(Chính trị)
- Trước những bất cập về Quản lý đô thị ở nước ta hiện nay, đặc biệt là
Thủ đô Hà Nội. Ban biên tập xin gửi đến bạn đọc bài viết đáng suy ngẫm
về một ý tưởng táo bạo làm thay đổi vận nước nếu được thực hiện thành
công.
Chuyển Thủ đô vào Đà Nẵng?
PHẦN 1 – LẬP LUẬN
Hà Nội ngày nay
Không kể những cơ quan ban ngành của Thành phố, Hà Nội
ngày nay còn mang trong nó các cơ quan Đảng, Đoàn Trung ương. Các cơ
quan thuộc Nhà nước, Chính phủ. Một số lượng lớn các bộ ban ngành, cùng
vô số các trường đại học, cao đẳng và bệnh viện lớn.
Tỷ lệ thuận với đó là người người từ khắp
nơi đổ về đây công tác, hội họp, học tập, chữa bệnh, hành nghề, kiếm
việc làm v.v. Điều đó khiến cho dân số Hà Nội tăng nhanh theo từng năm.
Hà Nội trở nên đông đúc, ngột ngạt, môi trường cũng như sông ngòi ở đây
bị ô nhiễm nặng nề. Cơ sở hạ tầng luôn gặp phải vấn đề về quá tải như:
Giao thông, điện, cấp và thoát nước v.v. Công tác quản lý không theo kịp
và mất phương hướng.
Trước thực trạng như vậy, cực chẳng đã,
ngày 29/5/2008 vượt qua mọi phản ứng của nhân dân cả nước, Quốc hội đã
nhanh chóng thông qua một nghị quyết, cho phép Hà Nội được mở rộng thêm
bao trùm toàn bộ tỉnh Hà Tây, một phần tỉnh Hòa Bình và Vĩnh Phúc. Để Hà
Nội có quỹ đất giãn dân ở những nơi có mật độ cao, di chuyển một số cơ
quan, trường học, bệnh viện ra khỏi nội thành.
Với quyết định đó, Hà Nội có thêm gần
1000km2 đất mới, cộng với cũ, Hà Nội trở thành Thủ đô thuộc nhóm 17
thành phố và thủ đô lớn nhất Thế giới có diện tích trên ba nghìn cây số
vuông.
Để đề án mở rộng Hà Nội thành hiện thực,
một lượng lớn đất nông nghiệp màu mỡ của đồng bằng sông Hồng sẽ phải dần
mất đi. Cùng với đó là sự ngơ ngác của hàng vạn lao động nông nghiệp.
Nhưng cũng đành vậy! Đó chắc là suy nghĩ, tình cảm của hầu hết những
người dân nông nghiệp dành cho Thủ đô, với một hy vọng, Hà Nội sẽ thoát
ra được tình cảnh hiện nay, đủ sức đáp ứng cho nhu cầu ăn ở, sinh hoạt
của hơn sáu triệu con người hiện tại và chín đến mười triệu trong tương
lai.
Nhưng đến nay đã gần bốn năm trôi qua, kể
từ cái ngày ra quyết định mở rộng, ngoài một vài cơ quan như Bộ Công
an, Bộ Nội vụ… Còn lại hầu hết vẫn an tọa trong nội thành, chẳng chuyển
biến gì nhiều. Hà Nội vẫn vậy, ngột ngạt, ô nhiễm, ách tắc…Trên những
thửa ruộng đã được sáp nhập vào Hà Nội, đâu đâu cũng thấy những khuôn
mặt quen thuộc hiện ra như: Vinaconex, Handico, SongĐa, Hud vân vân và
vân vân. Với những tòa nhà chung cư các cấp, những dãy nhà phân lô như
được đúc từ một khuôn nằm san sát nhau không người ở. Những khu đất
rộng, trước là ruộng màu mỡ nay để cỏ mọc, được bao quanh cẩn thận bằng
dây thép gai và hàng rào sắt, như những bức trường thành bất khả xâm
phạm. Cứ đà này, có lẽ chẳng bao lâu nữa, người nông dân sẽ nhận ra
rằng, sự hy sinh của họ chỉ là vô nghĩa.
Về diện mạo kiến trúc, đã là Thủ đô của
một nước thì phải xứng tầm không chỉ trong nước mà còn phải ngang tầm
khu vực và Thế giới. Nhưng Thủ đô ngày nay lại có bộ mặt kiến trúc rất
lộn xộn, chắp vá.
Ở phía Đông Bắc là khu phố cổ được xây
dựng cách nay hơn một thế kỷ, nơi đây đã từng là khu trung tâm sầm uất
và đẹp nhất Hà Nội, nhưng do thời gian và không được tu bổ đúng mức nên
đang xuống cấp nhiều.
Phía Đông Nam. Đây là khu vực được xây
dựng sau ngày giải phóng, gồm nhiều khối nhà tập thể cao từ 5 đến 6
tầng. Được lắp ghép bằng những tấm bê tông đúc sẵn khổ lớn, có hình dạng
giống nhau. Những khối nhà này xây lên để tạo chỗ ở cho tầng lớp cán bộ
công nhân viên ngày đó. Do được xây dựng bằng một kỹ thuật không phù
hợp với điều kiện khí hậu, cộng với sự cơi nới trong quá trình sử dụng,
khiến những tòa nhà này đang bị liệt vào dạng “xuống cấp nguy hiểm”.
Phía Tây Nam Hà Nội. Có thể nói, đây là
khu vực phát triển sôi động nhất hiện nay, với nhiều tòa nhà cao từ mười
đến hơn ba mươi tầng. Cao nhất có thể kể là tòa nhà Keangnam, với 72
tầng. Nhưng do quy hoạch vội vàng, thiếu đồng bộ, nên khu vực này rất
hiếm những không gian dành cho cộng đồng như: Quảng trường, công viên,
cây xanh, mặt nước v.v.
Còn lại là Tây Bắc. Đây là dải đất phía
Bắc huyện Từ Liêm, nằm bên con đê sông Hồng. Nơi này còn chậm phát
triển, kiến trúc chủ yếu vẫn mang dáng dấp thôn xóm.
Xen kẽ với bốn dạng kiến trúc đặc trưng
nêu trên, còn một kiểu kiến trúc nữa không thể không nói tới đó là kiến
trúc nhà ống. Đây là kiểu kiến trúc hoàn toàn do dân tự thiết kế xây
dựng. Nó có mặt khắp mọi nơi. Dài, rộng, cao, thấp, thò, thụt đủ cả. Hơn
nữa, trong số này còn có nhiều nhà mang hình dáng kỳ quặc như: Siêu
nhỏ, siêu mỏng, siêu méo.
Với diện mạo đó, cùng những yếu kém của
cơ sở hạ tầng, Hà Nội thường chỉ nhận được những lời khen xã giao. Còn
lại, không gì hơn ngoài sự thất vọng trong lòng bạn bè quốc tế về một
thành phố nghìn năm tuổi.
Trách nhiệm: Là một nước có cấu trúc bởi
ba thành phần chính gồm: Đồng bằng – Núi rừng – Biển. Nhưng phần lớn
diện tích Thủ đô bao gồm cả mở rộng đều nằm gọn trong vùng đồng bằng, xa
núi rừng, xa biển. Có lẽ vì thế mà người Thủ đô cũng như các thế hệ
lãnh đạo ở đây bị mất cân bằng trong trách nhiệm với đất nước.
Với núi rừng, ngoài việc để cạn kiệt
nguồn tài nguyên do nạn đào đãi trái phép, cũng như để lâm tặc chặt phá
thì đời sống của người dân nơi đây cũng rất cơ cực. Cứ nhìn hình ảnh
những em bé ăn mặc rách rưới, ngồi học trong những lớp làm bằng tre nứa
lá trống tuềnh trống toàng, dưới những cơn gió lạnh mùa Đông là thấy
ngay. Trong khi ở Hà Nội, rất nhiều biệt thự được xây lên với những chi
phí tốn kém rồi bỏ hoang.
Với biển cũng tình trạng như vậy. Là dân
của một nước có biển chạy dọc theo chiều dài đất nước, nhưng thật lạ kỳ,
người Thủ đô rất ít khi nói về biển, thậm chí e ngại. Người ta chỉ nhớ
đến biển khi mùa hè đến, nhiệt độ tăng cao, nóng nực khó chịu, họ muốn
ra đó nghỉ ngơi cho mát. Rồi khi đã thỏa mãn, họ lại quay trở về Thủ đô
với những lo toan cho bất động sản, chứng khoán v.v.
Cảm nhận: Không kể những du khách nước
ngoài đến Việt Nam với mục đích du lịch, còn thì các chính khách đến vì
chuyện công cán đều không thể cảm nhận được đâu là hơi thở của một quốc
gia biển. Bởi sau khi đáp máy bay xuống Nội Bài, bên tận Sóc Sơn, họ
được hộ tống đi trên những con đường vòng vèo, đông đúc, bụi bặm để vào
trung tâm chính trị Ba Đình. Sau một hoặc vài ngày được đón tiếp và làm
việc ở đây, họ lại được hộ tống đi trên những con đường đầy bất tiện đó
để ra sân bay về nước. Kết thúc chuyến thăm một quốc gia biển.
Đại La – Sự lựa chọn nghìn năm
Trước thời khắc lịch sử của mùa Thu năm
Canh Tuất 1010, khi nước Việt còn nằm dưới sự đô hộ của phương Bắc, dưới
cái tên Giao Châu, Đại La đã được chọn làm trung tâm cho vùng đất này.
Với tư tưởng của kẻ xâm lược, nhiều thế hệ cai trị nhà Đường đã chọn nơi
đây lập thủ phủ đô hộ, để thuận tiện cho việc cai trị và vơ vét.
Sau khi lên ngôi (1009), với ý chí dựng nghiệp, mong cho nước nhà phồn thịnh, vua Lý Thái Tổ
(Người xưa – Ông Cha) đã suy tính tới việc tìm một nơi tốt hơn Hoa Lư
để lập kinh đô mới. Đây chính là tiền đề cho việc ra đời Chiếu dời đô.
Có một điểm rất sáng được thể hiện trong
Chiếu là vua Lý Thái Tổ không ban Chiếu bằng ý chí tuyệt đối của một bậc
quân vương trị quốc, mà đã hỏi ý kiến các triều thần. Đây chính là ánh
sáng xuyên suốt nghìn năm sau đó của Chiếu dời đô. Và sau khi được ban
hành, Kinh đô nước Đại Cồ Việt được chuyển từ Hoa Lư về Đại La.
Đây là một vùng đất được đánh giá là:
Cao, rộng, phẳng, màu mỡ nằm gọn trong vùng đồng bằng sông Hồng, nơi tập
trung đông dân cư, có nền sản xuất nông nghiệp phát triển, điều kiện đi
lại giữa các vùng thuận tiện. Nhìn vào Đại Cồ Việt khi đó, vùng đất này
nằm ở vị trí trung tâm (“chính giữa Nam Bắc Đông Tây”). Nơi
đây còn được bao bọc bởi nhiều dãy núi đồi hiểm trở, biển lại xa ở phía
Đông, nên được cho là có địa thế trọng yếu, tốt cho việc phòng thủ.
Theo đánh giá của các nhà sử học nhiều
đời sau và đã được ghi chép lại thì có thể nói: Quyết định chọn Đại La
để dựng nghiệp của vua Lý Thái Tổ cũng như triều đình nhà Hậu Lý là vô
cùng anh minh, thượng sách.
Chiếu dời đô xưa và tiêu chí mới cho thủ đô hôm nay
Vậy tiêu chí cho thủ đô hôm nay là gì? Và có cần sự xuất hiện của một đấng anh minh như vua Lý Thái Tổ hay không?
- Xin thưa ngay là không! Vì tất cả đã có
sẵn. Đó chính là ý chí, là kinh nghiệm tinh hoa của ngàn đời đã được
đúc kết. Là lời răn, lời dạy của bậc Vua anh minh truyền lại cho hậu thế
trong việc định đô, dựng nghiệp. Và đã được thể hiện rất rõ ngay trong
Chiếu dời đô xưa. Con cháu ngày nay chỉ cần mang ra, phân tích một chút
là có ngay lời giải cho thủ đô hôm nay.
CHIẾU DỜI ĐÔ (Lý Thái Tổ).
“Xưa nhà Thương đến đời Bàn
Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải
các vua thời Tam Đại, ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để
mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên
kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên
vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo
ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ
chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi,
trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không
dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ
của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục,
chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt
đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp
trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt
đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là
nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”
(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).
Qua nội dung của Chiếu dời đô, ta thấy
nổi lên hai ý chính, nằm trong hai đoạn văn “chỉ”, làm tiêu chí quan
trọng cho việc lựa chọn của Người xưa.
Trích lược:
Ở đoạn văn chỉ thứ nhất là: “Chọn ở chỗ giữa”.
Tiêu chí này còn được trình bày lại rõ hơn một lần nữa ở đầu đoạn văn chỉ thứ hai là: “Chính giữa Nam Bắc Đông Tây”.
Theo học thuyết của phương Đông, cũng như của người Việt thì vị trí “trung tâm”
luôn được đề cao vì đây là nơi giao hòa của đất trời, vạn vật. Là nơi
tích tụ tinh hoa, quan yếu bốn phương hội tụ. Vậy nên, đây là một kinh
nghiệm không thể bỏ, cần phải được tiếp tục áp dụng cho đời nay.
Địa thế của đất nước ngày nay không còn
như Đại Cồ Việt khi xưa, chỉ dài từ biên giới phía Bắc xuống đến Hà Tĩnh
(Hoan Châu), nên Đại La mới ở vị trí (“chỗ giữa – chính giữa Nam Bắc Đông Tây”).
Đất nước ngày nay đã kéo dài tới tận cực
Nam của bán đảo Đông Dương, đó là nhờ công mở mang bờ cõi của nhiều thế
hệ cha ông. Thế nên, nếu mang kinh nghiệm: “Chọn ở chỗ giữa”
đế xác định vị trí thì thế này: lấy Hà Nội làm điểm tâm, quay một vòng
tròn có bán kính tới điểm cực Bắc của đất nước, ta sẽ thấy một kết quả
là: Hà nội ngày nay không còn nằm ở vị trí “chỗ giữa” của đất nước, do lệch Bắc quá nhiều.
Tiếp tục với: “Chính giữa Nam Bắc Đông T ây”.
Như đã nêu, đất nước Việt Nam có cấu trúc điển hình gồm ba thành phần
chính là: Đồng bằng – Núi rừng – Biển. Để cho công tác quản lý không bị
mất cân bằng và cũng là để dẹp bớt đi cái tư tưởng “đồng bằng” trong tư
duy lãnh đạo thì thủ đô ngày nay phải hội tụ cho đủ ba yếu tố trên là: Có núi rừng; Có đồng bằng; Có biển.
Phải nói như vậy vì biển của ta bây giờ
rất dài và rất rộng, vòng xuống tới tận cửa Vịnh Thái Lan, biển không
còn nhỏ hẹp như thời vua Lý, chỉ là phần nhỏ trong Vịnh Bắc Bộ, nên
trách nhiệm giờ cũng phải rộng lớn, sát thực hơn thì mới phù hợp. Vẫn
biết ngoài đó luôn có “cá Kình, sóng dữ”, nhưng không vì thế mà cứ mãi ngồi đây “tựa núi” rồi mơ màng về biển.
“Đông”! Ở phía Đông đất nước mặc định đã là biển. “Tây”! Ở phía Tây hầu hết là núi rừng. Vì thế, tiêu chí để lựa chọn nếu cần phải viết ra sẽ là thế này:
- Rừng – Biển – Bắc – Nam, ở giữa đất trời, bốn phương tụ hội.
Như vậy, càng tiếp tục phân tích ở ý
chính thứ nhất, càng thấy Thủ đô hiện giờ không hội tụ được những yếu tố
để phù hợp với tiêu chí xưa và nay.
Tìm hiểu và phân tích sang ý chính thứ hai, trong đoạn văn chỉ thứ hai là: “Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng”.
Cụ thể, vị trí được chọn ở đây là một vùng đồng bằng sông Hồng rộng lớn.
Khác với Đại Cồ Việt ngày trước, đất nước
ngày nay đang phải đối mặt với những nguy cơ như: Dân số tăng cao,
ruộng đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp, một số bị bạc màu, thiếu đói
vẫn thường xảy ra. Cả nước chỉ trông cậy vào hai nguồn cung cấp lương
thực chính là: Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi
ở phía Nam, ĐBS Cửu Long đang phải đối mặt với nguy cơ mất ổn định do
dòng chảy sông MêKông bị con người can thiệp thì ở phía Bắc, ĐBS Hồng
cũng đang bất lực nhìn…bê tông, dây thép gai và cỏ dại xâm lấn.
Cứ bình tâm mà nghĩ xem, trong khi Nhà nước đang ra sức dùng mọi biện pháp để kéo giảm mức tăng dân số,
nhằm ứng phó với tình hình thiếu đất nông nghiệp thì nhiều tỉnh thành
lại liên tục lấy đất nông nghiệp để phát triển quỹ đất cho xây dựng. Đây
có phải là một nguy cơ hay không !?
Chính vì vậy, kinh nghiệm của Người xưa chọn: “Vùng…đất rộng mà bằng phẳng” (nơi đang là vựa lúa của miền Bắc) để định đô, nhất quyết không được lấy làm tiêu chí cho hôm nay.
Vùng đất phù hợp để được chọn làm thủ đô
hôm nay và cả mai sau phải là vùng đất không lớn, có diện tích đất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ thấp. Như thế, mới mong làm gương cho cả nước trong
việc gìn giữ đất nông nghiệp, để phục vụ cho an sinh muôn đời. Vì thế,
tiêu chí thứ hai nay phải khác là:
- Tuy hẹp mà “rộng”, cho muôn đời sau.
(cái rộng ở đây là cái rộng về trách nhiệm đối với nền nông nghiệp của nước nhà).
Và với tiêu chí mới này, Hà Nội ngày nay càng không thể phù hợp được nữa.
Trên đây là hai ý chính nói về kinh
nghiệm của Người xưa trong việc lựa chọn vị trí để định đô. Và đây cũng
là cơ sở để đánh giá, phân tích tìm ra cái cần giữ nguyên, cái phải thay
đổi cho phù hợp với điều kiện của đất nước hôm nay.
Ngoài những ý chính có tính “phong thủy”,
còn một nét nữa mang đậm chất “tâm linh”. Đó là, nhằm nêu bật vai trò
trọng yếu của địa thế Đại La, vua Lý Thái Tổ đã gắn vào trong Chiếu hình
tượng: “Rồng chầu hổ phục”.
Nói gì thì nói, yếu tố tâm linh chưa bao
giờ bị coi nhẹ trong tâm thức người Việt. Vì thế, đây là một yếu tố cần
phải được phân tích cho vấn đề của hôm nay.
Vì là hình tượng tâm linh, nên trên thực tế, khó có thể cùng chung nhận định đâu là “rồng chầu”, đâu là “hổ phục” ở mảnh đất này. Bởi vậy, chỉ có thể phân tích theo hướng tâm linh.
Từ xa xưa, hình tượng: “Rồng chầu Mặt Nguyệt”; “Rồng chầu Mặt Nhật” hay gọi chung là: “Rồng Chầu Nhật Nguyệt” đã được phổ biến trong dân gian. Còn một hình tượng nữa ít được phổ biến hơn là: “Lưỡng long triều châu” hay khác là: “Lưỡng long tranh châu”.
Ở hình tượng ít được phổ biến này, đã có nhiều lý giải của các nhà
chuyên môn, song tất cả đều chưa đứng vững. Bởi một lẽ, rồng là con vật
linh thiêng, là sự hiện thân và mang khát vọng của muôn loài mà con
người có thể tưởng tượng ra được, nên không thể có chuyện rồng chầu (triều) hay tranh nhau một cái hột gọi là “Minh Châu”. Cho dù vật báu đó có giá trị, có đẹp đến mấy cũng không thể khiến rồng phải chầu phục.
Thế nên, ở đây phải phân tích thế này: Khi xưa, hình ảnh “Lưỡng long triều châu” thường chỉ xuất hiện nơi vương triều.
Nó ở trên vương trượng, trên mũ (miện) của vua chúa… Ở mũ là hình ảnh hai con rồng thêu chầu vào giữa, nơi có đính viên châu (hồng ngọc)
báu vật của triều đình. Xung quanh báu vật này được thêu đài lửa. Như
vậy, màu đỏ của ngọc và những ngọn lửa bao quanh là tượng trưng cho Mặt
Trời. Báu vật được gắn ở đây còn có thể là ngọc lục bảo hoặc ngọc trai.
Màu xanh của ngọc lục bảo tượng trưng cho màu xanh của sự sống trên Trái
Đất, còn ngọc trai là tượng trưng cho Mặt Nguyệt. Hình ảnh này thường
gắn với các bậc vương tôn, công chúa. Như vậy, hình ảnh “Lưỡng long triều châu” hay “Lưỡng long tranh châu” cũng chỉ mang ý nghĩa là: “Rồng chầu Nhật Nguyệt” mà thôi.
Vậy tại sao trong dân gian luôn phổ biến hình tượng rồng chầu? Câu trả lời sẽ là thế này, họ cho rằng đó là những:
- Trung tâm của sức mạnh vũ trụ – Nơi mang đến ngày và đêm cùng nhiệt lượng ấm áp để sự sống được duy trì.
- Trung tâm của sự sống – Nơi cung cấp điều kiện và nguồn sống cho muôn loài, vạn vật.
- Trung tâm của khu vực đất trời – Nơi tụ hội quan yếu bốn phương, tích tụ tinh hoa từ tám hướng và tỏa sáng .
- Trung tâm của quyền lực – Nơi định đoạt vận mệnh thời cuộc.
- Trung tâm của tôn giáo tín ngưỡng – Nơi ban phát niềm tin và đức hạnh cho trần gian.
Sự hiện diện của rồng (chầu) ở
những nơi như trên không phải để phô trương quyền uy hay sức mạnh gì của
rồng cả, bởi ra oai với những nơi này thì có nghĩa gì đâu? Nghĩa của
chữ: “chầu” cũng không cho ta cách lý giải nào khác. Mà ở đây
là để đại diện cho muôn loài, thể hiện khát vọng sinh tồn, cùng với
những điều tốt lành cho trần gian. Rồi cũng từ đó nhận được sự ban phát,
giúp cho sự sống của muôn loài được tiếp diễn, sinh sôi và nảy nở. Và
cũng để thay mặt cho muôn loài, bày tỏ sự hàm ơn đối với những nơi này.
Phải hiểu như vậy vì người xưa tin rằng,
sự sống sẽ chấm dứt hoặc trở nên tăm tối nếu như những sự [ban - nhận]
này không được diễn ra.
Lan man như vậy là đủ. Nói tóm lại ở đây,
nơi địa thế khiến rồng và hổ phải chầu phục nơi đó phải là vị trí trung
tâm của đất trời nước Việt.
Hà Nội ngày nay trên thực tế địa lý đã xác định, không còn nằm ở vị trí trung tâm (“ở chỗ giữa – chính giữa Nam Bắc Đông Tây”) của đất nước. Vậy có ai dám chắc, cả rồng cả hổ còn đang chầu phục ở nơi đây!?
Sẽ có ý kiến cho rằng, việc chọn địa thế
cho thủ đô còn phải dựa vào vị trí có yếu tố phòng thủ, nhằm đảm bảo an
toàn cho Bộ máy lãnh đạo trong mọi tình huống. Về điều này, cũng xin
được nói ngay, đây là toan tính hoàn toàn chính đáng. Hơn nữa là, ở vào
thời đại ngày nay, khi mà khoa học quân sự đã phát triển vượt bậc thì
đúng là càng phải tính. Nhưng tính là tính trên bình diện chiến lược của
đất nước, chứ không đơn thuần chỉ lo cho sự an nguy của cá nhân hay tổ
chức nào cả.
Bởi suy cho cùng, thủ đô không phải là nơi để cho các nhà lãnh đạo “yếu bóng vía”
ẩn náu. Lãnh đạo ngày nay phải là những con người đầy bản lĩnh, hiên
ngang, luôn lấy sự an nguy của đất nước làm trọng. Là người lãnh đạo,
phải chuyên tâm chăm lo cho dân thay vì chỉ tính đường thoát thân thuận
tiện. Phải có đủ trí tuệ, lòng nhiệt huyết. Phải biết sắp xếp các giá
trị, các lợi ích cho đúng với trật tự, đúng với vị trí của nó. Với những
phẩm chất như vậy, lãnh đạo đất nước đâu còn phải lo cho sự an nguy của
mình? Bởi khi đó “Trăm họ” sẽ xả thân ra mà bảo vệ, như bày ong bảo vệ
chúa. Thế nên lãnh đạo ngày nay phải luôn hiểu rằng, chỉ có dân mới là
thành trì vững chắc nhất dành cho họ.
Với lại, Hà Nội cũng không phải là thành
trì bất khả xâm phạm. Lịch sử đã chứng minh, Thăng Long luôn dễ dàng bị
thất thủ khi có lực lượng tiến đánh như trận: 1873, 1882. Ngay cả quân
xâm lược Mãn Thanh thế kỷ trước đó, với hàng vạn quân tinh nhuệ chiếm
đóng ở đây, cũng dễ dàng bị phơi thây trong vài ngày trước sức mạnh tiến công của quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy. Xa nữa là cuộc chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần.
Trong cả ba lần: 1258, 1285, 1287, Thăng Long nhanh chóng rơi vào tay
giặc. Và rồi cũng nhanh chóng cả ba lần, giặc Nguyên Mông phải chịu thất
thủ tại nơi này.
Và cũng vì mỗi khi “Phương Bắc” động binh
với chúng ta là ngay lập tức Thăng Long nằm trong vùng nguy hiểm. Và
cũng do đặc điểm địa – chiến lược bị động như vậy, mà đã diễn ra hành
trình bảy thế kỷ Nam tiến của các triều đại nước Việt.
Chưa hết! Còn một hiểm họa không thể
không nói, đó là Hà Nội nằm ở hạ nguồn, nơi gộp lại của ba dòng nước lớn
đổ ra biển gồm: Sông Đà, sông Hồng và sông Lô. Trên thượng nguồn các
con sông này, nhất là phía Trung Quốc, hiện đã có cả chục đập thủy điện
lớn. Chỉ cần một con đập xảy ra sự cố sẽ dẫn đến vỡ dây chuyền. Khi đó
thật là khôn lường. Mà như các nhà khoa học đã cảnh báo, nếu điều đó xảy
ra, lượng nước đổ về sẽ cuốn phăng cả những chiếc xe tăng nặng 60 tấn
đậu ở Hà Nội ra biển.
Trên đây là toàn bộ những ý chính quan
trọng trong Chiếu dời đô, nói về kinh nghiệm của Người xưa trong việc
định đô, đã được trích lược và phân tích. Chỉ duy nhất một ý không còn
phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước hôm nay, cần phải thay đổi
là: “Rộng mà bằng phẳng” thành: “Tuy hẹp mà rộng”.
Còn lại, tất cả vẫn giữ nguyên giá trị cho hôm nay. Và với kết quả phân tích như trên, đã dẫn tới một kết luận là:
- Thủ đô Hà Nội ngày nay không còn mang những yếu tố để làm nên một nơi “thắng địa” của đất nước.
Và đây chính là cơ sở để hôm nay đặt ra một câu hỏi:
- Có nên tính đến việc chuyển Thủ đô hay không và nơi chuyển đến là nơi nào???
Lời răn dạy của vua Lý Thái Tổ
Quả thực, chẳng ai nghĩ rằng, vấn đề của
Thủ đô hôm nay lại được đặt ra như những gì mà Ông Cha ta đã phải làm
một nghìn năm trước. Cũng không ai nghĩ rằng, những lời răn của Người
xưa trong việc định đô lại trở nên nóng hổi như mới đây thôi và đang âm
vang truyền lại cho hậu thế:
“Xưa nhà Thương đến đời Bàn
Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải
các vua thời Tam Đại, ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để
mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên
kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên
vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo
ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ
chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi,
trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không
dời.” (lời răn)
Và trên con đường dựng xây đất nước, mỗi
người Việt Nam hôm nay đều phải nằm lòng những lời răn dạy này. Bởi nó
sẽ soi đường, chỉ lối cho chúng ta bước tới.
>> Mời xem tiếp: Phần 2 – Đề xuất táo bạo
Nguồn: http://nguyentandung.org/chuyen-thu-do-vao-da-nang.html
Ý kiến bạn đọc (76)
Chuyển vào Đà Nẵng? vùng này đất hẹp, ngay cửa biển, gần ngay đảo Hải Nam, vùng phòng thủ mỏng, còn Hà Nội hiện tại muốn đánh tới được phải qua vùng bảo vệ bên ngoài rất nhiểu, khó đến được HN. Theo tôi chuyển đô vào Nam là hợp lý, vào nam cách xa tầm bắn tên lửa của TQ, khí hậu miền Nam ôn hòa ổn định, vùng này chính trị ổn định, cách xa vùng nóng chiến sự. Vậy là an toàn nhất cho Lãnh đạo Trung ương
Rồi đô tốn bao nhiêu tiền bạn tính chưa ! Số tiền để xây dựng lại một thủ đô không ít trong khi những cái cũ vẫn có thể sử dụng được. Bạn đang lãng phí tiền của đó và làm suy kiệt đất nước. Nói bậy bạ
Rồi đô tốn bao nhiêu tiền bạn tính chưa ! Số tiền để xây dựng lại một thủ đô không ít trong khi những cái cũ vẫn có thể sử dụng được. Bạn đang lãng phí tiền của đó và làm suy kiệt đất nước. Nói bậy bạ
nên chuyển về đà nẵng
Thích (49)
đọc đi độc lại 3 lần, thấy bọn này ngu rứa, biết tri về bắc hữu kim
thành tráng, biết gì về ngọc bích thành, biết gì về thạch thành, biết gì
về tam hiểm? cái thành hà nội đó, có gần 7 triệu con người bạc, quản lý
cũng không xong thì khôn ngoan để chỗ nào? hay mặt khôn đổi phép mặt
gian tham tài? ngồi ở trung ương lắm vận mệnh của 92 triệu dân (nguồn
2013)mà để một đề xuất vớ vẩn, lại ngồi vào trang báo của người có uy
tín uy quyền thế này? thì bình nhân tâm ở cái gì? các vị nên nhớ 2 câu
16 chữ trong bình ngô đại cáo\"Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân, Điếu
phạt chi sư, mạc tiên khử bạo\" hành nhân nghĩa, cốt yếu an dân, hành
điếu phạt, trước lo trừ bạo\" kính gửi!
Một ý tiếng điên rồ khi bàn về chuyện dời đô, đặc biệt từ Hà
Nội vào Đà Nẵng. Ở Đã nẵng có thế gì. Một đoạn cán xoong,
chịu sự chi phối khắc nghiệt của thiên nhiên. Những năm gần đây,
có vị lãnh đạo nào đấy chú ý đầu tư xây dựng một số công
trình công nghiệp. Thử nghĩ xem những công trình như vậy, chẳng
hạn nhà máy lọc dầu Dung Quất, đã hiệu quả chưa. Đất nước
còn thiếu vốn lại đưa ra một ý tưởng còn ddien rồ hiên ý
tưởng dới đô về Ba Vì của thời ấu trĩ. Còn nhiều điều cần
nói về cách lập luận của bài viết 'dời đô về Đà Nẵng'
Bạn nói tức cười quá...Chẳng lẽ vì mấy chuyện do không làm được trong công tác quản lý khiến cho HN ko trở nên lằng nhằng, lung tung, rồi đùn đẩy những thứ đó cho ĐN a`..Xin lỗi 1 điều, cái vấn đề hiện tại là bình thường những cái quan trọng la` ,ko thay đổi được suy nghĩ của họ mới là cái đáng nói, bây giờ HN ko như xưa nữa rồi..thoái hóa, cư xử và suy nghĩ ko còn như xưa nữa, nên đừng có kiểu đó..dân ĐN nó chắc là ngồi im cho mà đùn đẩy những thứ ko cần thiết như U nói đó nhỉ? troing khi ĐN đang phát triển mạnh về du lịch, đẹp đẽ, năng động..
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét