viên SF7-166. Từ đó, hai người trở thành bạn thân với nhau.

6.3. B-57 và Dự án Gamma

Tháng giêng năm 1969, đại úy Robert Marasco, mật danh là Mike Martin, được cử đến Mộc Hóa chỉ huy toán biệt kích B-57 để thực hiện một công tác bí mật có tên là Dự án Gamma. Mục đích là trinh sát thu thập tin tức tình báo về hoạt động của Cục R, đầu não của tổ chức Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam. Cục R nằm ở vùng Mỏ Vẹt bên lãnh thổ Campuchia.

Công tác trinh sát thường xuyên vượt qua biên giới xâm nhập lãnh thổ nước nầy.

6.4. Sự mất tích của những cộng tác viên của toán B-57

Cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1969, số người Việt Nam cộng tác với toán biệt kích B-57, bổng nhiên mất liên lạc, không có những báo cáo như trước kia.

Một số nghi vấn được đặt ra, không loại bỏ có Việt Cộng nằm vùng trong toán biệt kích.

Đại úy Bob Marasco gặp khó khăn trong việc sưu tra lý lịch của Thái Khắc Chuyên, anh ta nói tiếng Anh rất thông thạo nhưng không phục vụ với một cơ quan nào trước đó cả.

6.5. Báo cáo của trung sĩ McIntosh

Trung sĩ Terry McIntosh chỉ huy một toán mũ xanh gồm 12 người đi phục kích, Thái Khắc Chuyên có mặt trong toán đó. Khi chạm địch, giao tranh dữ dội xảy ra nhưng Chuyên cứ loay quay với khẩu súng mà không bắn ra viên đạn nào cả. Máy truyền tin bị trục trặc nên không gọi pháo binh yểm trợ được. Phải vất vả lắm toán biệt kích mới thoát ra khỏi tầm đạn của địch.

Sáng hôm sau, kiểm tra lại thì thấy máy truyền tin bị ai đó bật qua kênh khác, sai tần số nên không hoạt động. Chuyên cho biết là súng của anh bị kẹt đạn nên không bắn trả lại được.

Một vài tuần sau đó, trong một cuốn phim tịch thu được của Việt Công ở bên biên giới Campuchia, thấy hình ảnh của Thái Khắc Chuyên hội họp với các sĩ quan Việt Cộng. Bạn thân của Chuyên là trung sĩ Alvin Smith xác nhận hình ảnh đó đúng là của Chuyên.

Thế là Chuyên bị bắt giữ để thẩm vấn suốt 10 ngày. Chuyên không vượt qua được máy phát hiện nói dối (Polygraph) nhưng anh ta không công nhận hoạt động cho Việt Cộng, kể cả việc tiếp xúc với một nữ giao liên ở Mộc Hóa mà anh thường xuyên tiếp xúc, đã bị theo dõi.

B-57 liên lạc với văn phòng CIA Sài Gòn để xin ý kiến xem nên giải quyết vụ việc như thế nào. CIA im lặng. Thêm một công điện mật và khẩn, nhưng CIA trả lời lập lờ.

Cuối cùng đại tá Robert B. Rheault, tư lịnh Lực lượng Đặc biệt ở Việt Nam ra lịnh hạ sát và thủ tiêu đương sự.

Ngày 20-6-1969 Thái Khắc Chuyên bị giết, ném thây xuống Biển Đông.

Sau khi thủ tiêu Thái Khắc Chuyên lực lượng mũ xanh dàn dựng một câu chuyện để giải thích lý do mất tích của Chuyên. Đó là Chuyên được cử đi thực hiện một công tác bí mật bên biên giới Campuchia để kiểm chứng lòng trung thành của Chuyên sau vụ điều tra 10 ngày.

6.6. Nổ bùng vụ án Thái Khắc Chuyên

Trung sĩ Alvin P. Smith là người tuyển dụng Chuyên, cũng là bạn thân của Chuyên và là người duy nhất phản đối việc hạ sát Chuyên.

Khi thấy Chuyên bị thủ tiêu, Smith lo sợ cho số phận của anh ta, có thể giống như Chuyên, giết người diệt khẩu.

Smith liền chạy đến văn phòng CIA Nha Trang tố cáo hành động giết người và xin được tỵ nạn. CIA Nha Trang báo cáo về CIA Sài Gòn và vụ việc được báo cáo lại cho tướng Creighton Abrams Jr. Tướng Abrams gọi đại tá Rheault về trình diện. Rheault trình bày với các viên chức cao cấp trong MACV, cho biết Thái Khắc Chuyên được cử đi công tác bên biên giới Campuchia không thầy trở về.

Tướng Abrams nổi giận vì bị đại tá Rheault nói dối để gạt ông ta, ông ra lịnh bắt điều tra những người liên hệ.

Đại tá Rheault, đại úy Ramasco và 6 quân nhân khác bị bắt để điều tra, và bị kết tội giết người và đồng lõa giết người. Tám người bị đưa về giam ở căn cứ Long Bình ngày 21-7-1969.

6.7. Xếp lại vụ án

Luật sư của các bị cáo đòi tướng Abrams và những lãnh đạo CIA ra trước tòa làm nhân chứng. Những người nầy từ chối ra tòa.

Theo chỉ thị của Toà Bạch Ốc (Tổng thống Nixon), Bộ trưởng Lục quân Mỹ, Stanley Reson, tuyên bố bãi bỏ vụ truy tố vì lý do an ninh quốc gia. Đó là các toán biệt kích B-57 hoạt động tình báo bên trong lãnh thổ Campuchia, vi phạm luật quốc tế và lộ bí mật quân sự.

Đại úy Marasco cho biết, ông là quân nhân thi hành mệnh lịnh của cấp trên nên không chịu trách nhiệm. Việc truy tố được bãi bỏ, tất cả các bị cáo được tự do.

Riêng đại tá chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Biệt ở Việt Nam, Robert B. Rheault bị buộc phải nghỉ hưu. Ông từ trần ngày 16-10-2013 tại nhà riêng thuộc Owls Head, bang Maine hưởng thọ 87 tuổi.

Dự án Gamma ngưng hoạt động sau đó, ngày 31-3-1970.

6.8. Liên Xô phát động chiến dịch tuyên truyền ầm ĩ

Vụ án Thái Khắc Chuyên nổ ra bị cho là “bê bối tình báo chỉ đứng sau vụ Mỹ Lai mà thôi”, tạp chí Time nhận định như thế.

Liên Xô lợi dụng sự việc nầy phát động chiến dịch tuyên truyền rầm rộ. Đài phát thanh Moscow, Hà Nội và báo chí Cộng Sản tố cáo lực lượng mũ xanh Hoa Kỳ là những kẻ suy thoái tâm thần, bản chất cướp bóc, phá hủy, chà đạp phần còn lại của thế giới loài người tiến bộ. Tố cáo lính mũ xanh giết nông dân, không thương xót, không buông tha phụ nữ, người già và trẻ em Việt Nam.

7* Kết luận

Việt Cộng nằm vùng thời nào cũng có, ở đâu cũng có. Thời nay, ở nước ngoài cũng không vắng bóng cái đám lăng nhăng lố nhố đó.

Số phận của người dân nước Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam bị mất tự do, dân chủ, mất nước cũng do cái bọn sâu bọ nầy. Tệ nhất là quý vị trở cờ, quý vị háo danh, ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản sẵn sàng chịu nhục để bợ đít Việt Cộng, đau nhất là khi không còn lợi dụng được nữa thì bị “vắt chanh bỏ vỏ”. Quý vị trí thức “vịt kiều yêu quái” gồm các luật sư, giáo sư đại học, đại tá, trung tá trở cờ, lén lén lút lút, thập thập thò thò nâng bi Cộng Sản. Bề ngoài được ca ngợi yêu nước nhưng bên trong khinh vì bản chất phản bội.

Những bộ mặt nham nhở đó đã bị nhận diện, cô lập, tẩy chay…

Trúc Giang

Nguồn: https://vietbao.com/a219453/vc-nam-vung-trong-van-phong-tong-tham-muu-truong-va-phu-dac-uy-trung-uong-tinh-bao-viet-nam-cong-hoa